* Giới thiệu khái quát về tác giả, tác phẩm và đoạn trích * Cảm nhận vẻ đẹp sông Hương trong đoạn trích - Sông Hương giữa lòng thành phố mang trong mình vẻ đẹp riêng, độc đáo: - Sông Hươ[r]
Trang 1TRƯỜNG THPT
LÊ VIẾT THUẬT
ĐỀ THI THỬ THPT QUỐC GIA
MÔN NGỮ VĂN
NĂM HỌC 2021-2022 Thời gian làm bài: 120 phút
ĐỀ THI SỐ 1
I ĐỌC – HIỂU (3,0 điểm)
Đọc đoạn trích:
…Không thể nào chấp nhận sống:
Với lời cầu xin, lời doạ nạt Con người luôn đi sau thời gian
Để thời gian chỉ còn báo mộng Không thể nào bưng hai tay Một bình an đặng sống Không thể nào cúi đầu Nhìn ngón chân bất lực
Không thể nào chấp nhận sống:
Mà không biết mình về đâu Không biết mình có thể làm gì Buồn vui theo kẻ khác
Không thể nào chấp nhận sống:
Trong sợ hãi, trong lọc lừa Chẳng nhớ tim mình còn đập
Không thể nào chấp nhận sống:
Khi mình chưa là mình Trống trơ như vực thẳm
(Trích Sống – Nguyễn Khoa Điềm,)
Câu 1 Xác định thể thơ của đoạn trích
Câu 2 Chỉ ra ba lối sống không thể nào chấp nhận được đề cập trong đoạn trích
Câu 3 Nêu hiệu quả của phép điệp cấu trúc: Không thể nào chấp nhận sống…
Trang 2Câu 4 Anh/Chị có đồng tình với ý kiến của tác giả Không thể nào chấp nhận sống/Mà không biết mình
về đâu không? Vì sao?
II LÀM VĂN (7,0 điểm)
Câu 1 (2,0 điểm)
Từ nội dung đoạn trích ở phần Đọc hiểu, hãy viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ của
anh/chị về sự cần thiết của việc sống là chính mình
Câu 2 (5,0 điểm)
… Bữa cơm ngày đói trông thật thảm hại Giữa cái mẹt rách có độc một lùm rau chuối thái rối, và một
đĩa muối ăn với cháo, nhưng cả nhà đều ăn rất ngon lành Bà cụ vừa ăn vừa kể chuyện làm ăn, gia cảnh
với con dâu Bà lão nói toàn chuyện vui, toàn chuyện sung sướng về sau này:
- Tràng ạ Khi nào có tiền ta mua lấy đôi gà Tao tính rằng cái chỗ đầu bếp kia làm cái chuồng gà thì
tiện quá Này ngoảnh đi ngoảnh lại chả mấy mà có ngay đàn gà cho mà xem
Tràng chỉ vâng Tràng vâng rất ngoan ngoãn Chưa bao giờ trong nhà này mẹ con lại đầm ấm, hòa hợp
như thế Câu chuyện trong bữa ăn đang đà vui bỗng ngừng lại Niêu cháo lõng bõng, mỗi người được
có lưng lưng hai bát đã hết nhẵn
Bà lão đặt đũa bát xuống, nhìn hai con vui vẻ:
- Chúng mày đợi u nhá Tao có cái này hay lắm cơ
Bà lật đật chạy xuống bếp, lễ mễ bưng ra một cái nồi khói bốc lên nghi ngút Bà lão đặt cái nồi xuống
bên cạnh mẹt cơm, cầm cái môi vừa khuấy khuấy vừa cười:
- Chè đây - Bà lão múc ra một bát - Chè khoán đây, ngon đáo để cơ
Người con dâu đón lấy cái bát, đưa lên mắt nhìn, hai con mắt thị tối lại Thị điềm nhiên và vào miệng
Tràng cầm cái bát thứ hai mẹ đưa cho, người mẹ vẫn tươi cười, đon đả:
- Cám đấy mày ạ, hì Ngon đáo để, cứ thử ăn mà xem Xóm ta khối nhà còn chả có cám mà ăn đấy
Tràng cầm đôi đũa, gợt một miếng bỏ vội vào miệng Mặt hắn chun ngay lại, miếng cám đắng chát và
nghẹn bứ trong cổ Bữa cơm từ đấy không ai nói câu gì, họ cắm đầu ăn cho xong lần, họ tránh nhìn mặt
nhau Một nỗi tủi hờn len vào tâm trí mọi người
(Trích Vợ nhặt, Kim Lân, Ngữ văn 12, Tập hai)
Trang 3Anh/Chị hãy cảm nhận cảnh ngộ và vẻ đẹp của người lao động nghèo trong đoạn trích Từ đó, nhận xét
về cách nhìn con người của nhà văn Kim Lân
-HẾT -
ĐÁP ÁN ĐỀ THI SỐ 1
I ĐỌC – HIỂU
Câu 1 Thể thơ: tự do
Câu 2 Lối sống không thể nào chấp nhận được đề cập trong đoạn trích: sống với lời cầu xin, lời doạ
nạt; sống cúi đầu; sống không biết về đâu, không biết có thể làm gì; sống buồn vui theo kẻ khác; sống
trong sợ hãi, trong lọc lừa; sống chưa là mình
Lưu ý: Học sinh có thể chép lại những câu thơ có lối sống không thể chấp nhận vẫn cho điểm tối đa
Câu 3 Tác dụng của phép điệp cấu trúc: Không thể nào chấp nhận sống
- Nhấn mạnh, khẳng định quan niệm sống của tác giả: không chấp nhận sống giả dối, hèn nhát, vô giá
trị, không dám là chính mình Đồng thời làm nổi bật thông điệp: sống thật, sống tích cực với những giá
trị mình có
- Góp phần tạo nhịp điệu dồn dập, âm hưởng thôi thúc, tăng sức biểu cảm cho đoạn thơ
- Bày tỏ quan điểm của bản thân: đồng tình/ không đồng tình/ đồng tình một phần
- Lí giải hợp lí, thuyết phục
Câu 4 Học sinh có thể bày tỏ suy nghĩ, quan điểm riêng nhưng phải phù hợp với chuẩn mực đạo đức
và pháp luật
II LÀM VĂN
Câu 1 Viết đoạn văn về sự cần thiết của việc sống là chính mình
a Đảm bảo yêu cầu về hình thức đoạn văn
b Xác định đúng vấn đề cần nghị luận: sự cần thiết của việc sống là chính mình
c Triển khai vấn đề nghị luận: Học sinh có thể lựa chọn các thao tác lập luận phù hợp để triển khai
nhưng phải lí giải được vấn đề, có thể theo hướng sau:
- Sống là chính mình khiến ta không phải che giấu suy nghĩ, cảm xúc, được thành thật với bản thân Từ
đó, tìm thấy niềm vui, sự an yên trong cuộc sống
Trang 4- Được sống là chính mình giúp ta có ý chí, kiên định, có động lực, niềm tin hoàn thiện mình và thực
hiện mục tiêu sống
- Sống là chính mình sẽ tạo nên bản sắc riêng, làm cho cộng đồng đa sắc diện
Hướng dẫn chấm:
+ Lập luận chặt chẽ, thuyết phục: lí lẽ xác đáng; dẫn chứng tiêu biểu, phù hợp; kết hợp nhuần nhuyễn
giữa lí lẽ và dẫn chứng (0,75 điểm)
+ Lập luận chưa thật chặt chẽ, thuyết phục: lí lẽ xác đáng nhưng không có dẫn chứng hoặc dẫn chứng
không tiêu biểu (0,5 điểm)
+ Lập luận không chặt chẽ, thiếu thuyết phục: lí lẽ không xác đáng, không liên quan mật thiết đến vấn
đề, không có dẫn chứng hoặc dẫn chứng không phù hợp (0,25 điểm)
Lưu ý: Học sinh có thể bày tỏ suy nghĩ, quan điểm riêng nhưng phải phù hợp với chuẩn mực đạo đức
và pháp luật
d Chính tả, ngữ pháp: Đảm bảo chuẩn chính tả, ngữ pháp tiếng Việt
Hướng dẫn chấm: Không cho điểm nếu bài làm có quá nhiều lỗi chính tả, ngữ pháp
e Sáng tạo: Thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận; có dẫn chứng, cách diễn đạt mới mẻ
Hướng dẫn chấm: Học sinh huy động được kiến thức và trải nghiệm của bản thân để bàn luận về vấn
đề;có cách nhìn riêng, mới mẻ; có sáng tạo trong diễn đạt, lập luận, làm cho lời văn có giọng điệu, hình
ảnh, đoạn văn giàu sức thuyết phục
Câu 2 Cảm nhận cảnh ngộ và vẻ đẹp của người lao động nghèo trong đoạn trích; nhận xét cách nhìn
con người của nhà văn Kim Lân
a Đảm bảo cấu trúc bài nghị luận
Mở bài nêu được vấn đề, Thân bài triển khai được vấn đề, Kết bài khái quát được vấn đề
b Xác định đúng vấn đề cần nghị luận: cảnh ngộ và vẻ đẹp của người lao động nghèo; nhận xét cách
nhìn con người của nhà văn Kim Lân
Hướng dẫn chấm:
- Học sinh xác định đúng vấn đề cần nghị luận: 0,5 điểm
- Học sinh xác định chưa đầy đủ vấn đề nghị luận: 0,25 điểm
c Triển khai vấn đề nghị luận thành các luận điểm:
Trang 5* Giới thiệu khái quát về tác giả, tác phẩm và đoạn trích
* Cảm nhận cảnh ngộ và vẻ đẹp của người lao động
- Cảnh ngộ của người lao động trong nạn đói:
+ Thực tại đói khổ: bữa cơm ngày đói thảm hại chỉ có một lùm rau chuối thái rối, một đĩa muối ăn với
cháo, niêu cháo lõng bõng mỗi người được có lưng lưng hai bát đã hết nhẵn, món quà cưới là nồi cháo
cám đắng chát,…
+ Ám ảnh về đói khát tước đi những giây phút hạnh phúc đời thường: Nỗi tủi hờn len vào tâm trí mọi
người trong bữa cơm đoàn tụ đầu tiên Người con dâu đón lấy cái bát, đưa lên mắt nhìn, hai con mắt thị
tối lại; Tràng cầm đôi đũa, gợt một miếng bỏ vội vào miệng Mặt hắn chun ngay lại, miếng cám đắng
chát và nghẹn bứ trong cổ Bữa cơm từ đấy không ai nói câu gì, họ cắm đầu ăn cho xong lần, họ tránh
nhìn mặt nhau
- Vẻ đẹp của người lao động trong nạn đói:
+ Dù đói, khổ vẫn lạc quan hướng đến tương lai: Trong bữa cơm, bà lão nói toàn chuyện vui, toàn
chuyện sung sướng về sau này; bà vẽ ra những viễn cảnh tươi đẹp (mua lấy một đôi gà, nghoảnh đi
nghoảnh lại chả mấy mà có đàn gà); bà gọi cháo cám là chè khoán; bà động viên các con bằng niềm lạc
quan (ngon đáo để, xóm ta khối nhà còn chả có cám mà ăn),…
+ Dù đói, khổ vẫn yêu thương, trân trọng nhau, vẫn muốn sống cho ra người: bữa cơm đầu tiên tuy sơ
sài, thiếu thốn nhưng vẫn đầy ắp tình yêu thương (bà cụ Tứ hồ hởi kể chuyện làm ăn gia cảnh, Tràng
vâng rất ngoan ngoãn, không khí gia đình đầm ấm, hòa hợp); người con dâu trân trọng tình cảm của
người mẹ nghèo (tuy hai con mắt tối sầm lại trước bát cháo cám nhưng thị vẫn điềm nhiên và vào
miệng),…
- Nghệ thuật: Cảnh ngộ và vẻ đẹp của người lao động trong nạn đói được thể hiện bằng tình huống
truyện độc đáo, éo le; khả năng miêu tả tâm trạng nhân vật tinh tế, khéo léo; cách kể truyện ở ngôi thứ
ba khách quan, tự nhiên gây hứng thú; ngôn ngữ giản dị, mộc mạc;…
* Nhận xét cách nhìn con người của Kim Lân
- Cách nhìn con người sâu sắc và mới mẻ: Không chỉ nhìn ra tình cảnh thê thảm của người lao động
trong nạn đói mà còn phát hiện, trân trọng, ngợi ca vẻ đẹp tình người, khát vọng sống, khát vọng hạnh
phúc; tin tưởng vào khả năng thay đổi cuộc đời của họ
- Ý nghĩa: Đó là cách nhìn nhân văn, góp phần quan trọng làm nên giá trị hiện thực và nhân đạo cho tác
phẩm; khẳng định tài năng và phong cách của Kim Lân trong nền văn học dân tộc
Trang 6ĐỀ THI SỐ 2
I ĐỌC – HIỂU (3,0 điểm)
Bỗng vui mừng bắt gặp một nhành hoa Khắp Hoàng Liên trên một ngàn thước núi Hoa nếp mỏng manh trước tầm gió thổi Hoa diếp vàng cô độc giữa thâm u
Và bên đường hoa nghệ dại ngẩn ngơ Hoa sim tím một nỗi buồn hoang dã Hoa lay ơn góc vườn xưa còn nhớ
Mà thấy người cành lá khẽ lung lay…
Hoa mọc dưới chân người, hoa mọc đến chân mây (Có nhiều thứ hoa còn chưa biết rõ…) Anh đừng hỏi tên hoa làm chi nữa Những hoa này chỉ hoa dại mà thôi!
Không phải hoa được ở cùng người Được chăm sóc những mảnh vườn sạch cỏ Được khoe đến muôn màu sắc lạ
Và được đời chiêm ngưỡng mùi hương Không phải hoa được cắm trên bàn Trong ngày hội của những niềm vui mới Những hoa này lại nở cho triền núi Lại nở cho vẻ đẹp của rừng chung Nên ít ai để ý sắc từng bông Chỉ thấy núi muôn màu rực rỡ Đôi khi giẫm lên hoa mà chẳng nhớ…
Trang 7Những hoa này chỉ hoa dại mà thôi
(Trích Hoa dại núi Hoàng Liên, Tập thơ Tự hát (1984), Xuân Quỳnh)
Thực hiện các yêu cầu sau:
Câu 1 Xác định phương thức biểu đạt chính của văn bản
Câu 2 Theo tác giả, hoa dại có điểm gì khác với hoa được ở cùng người?
Câu 3 Nêu tác dụng của biện pháp nhân hoá được sử dụng trong những dòng thơ sau:
Hoa nếp mỏng manh trước tầm gió thổi Hoa diếp vàng cô độc giữa thâm u
Và bên đường hoa nghệ dại ngẩn ngơ Hoa sim tím một nỗi buồn hoang dã Hoa lay ơn góc vườn xưa còn nhớ
Mà thấy người cành lá khẽ lung lay…
Câu 4 Nhận xét của anh/chị về tình cảm của nhà thơ Xuân Quỳnh dành cho loài hoa dại qua những
dòng thơ:
Những hoa này lại nở cho triền núi Lại nở cho vẻ đẹp của rừng chung Nên ít ai để ý sắc từng bông Chỉ thấy núi muôn màu rực rỡ Đôi khi giẫm lên hoa mà chẳng nhớ…
II LÀM VĂN ( 7,0 điểm)
Câu 1 (2,0 điểm) Từ hình ảnh của những bông hoa dại trong văn bản đọc hiểu, anh/chị hãy viết đoạn
văn ngắn (khoảng 200 chữ) bàn về ý nghĩa của sự cống hiến thầm lặng trong cuộc đời
Câu 2 (5,0 điểm)
[…] Từ đây, như đã tìm đúng đường về, sông Hương vui tươi hẳn lên giữa những biền bãi xanh biếc
của vùng ngoại ô Kim Long, kéo một nét thẳng thực yên tâm theo hướng tây nam – đông bắc, phía đó,
nơi cuối đường, nó đã nhìn thấy chiếc cầu trắng của thành phố in ngần trên nền trời, nhỏ nhắn như những
vành trăng non Giáp mặt thành phố ở Cồn Giã Viên, sông Hương uốn một cánh cung rất nhẹ sang đến
Trang 8Cồn Hến; đường cong ấy làm cho dòng sông mềm hẳn đi, như một tiếng “vâng” không nói ra của tình
yêu Và như vậy, giống như sông Xen của Pa-ri, sông Đa-nuýp của Bu-đa-pét, sông Hương nằm ngay
giữa lòng thành phố yêu quý của mình; Huế trong tổng thể vẫn giữ nguyên dạng một đô thị cổ, trải dọc
hai bờ sông Đầu và cuối ngõ thành phố, những nhánh sông đào mang nước sông Hương tỏa đi khắp
phố thị với những cây đa, cây cừa cổ thụ tỏa vầng lá u sầm xuống xóm thuyền xúm xít; từ những nơi
ấy, vẫn lập lòe trong đêm sương những ánh lửa thuyền chài của một linh hồn mô tê xưa cũ mà không
một thành phố hiện đại nào còn nhìn thấy được Những chi lưu ấy, cùng với hai hòn đảo nhỏ trên sông
đã làm giảm hẳn lưu tốc của dòng nước, khiến cho sông Hương khi đi qua thành phố đã trôi đi chậm,
thực chậm, cơ hồ chỉ còn là một mặt hồ yên tĩnh Tôi đã đến Lê-nin-grát, có lúc đứng nhìn sông Nê-va
cuốn trôi những đám băng lô xô, nhấp nháy trăm màu dưới ánh sáng mặt trời mùa xuân; mỗi phiến băng
chở một con hải âu nghịch ngợm đứng co lên một chân, thích thú với chiếc thuyền xinh đẹp của chúng;
và đoàn tàu tốc hành lạ lùng ấy với những hành khách tí hon của nó băng băng lướt qua trước cung điện
Pê-téc-bua cũ để ra bể Ban-tích […] Hai nghìn năm trước, có một người Hi Lạp tên là Hê-ra-clít, đã
khóc suốt đời vì những dòng sông trôi đi quá nhanh, thế vậy! Lúc ấy, tôi nhớ lại con sông Hương của
tôi, chợt thấy quý điệu chảy lặng lờ của nó khi ngang qua thành phố… Đấy là điệu slow tình cảm dành
riêng cho Huế, có thể cảm nhận được bằng thị giác qua trăm nghìn ánh hoa đăng bồng bềnh vào những
đêm hội rằm tháng Bảy từ điện Hòn Chén trôi về, qua Huế bỗng ngập ngừng như muốn đi muốn ở, chao
nhẹ trên mặt nước như những vấn vương của một nỗi lòng
(Trích Ai đã đặt tên cho dòng sông?, Hoàng Phủ Ngọc Tường, Ngữ văn 12)
Cảm nhận của anh/chị về vẻ đẹp của sông Hương trong đoạn trích trên Từ đó nhận xét cách nhìn mang
tính phát hiện về dòng sông của nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường
-HẾT -
ĐÁP ÁN ĐỀ THI SỐ 2
I ĐỌC – HIỂU
Câu 1 Phương thức biểu đạt chính: Biểu cảm
Câu 2 Điểm khác của hoa dại với hoa ở cùng người:
- Không được chăm sóc những mảnh vườn sạch cỏ, không được đời chiêm ngưỡng mùi hương, không
phải hoa được cắm trên bàn trong ngày hội của những niềm vui mới…
- Những hoa này lại nở cho triền núi, cho vẻ đẹp của rừng chung, ít ai để ý sắc từng bông…
Câu 3 Tác dụng của biện pháp nhân hoá:
Trang 9+ Thể hiện sinh động, cụ thể vẻ đẹp riêng của từng loài hoa dại Thiên nhiên hoa cỏ trở nên gần gũi,
mang linh hồn, tâm trạng con người (Hoa nếp mỏng manh, hoa diếp vàng cô độc, hoa sim tím – buồn
hoang dã,hoa lay ơn – nhớ…)
+ Giúp con người nhận ra và biết nâng niu, trân trọng vẻ đẹp của những loài hoa bé nhỏ bên đường
+ Góp phần làm cho câu thơ gợi hình, gợi cảm, lôi cuốn, hấp dẫn, giàu khả năng liên tưởng…
Câu 4 Nhận xét tình cảm của nhà thơ:
- Tác giả nâng niu, trân trọng vẻ đẹp, những hi sinh thầm lặng của hoa dại; xót xa trước sự vô tình, lãng
quên của người đời với loài hoa bé nhỏ bên đường
- Tình cảm ấy thể hiện sự tinh tế, nhạy cảm của một hồn thơ giàu lòng trắc ẩn, luôn chân thành, đằm
thắm, yêu thương
II LÀM VĂN
Câu 1
a Đảm bảo yêu cầu về hình thức đoạn văn
b Xác định đúng vấn đề cần nghị luận: ý nghĩa của sự cống hiến thầm lặng trong cuộc đời
c Triển khai vấn đề nghị luận: Học sinh có thể lựa chọn các thao tác lập luận phù hợp để triển khai
vấn đề nhưng phải nêu được ý nghĩa của sự cống hiến thầm lặng, có thể theo hướng sau:
- Những cống hiến thầm lặng mang lại niềm vui
- Khẳng định giá trị và ý nghĩa sự sống của mỗi con người;
- Cá nhân có cống hiến thầm lặng luôn được ngưỡng mộ, yêu mến, trân trọng;
- Những cống hiến thầm lặng cũng góp phần lan toả các giá trị tốt đẹp, thúc đẩy sự phát triển của xã hội;
thể hiện nét đẹp truyền thống của dân tộc…
Câu 2
a Đảm bảo cấu trúc bài nghị luận
Mở bài nêu được vấn đề, Thân bài triển khai được vấn đề, Kết bài khái quát được vấn đề
b Xác định đúng vấn đề cần nghị luận: hình tượng sông Hương trong đoạn trích; cách nhìn mang
tính phát hiện về dòng sông của tác giả
c Triển khai vấn đề nghị luận thành các luận điểm:
Trang 10* Giới thiệu khái quát về tác giả, tác phẩm và đoạn trích
* Cảm nhận vẻ đẹp sông Hương trong đoạn trích
- Sông Hương giữa lòng thành phố mang trong mình vẻ đẹp riêng, độc đáo:
- Sông Hương mang vẻ đẹp hồn nhiên, dịu dàng và đắm say: sông Hương vui tươi hẳn lên; yên bình,
thanh thản kéo một nét thẳng thực yên tâm như tìm thấy chính mình, tìm thấy tình yêu đích thực; uốn
một cánh cung rất nhẹ, như tiếng vâng không nói ra của tình yêu…
- Sông Hương mang vẻ đẹp sâu lắng, đa cảm và đa tình: Sông Hương góp phần gìn giữ nét đẹp cổ kính
cho mảnh đất cố đô; dòng sông đa cảm, đa tình như những vấn vương của một nỗi lòng (trôi đi chậm,
thực chậm, cơ hồ chỉ còn là một mặt hồ yên tĩnh, điệu slow tình cảm dành riêng cho xứ Huế…)
*Nghệ thuật
- Hình tượng sông Hương được thể hiện bằng ngôn ngữ tinh tế, giàu chất thơ; lối hành văn hướng nội,
mê đắm, tài hoa; nghệ thuật so sánh, nhân hoá tạo nên những liên tưởng độc đáo, thú vị
* Nhận xét cách nhìn mang tính phát hiện về dòng sông của nhà văn
- Nhà văn đã khám phá dòng sông dưới nhiều góc độ khác nhau; nhìn ngắm sông Hương không chỉ như
một dòng chảy tự nhiên mà còn như một con người với vẻ đẹp tâm hồn sâu thẳm, đầy nữ tính; không
chỉ khám phá những nét riêng duyên dáng, độc đáo mà còn khẳng định vai trò sinh thành văn hoá Huế
của dòng sông
- Cách nhìn độc đáo, lãng mạn, tinh tế và tài hoa ấy cho thấy vốn hiểu biết uyên bác, sự gắn bó thiết tha,
tình yêu quê hương xứ sở sâu nặng, phong cách kí đậm chất trí tuệ và trữ tình của nhà văn
ĐỀ THI SỐ 3
I ĐỌC – HIỂU (3,0 điểm)
Đọc văn bản sau và thực hiện các yêu cầu:
Khi phải đối mặt với khó khăn, hãy tự nhủ rằng mọi rắc rối sẽ được giải quyết, từ đó nỗ lực tìm giải
pháp cho vấn đề Đó chính là cách tạo ra sự khởi đầu tốt đẹp Hãy nhớ rằng thành công trong cuộc
sống luôn đi kèm với những câu khẳng định như:“Tôi có thể” hoặc “Tôi sẽ làm được”, và hành động
bao giờ cũng tạo ra điều kì diệu Đừng ngồi đó chờ đợi mộng tưởng biến thành sự thật Khi đã nỗ lực
hết mình, dù có thất bại, bạn cũng không phải tiếc nuối Thất bại khiến bạn không chỉ rút ra bài học
kinh nghiệm mà còn hiểu được giá trị của thành công Bạn thực sự thất bại khi chưa thử mọi cơ hội mà
bạn đang có Khi thực sự muốn làm một điều gì đó, chắc chắn sẽ có cách để bạn làm được