TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN KHOA KẾ HOẠCH VÀ PHÁT TRIỂN
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
KHOA KẾ HOẠCH VÀ PHÁT TRIỂN
🙢🙢🙢🙢🙢
BÀI TẬP NHÓM Môn: Kinh tế học thể chế Nhóm : 01
Lớp học phần : 01
Giảng viên : Nguyễn Văn Đại
Đề tài : Hãy dùng cách phân tích thể chế để lý giải sự khác nhau về hành vi đeo khẩu trang giữa các nước ‘Á Đông’ với phương Tây ở giai đoạn đầu dịch Covid_19.
HÀ NỘI 2022
Trang 2MỤC LỤC
Phần 2: Sơ lược bối cảnh đại dịch và sự cần thiết của việc đeo khẩu trang 7
Phần 3: Sự khác biệt trong hành vi sử dụng khẩu trang giữa các nước “ Á Đông” và
3.1 Sự khác biệt trong hành vi sử dụng khẩu trang 8
3.2 Sự khác biệt dưới cách tiếp cận các trụ cột thể chế 9
3.2.2 Đeo khẩu trang trong bối cảnh đại dịch có phải là một chuẩn mực? 11
3.2.3 Đeo khẩu trang có phải là một hành vi quen thuộc? 12
Trang 3Lời mở đầu
Dịch Covid-19 đã làm nổi bật một khác biệt văn hóa lớn giữa các nước “ Á Đông” và phương Tây trên vấn đề đeo khẩu trang, với dư luận châu Á rất ngỡ ngàng trước việc người châu Âu hay châu Mỹ lơ là phương tiện chống dịch này Tại Pháp báo chí trong thời gian gần đây cũng rất chú ý đến khác biệt đó, thâm chí còn tự hỏi là phải chăng văn hóa đeo khẩu trang ở phương Đông, như ở Hồng Kông, Đài Loan, Nhật Bản, Hàn Quốc hay Việt Nam đã góp phần giúp những nơi này ngăn chặn hiệu quả đà lây lan của con virus corona lan tỏa từ Vũ Hán Khi dịch COVID-19 ngày càng lan rộng ra khắp thế giới, hai trường phái tư tưởng đối nghịch nhau về khẩu trang cũng được phản ánh rõ rệt Như vậy nếu xét trên phương diện thể chế thì giữa các nước “ Á Đông” và phương Tây sự khác nhau trong việc coi khẩu trang là một “ vũ khí chống dịch” cũng có rất nhiều điểm trái ngược nhau Sau đây, nhóm 1 sẽ đi phân tích các điểm khau đó dựa trên khía cạnh thể chế
Trang 4Phần 1: Cơ sở lý thuyết về thể chế và trụ cột thể chế
1 Thể chế là gì?
Thể chế là những quy tắc tương tác của con người, ràng buộc cách ứng xử khả dĩ
cơ hội chủ nghĩa và thất thường của cá nhân, qua đó khiến cho hành vi con người trở nên dễ tiên đoán hơn và tạo điều kiện cho sự phân công lao động cùng hoạt động tạo
ra của cải vật chất
2 Các trụ cột của thể chế
2.1 Trụ cột kiểm soát
Theo Scott (1995), trụ cột điều chỉnh liên quan đến việc các thể chế quyền lực thiết lập các quy tắc, kiểm tra sự phù hợp của các đối tượng và nếu cần thiết sẽ vận dụng các hình thức chế tài (khen thưởng hay trừng phạt) nhằm gây ảnh hưởng đến các tổ chức và cá nhân Trụ cột điều chỉnh đặt các tổ chức trước áp lực tuân thủ các quy tắc và hướng dẫn, mà tổ chức phải sử dụng khi diễn giải thông tin của họ
2.2 Trụ cột chuẩn mực
Trụ cột chuẩn mực đề cập đến các chuẩn mực xã hội chung, bao gồm các nguyên tắc và các giá trị bất thành văn, nhưng đã được các nhà hoạt động xã hội “kiểm soát về mặt đạo đức” Tuân theo chuẩn mực chung, hành vi của tổ chức sẽ được xã hội chấp nhận và từ đó những hành vi này sẽ trở thành quy tắc ứng xử trong tư tưởng và hành động (Kovaleski và Dir Smith, 1988)
2.3 Trụ cột nhận thức
Trụ cột nhận thức cho biết, khi một hành vi hoặc một quy tắc được tiếp nhận và chấp nhận trong một nhóm tổ chức, các tổ chức thành viên có xu hướng hành xử theo những tiêu chuẩn đã phổ biến để không nổi bật hoặc không bị các thành viên khác chú ý
Trang 53 Vai trò của thể chế
- Thể chế đóng vai trò định hướng, hướng dẫn, tạo khung khổ cho việc tổ chức, vận hành xã hội
- Thể chế hiệu quả bảo vệ hữu hiệu phạm vi tự chủ cá nhân, đảm bảo các chủ thể xã hội thực hiện được các quyền và nghĩa vụ Cụ thể là, các quyền cá nhân về tài sản, tính tự chủ được bảo đảm là một cơ sở để các nguồn lực được huy động vào quá trình tăng trưởng tạo ra thu nhập
- Thể chế hiệu quả làm giảm chi phí giao dịch, xây dựng được niềm tin trong các giao dịch Cụ thể, thể chế giúp giảm các chi phí không cần thiết trong các giao dịch mua, bán, trao đổi Nói cách khác, thể chế hiệu quả giúp tăng hiệu quả kinh tế của các giao dịch nhờ tiết kiệm chi phí
- Thể chế hiệu quả giúp giải quyết hiệu quả các tranh chấp, xung đột Sẽ không thể tránh khỏi trường hợp các giao dịch hoặc thậm chí các giao tiếp thông thường có xung đột nhưng các xung đột này có thể được giải quyết nhờ các hình thức chế tài được quy định chính thức/không chính thức Khi các chủ thể cùng ý thức được hành động nào được khuyến khích hoặc không đồng thời nhận thức được hình phạt của sử không tuân thủ sẽ khiến quá trình hoạt động, hợp tác trở nên linh hoạt, trơn tru
- Thể chế kiến tạo nền tảng kinh tế, chính trị, xã hội của quốc gia
- Thể chế đóng vai trò chủ thể quản lý xã hội và xác lập các công cụ quản lý xã hội hữu hiệu
- Thể chế góp phần tạo ra những tiền đề điều kiện hạn chế những khuyết tật của tiến trình phát triển xã hội
Trang 6- Thể chế có vai trò kiểm soát các nguồn lực trong xã hội.
Trang 7Phần 2: Sơ lược bối cảnh đại dịch và sự cần thiết của việc
đeo khẩu trang COVID-19 là một đại dịchbệnh truyền nhiễm với tác nhân là virus
SARS-CoV-2 và các biến thể của nó đang diễn ra trên phạm vi toàn cầu Khởi nguồn vào cuối tháng
12 năm 2019 với tâm dịch đầu tiên tại thành phốVũ Hán gây ra hậu quả nặng nề trên toàn thế giới như: thiệt hại sinh mạng con người, sự bất ổn về kinh tế và xã hội hay tình trạng bài ngoại và phân biệt chủng tộc đối với người gốc Trung Quốc và Đông Á
Một trong con đường lây lan chính của COVID-19 đó là lây qua các giọt bắn từ đường hô hấp khi họ nói chuyện, hát, ho hoặc hắt hơi Không chỉ vậy, virus có thể lây lan bởi những người không có triệu chứng, có nghĩa là một số người có thể bị lây nhiễm và thậm chí không nhận ra nó
Đó là một trong những lý do tại sao giữ khoảng cách rất quan trọng trong thời buổi dịch bệnh COVID-19 Nhưng không phải lúc nào cũng có thể giữ khoảng cách với những người khác ở những nơi đông người, vì vậy sử dụng khẩu trang là thật sự cần thiết ở ngoài công cộng hay đặc biệt là ở trong vùng dịch
Một nhóm nghiên cứu quốc tế từ các trường đại học bao gồm Đại học Công nghệ Chalmers (Thụy Điển), Đại học Padua và Đại học Udine (Italy) và Đại học Vienna (Áo) đã phát triển một mô hình lý thuyết mới để đánh giá kỹ hơn nguy cơ lây lan các loại virus như virus SARS-CoV-2 khi đeo khẩu trang và khi không đeo khẩu trang Nghiên cứu cho thấy một người nói chuyện mà không đeo khẩu trang có thể làm các giọt bắn chứa virus lan xa tới 1m Nếu người này ho, các giọt bắn có thể lan xa tới 3 mét và nếu hắt hơi, khoảng cách có thể lên tới 7m Nhưng nếu đeo khẩu trang, nguy cơ lây nhiễm giảm đáng
kể Với điều kiện khẩu trang được đeo đúng cách, nguy cơ lây nhiễm bệnh là không đáng
kể, cho dù ở khoảng cách gần chỉ 1 mét, bất kể trong điều kiện môi trường nào và cho dù có nói chuyện, ho hay hắt hơi
Phần 3: Sự khác biệt trong hành vi sử dụng khẩu trang giữa các nước “ Á Đông” và phương Tây từ cách tiếp cận thể chế
3.1 Sự khác biệt trong hành vi sử dụng khẩu trang
Quan niệm Đeo khẩu trang vừa là trách nhiệm Đeo khẩu trang là biểu tượng của
bệnh tật, thường thì người ở các nước
Trang 8bảo vệ mình vừa là để phòng lây nhiễm cho người khác Với châu
Á, khẩu trang là một vũ khí chống dịch hữu hiệu
này sẽ cho rằng những người đeo khẩu trang là những người bị bệnh nên một số bộ phận những người phương Tây rất không ưa những người đeo khẩu trang khi ra đường
Ngoài ra ở Châu Âu từ lâu thì khẩu trang y tế chỉ dành cho các nhân viên
y tế, những người khỏe mạnh bình thường thì sẽ không dùng
Nguyên nhân Tất cả các quốc gia châu Á kể trên
đều đã rút được kinh nghiệm từ
các trận dịch trước đây như SARS vào năm 2003, MERS vào năm
2015 và nhiều đợt dịch cúm gia cầm Đối mặt với đại dịch
Covid-19, các biện pháp phòng chống đã
được sử dụng trước đây được nhanh chóng áp dụng lại, được bổ
sung bằng nhiều phương tiện và
thiết bị mới
Ở các nước châu Á, ký ức về dịch SARS 17 năm trước vẫn còn ám ảnh và việc đeo khẩu trang trở
thành thói quen Nhiều người coi đây là trách nhiệm để giảm lây truyền Covid-19, căn bệnh đã
khiến khoảng 120.000 nhiễm ở
hơn 100 quốc gia trên thế giới
Một số doanh nghiệp không cho phép khách vào cửa hàng mà
không đeo khẩu trang Chính quyền tại các thành phố lớn như Bắc Kinh và Thượng Hải ra yêu cầu công dân phải đeo khẩu trang nơi công cộng
Sau khi ra đời cách đây hàng thập
kỷ tại Nhật Bản, nơi mà phép lịch sự yêu cầu những người cảm thấy mình bị bệnh là phải đeo khẩu trang, thói quen mang khẩu trang trở thành phổ biến vào thời dịch
Người thường khỏe mạnh không cần khẩu trang, họ cũng tin rằng những căn bệnh cúm liên quan đến virus sẽ tự khỏi nhờ sức đề kháng của cơ thể Đeo khẩu trang là việc không cần thiết Một lập luận khác được đưa ra ở châu Âu để yêu cầu công chúng không đeo khẩu trang là ngăn chặn tình trạng nhân viên y tế thiếu phương tiện bảo vệ này
Ngoài ra ở phương Tây, bởi vì sự tự
do và tự tin thể hiện khuôn mặt nên mọi người có suy nghĩ tiêu cực về khẩu trang
Trang 9SARS tràn lan khắp vùng Đông Bắc Á Riêng ở Trung Quốc, nạn ô nhiễm không khí đã biến khẩu trang thành một vật bất ly thân của giới cư dân thành thị và người nào cũng có sẵn cả dự trữ ở nhà
3.2 Sự khác biệt dưới cách tiếp cận các trụ cột thể chế
3.2.1 Tính răn đe của pháp luật
Các nước “ Á Đông” Các nước phương Tây
Các quy định
và xử phạt
Việc đeo khẩu trang trong thời kỳ dịch bệnh là việc làm bắt buộc
Tuy nhiên, tùy tình hình mà việc không tuân thủ sẽ phải chịu các mức hình phạt khác nhau ở các quốc gia
-Ở Việt Nam: Tất cả mọi người dân phải đeo khẩu trang đúng quy cách khi ra khỏi nhà và đến các địa điểm công cộng, chợ, công viên, siêu thị, quán cà phê, tiệm tạp hóa và địa điểm tập trung đông người theo hướng dẫn Và không đeo khẩu trang nơi công cộng sẽ bị
phạt từ phạt cảnh cáo đến việc phạt hành chính lên đến 6 triệu đồng
-Ở Hàn Quốc: Người dân phải luôn đeo khẩu trang trong không gian kín, bất kể mức độ giãn cách xã hội Trường hợp vi phạm sẽ bị
xử phạt hành chính 100.000 won (gần 90 USD) đối với cá nhân và
1,5 triệu won (hơn 1.300 USD) đối với chủ cơ sở kinh doanh
-Ở Singapore: Người dân bắt buộc đeo khẩu trang ngoài trời thậm chí
Việc đeo khẩu trang là không cần thiết và nhà nước cũng không đưa ra bất kỳ quy định nào liên quan đến việc đeo khẩu trang
Khi Covid-19 lan tới phương Tây hồi tháng hai, các tổ chức y tế quan trọng, như Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), Trung tâm Kiểm soát và Ngăn ngừa Dịch bệnh Mỹ đều không đồng tình với việc yêu cầu người dân đeo khẩu trang bên ngoài bệnh viện Một số chuyên gia cho rằng những chiếc khẩu trang y tế hay khẩu trang vải đơn giản không thể ngăn chặn virus mà thay vào đó, chúng khiến người đeo có cảm giác "an toàn giả tạo"
Các quốc gia Bắc Âu dường như phản đối việc đeo khẩu trang nhiều hơn các nước láng giềng Địa Trung Hải, nơi đang bị ảnh hưởng nặng nề hơn bởi dịch bệnh Trong các cuộc khảo sát được YouGov PLC thực hiện từ tháng
2 đến cuối tháng 5 tại Đan Mạch, Thụy Điển, Na Uy và Phần Lan, chưa đến 10% số người được hỏi nói họ thường xuyên đeo khẩu trang
Trang 10còn cả ở trong nhà được áp dụng lần đầu tiên vào tháng 4-2020
Một số minh
chứng -Ở Singapore: Ngày 19/8, giớichức Singapore xác nhận một
công dân Anh đã bị tòa án Singapore tuyên phạt tù giam 6 tuần vì không đeo khẩu trang và
gây rối trật tự công cộng Ngoài ra còn trục xuất 1 số công nhân Anh khác do cũng không đeo khẩu trang
-Ở Việt Nam: Ở các thành phố như Hà Nội và Hồ Chí Minh đã ghi nhận rất nhiều trường hợp không đeo khẩu trang khi ở nơi công cộng và đã bị phạt đến 2 triệu đồng
-Một nghiên cứu do Đại học Middlesex London, Anh, và Viện nghiên cứu Khoa học Toán học ở Berkeley, California, thực hiện cho thấy trong hai giới, đàn ông có xu hướng coi việc đeo khẩu trang là
"đáng xấu hổ, không thời trang, là biểu hiện của sự yếu đuối và kỳ thị" hơn phụ nữ
Các quốc gia Bắc Âu dường như phản đối việc đeo khẩu trang nhiều hơn các nước láng giềng Địa Trung Hải, nơi đang bị ảnh hưởng nặng nề hơn bởi dịch bệnh Trong các cuộc khảo sát được YouGov PLC thực hiện từ tháng
2 đến cuối tháng 5 tại Đan Mạch, Thụy Điển, Na Uy và Phần Lan, chưa đến 10% số người được hỏi nói họ thường xuyên đeo khẩu trang
3.2.2 Đeo khẩu trang trong bối cảnh đại dịch có phải là một chuẩn mực?
Quan niệm về
Sức khỏe là quan trọng nhất với cuộc sống mỗi người Bởi ai sinh ra trên đời
Trang 11giữ gìn sức
khỏe cũng đều có riêng cho mình những mục đích sống khác nhau, nhưng dù là
mục đích, lý tưởng gì thì chúng ta đều cần có sức khỏe mới thực hiện được Sức khỏe tốt là nền tảng vững chắc của cuộc sống hạnh phúc
Đối với người dân và chính phủ các nước Á Đông và các nước phương Tây thì việc giữ gìn sức khoẻ của bản thân, cộng đồng đều rất cần thiết và quan trọng Tuy nhiên do tính khác biệt về văn hóa, lối sống giữa các nước nên việc lựa chọn đeo khẩu trang giữa châu Á và phương Tây có nhiều điểm khác biệt
- Nhiều người cho rằng việc đeo khẩu trang là trách nhiệm để giảm nguy cơ lây lan SARS-CoV-2
Nhiều cơ sở kinh doanh chỉ cho khách hàng có khẩu trang được ra vào Không ít thành phố lớn tại Trung Quốc như Bắc Kinh và
Thượng Hải đã ra quy định bắt buộc đeo khẩu trang ở nơi công cộng
- Việc đeo khẩu trang cũng là điều gì đó rất hiếm và người dân không có thói quen này, trừ một số trường hợp đặc biệt như làm trong môi trường ô nhiễm hay ốm Chính phủ Mỹ và Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) khuyến khích rằng chỉ những người có triệu chứng và ốm cũng như nhân viên y tế mới cần phải đeo khẩu trang
Nếu gây lây
người khác thì
có bị chỉ trích
mạnh không?
- Với tình hình diễn biến phức tạp, nếu 1 cá nhân không đeo khẩu trang, lây nhiễm sang người khác
sẽ bị chỉ trách mạnh mẽ Mọi người cho rằng, đó là 1 hành động thiếu ý thức, gây nhiều hệ lụy cho xã hội
- Những người không đeo khẩu trang, gây lây nhiễm cho cộng đồng sẽ được coi là ích kỉ, xem nhẹ sức khỏe cộng đồng và thiếu trách nhiệm với xã hội trong việc phòng chống bệnh
- Nếu 1 cá nhân lây nhiễm sang người khác sẽ ít bị mọi người chỉ trích hơn so với các nước Á Đông Bởi người châu Âu đề cao quyền riêng tư và tự do cá nhân hơn
Ví dụ Ở các nước Á Đông thì việc đeo
khẩu trang mỗi khi đi ra ngoài, đặc biệt các nơi công cộng như xe bus, tàu ga, siêu thị là điều nên
Ở các nước phương Tây, nhân viên y tế và người bệnh mới là đối tượng cần đeo khẩu trang vì trách nhiệm cộng đồng, còn những người khỏe mạnh thì không phải