KHÁI QUÁT HỆ THỐNG ĐIỆN VIỆT NAM Hệ thống điện Việt Nam thực hiện việc sản xuất, truyền tải và phân phối điện năng cho toàn bộ 64 tỉnh thành trên cả nước, được cấu thành bởi 3 thành phần chính Nguồn điện, lưới điện và phụ tải Hệ thống điện Việt Nam thực hiện việc sản xuất, truyền tải và phân phối điện năng cho toàn bộ 64 tỉnh thành trên cả nước, được cấu thành bởi 3 thành phần chính Nguồn điện, lưới điện và phụ tải 1 NGUỒN ĐIỆN Hệ thống điện Việt Nam có các dạng nguồn điện đa dạng thủy điện, nhi.
Trang 1KHÁI QUÁT HỆ THỐNG ĐIỆN VIỆT NAM
Hệ thống điện Việt Nam thực hiện việc sản xuất, truyền tải và phân phối điện năng cho toàn bộ 64 tỉnh thành trên cả nước, được cấu thành bởi 3 thành phần chính: Nguồn điện, lưới điện và phụ tải.
Hệ thống điện Việt Nam thực hiện việc sản xuất, truyền tải
và phân phối điện năng cho toàn bộ 64 tỉnh thành trên cả nước, được cấu thành bởi 3 thành phần chính: Nguồn điện, lưới điện
và phụ tải
1 NGUỒN ĐIỆN:
Hệ thống điện Việt Nam có các dạng nguồn điện đa dạng: thủy điện, nhiệt điện than, tuabin khí, nhiệt điện dầu, điện mặt trời, điện gió, điện sinh khối… với tổng công suất đặt năm 2020
là hơn 60.000 MW, trong đó tỷ trọng các loại nguồn như sau:
Số liệu theo Báo cáo tổng kết vận hành HTĐQG
năm 2020
Trang 2Các nguồn điện phân bố không đồng đều giữa các miền do đặc thù của nguồn nhiên liệu sơ cấp Thủy điện tập trung chủ yếu ở Miền Bắc và miền Trung, nơi có nhiều sông ngòi và địa hình phù hợp Trong khi đó nhiệt điện than lại tập trung ở miền Bắc gần các mỏ than và ở miền Nam nơi có các cảng biển lớn thuận lợi cho việc nhập khẩu than Điện mặt trời và điện gió có tiềm năng lớn ở miền Trung và miền Nam nên hầu hết các nhà máy điện gió và mặt trời đều phân bố ở đây Trong gần 9.000
MW điện mặt trời thì gần 6.000MW ở miền Nam và 2.600MW ở miền Trung Nguồn tuabin chạy khí chỉ có ở miền Nam, là nơi có các mỏ khí Nam Côn Sơn, Cửu Long, PM3 với tổng công suất các nguồn chạy khí lên tới gần 7.400MW
1.1 Sản xuất điện
Sản lượng điện hàng năm đã tăng hơn 20 lần, từ 8,6
TWh vào năm 1990 đến 240,1 TWh vào năm 2019 Tỷ lệ tăng
hàng năm trong giai đoạn này rơi vào khoảng 12-15%, gần như gấp đôi tốc độ tăng trưởng GDP Thủy điện, khí tự nhiên và than
là những nguồn năng lượng chính cho sản xuất điện Than
chiếm tỷ trọng cao nhất trong các nguồn năng lượng với 41,6%, theo sau là thủy điện với 37,7% và khí với 18,8% Ngoài thủy điện lớn, bao gồm cả thủy điện nhỏ, năng lượng tái tạo chỉ
chiếm một phần rất nhỏ (0,5%) Mặc dù vậy, từ đầu năm 2019,
tỷ trọng năng lượng tái tạo trong hệ thống năng lượng đã tăng lên đáng kể; phần nhiều nhờ vào năng lượng mặt trời; tuy vậy, năng lượng gió cũng đang trên đà phát triển
Hình 1: Sản xuất điện và Công suất lắp đặt theo nguồn (2019)
Trang 3Trong Quy hoạch Phát triển Điện lực Quốc gia VII điều
chỉnh (QHĐ 7 điều chỉnh) được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt ngày 18/3/2016, tốc độ tăng trưởng GDP bình quân được dự đoán vào khoảng 7% trong giai đoạn 2016-2030 Để đáp ứng nhu cầu điện trong nước, QHĐ VII điều chỉnh đặt mục tiêu điện thương mại đạt ngưỡng 235-245 tỷ kWh vào năm 2020;
352-379 tỷ kWh vào năm 2025; và 506-559 tỷ kWh vào năm 2030 Các mục tiêu cho sản xuất điện và nhập khẩu điện là 265-278
tỷ kWh vào năm 2020; 400-431 tỷ kWh vào năm 2025; và
572-632 tỷ kWh vào năm 2030
Theo QHĐ VII điều chỉnh, than đá sẽ là nguồn năng lượng chủ yếu trong giai đoạn 2020-2030, chiếm tới 42,7% vào năm 2020; 49,3% vào năm 2025 và 42,6% vào năm 2030
Hình 2: Mục tiêu Công suất Lắp đặt, theo QHĐ VII điều chỉnh
* Năng lượng thủy điện nhỏ, gió, mặt trời và sinh khối
** Thủy điện lớn, vừa và tích năng
Nguồn: QHĐ VII điều chỉnh, tháng 3 năm 2016
1.2 Năng lượng tái tạo
Nếu tính cả thủy điện, tỷ lệ năng lượng tái tạo trong tổng công suất lắp đặt đạt hơn 40% trong năm 2018
QHĐ VII điều chỉnh nêu rõ việc triển khai các nguồn năng lượng tái tạo (năng lượng gió, năng lượng mặt trời và năng lượng sinh học) sẽ được ưu tiên cho tương lại của các nguồn điện quốc gia Các mục tiêu về tỷ trọng năng lượng tái tạo trong sản lượng điện lần lượt là 6,5% vào năm 2020; 6,9% vào năm 2025 và 10,7% vào năm 2030
Trang 4Hình 3: Mục tiêu phát triển năng lượng tái tạo cho năm
2020, 2025 và 2030
Nguồn: Quy hoạch phát triển điện lực quốc gia VII điều chỉnh
GIZ đang hoàn thiện bản đồ các dự án năng lượng tái tạo tại Việt Nam (đang phát triển, đã đăng ký quy hoạch, đang xây dựng và đã đi vào vận hành) Có thể so sánh các dự án đó với các quy hoạch phát triển năng lượng tái tạo của tỉnh Bản đồ này hiện có ở bên dưới và sẽ thường xuyên được cập nhật
Hình 4: Bản đồ các dự án năng lượng tái tạo đang hoạt động hoặc đã được phê duyệt ở Việt Nam
Trang 5Các dự án năng lượng mặt trời
Trang 6Các dự án năng lượng gió
Trang 7Các dự án năng lượng sinh khối
Trang 81.3 Sản lượng điện nhập khẩu
Nhằm giữ cho hệ thống hoạt động một cách linh hoạt và giảm bớt áp lực mở rộng công suất cho đường dây Nhập khẩu điện được xem là giải pháp tạm thời hiệu quả nhất cho hệ
thống điện Việt Nam giúp tận dụng các đường dây kết nối sẵn với Lào và Trung Quốc để nhập khẩu điện bổ sung trong mùa khô mặc dù cũng chỉ chiếm một phần nhỏ
Hình 9 Sản lượng điện nhập khẩu qua từng năm
Tiềm năng nhập khẩu điện: Cơ hội và thách thức
Những nghiên cứu gần đây đã cho thấy, tiềm năng nhập khẩu điện từ các nước láng giềng về Việt Nam có thể đóng góp một phần quan trọng trong cơ cấu nguồn điện quốc gia Việc tăng nhập khẩu điện càng có ý nghĩa khi đặt trong bối cảnh các nguồn điện truyền thống như nhiệt điện than trong nước ngày càng khó xây dựng do các vấn đề về môi trường, nguồn nhiên liệu và khả năng huy động vốn đầu tư
Việt Nam cũng đã ký các Biên bản ghi nhớ MOU (năm 2016) và Hiệp định hợp tác với Lào (2019) về xuất nhập khẩu điện Theo đó, Việt Nam sẽ nhập khẩu từ Lào ít nhất 1.000MW đến năm 2020, 3.000MW đến năm 2025 và 5.000MW đến năm
2030 Đến năm 2020, nhiều nhà đầu tư thủy điện ở Lào và ngay
cả Tổng công ty Điện lực Lào (EDL) đã đặt vấn đề và lập hồ sơ nghiên cứu đấu nối để xuất khẩu điện sang Việt Nam với tổng công suất lên đến khoảng 2.400MW
Trang 9Ngoài tiềm năng từ Lào, Việt Nam còn tiếp giáp với tỉnh Vân Nam (Trung Quốc) - nơi có tiềm năng thủy điện rất lớn, có khả năng xuất khẩu điện sang Việt Nam Theo nghiên cứu của Tập đoàn Thủy điện Trung Quốc, trên địa bàn tỉnh Vân Nam, tiềm năng thủy điện của lưu vực 3 con sông lớn đạt 105.000MW Về khả năng tăng cường nhập khẩu điện từ Trung Quốc, Việt Nam đang nghiên cứu một số phương án với quy mô nhập khẩu từ 2.000MW đến 3.000MW thông qua các trạm chuyển đổi Back-to-Back
Cơ hội nhập khẩu điện dài hạn từ Campuchia là không nhiều, do tiềm năng thủy điện của nước bạn không lớn
Như vậy, trong ba nước láng giềng, cơ hội nhập khẩu điện
từ Lào và Trung Quốc là rất tiềm năng, tuy nhiên, vẫn còn nhiều thách thức đặt ra Đối với việc nhập khẩu điện từ Lào, nhiều nhà đầu tư thủy điện, nhiệt điện, điện gió, điện mặt trời ở Lào rất muốn bán điện sang Việt Nam, nhưng gặp rào cản lớn về thủ tục hành chính và quy trình phức tạp Về nhập khẩu điện
từ Trung Quốc, Việt Nam và Trung Quốc còn thiếu những cam kết ở tầm vĩ mô đối với lĩnh vực xuất - nhập khẩu điện Do vậy, vẫn tiềm ẩn rủi ro nhập khẩu điện dài hạn
Một số giải pháp tăng cường nhập khẩu điện
Với những phân tích ở trên, có thể nhận thấy trọng tâm trong chiến lược nhập khẩu điện cần hướng đến là Lào và Trung Quốc Ngoài ra, tương lai xa có thể xem xét xuất nhập khẩu điện từ mạng lưới 500kV liên kết ASEAN
Thứ nhất, giải pháp mang ý nghĩa căn cơ để tăng cường sản lượng điện nhập khẩu từ nước ngoài là phải khẩn trương xây dựng thị trường điện trong nước theo hướng cạnh tranh bình đẳng, minh bạch có sự điều tiết của nhà nước
Thứ hai, thực tế diễn ra trong những năm gần đây cho thấy, hạ tầng lưới điện dùng chung cho việc nhập khẩu điện chưa được quan tâm đúng mức Các công trình đường dây đấu nối được xây dựng dưới dạng “của ai người ấy lo”, gây lãng phí lớn về vốn đầu tư, cũng như đất đai cho hành lang tuyến đường dây Do vậy, cần có quy hoạch hệ thống hạ tầng truyền tải chuyên dụng dùng chung để nhập khẩu điện và có sự cam kết giữa các chính phủ đối với việc xây dựng hạ tầng chung này
Thứ ba, việc hình thành mạng lưới điện siêu cao áp liên quốc gia là xu hướng tất yếu trong tương lai để tăng cường an ninh cung cấp điện Do vậy, các nước trong khu vực cần xem
Trang 10xét xây dựng hệ thống tiêu chuẩn vận hành chung để có thể kết nối và hòa đồng bộ lưới điện, tránh phải vận hành tách lưới đối với công trình xuất nhập khẩu điện như hiện nay
Rõ ràng, để đáp ứng nhu cầu phát triển, Việt Nam sẽ ngày càng phụ thuộc vào năng lượng nhập khẩu, trong đó nhập khẩu điện có thể đóng vai trò đáng kể trong cân đối năng lượng quốc gia Qua các phân tích cho thấy, tiềm năng nhập khẩu điện chủ yếu đến từ Lào và Trung Quốc với quy mô lên đến khoảng 7.000
MW vào năm 2030 Hiện nay, quy trình thủ tục rườm rà cùng với mức giá điện bình quân thấp đang là rào cản rất lớn cho việc nhập khẩu điện
Cùng với đó, các cam kết ở mức vĩ mô, dài hạn về xuất nhập khẩu điện giữa Việt Nam - Lào, Việt Nam - Trung Quốc cũng cần được xác nhận, là tiền đề để xây dựng hạ tầng truyền tải chuyên dụng dùng chung cho nhập khẩu điện dài hạn, giúp tối ưu hóa vốn đầu tư lưới điện và giảm thiểu quỹ đất cho đường dây truyền tải
Hình 10 Nguồn điện nhập khẩu tiềm năng trong những năm tới
2 LƯỚI ĐIỆN:
Lưới điện truyền tải trên hệ thống điện Việt Nam có các cấp điện áp 500kV, 220kV, lưới điện phân phối có cấp điện áp
từ 110kV trở xuống Lưới điện 500kV trải dài từ Bắc vào Nam
với gần 9.000 km chiều dài, 92 trạm 500kV và 33 mạch đường dây Đây là đường dây truyền tải huyết mạch của
Trang 11hệ thống điện Việt Nam, truyền tải lượng công suất lớn trao đổi giữa các miền
Miền Bắc kết nối với miền Trung qua 2 mạch đường dây 500kV:
• Hà Tĩnh – Đà Nẵng
• Vũng Áng – Đà Nẵng
Miền Trung kết nối với miền Nam qua 4 mạch đường dây 500kV:
• ĐakNông – Cầu Bông
• Pleiku 2 – Chơn Thành – Cầu Bông
• Pleiku 2 – Xuân Thiện Ea Súp – Chơn Thành – Cầu Bông
• Pleiku - Di Linh – Tân Định
Đường dây 500kV mạch 3 đang được gấp rút xây dựng, sau khi hoàn thành sẽ kết nối Vũng Áng – Quảng Trạch – Dốc Sỏi, tăng cường khả năng truyền tải công suất giữa miền Bắc và miền Trung
Theo kịch bản cơ sở của Quy hoạch điện VII điều chỉnh, trong suốt giai đoạn 2016 – 2020 – 2035, GDP tăng trưởng thực
tế là 6,4% Dự báo phụ tải của Quy hoạch điện VIII năm 2030 giảm khoảng 30 tỷ kWh so với phụ tải của Quy hoạch điện VII điều chỉnh Tăng trưởng điện năng sản xuất giai đoạn 2021 –
2030 là 8%/năm; giai đoạn 2031 – 2045 là 4,1%/năm
Năm 2030, hiện đã xây dựng và sắp đưa vào vận hành các đường dây 500 kV rất lớn từ phía Bắc, từ phía Nam của khu vực
Trang 12Bắc Bộ đi qua Trung Bộ để về phía Tây Nguyên, đồng thời xây dựng các đường dây từ phía Nam Trung Bộ về trung tâm phụ tải TPHCM, sắp sửa xây dựng các đường dây lớn từ các nguồn nhiệt điện khí ở Quảng Nam, Quảng Ngãi đi về phía Nam của TPHCM
Sơ đồ lưới điện 500 kV dự kiến vào năm 2030
Trong tương lai, Viện Năng lượng sẽ xem xét để lựa chọn
và thiết kế các hệ thống điện có liên quan đến sự xuất hiện của các trung tâm nguồn truyền tải năng lượng, từ trung tâm nguồn đến trung tâm phụ tải
Với sự phát triển của khoa học công nghệ hiện nay, Việt Nam không chỉ có 2 trung tâm phụ tải lớn là trung du, đồng bằng Bắc Bộ và khu vực Đông Nam Bộ mà còn mở rộng thêm 4 trung tâm nguồn tương đối lớn về năng lượng tái tạo Cụ thể như: nhiệt điện, điện gió ở khu vực Bắc Trung Bộ (Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị); khu vực Tây Nguyên với tiềm năng về điện gió, điện mặt trời, thủy điện; phía Nam Trung Bộ (Ninh Thuận, Bình Thuận, Khánh hòa) có nguồn nhiệt điện, năng lượng tái tạo lớn; trung tâm nguồn thứ 4 là phía Tây Bắc Bộ với nguồn nhiệt điện than, điện khí, điện gió Việc phân vùng giúp thiết kế lưới truyền tải chính thêm thuận lợi, có thể cân đối cung cầu cho từng vùng, cùng với đó, việc truyển tải liên vùng, liên miền sẽ được Viện xem xét
Trang 13Dự kiến tiến độ xây dựng Quy hoạch điện VIII trong khoảng 10 tháng, tính từ đầu năm 2020 Hiện Viện Năng lượng
đã hoàn thành bước đầu một số hạng mục và dự tính vào đầu tháng 7 tới sẽ tổ chức hội thảo về Quy hoạch điện VIII Dự kiến, hội thảo giới thiệu về Quy hoạch điện VIII sẽ bao gồm phương pháp luận; thực trạng hệ thống điện; các giả thiết, thông số trong chương trình phát triển hệ thống điện; kết quả và các dự kiến phát triển nguồn điện trong tương lai
3 PHỤ TẢI.
Sản lượng phụ tải hệ thống điện Quốc gia năm 2020
gần 250.000 triệu kWh, trong đó sản lượng ngày lớn nhất hơn 800 triệu kWh, công suất đỉnh gần 40.000 MW Tăng
trưởng hàng năm của phụ tải trong 10 năm trở lại đây là rất lớn,
có năm lên tới hơn 14% Tuy nhiên do ảnh hưởng của dịch Covid-19, tăng trưởng của năm 2020 chỉ 3,1%
Cơ cấu phụ tải với 2 thành phần chủ yếu là Công nghiệp & xây dựng (54%) và Quản lý & tiêu dùng dân cư (34%) Thành phần điện sử dụng cho sinh hoạt vẫn chiếm tỷ trọng lớn, ảnh hưởng nhiều tới hình dáng của biểu đồ phụ tải, chênh lệch cao điểm-thấp điểm lớn… do ảnh hưởng của thói quen, tập quán sinh hoạt củacưdân
Phân bố phụ tải trên 3 miền (số liệu năm 2021 từ trung tâm điều độ quốc gia)