1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Bình luận hoạt động chứng nhận xuất xứ hàng hoá trong khu vực thương mại tự do ASEAN (AFTA)

20 36 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Bình luận hoạt động chứng nhận xuất xứ hàng hoá trong khu vực thương mại tự do ASEAN (AFTA)
Trường học Trường Đại Học Luật Hà Nội
Chuyên ngành Luật pháp và chính sách thương mại quốc tế
Thể loại Bài tập nhóm
Năm xuất bản 2021
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 20
Dung lượng 0,9 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Asean được đánh giá là một trong những khu vực phát triển kinh tế năng động nhất trên thế giới với thị trường lớn, tài nguyên phong phú, lực lượng lao động trẻ, … Nắm bắt được tiềm năng phát triển kinh tế khu vực, nhóm các nước Asean đãtích cực đề xuất ra các giải pháp để nâng tầm kinh tế khu vực trong đó tiêu biểu nhất là mục tiêu biến Asean thành khu vực mậu dịch tự do (AFTA). Để đạt được điều này song song với quá trình cải cách đổi mới hoạt động của bộ máy quản lý còn phải đẩymạnh tính tự chủ của các doanh nghiệp trong hoạt động kinh doanh. Vì vậy, việc cùng lúc áp dụng hai hình thức chứng nhận nguồn gốc xuất xứ hàng hóa là “Cấp chứng nhận” và “Tự chứng nhận” là hoàn toàn phù hợp với xu thế khách quan. Qua bài phân tích, chúng tôi sẽ đi tìm hiểu về hai hình thức chứng nhận xuất xứ này trong AFTA.

Trang 1

Bộ Tư Pháp Trường Đại Học Luật Hà Nội

Bài Tập Nhóm

Pháp Luật Cộng Đồng ASEAN

Bình luận hoạt động chứng nhận xuất xứ hàng hoá trong khu vực thương mại tự do ASEAN (AFTA)

Hà Nội, ngày 10 tháng 11 năm 2021

Trang 2

BIÊN BẢN XÁC ĐỊNH MỨC ĐỘ THAM GIA VÀ KẾT QUẢ

THAM GIA LÀM BÀI TẬP NHÓM

Ngày: 10/11/2021 Địa điểm: Trường Đại học Luật Hà Nội Nhóm số: 06 Lớp: N01.TL1 Khóa: K45 Tổng số thành viên của nhóm: 13

Có mặt: 13

Vắng mặt: Không Có lý do: Không lý do: Nội dung: Bài tập nhóm môn PLCĐ Asean

Môn học: PLCĐ Asean

Xác định mức độ tham gia và kết quả tham gia của từng sinh viên trong việc thực hiện bài tập nhóm số: 06 Kết quả như sau:

STT MSSV Họ và tên

Đánh giá

ký tên

5 451212 Đỗ Duy Phú x

Nhóm Trưởng doduyphu7572@gmail.com SĐT: 0963896722

Phú

Hà Nội, ngày 10 tháng 11 năm 2021

Nhóm Trưởng Phú

Đỗ Duy Phú

Trang 3

Mục Lục

Mở Đầu 1

1 Các hình thức chứng nhận xuất xứ trong AFTA 1

1.1 Cấp chứng nhận 1

1.1.1 Khái niệm 1

1.1.2 Trình tự thủ tục 1

1.1.3 Đặc điểm 3

1.2 Tự chứng nhận 4

1.1.1 Khái niệm 4

1.1.2 Trình tự thủ tục 5

1.1.3 Đặc điểm 6

2 Đánh giá thực tiễn 8

2.1 Thực tiễn hình thức cấp chứng nhận 8

2.2 Thực tiễn hình thức tự chứng nhận 10

3 Kiến nghị giải pháp 12

3.1 Đối với hoạt động cấp giấy chứng nhận 12

3.2 Đối với hoạt động tự chứng nhận xuất xứ 12

3.2 Đối với hệ thống pháp luật 13

3.3 Đối với cơ quan có thẩm quyền nước xuất khẩu 14

Kết Luận 15

Danh Mục Tham Khảo 16

Trang 4

1

Mở Đầu

Asean được đánh giá là một trong những khu vực phát triển kinh tế năng động nhất trên thế giới với thị trường lớn, tài nguyên phong phú, lực lượng lao động trẻ, … Nắm bắt được tiềm năng phát triển kinh tế khu vực, nhóm các nước Asean đã tích cực đề xuất ra các giải pháp để nâng tầm kinh tế khu vực trong đó tiêu biểu nhất

là mục tiêu biến Asean thành khu vực mậu dịch tự do (AFTA) Để đạt được điều này song song với quá trình cải cách đổi mới hoạt động của bộ máy quản lý còn phải đẩy mạnh tính tự chủ của các doanh nghiệp trong hoạt động kinh doanh Vì vậy, việc cùng lúc áp dụng hai hình thức chứng nhận nguồn gốc xuất xứ hàng hóa là “Cấp chứng nhận” và “Tự chứng nhận” là hoàn toàn phù hợp với xu thế khách quan Qua bài phân tích, chúng tôi sẽ đi tìm hiểu về hai hình thức chứng nhận xuất xứ này trong AFTA

1 Các hình thức chứng nhận xuất xứ trong AFTA

1.1 Cấp chứng nhận

1.1.1 Khái niệm

Định nghĩa: Cấp chứng nhận xuất xứ là việc cơ quan nhà nước có thẩm quyền

hoặc tổ chức được ủy quyền cấp giấy chứng nhận xuất xứ đối với hàng hóa dựa trên những quy định và yêu cầu về xuất xứ của nước xuất khẩu và cả nước nhập khẩu

Cơ sở pháp lý: Điều 38 Hiệp định thương mại hàng hóa Asean (Atiga) quy định

về giấy chứng nhận xuất xứ: “Để được cho hưởng ưu đãi về thuế quan, hàng hoá phải

có Giấy chứng nhận xuất xứ (Mẫu D), như được nêu trong Phụ lục 7 (Mẫu D) do cơ quan Chính phủ có thẩm quyền được Quốc gia Thành viên chỉ định cấp và thông báo tới các Quốc gia Thành viên khác theo Thủ tục cấp giấy chứng nhận xuất xứ nêu tại Phụ lục 8 (OCP).”

Chủ thể chứng nhận: Cơ quan có thẩm quyền của quốc gia nhập khẩu và các tổ

chức được ủy quyền

1.1.2 Trình tự thủ tục

Cấp chứng nhận xuất xứ hàng hóa thông qua việc cấp giấy chứng nhận xuất xứ hàng hóa tại cơ quan có thẩm quyền của quốc gia thành viên ASEAN: được gọi là

giấy chứng nhận xuất xứ hàng hóa theo mẫu D (C/O)

Trang 5

2

Theo quy định tại Điều 38 ATIGA và ba phụ lục từ Phụ lục 7 đến Phụ lục 9 của Hiệp định, việc cấp giấy chứng nhận xuất xứ hàng hóa sẽ được thực hiện theo trình

tự sau:

– Doanh nghiệp xuất khẩu hoặc đại diện có thẩm quyền của doanh nghiệp sẽ nộp đơn xin cấp Chứng nhận xuất xứ hàng hóa theo mẫu D (C/O) cùng các tài liệu

bổ sung cần thiết đến cơ quan có thẩm quyền của nước mình;

– Sau khi xác minh, kiểm tra, cơ quan có thẩm quyền sẽ cấp C/O mẫu D cho nhà xuất khẩu/ nhà sản xuất

Doanh nghiệp xuất khẩu cũng có thể nộp đơn xin cấp Giấy chứng nhận xuất xứ hàng hóa đến cơ quan có thẩm quyền của quốc gia thứ ba Quốc gia này có thể cấp giấy chứng nhận trên cơ sở giấy chứng nhận gốc đã được quốc gia xuất khẩu đầu tiên cấp với điều kiện Giấy chứng nhận xuất xứ hàng hóa gốc (C/O mẫu D) còn hiệu lực Trong trường hợp hàng hóa được gửi bằng đường biển hoặc đường bưu điện có giá FOB (Free on Board) không vượt quá 200 USD thì không cần phải làm thủ tục để được cấp C/O, thay vào đó, nhà xuất khẩu chỉ cần công bố những giấy tờ để khẳng định hàng hóa đó có xuất xứ từ nước xuất khẩu

Giấy chứng nhận xuất xứ hàng hóa (mẫu D) sẽ được in trên mặt giấy A4 bằng tiếng Anh với những nội dung như quy định tại Phụ lục 7 của ATIGA, bao gồm 1 bản gốc, 2 bản sao và mỗi bản C/O đều có chữ ký cùng dấu niêm phong của cơ quan cấp giấy chứng nhận

Bản gốc sẽ được doanh nghiệp xuất khẩu chuyển cho doanh nghiệp nhập khẩu

để nộp cho cơ quan hải quan khi làm các thủ tục nhập khẩu Hai bản sao còn lại sẽ được lưu tại cơ quan cấp C/O và doanh nghiệp xuất khẩu Giấy chứng nhận xuất xứ hàng hóa sẽ được cơ quan có thẩm quyền cấp trước hoặc tại thời điểm giao hàng hoặc sau đó nhưng không quá 3 ngày kể từ ngày giao hàng Trong trường hợp vì các lỗi hay sai sót vô ý mà cơ quan có thẩm quyền không thể cấp giấy chứng nhận xuất xứ hàng hóa theo đúng thời hạn trên, giấy chứng nhận xuất xứ hàng hóa sẽ được cấp sau nhưng trong thời hạn tối đa không quá 1 năm kể từ ngày giao hàng

Trang 6

3

Giấy chứng nhận xuất xứ hàng hóa có hiệu lực trong 12 tháng kể từ ngày cấp

và phải được nộp cho cơ quan hải quan của nước nhập khẩu trong thời gian này Nếu doanh nghiệp nộp C/O sau khi đã hết thời hạn thì Giấy chứng nhận này vẫn được chấp nhận trong trường hợp vì lý do bất khả kháng hoặc những nguyên nhân khác xảy ra vượt ngoài khả năng kiểm soát của nhà xuất khẩu với điều kiện là hàng hóa được nhập khẩu trước khi hết thời hạn của giấy chứng nhận xuất xứ

1.1.3 Đặc điểm

Về ưu điểm

Thứ nhất, đối tượng được chứng nhận không bị giới hạn, thu hẹp như hình thức

tự chứng nhận xuất xứ, bao gồm cả các doanh nghiệp thương mại, dịch vụ và sản xuất quy mô nhỏ

Thứ hai, do chủ thể chứng nhận là cơ quan có thẩm quyền của quốc gia nhập khẩu và các tổ chức được ủy quyền nên hạn chế gian lận thương mại xuất xứ hàng hóa, mượn xuất xứ của quốc gia này để hưởng ưu đãi cũng như gian lận thương mại hàng nhập khẩu từ các nước khác vào quốc gia đó

Thứ ba, tính uy tín của giấy chứng nhận thông qua hình thức cấp chứng nhận cũng cao hơn, tránh được các trường hợp bị thu hồi, bị xử phạt hành chính, hình sự

do thực hiện không đúng quy định

Về nhược điểm

Thứ nhất, khó khăn doanh nghiệp gặp phải thường là vấn đề thời gian cấp phép nhiều khi kéo dài, sự phức tạp trong việc đáp ứng đầy đủ những giấy tờ phải nộp theo yêu cầu của cơ quan cấp C/O để chứng minh xuất xứ hàng hóa của doanh nghiệp mình Có thể gây ảnh hưởng đến chất lượng và tiến độ giao hàng của doanh nghiệp cho đối tác Nhiều doanh nghiệp chưa tích lũy được kinh nghiệm, chưa nắm được tác dụng và ý nghĩa của giấy chứng nhận, không nắm được rõ hàng hóa của mình đã đủ tiêu chuẩn xin cấp giấy chứng nhận hay chưa nên không nắm được ưu đãi thuế quan

mà nước nhập khẩu dành cho

Thứ hai, đối với cơ quan quản lý và cấp phép, tình trạng gian lận thương mại, gian lận xuất xứ ngày càng gia tăng với nhiểu phương pháp tinh vi cũng ít nhiều gây

Trang 7

4

khó khăn trong quá trình duyệt cấp giấy chứng nhận cho doanh nghiệp Những hình thức gian lận này không chỉ gây khó khăn cho công tác kiểm duyệt mà còn ảnh hưởng đến môi trường thương mại, đến thương hiệu và uy tín của hàng hóa xuất xứ và doanh nghiệp xuất khẩu

Thứ ba, sự tốn kém về chi phí Chi phí để xin C/O ưu đãi nhiều khi không chỉ ở bản thân phí cấp C/O mà còn chủ yếu gồm các chi phí chi trả cho nhân viên đi xin cấp C/O, thời gian chờ đợi, chi phí để xin các giấy tờ theo yêu cầu của cơ quan cấp C/O… dẫn đến doanh nghiệp xuất khẩu bị thiệt hại do việc bị phạt vì chậm hợp đồng, chi phí lưu kho bãi chờ xuất khẩu hoặc những chi phí về cơ hội kinh doanh khác Một nghiên cứu năm 2007 của Manchin và Pelkmans-Balaoing cũng cho thấy chi phí để tuân thủ các quy tắc xuất xứ hàng hóa nhằm được hưởng ưu đãi trong AFTA cao hơn nhiều so với chi phí này ở EU và NAFTA

1.2 Tự chứng nhận

1.1.1 Khái niệm

Tự chứng nhận xuất xứ (TCNXX) hàng hóa là trách nhiệm chứng nhận nguồn

gốc xuất xứ của hàng hóa (C/O) sẽ chuyển từ các cơ quan chuyên trách, cơ quan quản lý sang doanh nghiệp hoặc nhà nhập khẩu Điều đó có nghĩa là doanh nghiệp hoặc nhà nhập khẩu sẽ tự thực hiện các thủ tục và đáp ứng điều kiện để tuyên bố hàng hóa đáp ứng các tiêu chuẩn về nguồn gốc xuất xứ và tự chịu trách nhiệm về tính chính xác của tuyên bố đó

Cơ sở pháp lý: Theo lộ trình của ASEAN, cơ chế TCNXX hàng hóa dự kiến sẽ

được áp dụng song song với hệ thống thông thường như hiện nay Hiện nhóm nước ASEAN đang triển khai 2 dự án thí điểm là SC1 (ký ngày 30/8/2010 bởi 3 nước Brunei, Malaysia và Singapore, bắt đầu thực hiện từ ngày 1/11/2010) và SC2 (ký ngày 29/8/2012 bởi 3 nước Lào, Indonesia và Philippines, bắt đầu thực hiện từ ngày 1/1/2014 Việt Nam tham gia vào tháng 9/2014) [1]

Trách nhiệm xác định xuất xứ hàng hóa sẽ thuộc về doanh nghiệp xuất khẩu hàng hóa hoặc nhà sản xuất hàng hóa được cấp phép tự chứng nhận xuất xứ hàng hóa, [1] Xem thêm: “Các dự án thí điểm trong ASEAN về Tự chứng nhận xuất xứ” | WTO Center VCCI

Trang 8

5

bao gồm cả các doanh nghiệp vừa và nhỏ tham gia vào trao đổi thương mại khu vực Theo đó, các nhà xuất khẩu được cấp phép tự chứng nhận xuất xứ hàng hóa (gọi tắt

là nhà xuất khẩu tự chứng nhận) sẽ được quyền xác định hàng hóa của mình đáp ứng các tiêu chí xuất xứ hàng hóa của ASEAN theo ATIGA trên hóa đơn thương mại

1.1.2 Trình tự thủ tục

Để được cấp phép tự chứng nhận xuất xứ hàng hóa và trở thành nhà xuất khẩu

tự chứng nhận, doanh nghiệp xuất khẩu phải nộp đơn yêu cầu bằng văn bản đến cơ quan có thẩm quyền của nước xuất khẩu theo quy định của pháp luật nước này cùng những thông tin cần thiết để chứng minh rằng họ có đầy đủ kiến thức về các quy tắc, thủ tục và hoàn toàn đáp ứng được yêu cầu về việc xác định xuất xứ của hàng hóa

Cơ quan có thẩm quyền sẽ trao quy chế nhà xuất khẩu tự chứng nhận khi doanh nghiệp thỏa mãn bất kỳ điều kiện nào mà cơ quan đó cho là thích hợp, bao gồm: – Nhà xuất khẩu phải để cho cơ quan có thẩm quyền tiếp cận những hồ sơ, tài liệu nhằm kiểm soát việc tự chứng nhận xuất xứ và xác định xuất xứ hàng hóa trong hóa đơn thương mại mà doanh nghiệp đã xuất ra Những hồ sơ, tài liệu này phải có đầy đủ thông tin để cho phép xác định xuất xứ hàng hóa ghi trong hóa đơn thương mại của doanh nghiệp trong thời hạn tối thiểu 3 năm kể từ ngày xuất hóa đơn theo quy định của nước xuất khẩu;

– Nhà xuất khẩu chỉ xuất hóa đơn thương mại đối với những hàng hóa mà doanh nghiệp có đầy đủ tài liệu thích hợp để chứng minh xuất xứ tại thời điểm xuất hóa đơn; – Nhà xuất khẩu phải đảm bảo rằng cá nhân hoặc các chủ thể được trao trách nhiệm xuất hóa đơn thương mại nắm được đầy đủ các quy định về xuất xứ hàng hóa được quy định trong ATIGA, và

– Nhà xuất khẩu chấp nhận chịu trách nhiệm hoàn toàn cho tất cả các hóa đơn thương mại của công ty, bao gồm cả việc chịu trách nhiệm đối với những sai sót xảy

ra

Khi được cấp phép trở thành nhà xuất khẩu tự chứng nhận, doanh nghiệp sẽ được cung cấp một con số cụ thể để ghi trên các hóa đơn thương mại của mình

Trang 9

6

Giải quyết khiếu nại và xử lý vi phạm Cơ quan đã cấp phép cho doanh nghiệp

trở thành nhà xuất khẩu tự chứng nhận có thể thu hồi quyết định của mình vào bất kỳ thời điểm nào khi doanh nghiệp không còn đáp ứng được những điều kiện để được cấp quy chế này.Trong trường hợp cơ quan có thẩm quyền của nước nhập khẩu có căn cứ chính đáng để nghi ngờ tính thiếu chính xác của những tài liệu hoặc thông tin liên quan đến xuất xứ thực sự của hàng hóa, cơ quan này có quyền yêu cầu cơ quan

đã cấp phép cho doanh nghiệp xuất khẩu trở thành doanh nghiệp tự chứng nhận hoặc

cơ quan có thẩm quyền của nước xuất khẩu tiến hành kiểm tra việc xác định xuất xứ hàng hóa [2]

1.1.3 Đặc điểm

Về ưu điểm

Thứ nhất, nhà sản xuất có thể cung cấp chứng từ về xuất xứ hàng hóa ngay cho

nhà nhập khẩu mà không phải mất thời gian chờ đợi cơ quan thẩm quyền xét duyệt như thông thường Nhờ đó sẽ tiết kiệm thời gian và chi phí cho doanh nghiệp, thúc đẩy thuận lợi hóa thương mại và đầu tư giữa các nước Việc TCNXX hàng hóa có nhiều thuận lợi, đơn cử như trong trường hợp chưa có giấy phép tự chứng nhận thì doanh nghiệp sẽ được nợ và có thể nộp thuế, ngay sau đó được giảm trừ thuế

Thứ hai, với hình thức này, nhà sản xuất, xuất khẩu nắm rõ về sản phẩm mà họ sản xuất, làm tăng đáng kể tỷ lệ sử dụng C/O theo các Hiệp định thương mại tự do để được hưởng ưu đãi thuế Hơn nữa cũng sẽ tránh được các lỗi nhỏ thường gặp như lỗi chính tả, hình thức trên C/O không phù hợp với mẫu quy định,

Thứ ba, về phía cơ quan quản lý Nhà nước, sẽ tiết kiệm nhân, vật lực, tiết kiệm được chi phí quản lý vận hành… và khi phát hiện gian lận trong xuất xứ hàng hóa thì chỉ việc truy cứu trách nhiệm hoặc rút giấy phép hoạt động của nhà xuất - nhập khẩu

và truy thu theo quy định

Về nhược điểm

[2] Tr 65-70 “Chứng nhận xuất xứ hàng hóa theo quy định của ASEAN” | Lê Minh Tiến, Tạp chí Khoa học pháp lý Việt Nam số 06(100)/2016

Trang 10

7

Thứ nhất, tiêu chí quy định chỉ có doanh nghiệp vừa sản xuất, xuất khẩu mới

được tham gia TCNXX hàng hóa cũng gây khó các doanh nghiệp nói chung, thu hẹp lượng doanh nghiệp khi loại trừ các doanh nghiệp thương mại, dịch vụ hoặc sản xuất quy mô nhỏ Đối với dự án thứ 2, chỉ cho phép các Nhà xuất khẩu đồng thời là Nhà sản xuất đủ điều kiện được xem xét, cho phép TCNXX cho hàng hóa do chính họ sản xuất ra; cho phép TCNXX trên hóa đơn thương mại gốc của hàng hóa

Thứ hai, cơ chế này vẫn có những rủi ro phát sinh khả năng gian lận thương mại

xuất xứ hàng hóa, chuyển tải bất hợp pháp qua các quốc gia, mượn xuất xứ của quốc gia này để hưởng ưu đãi cũng như gian lận thương mại hàng nhập khẩu từ các nước khác vào quốc gia đó Khi xảy ra trường hợp như vậy, uy tín doanh nghiệp bị ảnh hưởng, mất thị trường xuất khẩu và bị truy cứu trách nhiệm tùy mức độ Hơn nữa, uy tín ngành hàng cũng bị soi xét trên thương trường quốc tế, mất khả năng cạnh tranh

Thứ ba, cần lưu ý đối với các doanh nghiệp hiện nay là giấy chứng nhận doanh

nghiệp đủ điều kiện xuất xứ hàng hóa có thể bị thu hồi bất cứ lúc nào nếu doanh nghiệp không thực hiện đúng quy định như: không đủ khả năng cung cấp sự đảm bảo

về xuất xứ hàng hóa; lạm dụng sự ủy quyền tự cấp giấy chứng nhận; gian lận xuất xứ hàng hóa… Nếu vi phạm các quy định này, ngoài việc bị thu hồi giấy phép đủ điều kiện TCNXX, doanh nghiệp có thể bị phạt hành chính, thậm chí bị xử lý hình sự nếu nghiêm trọng

Trang 11

8

2 Đánh giá thực tiễn

2.1 Thực tiễn hình thức cấp chứng nhận

Sau khi tiến hành hoạt động chứng nhận xuất xứ, thương mại khu vực Asean có những bước phát triển rõ rệt khi tổng kim ngạch xuất khẩu Asean tăng mạnh đặc biệt

là giai đoạn 2010 – 2019 từ 268,4 tỷ đô lên 332,3 tỷ đô (Tăng 125,8%) [3]

Việt Nam cũng đã tích cực đẩy mạnh hoạt động cấp chứng nhận xuất xứ hàng hóa cho các doanh nghiệp xuất khẩu sang Asean, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp được hưởng ưu đãi thuế quan khi thâm nhập vào thị trường Asean, khuyến khích tạo điều kiện cho các doanh nghiệp Việt Nam xuất khẩu Ngoài ra những năm gần đây, hàng hóa Asean cũng đổ vào thị trường Việt Nam với mức thuế ưu đãi, người dân được sử dụng những mặt hàng nhập khẩu có chất lượng cao, giá rẻ Minh chứng cho điều này, Tổng kim ngạch thương mại hàng hóa giữa Việt Nam và ASEAN đã có bước phát triển mạnh mẽ và tăng trưởng nhảy vọt Năm đầu tiên hội nhập ASEAN,

[3] Nguồn: Asean Statistical Yearbook 2020

Ngày đăng: 06/05/2022, 21:54

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w