CHƯƠNG 1:TỔNG QUAN VỀ THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ VÀ NGUỒN NHÂN LỰC CHO THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ TẠI VIỆT NAM 1.1 Tổng quan về thương mại điện tử 1.1.1 Khái niệm về thương mại điện tử TMĐT chỉ xảy ra t
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
Viện thương mại và Kinh tế quốc tế
-o0o -ĐỀ ÁN
NGÀNH: THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ
Chủ đề: Đào tạo nguồn nhân lực về thương mại điện tử
Sinh viên thực hiện : Lương Công Việt
Giảng viên hướng dẫn : TS Nguyễn Quang Huy
Hà Nội – 2021
Trang 2MỤC LỤC
DANH SÁCH CÁC HÌNH VẼ i
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT ii
LỜI MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Nội dung nghiên cứu 1
3 Phạm vi nghiên cứu 2
4 Kết cấu của Đề án 2
CHƯƠNG 1: 3
TỔNG QUAN VỀ THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ VÀ NGUỒN NHÂN LỰC CHO THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ TẠI VIỆT NAM 3
1.1 Tổng quan về thương mại điện tử 3
1.1.1 Khái niệm về thương mại điện tử 3
1.1.2 Đặc điểm của thương mại điện tử 3
1.1.3 Lợi ích của thương mại điện tử 4
1.1.3.1 Đối với chính phủ 4
1.1.3.2 Đối với doanh nghiệp 5
1.1.3.3 Đối với người tiêu dùng 6
1.2 Nguồn nhân lực thương mại điện tử 6
1.2.1 Khái quát về nguồn nhân lực cho thương mại điện tử 6
1.2.1.1 Khái niệm nguồn nhân lực 6
1.2.1.2 Nguồn nhân lực thương mại điện tử 7
1.2.1.3 Vai trò của nguồn nhân lực đối với sự phát triển của thương mại điện tử 7
1.2.2 Sự cần thiết phải đào tạo nguồn nhân lực thương mại điện tử 8
1.2.2.1 Muốn thương mại điện tử phát triển thì phải đào tạo nguồn nhân lực 8 1.2.2.2 Đào tạo nguồn nhân lực thương mại điện tử để đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam 10
1.2.2.3 Đào tạo nguồn nhân lực cho thương mại điện tử nhằm bảo đảm triển khai các hoạt động thương mại điện tử ở doanh nghiệp 11
1.2.2.4 Đào tạo nguồn nhân lực nhằm tăng cường năng lực về nhân lực cho thương mại điện tử 11
Trang 3CHƯƠNG 2: 13
NGUỒN NHÂN LỰC TRONG THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ HIỆN NAY 13
2.1 Thực trạng nguồn nhân lực thương mại điện tử tại Việt Nam 13
2.1.1 Khuynh hướng tiếp cận trong chương trình giảng dạy 13
2.1.1.1 Cách tiếp cận theo khuynh hướng Công nghệ thông tin 13
2.1.1.2 Cách tiếp cận theo khuynh hướng quản trị kinh doanh 13
2.1.1.3 Cách tiếp cận theo khuynh hướng Liên ngành 13
2.1.2 Nhu cầu nguồn nhân lực thương mại điện tử tại Việt Nam 14
2.1.3 Thực trạng đào tạo nguồn nhân lực thương mại điện tử tại Việt Nam .16
2.2 Một số vấn đề về nguồn nhân lực thương mại điện tử 18
2.2.1 Vai trò của đào tạo nguồn nhân lực thương mại điện tử 18
2.2.1.1 Đối với doanh nghiệp 18
2.2.1.2 Đối với cá nhân được đào tạo 20
2.2.2 Vấn đề về Đào tạo 20
2.2.2.1 Hệ thống đào tạo chưa đủ thu hút 20
2.2.2.2 Tiếp cận lý thuyết nhiều hơn thực hành 21
2.2.2.3 Cơ sở đào tạo và doanh nghiệp chưa liên kết với nhau để đào tạo nguồn nhân lực 21
2.2.3 Vấn đề thiếu hụt nguồn nhân lực Thương mại điện tử có chuyên môn tốt 22
CHƯƠNG 3: 24
MỘT SỐ KIẾN NGHỊ ĐÓNG GÓP ĐỐI VỚI ĐÀO TẠO NGUỒN NHÂN LỰC VỀ THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ 24
3 Một số kiến nghị đối với đào tạo nguồn nhân lực về thương mại điện tử 24 3.1 Đối với cơ sở đào tạo Đại học, Cao đẳng 24
3.2 Đối với người học 26
3.3 Đối với doanh nghiệp 27
KẾT LUẬN 29
TÀI LIỆU THAM KHẢO 30
Trang 4DANH SÁCH CÁC HÌNH VẼ
Hình 2.1: Lao động chuyên trách về thương mại điện tử phân theo quy mô 15
Hình 2.2: Lao động chuyên trách về TMĐT phân theo lĩnh vực kinh doanh 16
Hình 2.3: Tỷ lệ doanh nghiệp có cán bộ chuyên trách TMĐT 17
Hình 2.4: Cơ cấu nhân lực trong doanh nghiệp 19
Hình 2.5: Tỷ lệ doanh nghiệp gặp khó khăn khi tuyển dụng lao động có kỹ năng về TMĐT và CNTT 23
i
Trang 5DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT Tiếng Việt:
CNH – HĐH Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Trang 6LỜI MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Ngày nay, thương mại điện tử (TMĐT) đóng một vai trò ngày càng quantrọng trong sự phát triển của nền kinh tế thế giới Mang lại một hình thứckinh doanh mới mẻ và có hiệu quả cao đối với các doanh nghiệp Nhận thứcđược xu hướng này, ở Việt Nam TMĐT đang dần được xây dựng và pháttriển mạnh mẽ, đặc biệt là trong những năm gần đây cùng với sự bùng nổcủa CNTT và hội nhập sâu rộng nền kinh tế thế giới
Nhận được nhiều sự đầu tư từ nước ngoài về TMĐT đã làm cho TMĐTViệt Nam bước vào giai đoạn phát triển thần tốc Không chỉ có nhữngdoanh nghiệp nước ngoài mà những doanh nghiệp TMĐT do người Việt củangười Việt Nam cũng đã góp phần làm TMĐT Việt Nam trở nên vững mạnhhơn Đã có những công ty TMĐT nội địa được định giá 1 tỷ USD Điều nàycho thấy cơ hội kinh doanh điện tử tất yếu trong thời đại 4.0 hiện nay Nếucác doanh nghiệp muốn đứng vững và khẳng định vị trí trong một môitrường cạnh tranh đầy thách thức thì việc quan tâm và phát triển TMĐT làđiều tối quan trọng
Để phát triển TMĐT cần rất nhiều yếu tố, song yếu tố quan trọng nhất,yếu tố quyết định chính là con người – nguồn nhân lực cho TMĐT Tronggiai đoạn 2017 đến nay, đã có những tín hiệu đáng mừng trong đào tạonguồn nhân lực cho TMĐT, song có thể nói nguồn nhân lực cho TMĐT ởViệt Nam hiện nay vẫn còn chưa đáp ứng được yêu cầu của doanh nghiệpcũng như các yêu cầu hội nhập Quốc tế Trong thời gian này, số lượngdoanh nghiệp tham gia kinh doanh điện tử cũng đã tăng lên đáng kể và mức
độ tham gia sâu rộng hơn, chính vì thế mà việc đào tạo nguồn nhân lực cóchất lượng cho TMĐT trở thành một nhiệm vụ trọng tâm
Từ tính cấp thiết của đề tài cho thấy đây là vấn đề cần có được sự quantâm và có nhiều ý nghĩa trong thực tế, do đó người viết đã chọn đề tài này
để đưa ra kiến nghị trong Đề án chuyên ngành – Thương mại điện tử
2 Nội dung nghiên cứu
Nội dung nghiên cứu của đề án sẽ hướng đến thực trạng nguồn nhân lựcthương mại điện tử tại Việt Nam Cùng với đó là một số vấn đề về nguồnnhân lực trong thương mại điện tử Về vai trò của đào tạo nguồn nhân lực
1
Trang 7trong thương mại điện tử và các vấn đề về đào tạo TMĐT tại Việt Nam Từ
đó đưa ra kiến nghị để nâng cao chất lượng đào tạo và nguồn nhân lựcthương mại điện tử Việt Nam trong doanh nghiệp và các tổ chức nói chung
3 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu của đề án sẽ nhắm vào những cơ sở đào tạo đại học,cao đẳng có đào tạo về TMĐT Cùng với đó là các doanh nghiệp có ứngdụng TMĐT trong hoạt động kinh doanh của mình Ngoài ra còn có nhữngnghiên cứu liên quan đến chính sách phát triển nguồn nhân lực TMĐT củachính phủ Và cuối cùng là nhắm đến người được đào tạo về TMĐT Ở đây
có thể là sinh viên các ngành TMĐT, các cá nhân đang làm việc trong tổchức có hoạt động TMĐT như là doanh nghiệp hoặc các cơ quan thuộcquản lý của nhà nước
Chương 2: Nguồn nhân lực trong thương mại điện tử hiện nay
Chương 3: Một số kiến nghị đóng góp đối với đào tạo nguồn nhân lực về thương mại điện tử
2
Trang 8CHƯƠNG 1:
TỔNG QUAN VỀ THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ VÀ NGUỒN NHÂN LỰC
CHO THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ TẠI VIỆT NAM
1.1 Tổng quan về thương mại điện tử
1.1.1 Khái niệm về thương mại điện tử
TMĐT chỉ xảy ra trong môi trường kinh doanh mạng Internet và cácphương tiện điện tử giữa các nhóm (cá nhân) với nhau thông qua các công
cụ, kỹ thuật và công nghệ điện tử Ngoài ra, theo nghiên cứu tại đại họcTexas, các học giả cho rằng thương mại điện tử và kinh doanh điện tử đều bịbao hàm bởi Nền kinh tế Internet (Internet economy)
TMĐT là công cụ, là phương tiện góp phần nâng cao năng lực cạnh tranhcủa các doanh nghiệp nói riêng và nền kinh tế các quốc gia nói chung trongbối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế Theo khái niệm chung nhất, TMĐT là việctiến hành các giao dịch thương mại thông qua mạng Internet, các mạngtruyền thông và các phương tiện điện tử, trong đó giao dịch thương mại đượchiểu theo nghĩa rộng, nghĩa là bao gồm các giao dịch mua bán, trao đổi hànghóa, dịch vụ, thông tin và các giao dịch hỗ trợ, thuận lợi hóa mua bán, traođổi các sản phẩm nói trên Với cách hiểu như vậy thì phạm vi ứng dụngTMĐT hết sức rộng lớn, nó xâm nhập vào tất cả các lĩnh vực hoạt động kinh
tế - xã hội Khái niệm này cũng cho chúng ta thấy TMĐT là một lĩnh vựcliên ngành, kết hợp chặt chẽ giữa CNTT-Truyền thông và Kinh tế - Quản trịkinh doanh, Thương mại, Kinh doanh quốc tế
1.1.2 Đặc điểm của thương mại điện tử
Thương mại điện tử ra đời và phát triển như là một điều tất yếu trong nềnkinh tế hội nhập và phát triển, nó gắn liền với sự phát triển như vũ bão củacông nghệ thông tin, vì vậy mà so với thương mại truyền thống, TMĐT cómột số đặc điểm như sau:
Các giao dịch được tiến hành trên các phương tiện điện tử, có thể mộtphần hoặc toàn bộ quá trình giao dịch Như hợp đồng giữa các đối tác, việcvận chuyển hàng hóa được tiến hành như trong thương mại truyền thống,nhưng việc đàm phán, ký kết hợp đồng, trao đổi các chứng từ, thanh toán cóthể được tiến hành qua các phương tiện điện tử
3
Trang 9Các bên giao dịch không cần tiếp xúc trực tiếp với nhau và cũng khôngcần biết nhau từ trước Từ khi xuất hiện mạng truyền thông Internet thì việctrao đổi thông tin không chỉ giới hạn trong quan hệ giữa công ty và doanhnghiệp mà các hoạt động thương mại đa dạng đã mở rộng nhanh chóng trênphạm vi toàn thế giới với số lượng người tham gia ngày càng tăng Ngườibán và người mua không cần qua khâu trung gian hỗ trợ của bất kỳ công tythương mại nào TMĐT cho phép mọi người cùng tham gia ở bất cứ đâu từvùng xa xôi hẻo lánh đến các đô thị và thành phố lớn, tạo điều kiện cho cácbên có cơ hội ngang nhau tham gia giao dịch trên thị trường toàn cầu màkhông đòi hỏi phải quen biết nhau
Các giao dịch trong TMĐT được thực hiện trong môi trường không biêngiới TMĐT phát triển làm cho các máy tính trở thành cửa mở cho các doanhnghiệp hướng ra thị trường thế giới Việc tham gia vào thị trường không chỉ
có các tập đoàn lớn mạnh có mạng lưới phân phối rộng khắp, mà ngay cả cácdoanh nghiệp nhỏ cũng có thể có mạng lưới tiêu thụ và phân phối không biêngiới ngay đầu ngón tay của mình Đối với TMĐT, một công ty vừa mới thànhlập cũng có thể kinh doanh ở bất kỳ nước nào chỉ với máy tính nối mạng Trong TMĐT có sự tham gia của ít nhất 3 chủ thể, trong đó có một bênkhông thể thiếu là người cung cấp dịch vụ mạng, các cơ quan chứng thực.Bên thứ 3 ở đày là những người tạo môi trường cho các giao dịch TMĐT.Nhà cung cấp dịch vụ mạng và cơ quan chứng thực có nhiệm vụ truyền đi,lưu trữ các thông tin giữa các bên tham gia giao dịch TMĐT , đồng thời họcũng xác nhận độ tin cậy các thông tin trong giao dịch TMĐT
1.1.3 Lợi ích của thương mại điện tử
1.1.3.1 Đối với chính phủ
Chính phủ là một chủ thể đặc biệt của TMĐT và chỉ tham gia vào một sốhoạt động TMĐT nhất định, chủ yếu nhằm tạo môi trường với những nguyêntắc đúng đắn và chính sách công cộng đảm bảo sự phát triển của một nềnkinh tế số hóa Chính phủ thực hiện việc quản lý của mình thông qua một môhình quản lý tiên tiến, đó là chính phủ điện tử Khái niệm này chỉ việc dùngcông nghệ thông tin (CNTT) nhằm nâng cao hiệu quả điều hành quản lý nhànước và nâng cao chất lượng các dịch vụ công dựa trên nhu cầu của dânchúng, khách hàng, là sự kết hợp giữa cải cách hành chính với ứng dụng
4
Trang 10thành quả phát triển của mạng Internet Việc tham gia TMĐT của chính phủ
có những lợi ích sau:
Thiết lập kênh thông tin đa chiều giữa chính phủ với nhân dân và doanhnghiệp nhằm đơn giản hóa các thủ tục hành chính Là chất xúc tác, thúc đẩycác doanh nghiệp ứng dụng TMĐT , từ đó tăng khả năng cạnh tranh và hiệuquả của nền kinh tế, năng cao tốc độ tăng trưởng
Quản lý nhà nước công khai, minh bạch và dễ dàng cho việc tiếp cận
1.1.3.2 Đối với doanh nghiệp
Cập nhập thông tin: Internet chia sẻ một thư viện khổng lồ, được cập nhậtliên tục Nhờ đó, doanh nghiệp có thể theo sát hiển động của thị trường, nămbắt liên tục, thường xuyên các thông tin liên quan đến hoạt động của mình, từ
đó tìm hiểu thị trường và ra các quyết định kinh doanh ở các thời điểm và địađiểm khác nhau Cơ hội tiếp cận và hiện diện trên thị trường toàn cầu Khi đãkết nối Internet và xây dựng website, các doanh nghiệp có cùng cơ hội để tìmkiếm thông tin, giao dịch trực tiếp và liên tục với đối tác trên toàn cầu, Sựhiện diện trên toàn cầu trong 24h/7 ngày mang lại nhiều cơ hội kinh doanhhơn: các doanh nghiệp vừa và nhỏ có thêm cơ hội để cạnh tranh với cácdoanh nghiệp lớn hơn
Giảm chi phí, tiết kiệm thời gian, nâng cao hiệu quả kinh doanh: doanhnghiệp có thể tiết kiệm được bình quân 50% chi phí với kinh doanh truyềnthống Khoản tiết kiệm này có được nhờ giảm chi phí ở những hoạt động sauchi tiêu cho cơ sở vật chất, chi phí nhân công, giảm chi phí và thời gian giaodịch: chi phí bán hàng và tiếp thị
Nâng cao khả năng phục vụ khách hàng: Internet tạo điều kiện phục vụkhách hàng tốt hơn ở cả 3 giai đoạn trước, trong và sau khi bán hàng Cửahàng ảo trên mạng có thể cung cấp thông tin về hàng hóa chuyên nghiệp hơnmột nhân viên bán hàng, góp phần nhanh chóng tần tới quyết định mua hàngcủa khách hàng, Internet là công cụ điện tử duy nhất cho phép chủ độngtương tác hai chiều với từng khách hàng Qua thư điện tử Doanh nghiệp cóthể cung cấp thông tin cụ thể yêu cầu của từng khách hàng và nhận phản hồingay lập tức để các thần thông tin Mặt khác, phần mềm được lập trình sẵncho phép tự động phân tích, tổng hợp dữ liệu trên cơ sở kinh doanh ảo củangười bán để nắm đặc điểm của từng khách hàng, nhóm khách hàng: từ độphân đoạn thị trường
5
Trang 11Có chính sách phù hợp cho từng loại khách hàng Thiết lập và củng cốquan hệ với đối tác TMĐT tạo điều kiện cho việc thiết lập và củng cố mốiquan hệ giữa các thành tố tham gia Thông qua mạng, các thành phần thamgia có thể giao tiếp trực tiếp và liên tục với nhau gần như không còn khoảngcách địa lý và thời gian Nhờ đó cả sự hợp tác lẫn sự quản lý đều được tiếnhành nhanh chóng và liên tục; các bạn hàng mới, các cơ hội kinh doanh mớiđược phát hiện nhanh chóng trên bình diện rộng và có nhiều cơ hội để lựachọn hơn.
Thay đổi cách thức kinh doanh của doanh nghiệp: Để cạnh tranh, doanhnghiệp phải phối hợp trong một hệ thống mạng lưới các doanh nghiệp - cungcấp, phân phối, bán lẻ và các dịch vụ hỗ trợ khách để cạnh tranh hiệu quả.Việc quản lý dây chuyền cung ứng ngày càng trở nên quan trọng hơn khi ápdụng công nghệ mới Trong TMĐT, quản lý dây chuyền cung ứng gồm cácchức năng sau: quản lý cung cấp, quản lý kho hàng, quản lý quá trình phânphối, quản lý kênh thông tin, quản lý thanh toán Các khâu này được rút ngắn
về thời gian và ít chi phí hơn
1.1.3.3 Đối với người tiêu dùng
TMĐT xuất hiện làm thay đổi cách thức mua sắm của người tiêu dùng, tạo
ra sự đơn giản và tiện dụng cho quá trình mua sắm Khái niệm "chợ" và "đichợ" bắt đầu thay đổi khi các phương tiện điện tử được áp dụng trong việcmua bán hàng hóa Người tiêu dùng có thể ngồi một nơi mà vẫn có thể muađược hàng hóa khi chỉ cần một máy tính nối mạng Internet, có nhiều kiếnthức hơn khi ra quyết định mua sắm, có sự lựa chọn nhiều hơn và mức độ đòihỏi cao hơn Quá trình mua hàng ngày nay là quá trình tự phục vụ
1.2 Nguồn nhân lực thương mại điện tử
1.2.1 Khái quát về nguồn nhân lực cho thương mại điện tử
1.2.1.1 Khái niệm nguồn nhân lực
Nguồn nhân lực (Human resources): Là nguồn lực con người, yếu tố quantrọng, năng động nhất của tăng trưởng và phát triển kinh tế - xã hội Nguồnnhân lực có thể xác định cho một quốc gia, vùng lãnh thổ, địa phương (tỉnh,thành phố ) và nó khác với các nguồn lực khác (tài chính, đất đai, côngnghệ ) ở chỗ nguồn lực con người với hoạt động lao động sáng tạo, tác độngvào thế giới tự nhiên, biến đổi giới tự nhiên và trong quá trình lao động hysinh các quan hệ lao động và quan hệ xã hội
6
Downloaded by tran quang (quangsuphamhoak35@gmail.com)
Trang 12Nguồn nhân lực thể hiện toàn bộ những con người cụ thể tham gia vào quátrình lao động, với cách hiểu này nguồn nhân lực bao gồm những người từgiới hạn dưới của độ tuổi lao động trở lên và có khả năng lao động (ở nước tahiện nay là những người đủ 15 tuổi trở lên có khả năng lao động)
Chất lượng nguồn nhân lực là trạng thái nhất định của nguồn nhân lực là
tố chất, bản chất bên trong của nguồn nhân lực, nó luôn có sự vận động vàphản ánh trình độ phát triển kinh tế - xã hội cũng như mức sống, dân trí củadân cư Trong bối cảnh những thành tựu đạt được không ngừng của khoa họccông nghệ và toàn cầu hóa diễn ra mạnh mẽ có tác động thúc đẩy phát triểnnhanh quá trình kinh tế - xã hội thì chất lượng nguồn nhân lực luôn có sự vậnđộng, phát triển đi lên theo hướng tích cực và cũng có nhiều thách thức đặt rađối với nguồn nhân lực Sự vận động tích cực của nguồn nhân lực ở trình độngày càng cao hơn mang tính quy luật, là cơ sở để cải biến xã hội và khôngngừng nâng cao đời sống vật chất - tinh thần và hoàn thiện con người laođộng
Vậy nguồn nhân lực cho TMĐT được hiểu là tất cả những người hoạtđộng trong lĩnh vực TMĐT, cả hiện tại và tương lai Đó là, các cơ quan nhànước về TMĐT, các cơ sở đào tạo TMĐT, các chuyên gia CNTT các doanhnghiệp làm TMĐT, những người được đào tạo về TMĐT và đông đảo quầnchúng nhân dân
1.2.1.2 Nguồn nhân lực thương mại điện tử
Nguồn nhân lực thương mại điện tử là nguồn lực con người có kiến thức
và kỹ năng về TMĐT Là những cá nhân lành nghề, có đầy đủ yếu tố vềthể chất và tinh thần để làm việc trong ngành TMĐT và đóng góp vào sựthay đổi và phát triển của TMĐT nói riêng cũng như Kinh tế- Xã hội nóichung
1.2.1.3 Vai trò của nguồn nhân lực đối với sự phát triển của thương mại điện tử
Ở nước ta, trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Đảng
và Nhà nước cũng luôn quán triệt quan điểm: "nguồn nhân lực là yếu tốquyết định" và "Đáp ứng yêu cầu về con người và nguồn nhân lực là nhân tốquyết định sự phát triển đợt nước trong thời kỳ CNH, HĐH " (Đại hội lần thứ
IX của Đảng), hay trong Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương
7
Downloaded by tran quang (quangsuphamhoak35@gmail.com)
Trang 13khóa XII của Đảng cũng khẳng định: "Con người, chủ thể của mọi sáng tạo,mọi nguồn của cải vật chất và văn hóa, mọi nền văn minh của các quốc gia"Nguồn lực con người là nguồn lực duy nhất mà nhờ nó, các nguồn lựckhác mới phát huy được tác dụng và có ý nghĩa tích cực đối với sự phát triểnkinh tế - xã hội Với ý nghĩa đó, nguồn nhân lực là yếu tố tất yếu, không thaythế được
Trong TMĐT, nguồn nhân lực cũng là một trong những nhân tố quantrọng cho sự phát triển của TMĐT
Để phát triển TMĐT cần rất nhiều yếu tố, đó là: hạ tầng cơ sở nhân lựccho TMĐT Hạ tầng cơ sở công nghệ, hạ tầng cơ sở bảo mật an toàn, hạ tầng
cơ sở thanh toán điện tử, hạ tầng cơ sở bảo vệ sở hữu trí tuệ, vấn đề bảo vệngười tiêu dùng, hạ tầng cơ sở pháp lý Song, nguồn nhân lực giữ một vai tròquan trọng trong sự phát triển của TMĐT Bởi lẽ, dù nhà nước có tạo điềukiện để phát triển TMĐT, dù doanh nghiệp có lắp đặt máy móc hiện đại đếnđâu mà không có người biết sử dụng và khai thác nó thì lợi ích của TMĐTđối với doanh nghiệp vẫn là con số không
Vì sao TMĐT vẫn chưa phát triển ở Việt Nam? Ngoài lý do các cơ sở hạtầng cho TMĐT chưa hoàn thiện, thì còn một lý do quan trọng đó là conngười - hiểu biết về internet, về TMĐT và nhận thức của con người về ích lợiTMĐT ở Việt Nam vẫn còn thấp Số lượng chuyên gia CNTT chưa nhiều, đại
đa số quần chúng nhân dân còn xa lạ vời TMĐT, còn về phía các doanhnghiệp thì chỉ mới bước đầu nhận thức được tầm quan trọng của nguồn nhânlực cho phát triển TMĐT Thực tế cho thấy doanh nghiệp nào đầu tư pháttriển nguồn nhân lực cho hoạt động TMĐT thì lợi ích thu lại cho doanhnghiệp đó là rất lớn
1.2.2 Sự cần thiết phải đào tạo nguồn nhân lực thương mại điện tử
1.2.2.1Muốn thương mại điện tử phát triển thì phải đào tạo nguồn nhân lực
Vì sao phải đào tạo nguồn nhân lực cho TMĐT? Vì những lý do sauđây:
Thứ nhất, đào tạo nguồn nhân lực là vấn đề tất yếu của sự phát triểnTMĐT Phân tích ở phần trên cho ta thấy rõ vai trò của con ngươi – củanguồn nhân lực đối với TMĐT là rất to lớn, song để con người thực sự pháthuy hết khả năng của mình cho sự phát triển của TMĐT thì tất yếu phải
8
Downloaded by tran quang (quangsuphamhoak35@gmail.com)
Trang 14được đào tạo chu đáo và bài bản Thêm vào đó, do đặc thù của TMĐT là sửdụng những công nghệ tiên tiến và yêu cầu cao về kỹ năng thực hành ứngdụng, nên những người hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh TMĐT khôngthể chỉ qua kinh nghiệm thực tiễn mà còn phải được bổ sung những kiếnthức nền tảng và cần thiết, cũng như những kiến thức chuyên sâu tùy theo vịtrí đảm nhiệm Chính vì thế mà có thể nói đào tạo là vấn đề tất yếu của sựphát triển TMĐT
Thứ hai, lợi ích mà đào tạo nguồn nhân lực TMĐT mang lại cho cácdoanh nghiệp làm TMĐT là rất lớn Mục tiêu của đào tạo nguồn nhân lựccho TMĐT là sử dụng tối đa nguồn lực hiện có và nâng cao tính hiệu quảcủa tổ chức thông qua việc giúp cho người lao động hiểu rõ hơn về côngviệc, nắm rõ hơn về nghề nghiệp của mình và thực hiện các chức năngnhiệm vụ của mình một cách tự giác hơn, với thái độ tốt hơn, cũng như nângcao khả năng thích ứng của họ với các công việc trong tương lai Đào tạonguồn nhân lực cho doanh nghiệp nói chung và doanh nghiệp làm TMĐTnói riêng là điều kiện quyết định để một tổ chức có thể tồn tại và đi lên trongcuộc cạnh tranh khốc liệt Một thực tế cho thấy doanh nghiệp nào chú trọngvấn đề đào tạo cho các nhân viên, lãnh đạo doanh nghiệp một cách thườngxuyên và có chiến lược thì công ty đó sẽ thành công Chính vì thế mà trongnhiều tổ chức đào tạo và phát triển nguồn nhân lực được thực hiện một cách
có tổ chức và kế hoạch, như những công ty lớn Ford, Unilever
Thứ ba, cần thiết phải đào tạo những người có hiểu biết về TMĐT và
có thể ứng dụng TMĐT trong doanh nghiệp TMĐT còn khá mới mẻ trênthế giới và ở Việt Nam TMĐT mới qua giai đoạn đầu đó là giai đoạn đượcpháp luật thừa nhận, với một loạt các văn bản luật được ban hành gần đây,tạo môi trường pháp lý để doanh nghiệp có thể ứng dụng và phát triển Tuynhiên, số doanh nghiệp thực sự ứng dụng TMĐT vào hoạt động kinh doanhcủa mình vẫn chưa thực sự nhiều và nhiều doanh nghiệp vẫn còn chưa nhậnthức được lợi ích to lớn mà nó mang lại, cũng như việc cần thiết phải đàotạo nguồn nhân lực cho TMĐT Một số doanh nghiệp thì dùng phương pháp
tự học hỏi lẫn nhau giữa các nhân viên trong công ty, hay một số doanhnghiệp khác thì sử dụng luôn những nhãn viên hoạt trong lĩnh vực CNTTđảm nhiệm TMĐT Song, để doanh nghiệp thực sự ứng dụng TMĐT tronghoạt động kinh doanh của chính doanh nghiệp và để TMĐT thực sự đem lạihiệu quả cao thì rất cần thiết doanh nghiệp phải đào tạo nguồn nhân lực cho
9
Downloaded by tran quang (quangsuphamhoak35@gmail.com)
Trang 15TMĐT Nhân viên, lãnh đạo công ty cần phải được bổ sung kiến thức, hiểubiết về TMĐT bằng nhiều hình thức đào tạo khác nhau thuận lợi nhất vớicông ty Nguồn nhân lực cho TMĐT ở các doanh nghiệp không chi là nguồnnhân lực hiện có mà còn cả trong tương lai Đó là những sinh viên chínhquy được đào tạo về TMĐT, những học viên học về TMĐT nhằm hoạt phục
vụ cho hoạt động ứng dụng TMĐT trong doanh nghiệp sau này Vì thế màcần thiết phải đào tạo những con người có kiến thức, hiểu biết về TMĐT cảhiện tại và trong tương lai để có thể ứng dụng TMĐT trong tất cả các hoạtđộng kinh doanh của doanh nghiệp và để TMĐT thực sự mang lại lợi ích tolớn đối với doanh nghiệp
1.2.2.2 Đào tạo nguồn nhân lực thương mại điện tử để đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam
Ngày nay, cụm từ "Hội nhập kinh tế quốc tế" đã trở nên quá quen thuộcđối với tất cả mọi người Thật dễ hiểu, bởi một nước không thể đi lên khôngthể phát triển nếu cô lập nước mình với tất cả các nước khác Những chínhsách "bế quan tỏa cảng" luôn kìm kẹp chính nước đó trong vòng luẩn quẩn
mà không thể phát triển được về tất cả mọi mặt, thực tế ở nhiều nước đãchứng minh cho ta thấy điều này Hội nhập kinh tế quốc tế đem lại nhiều cơhội cũng như thách thức, song hội nhập là một tất yếu khách quan
Từ sau đổi mới (1986) và sau khi Mỹ bỏ cấm vận đối với Việt Nam, Đảng
và nhà nước ta luôn quán triệt quan điểm hội nhập với nền kinh tế quốc tế làđiều kiện để phát triển Nước ta đã tham gia nhiều tổ chức trên thế giới cũngnhư khu vực Và đang trong tiến trình đàm phán để gia nhập WTO (tổ chứcthương mại thế giới), với mục tiêu là cổ gắng cuối năm nay sẽ gia nhập Cơhội mang lại rõ ràng rất lớn, nhưng thách thức, khó khăn cũng không ít Vậyphải làm gì để cơ hội là lớn nhất, nhân tố quyết định chính là con người,nguồn nhân lực của chính quốc gia đó
Hội nhập kinh tế quốc tế trên mọi lĩnh vực thì chính mỗi con người cũng
là những con người của nền kinh tế hội nhập, có những yêu cầu những đòihỏi cao hơn
TMĐT đã trở nên rất quan trọng trong kỷ nguyên của CNTT và nền kinh
tế hội nhập, là chìa khóa thành công cho các doanh nghiệp trong môi trườngcạnh tranh khốc liệt Nước ta dù mới qua giai đoạn đầu trong quá trình pháttriển của TMĐT, vấn đề đào tạo nguồn nhân lực cho TMĐT cũng rất được
10
Downloaded by tran quang (quangsuphamhoak35@gmail.com)
Trang 16chú trọng và bước đầu đã đạt được những kết quả đáng khích lệ Tuy nhiên,như ta đã để cập ở trên, nguồn nhân lực cho TMĐT ở Việt Nam hiện nay
"vừa thiếu, vừa yếu", chính vì thế nếu doanh nghiệp làm TMĐT muốn khẳngđịnh vị trí của mình trong xu thế hội nhập với thế giới thì tất yếu phải đào tạonguồn nhân lực làm TMĐT đáp ứng với những yêu cầu hội nhập kinh tếquốc tế của Việt Nam
1.2.2.3 Đào tạo nguồn nhân lực cho thương mại điện tử nhằm bảo đảm triển khai các hoạt động thương mại điện tử ở doanh nghiệp
Kinh doanh điện tử đang ngày càng được doanh nghiệp quan tâm donhững lợi ích rất lớn mà phương thức kinh doanh này mang lại Điều nàycàng trở nên quan trọng trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế của ViệtNam Hiện nay, kinh doanh điện tử không còn là sự chọn lựa mà là xu hướngđầu tư của doanh nghiệp, đã đến lúc không còn đặt vấn đề cần hay không cầnứng dụng TMĐT mà doanh nghiệp phải có kế hoạch đầu tư, tùy theo điềukiện, hoàn cảnh và nhu cầu để hỗ trợ kinh doanh
Trong thời gian tới, các doanh nghiệp số lượng doanh nghiệp tham giakinh doanh điện tử hứa hẹn sẽ tăng lên nhanh chóng, và mức độ ứng dụngTMĐT trong từng doanh nghiệp cũng ở nhiều mức độ khác nhau Nhữngdoanh nghiệp tham gia kinh doanh điện tử ở mức độ sâu rộng, như nhữngdoanh nghiệp xuất khẩu hay những doanh nghiệp đang thành công trong môhình kinh doanh điện tử, cần đội ngũ nhân lực có trình độ hiểu biết cao hơn
về CNTT và TMĐT Việc đào tạo nguồn nhân lực cho TMĐT còn nhằm đảmbảo triển khai các hoạt động TMĐT ở các doanh nghiệp
1.2.2.4 Đào tạo nguồn nhân lực nhằm tăng cường năng lực về nhân lực cho thương mại điện tử
Nguồn nhân lực hoạt động trong lĩnh vực TMĐT, đặc biệt là TMĐT ở cácdoanh nghiệp trong xu thế hội nhập nền kinh tế quốc tế ngày nay có nhữngđòi hỏi nhất định về chất lượng Nguồn nhân lực này không chỉ dừng lại ởhiểu biết về Internet và các phương tiện điện tử khác mà phải có hiểu biết vànhững kiến thức sâu rộng về TMĐT Hay nói cách khác, nguồn nhân lực choTMĐT trong xu thế hội nhập cần có những yêu cầu sau đây:
Thứ nhất, là những người phải có hiểu biết về CNTT
Đây là điều kiện đầu tiên và tiên quyết khi tham gia vào TMĐT, bởi lẽTMĐT ra đời và phát triển là một tất yếu của sự bùng nổ CNTT, vậy một
11
Downloaded by tran quang (quangsuphamhoak35@gmail.com)
Trang 17điều dễ hiểu là người hoạt động trong lĩnh vực TMĐT bắt buộc phải có hiểubiết về CNTT
Bên cạnh các chuyên gia về CNTT, thì những người hoạt động trong cácdoanh nghiệp làm TMĐT cũng phải có những hiểu biết nhất định về côngnghệ thông tin Đó là phải có hiểu biết về mạng Internet (phương tiện điện tửphổ biến nhất trong hoạt động TMĐT), về hệ thống thanh toán, bảo mật antoàn, chữ ký điện tử, quy trình giao kết hợp động điện tử Tuy nhiên, nguồnnhân lực cho TMĐT nói chung và ở các doanh nghiệp nói riêng không chỉcần có hiểu biết về CNTT mà còn phải có hiểu biết về thương mại
Thứ hai, là những người am hiểu về thương mại
Thương mại điện tử hiểu một cách nôm na là làm thương mại qua cácphương tiện điện tử Chính vì thế mà các doanh nghiệp làm TMĐT giữ vaitrò quyết định trong sự phát triển của TMĐT Là doanh nghiệp kinh doanhthì tất nhiên nguồn nhân lực hoạt động trong các doanh nghiệp này phải cóhiểu biết về TMĐT Trước hết, nguồn nhân lực cho TMĐT trong các doanhnghiệp phải có hiểu biết về các hoạt động marketing, tìm kiếm đối tác, quan
hệ khách hàng và hiểu biết về luật quốc tế, sau đó dùng các công cụ phươngtiện điện tử để tăng hiệu quả cho các hoạt động đó và chuyển hoạt động kinhdoanh theo hướng mới Biết kết hợp giữa hiểu biết về CNTT và thương mại
sẽ mang lại lợi ích và hiệu quả to lớn cho chính doanh nghiệp đó
Thứ ba là phải có trình độ ngoại ngữ Các phương tiện điện tử mà phổbiến nhất là mạng Internet, như ta đã biết, chủ yếu dùng ngôn ngữ là tiếngAnh Vậy nguồn nhân lực cho TMĐT phải có trình độ tiếng anh tốt mới cóthể khai thác và sử dụng nguồn lực to lớn từ Internet phục vụ cho công việckinh doanh của doanh nghiệp Đó là chưa kể đến, trong xu thế hội nhập toàncầu thì biết sử dụng ngoại ngữ là một yêu cầu bức thiết cho sự phát triển củadoanh nghiệp đối với các đối tác nước ngoài và ngôn ngữ trong giao tiếp phổbiến nhất trên thế giới là tiếng Anh Đó là lý do vì sao, một thực tế cho thấy,
tỷ lệ số người sử dụng Internet ở các nước nói tiếng Anh là rất cao Chính vìvậy, mà hiểu biết thông thạo ngoại ngữ, đặc biệt là tiếng Anh là yêu cầu bứcthiết đối với nguồn nhân lực hoạt động trọng các doanh nghiệp làm TMĐT Như vậy trong xu thế hội nhập nền kinh tế thế giới, nguồn nhân lực choTMĐT ở Việt Nam, mà đặc biệt là trong các doanh nghiệp làm TMĐT, bêncạnh việc phải đáp ứng những yêu cầu của Đảng và Nhà nước ta cho sự
12
Downloaded by tran quang (quangsuphamhoak35@gmail.com)
Trang 18nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và những yêu cầu riêng cholĩnh vực TMĐT đó là những người có hiểu biết về CNTT, am hiểu về TMĐT
và thông thạo ngoại ngữ (tiếng Anh)
13
Downloaded by tran quang (quangsuphamhoak35@gmail.com)
Trang 19CHƯƠNG 2:
NGUỒN NHÂN LỰC TRONG THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ HIỆN NAY 2.1 Thực trạng nguồn nhân lực thương mại điện tử tại Việt Nam
2.1.1 Khuynh hướng tiếp cận trong chương trình giảng dạy
2.1.1.1 Cách tiếp cận theo khuynh hướng Công nghệ thông tin
Khác với thương mại truyền thống, TMĐT là phương thức thương mại
“dựa trên công nghệ” (Technology- based Commerce), ở đây là dựa trêncông nghệ thông tin-truyền thông (CNTT-TT) Chính sự phát triển ứng dụngcủa CNTT trong các ngành kinh tế dẫn tới sự ra đời của TMĐT
TMĐT được tiến hành trong môi trường điện tử và dựa trên những nguyêntắc, yêu cầu riêng (về giao dịch thanh toán, về an toàn bảo mật, về hành langpháp lý, về khiếu nại, tranh chấp…)
Vì vậy những người làm TMĐT cần phải nắm vững những vấn đề liênquan đến thương mại và cả công nghệ thông tin
2.1.1.2 Cách tiếp cận theo khuynh hướng quản trị kinh doanh
Tiếp cận theo khuynh hướng quản trị kinh doanh nhấn mạnh trọng tâmtrang bị các kỹ năng và kiến thức thuộc lĩnh vực kinh tế-kinh doanh, khoahọc xã hội- hành vi cho người học, và hình thành trên nền chương trình đàotạo quản trị kinh doanh, điều chỉnh, sửa đổi cho thích hợp với TMĐT,
Ngoài ra người học còn được trang bị các kỹ năng, kiến thức cần thiết vềCNTT-TT, trong đó chú trọng trang bị các kỹ năng, kiến thức về khai thác,
sử dụng các thiết bị phần cứng, phần mềm trong CNTT để phục vụ choTMĐT chứ không trang bị các kiến thức nền tảng sâu về CNTT-TT
2.1.1.3 Cách tiếp cận theo khuynh hướng Liên ngành
Theo khuynh hướng này các chương trình đào tạo chủ trương đảm bảo sựhài hoà kiến thức và kỹ năng thuộc cả ba lĩnh vực kinh tế -kinh doanh, khoahọc xã hội-hành vi, và CNTT-TT
Để xây dựng đội ngũ đào tạo TMĐT theo cách tiếp cận liên ngành, các
cơ sở đào tạo thành lập đội ngũ giảng dạy liên bộ môn, liên khoa gồm cácgiảng viên thuộc các lĩnh vực quản trị kinh doanh, marketing và CNTT
14
Downloaded by tran quang (quangsuphamhoak35@gmail.com)