Chất thải rắn y tế là một trong những chất thải nguy hại vào bậc nhất, việc xử lý các loại chất thải này rất phức tạp và gặp rất nhiều khó khăn, nếu các hoạt động quản lý Chất thải rắn y
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC THĂNG LONG
-
TẠ THỊ PHƯƠNG
THỰC TRẠNG QUẢN LÝ CHẤT THẢI RẮN Y TẾ
VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG TẠI BỆNH VIỆN
PHỤ SẢN TRUNG ƯƠNG NĂM 2021
Chuyên ngành: Y tế công cộng
Mã số: 8 72 07 01
TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SỸ Y TẾ CÔNG CỘNG
Hà Nội - 2022
Trang 2ĐẶT VẤN ĐỀ
Chất thải rắn y tế là loại chất thải đặc biệt, chứa các tác nhân nguy hiểm đối với môi trường và con người Thành phần của chất thải rắn y tế có chứa một lượng lớn các vi sinh vật gây bệnh truyền nhiễm, có thể xâm nhập vào cơ thể và gây bệnh cho con người Do đó, vấn đề xử lý Chất thải rắn y tế luôn là vấn đề quan tâm của bệnh viện cũng như toàn xã hội Chất thải rắn y tế là một trong những chất thải nguy hại vào bậc nhất, việc xử lý các loại chất thải này rất phức tạp và gặp rất nhiều khó khăn, nếu các hoạt động quản lý Chất thải rắn y tế như phân loại, thu gom, lưu giữ,
xử lý, không đúng quy định sẽ tiềm ẩn những nguy cơ cho sức khỏe con người, môi trường Nhằm thực hiện tốt công tác quản lý Chất thải rắn y tế, Bộ Y tế cùng với Bộ Tài nguyên và Môi trường, ban hành Thông tư liên tịch số 58/2015/TTLT-BYT-BTNMT [3] ngày 31 tháng 12 năm 2015 thay thế cho Quy chế quản lý chất thải y tế ban hành kèm theo Quyết định số 43/2007/QĐ-BYT ngày 30/11/2007 [2]
Trên thực tế, do nhiều nguyên nhân khác nhau mà ở nhiều nơi công tác quản lý Chất thải rắn y tế chưa tuân thủ đầy đủ các quy định tại Thông tư liên tịch số 58/2015/TTLT-BYT-BTNMT Chất thải rắn y tế nếu không được xử lý tốt thì sẽ là một trong những nguy cơ gây ô nhiễm nghiêm trọng đối với môi trường sống, nguồn gây ô nhiễm trực tiếp đến sức khỏe cộng đồng
Bệnh viện Phụ sản Trung ương là Bệnh viện hạng I chuyên ngành phụ, sản của Bộ Y tế trên địa bàn Thành phố Hà Nội nơi tập trung đông dân cư sinh sống [1] Tại bệnh viện Phụ sản Trung ương rất chú trọng tới công tác quản lý phân loại chất thải rắn y tế đảm bảo chất lượng bệnh viện Mặc dù công tác quản lý chất thải
Trang 3rắn y tế đã được bệnh viện quan tâm và chú trọng nhưng vẫn có thể còn nhiều bất cập, trong khi đó vẫn chưa có nghiên cứu phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lý chất thải rắn y tế
Để có câu trả lời cho đề xuất các giải pháp hiệu quả trong quản lý phân loại chất thải y tế tại bệnh viện chúng tôi tiến hành thực hiện
đề tài “Thực trạng quản lý chất thải rắn y tế và một số yếu tố ảnh hưởng tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương năm 2021”
Mục tiêu nghiên cứu
1 Mô tả thực trạng quản lý chất thải rắn y tế tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương năm 2021
2 Phân tích một số yếu tố ảnh hưởng của quản lý chất thải rắn y
tế tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương năm 2021
CẤU TRÚC CỦA LUẬN ÁN
Luận án gồm 83 trang không kể tài liệu tham khảo và phụ lục,
có 18 bảng Đặt vấn đề 2 trang Tổng quan 28 trang; đối tượng và phương pháp nghiên cứu 14 trang; kết quả nghiên cứu 22 trang; bàn luận 26 trang; kết luận 02 trang và kiến nghị 01 trang
Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Giới thiệu chung về chất thải rắn y tế
1.1.1 Các khái niệm về chất thải y tế
Chất thải y tế là chất thải phát sinh trong quá trình hoạt động khám chữa bệnh, chăm sóc, xét nghiệm, nghiên cứu, của các cơ sở
y tế, bao gồm chất thải y tế nguy hại, chất thải y tế thông thường
và nước thải y tế [3]
Chất thải y tế nguy hại là chất thải gồm các thành phần như máu, dịch cơ thể, chất bài tiết, các bộ phận, các cơ quan, bơm tiêm, vật sắc nhọn, dược phẩm hóa chất, chất phóng xạ cần lưu giữ, xử lý theo rác nguy hại, thải bỏ đặc biệt, có quy định riêng [3] Chất thải y tế nằm trong Danh mục A của danh mục chất thải
Trang 4nguy hại và có mã số A4020-Y1 theo Quyết định số BTNMT ngày 26 tháng 12 năm 2006
23/2006/QĐ-Quản lý chất thải y tế là quá trình giảm thiểu, phân định, phân loại, thu gom, lưu giữ, vận chuyển, tái chế, xử lý chất thải y tế và giám sát quá trình thực hiện
Vận chuyển chất thải y tế là quá trình chuyên chở chất thải y tế
từ nơi lưu giữ chất thải trong cơ sở y tế đến nơi lưu giữ, xử lý chất thải của cơ sở xử lý chất thải y tế cho cụm cơ sở y tế, cơ sở xử lý chất thải y tế nguy hại tập trung hoặc cơ sở xử lý chất thải nguy hại tập trung có hạng mục xử lý chất thải y tế [6]
1.1.2 Phân loại chất thải y tế
Chất thải lây nhiễm sắc nhọn là chất thải lây nhiễm có thể gây
ra các vết cắt hoặc xuyên thủng bao gồm kim tiêm, bơm liền kim tiêm, đầu sắc nhọn của dây truyền, kim chọc dò, kim châm cứu, lưỡi dao mổ, đinh, cưa dùng trong phẫu thuật và các vật sắc nhọn khác [3]
Chất thải rắn sinh hoạt phát sinh trong sinh hoạt thường ngày của con người và chất thải ngoại cảnh trong cơ sở y tế, Chất thải rắn thông thường phát sinh từ cơ sở y tế không thuộc danh mục chất thải y tế nguy hại hoặc thuộc danh mục chất thải y tế nguy hại nhưng có yếu tố nguy hại dưới ngưỡng chất thải nguy hại [3]
1.1.3 Ảnh hưởng của chất thải rắn y tế
Ảnh hưởng của chất thải y tế tới sức khỏe
Chất thải y tế có thể gây tác động xấu đến sức khỏe con người như lây bệnh qua đường máu cho nhân viên y tế, đặc biệt sự cố do vật sắc nhọn Dạng phơi nhiễm nghề nghiệp phổ biến nhất qua đường máu của nhân viên y tế trong quá trình thực hiện quản lý chất thải là bị kim tiêm lây nhiễm hay bị dịch bệnh tiếp xúc vào vết thương… [6], Ảnh hưởng của chất thải sắc nhọn chất thải sắc nhọn được coi là loại chất thải nguy hiểm, có nguy cơ gây tổn thương kép tới sức khỏe con người nghĩa là vừa gây chấn thương
do vết cắt, vết đâm và thông qua vết chấn thương để gây bệnh
Trang 5truyền nhiễm nếu trong chất thải có các mầm bệnh viêm gan B (HBV), viêm gan C (HCV) và virus HIV
Ảnh hưởng của chất thải y tế tới môi trường
Chất thải y tế có thể tác động xấu tới tất cả các khía cạnh của môi trường, đặc biệt là môi trường đất, nước, không khí Mặt khác, xử lý CTYT, không đúng phương pháp có thể gây ra vấn đề lãng phí tài nguyên thiên nhiên [6]
Ảnh hưởng của chất thải y tế đến kinh tế xã hội
CTRYT ngày càng gia tăng do sự gia tăng các cơ sở y tế cũng như sự gia tăng bệnh nhân, chi phí thu gom, vận chuyển và xử lý
vì thế cũng gia tăng chưa kể xử lý môi trường cũng gia tăng làm ảnh hưởng đến gánh nặng kinh tế xã hội Hàng năm các địa phương phải chi trả khoảng khá lớn đến việc thu gom, vận chuyển
và xử lý CTR Cả nước hiện có khoảng 1.250 bệnh viện phát sinh chất thải y tế cần xử lý Để thu gom và xử lý số chất thải trên thì tổng chi phí ước tính bệnh viện phải chi ra hơn 500 tỷ đồng mỗi năm
1.1.4 Các yêu cầu về quản lý chất thải rắn y tế
Bao bì, dụng cụ, thiết bị, lưu chứa chất thải y tế
Màu sắc: vàng, đen, xanh, trắng Trong đó, màu vàng đựng chất thải lây nhiễm, màu đen đựng chất thải nguy hại không lây nhiễm, màu xanh đựng chất thải y tế thông thường, màu trắng đựng chất thải tái chế [3]
Thùng, hộp đựng chất thải có nắp đóng, mở thuận tiện trong quá trình sử dụng; thùng, hộp đựng chất thải sắc nhọn phải có thành, đáy cứng không bị xuyên thủng
Xe lưu chứa, di chuyển chất thải phải phù hợp đường vận chuyển, chất thải lưu chứa bằng xe chuyên dụng có nắp đậy kín và theo tầm mức quy định; không được làm rơi, vãi chất thải, nước thải và phát tán mùi hôi trong quá trình vận chuyển
Quy định về quản lý chất thải y tế
Chất thải y tế nguy hại và chất thải y tế thông thường phải phân loại để quản lý ngay tại nơi phát sinh và tại thời điểm phát sinh
Trang 6Từng loại chất thải y tế phải phân loại riêng vào trong bao bì, dụng cụ, thiết bị lưu chứa chất thải theo quy định tại Điều 5 Thông
tư liên tịch số 58/2015/TTLT-BYT-BTNMT, ngày 31 tháng 12 năm 2015 của Bộ Y tế và Bộ Tài nguyên và Môi trường về quy định về quản lý chất thải y tế
Trong quá trình thu gom, túi đựng chất thải phải buộc kín, thùng đựng chất thải phải có nắp đậy kín, bảo đảm không bị rơi, rò
rỉ chất thải trong quá trình thu gom Cơ sở y tế quy định tuyến đường và thời điểm thu gom chất thải lây nhiễm phù hợp để hạn chế ảnh hưởng đến khu vực chăm sóc người bệnh và khu vực khác trong cơ sở y tế Chất thải có nguy cơ lây nhiễm cao phải xử
lý sơ bộ trước khi thu gom về khu lưu giữ, xử lý chất thải trong khuôn viên cơ sở y tế Tần suất thu gom chất thải lây nhiễm từ nơi phát sinh về khu lưu giữ chất thải trong khuôn viên cơ sở y tế ít nhất 01 (một) lần/ngày Dụng cụ, thiết bị lưu chứa phải phù hợp với từng loại chất thải và lượng chất thải phát sinh trong cơ sở y
tế Các chất thải khác nhau nhưng cùng áp dụng một phương pháp
xử lý được lưu giữ trong cùng một dụng cụ, thiết bị lưu chứa
1.1.5 Một số Văn bản quy phạm pháp luật về quản lý chất thải y tế
Luật Bảo vệ môi trường số 55/2014/QH13, tại chương VII, Điều 72 có quy định bảo vệ môi trường đối với bệnh viện và cơ sở
y tế là thực hiện phân loại CTRYT tại nguồn, thực hiện thu gom, vận chuyển, lưu giữ và xử lý CTRYT đảm bảo đạt quy chuẩn kỹ thuật môi trường
Thông tư liên tịch số 58/2015/ TTLT-BYT-BTNMT Quy định
về quản lý chất thải y tế Thông tư này thay thế cho Quyết định số 43/2007/QĐ-BYT về quản lý chất thải từ ngày 01 tháng 4 năm
2016 [3]
1.2 Thực trạng công tác quản lý chất thải rắn y tế thế giới
và Việt Nam
Trang 71.2.1 Thực trạng công tác quản lý chất thải rắn y tế trên
thế giới
Nghiên cứu Nitivattananon Ali về Lựa chọn công nghệ thích hợp cho quản lý chất thải rắn y tế tại bệnh viện Thammasat, Thái Lan là một vấn đề quan trọng cần giảm thiểu,quản lý, tách biệt, xử
lý đúng cách và nó liên quan nó liên quan đến nhiều loại chất thải rắn y tế có nguy cơ lây nhiễm Hầu hết bệnh viện là nơi phát sinh bệnh lý, chất thải lây nhiễm sắc nhọn và không sắc nhọn; trong số đó có khoảng 42,3% bệnh viện công có chất thải hóa học Để quản lý chất thải rắn y tế, bệnh viện Thammasat Thành phố Pathumthani, Thái Lan thông qua phương pháp công nghệ mới để
xử lý chất thải y tế Khối lượng phát sinh chất thải bệnh viện xuống mức 1200 kg mỗi ngày, được phân loại theo nhiều loại khác nhau với chi phí khoảng 3 triệu bat trong năm Nghiên cứu cho thấy bệnh viện sử dụng hai công nghệ đốt và chôn lấp hợp vệ sinh đối với chất thải y tế được phân loại [12]
Trong nghiên cứu của Nguyễn Văn Huynh tại bệnh viện E, Hà Nội năm 2016 đánh giá việc quản lý CTRYT theo Quyết định 43/2007/QĐ-BYT qua việc đánh giá cơ sở vật chất, kiến thức, thực hành của nhân viên y tế Kết quả nghiên cứu cho thấy: về cơ
sở vật chất phục vụ quản lý CTRYT của bệnh viện còn thiếu, nhân viên thực hiện sai quy định Kiến thức, thực hành của nhân viên y tế về các khâu phân loại, thu gom, vận chuyển và lưu giữ các chất thải chưa cao Một số khâu tỷ lệ trả lời đúng còn thấp, ví
dụ như: tỷ lệ NVYT đạt kiến thức chung về QLCT là 76,3%, kiến thức về thu gom đạt 66,2%, tỷ lệ thực hành phân loại chất thải là 78,9% Về các yếu tố ảnh hưởng, nghiên cứu đã chỉ ra các yếu tố: kinh phí, sự quan tâm của lãnh đạo, tập huấn, kiểm tra giám sát ảnh hưởng đến hoạt động QLCTRYT [7]
1.3 Một số yếu tố ảnh hưởng tới công tác quản lý chất thải rắn y tế
Tại các nước phát triển, quản lý chất thải y tế nói chung, chất thải rắn y tế nói riêng đang là vấn đề đáng quan trọng Việc quản
Trang 8lý chất thải được thực hiện rất tốt họ kiểm kê chất thải rắn nguy hại về tổng lượng cũng như bản chất của nó Phương thức quản lý chất thải nguy hại tập trung vào việc xây dựng và triển khai đồng
bộ hệ thống văn bản pháp quy Tại các nước đang phát triển hoặc kém phát triển rất đề xử lý chất thải rắn y tế rất quan trọng họ thiếu kinh phí và xử lý thô sơ Những vấn đề tồn tại trong khi quản lý chất thải là: thiếu kinh phí; thiếu các quy định pháp luật về
xử lý chất thải gây khó khăn cho công tác quản lý; sự thiếu giám sát khi thực hiện dẫn đến việc quản lý chất thải y tế được thực hiện không chính xác Để quản lý vấn đề này, Chính phủ Việt Nam đã ban hành nhiều quy định, thông tư, hướng dẫn về quản lý chất thải Văn bản được ban hành gần nhất là Thông tư số 58/2015/TTLT-BYT-BTNMT về quy định quản lý CTYT
1.4 Giới thiệu Bệnh viện Phụ sản Trung ương
Bệnh viện phụ sản Trung ương là bệnh viện Hạng I với quy mô
1000 giường bệnh nội trú; 08 phòng chức năng; 14 khoa lâm sàng;
09 khoa cận lâm sàng; 07 trung tâm Bệnh viện Phụ sản Trung ương hiện nay không chỉ là cơ sở đầu ngành của chuyên ngành phụ sản, sinh đẻ kế hoạch và sơ sinh mà còn là cơ sở đào tạo đại học, sau đại học; nghiên cứu khoa học, chỉ đạo tuyến và chuyển giao công nghệ về chuyên ngành phụ sản, sơ sinh trong phạm vi
cả nước
CTRYT của BV được thu gom từ các khoa, phòng chức năng
và từ các phòng bệnh được phân loại theo quy định của Bộ Y tế
do Ban chống nhiễm khuẩn, khoa Kiểm soát nhiễm khuẩn BV phụ trách Toàn bộ nhân viên y tế khi làm phát sinh CTRYT có trách nhiệm bỏ chất thải vào đúng nơi quy định Việc thu gom, vận chuyển chất thải trong bệnh viện do hộ lý khoa kiểm soát nhiễm khuẩn đảm nhiệm và nhân viên công ty thu gom phối hợp thực hiện Bệnh viện cùng với công ty thu gom CTRYT trang bị những phương tiện cần thiết phục vụ cho công tác quản lý, thu gom CTRYT
Trang 9Chương 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng, địa điểm và thời gian nghiên cứu
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu bao gồm 2 nghiên cứu định tính và định lượng
2.2 Thiết kế nghiên cứu
Thiết kế nghiên cứu cắt ngang mô tả Kết hợp nghiên cứu định lượng và nghiên cứu định tính
Nghiên cứu định lượng đáp ứng cho mục tiêu 1 về mô tả thực trạng quản lý chất thải rắn y tế tại bệnh viện
Nghiên cứu định tính đáp ứng cho mục tiêu 2 về phân tích một
số yếu tố ảnh hưởng đến quản lý chất thải rắn y tế
2.1.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu
- Địa điểm: Tất cả các khoa lâm sàng/cận lâm sàng của Bệnh viện Phụ sản Trung ương
- Thời gian nghiên cứu: Nghiên cứu được thực hiện từ tháng 03/2021 đến tháng 09/2021
2.3 Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu
2.3.1 Cỡ mẫu và cách chọn mẫu cho nghiên cứu định lượng 2.3.1.1 Công cụ, dụng sử dụng thu gom phân loại chất thải
rắn y tế
- Đối với dụng cụ, trang thiết bị phục vụ cho quản lý CTRYT: các dụng cụ, trang thiết bị phục vụ cho quản lý CTRYT là cố định, không thay đổi, do đó chỉ quan sát 1 lượt tại mỗi khoa Bệnh viện
có 27 khoa/đơn vị lâm sàng, cận lâm sàng và trung tâm Do đó có
27 lượt quan sát theo bảng kiểm về dụng cụ, trang thiết bị phục vụ
cho quản lý CTRYT
2.3.1.2 Quan sát thu gom phân loại chất thải rắn y tế
Cỡ mẫu cho số lượt quan sát tối thiểu được ước tính theo công thức ước lượng cỡ mẫu cho 1 tỷ lệ:
Trong đó :
Trang 10n: Cỡ mẫu cần quan sát
loại 1 α = 0,05
d =0,05 là sai số cho phép (5%)
Chọn p = 0,78 là tỷ lệ thực hiện đúng phân loại các loại rác thải
y tế ước đoán, theo nghiên cứu của Hoàng Phương Liên về hoạt động quản lý chất thải rắn y tế tại Bệnh viện Đa khoa huyện Phúc Thọ năm 2016, kết quả cho thấy tỷ lệ thực hiện đúng phân loại chất thải rắn y tế là 78% [8] Vậy số lượt quan sát tối thiểu là 246 lượt quan sát Bệnh viện Phụ sản Trung ương có 27 khoa lâm sàng, cận lâm sàng và trung tâm thuộc các khối phát sinh chất thải
y tế, để thuận tiện cho tính toán thống kê, do đó mỗi khoa lâm sàng, cận lâm sàng và trung tâm được quan sát 10 lượt Như vậy tổng cộng có 270 lượt quan sát CTRYT được phân loại và lưu trữ tạm thời Mỗi lượt quan sát thực hiện vào cuối ngày làm việc (không bao gồm thứ 7 và Chủ nhật)
Tiến hành thu thập số liệu
Giai đoạn chuẩn bị
- Thành lập nhóm nghiên cứu gồm 5 thành viên (học viên và 4 nhân viên khoa Kiểm soát nhiễm khuẩn); Xin ý kiến chấp thuận của bệnh viện; tổ chức tập huấn 01 buổi cho các thành viên trong nhóm nghiên cứu về cách thức thu thập dữ liệu, mỗi thành viên được thực hiện khảo sát thử 5 lần về quan sát phân loại chất thải rắn y tế
Tiến hành thu thập số liệu cho cấu phần định lượng
- Quá trình quan sát được thực hiện vào cuối mỗi ngày làm việc tại mỗi khoa, trước lúc CTRYT được vận chuyển vào khu lưu trữ chung của bệnh viện
- Kiểm tra các tiêu chí về thu gom, vận chuyển, lưu trữ và xử lý
số liệu được thực hiện bởi học viên, mỗi khoa dự kiến quan sát trong 1 buổi làm việc
Thu thập dữ liệu cho cấu phần định tính
Trang 11- Điều tra viên trực tiếp thực hiện 3 cuộc phỏng vấn sâu dựa vào bản hướng dẫn phỏng vấn sâu, có sự hỗ trợ từ 2 thành viên của nhóm nghiên cứu
2.6 Các biến số, chỉ số nghiên cứu
Biến số/chỉ số nghiên cứu của cấu phần định lượng gồm 2 nhóm:
Nhóm biến số về thực trạng phân loại CTRYT tại các khoa/phòng/đơn vị, trung tâm
Nhóm tiêu chí về thu gom, vận chuyển và xử lý chất thải rắn y
tế
2.7 Xử lý và phân tích số liệu
Nghiên cứu định lượng
Mỗi phiếu bảng kiểm quan sát được làm sạch, mã hóa, sau đó nhập và quản lý vào máy tính bằng phần mềm Epidata 3.1
Trong quá trình xử lý, làm sạch các giá trị bị thiếu, nhập sai, không hợp lý, không rõ ràng bằng cách so sánh với phiếu bảng kiểm giấy
Nghiên cứu định tính
Nội dung phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm được ghi âm lại và giải băng lưu lại trong MS Word phục vụ phân tích theo phương pháp phân tích nội dung
Phân tích số liệu
Nghiên cứu định lượng: Phân tích số liệu bằng phần mềm Stata
14, chỉ phân tích thống kê mô tả, tần suất và tỷ lệ
Nghiên cứu định tính: Các cuộc phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm được ghi âm và gỡ băng Thông tin từ các cuộc phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm được phân tích bằng phương pháp phân tích theo chủ đề Những ý kiến tiêu biểu được trích dẫn để minh họa cho chủ đề tương ứng
Trang 12Chương 3 KẾT QUẢ 3.1 Thực trạng quản lý chất thải rắn y tế tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương
3.1.1 Thực trạng phân loại chất thải rắn y tế tại bệnh viện Bảng 3.1 Tỷ lệ các nhóm chất thải rắn y tế phát sinh được quan sát (n = 270)
1 Chất thải lây nhiễm sắc nhọn 248 91,8
2 Chất thải lây nhiễm không sắc nhọn 240 88,9
4 Chất thải nguy cơ lây nhiễm cao 212 78,5
5 Chất thải nguy hại không lây nhiễm 257 95,1
6 Chất thải y tế thông thường tái chế 260 96,2
7 Chất thải y tế thông thường không tái
Nhận xét: Qua quan sát các nhóm CTRYT phát sinh, nhóm CTRYT thông thường có tỷ lệ cao nhất (96,2% lượt quan sát có CTRYT thông thường tái chế và 91,8% lượt quan sát có CTRYT thông thường không tái chế), tiếp đến là nhóm CTRYT nguy hại không lây nhiễm (95,1%) nhóm CTRYT lây nhiễm sắc nhọn (91,8%), nhóm CTRYT lây nhiễm không sắc nhọn (88,9%) và cuối cùng là nhóm CTRYT giải phẫu (46,6%)
Trang 13Bảng 3.2 Tỷ lệ thực hiện phân loại chất thải mới phát sinh đạt chung (n = 270)
Phân loại đạt CTRYT lây nhiễm sắc
Trang 14Bảng 3.3 Tỷ lệ thực hiện phân loại đạt CTRYT mới phát sinh theo Khối
Khối đơn vị Đạt Không đạt Tổng cộng p
Bảng 3 2 Kết quả tiêu chí về thu gom CTRYT (n = 27)
lượng Tỉ lệ
CTRYT lây nhiễm phải thu gom riêng từ nơi phát
sinh về khu vực lưu giữ chất thải 22 81,5 CTRYT thông thường phải thu gom riêng từ nơi
phát sinh về khu vực lưu giữ chất thải 20 75 CTRYT nguy hại không lây nhiễm được thu gom
riêng (thiết bị y tế vỡ, hỏng có chứa thủy ngân…) 21 80,6 Túi đựng chất thải không quá đầy và phải được
buộc kín miệng, không hở, không rách 21 80,6 Hộp đựng CT sắt nhọn được đậy kín, không hở 24 88,9
Trang 15Thùng thu gom CT phải được đậy kín khi thu
gom từ nơi phát sinh đến nơi lưu giữ 22 81,5 Thùng thu gom CT được vệ sinh 1 lần/ngày 27 100 Chất thải bị rò rỉ, rơi vãi trong quá trình thu gom 0 0 CTRYT được thu gom từ nơi phát sinh về nơi lưu
Nhận xét: 100% khoa/đơn vị/trung tâm có thùng thu gom chất thải được vệ sinh 1 lần/ngày; 27/27 khoa/đơn vị (100%) có CTRYT không bị rò rỉ, rơi vãi trong quá trình thu gom; 24/27 khoa/đơn vị/trung tâm (88,9%) có hộp đựng chất thải sắc nhọn được đậy kín, không hở; 22/27 khoa/đơn vị có thùng thu gom CTRYT được đậy kín khi thu gom từ nơi phát sinh đến nơi lưu giữ; 21/27 khoa/đơn vị/trung tâm (80,6%) có CTRYT nguy hại không lây nhiễm được thu gom riêng; 21/27 khoa/đơn vị/trung tâm (80,6%) có túi đựng CTRYT không quá đầy và được buộc kín miệng, không hở rách; 20/27 khoa/đơn vị/trung tâm (75%) có CTRYT thông thường phải thu gom riêng từ nơi phát sinh
về khu vực lưu giữ chất thải; cuối cùng chỉ 11/27 khoa/đơn vị (41,7%) có CTRYT được thu gom từ nơi phát sinh về nơi lưu giữ ít nhất 1 lần/ngày
Bảng 3.3 Kết quả tiêu chí về vận chuyển chất thải rắn y tế (n =27)
CT trước khi vận chuyển, được đóng gói
trong thùng, hộp hoặc túi, kín, đảm bảo
không bị bục, phát tán trong khi vận chuyển
Thực hiện vận chuyển 2 lần/tuần với CT được
xử lý theo hợp đồng với công ty môi trường 27 100 Tần suất vận chuyển xử lý nội bộ bệnh viện 27 100
Trang 16được thực hiện hàng ngày hoặc khi cần
Khi vận chuyển chất thải không rơi vãi ra bên
Túi đựng chất thải dán tem ghi rõ của khoa
Chất thải được vận chuyển theo đường đã quy
định, không vận chuyển đi qua khu vực đông
người
20 80,6
Nhận xét: Đối với tiêu chí về vận chuyển chất thải rắn y tế, 100% khoa/đơn vị/trung tâm đạt: CTRYT trước khi vận chuyển, được đóng gói trong thùng, hộp hoặc túi, kín, đảm bảo không bị bục, phát tán trong khi vận chuyển; thực hiện vận chuyển 2 lần/tuần với CTRYT được xử lý theo hợp đồng với công ty môi trường; Tần suất vận chuyển xử lý nội bộ bệnh viện và Khi vận chuyển chất thải không rơi vãi ra bên ngoài; 24/27 khoa/đơn vị/trung tâm (88,9%) có túi đựng CTRYT được dán tem ghi rõ của khoa nào khi vận chuyển; chỉ 20/27 khoa/đơn vị/trung tâm có CTRYT được vận chuyển theo đường
đã quy định, không vận chuyển đi qua khu vực đông người
Bảng 3.4 Kết quả tiêu chí về lưu giữ chất thải rắn y tế (n
Các loại chất thải lây nhiễm, thông thường, tái chế
được lưu giữ trong các buồng khác nhau 22 81,5 Chất thải được lưu giữ tại khoa không quá 24 giờ 27 100 Chất thải lây nhiễm được lưu giữ không quá 48 giờ 24 88,9 Nhận xét: Về tiêu chí lưu giữ CTRYT, 100% khoa/đơn vị/trung tâm có chất thải được lưu giữ tại khoa không quá 24 giờ; 24/27 khoa/đơn vị/trung tâm (88,9%) có chất thải lây nhiễm được lưu giữ không quá 48 giờ và cuối cùng là 22/27 khoa/đơn vị
Trang 17(81,5%) có các loại chất thải lây nhiễm, thông thường, tái chế được lưu giữ trong các buồng khác nhau
Bảng 3.5 Đánh giá chung các tiêu chí về thu gom, vận chuyển, lưu trữ và xử lý chất thải rắn y tế
Đạt tiêu chí về thiết bị, dụng cụ phân loại CTRYT Đạt Đạt tiêu chí về thiết bị dụng cụ thu gom CTRYT Đạt Đạt tiêu chí về thiết bị, dụng cụ lưu giữ CTRYT 81,5%
Nhận xét: 100% khoa/đơn vị/trung tâm đạt tiêu chí về thiết bị, dụng cụ phân loại, thu gom, vận chuyển, lưu giữ CTRYT; tiếp đến 94,4% khoa/đơn vị/trung tâm đạt tiêu chí về xử lý CTRYT; 81,5% khoa/đơn vị/trung tâm đạt tiêu chí về thiết bị, dụng cụ phân loại CTRYT; 91,7% khoa/đơn vị/trung tâm đạt đầy đủ các tiêu chí về thu gom, vận chuyển, lưu giữ CTRYT
3.2 Phân tích một số yếu tố ảnh hưởng của quản lý chất thải rắn y tế tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương năm
2021
Cơ sở vật chất, trang thiết bị
Bệnh viện Phụ sản Trung ương được thành lập từ năm 1955 với chức năng nhiệm vụ khám chữa bệnh chuyên ngành phụ sản Với một cơ sở được sử dụng trên nhiều năm nên hạ tầng bệnh viện đã cũ, xuống cấp lối đi chật hẹp, gồ ghề gây khó khăn trong