1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

(Luận văn thạc sĩ) văn hóa công vụ trong các cơ quan chuyên môn thuộc UBND huyện krông ana, tỉnh đắk lắk

112 18 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề (Luận văn thạc sĩ) Văn Hóa Công Vụ Trong Các Cơ Quan Chuyên Môn Thuộc UBND Huyện Krông Ana, Tỉnh Đắk Lắk
Tác giả Chung Thị Chanh
Người hướng dẫn TS. Lê Văn Từ
Trường học Học viện Hành chính Quốc gia
Chuyên ngành Quản lý công
Thể loại luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2021
Thành phố Đắk Lắk
Định dạng
Số trang 112
Dung lượng 0,97 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Để tiếp bước đổi mới và nâng cao chất lượng ĐTN, phát triển các trường đào tạo nghề lên một tầm cao mới; tiếp tục đổi mới công tác QLNN đối với các trường đào tạo nghề trên địa bàn tỉnh

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi cam đoan, bản Luận văn tốt nghiệp này là công trình nghiên cứu của riêng tôi, được thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của TS Lê Văn Từ

Các nội dung nghiên cứu, số liệu và kết quả nghiên cứu trong Luận văn này là trung thực và chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào trước đây

Các tài liệu trích dẫn, số liệu minh họa trong Luận văn là trung thực có nguồn gốc và xuất xứ rõ ràng

TÁC GIẢ LUẬN VĂN

Chung Thị Chanh

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Lời đầu tiên, tôi xin chân thành cảm ơn Học viện Hành chính Quốc gia, Phân viện Học viện Hành chính Quốc gia khu vực Tây Nguyên, các quý thầy,

cô giáo đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu

Tôi xin gửi lời cảm ơn và biết ơn sâu sắc đến TS Lê Văn Từ đã trực tiếp hướng dẫn, dành nhiều thời gian và tận tình chỉ bảo trong quá trình nghiên cứu và giúp tôi hoàn thành Luận văn này

Tôi xin chân thành cảm ơn Lãnh đạo Văn phòng Tỉnh uỷ, Văn phòng UBND tỉnh, Sở Lao động - Thương binh và Xã hội và Cục Thống kê tỉnh Đắk Lắk đã tạo điều kiện thuận lợi, tận tình cung cấp tài liệu, số liệu để tôi hoàn thành Luận văn

Mặc dù bản thân đã hết sức cố gắng, Luận văn không tránh khỏi những thiếu sót Kính mong nhận được sự chỉ dẫn, đóng góp ý kiến của các nhà khoa học và quý thầy, cô để Luận văn hoàn thiện hơn

Xin trân trọng cảm ơn!

TÁC GIẢ LUẬN VĂN

Chung Thị Chanh

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN 3

LỜI CẢM ƠN 4

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT 7

DANH MỤC BẢNG BIỂU 8

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: CƠ SỞ KHOA HỌC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI CÁC TRƯỜNG ĐÀO TẠO NGHỀ 8

1.1 Các trường đào tạo nghề 8

1.2 Quản lý nhà nước đối với các trường đào tạo nghề 12

1.3 Kinh nghiệm quản lý nhà nước đối với các trường đào tạo nghề của các địa phương và bài học rút ra cho tỉnh Đắk Lắk 22

1.4 Những yếu tố ảnh hưởng đến quản lý nhà nước đối với trường đào tạo nghề trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk 27

Chương 2: THỰC TRẠNG CÁC TRƯỜNG ĐÀO TẠO NGHỀ VÀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI CÁC TRƯỜNG ĐÀO TẠO NGHỀ TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH ĐẮK LẮK 31

2.1 Điều kiện tự nhiên và tình hình kinh tế - xã hội của tỉnh Đắk Lắk 31

2.2.Thực trạng các trường đào tạo nghề trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk 32

2.3 Thực trạng quản lý nhà nước đối với trường đào tạo nghề trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk 43

2.4 Nhận xét, đánh giá thực trạng quản lý nhà nước đối với các trường đào tạo nghề trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk 64

Chương 3:

QUAN ĐIỂM, ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG TRÊN

Trang 6

ĐỊA BÀN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI CÁC TRƯỜNG ĐÀO TẠO

NGHỀ TỈNH ĐẮK LẮK 71

3.1 Quan điểm, định hướng quản lý nhà nước đối với trường đào tạo nghề trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk 71

3.2 Một số giải pháp tăng cường quản lý nhà nước đối với các trường đào tạo nghề trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk 76

3.3 Kiến nghị 96

KẾT LUẬN 99

TÀI LIỆU THAM KHẢO 101

Trang 7

Sở LĐ-TB&XH Sở Lao động – Thương binh và Xã hội

Trang 8

4 Bảng 2.4 Cơ cấu và trình độ chuyên môn đội ngũ cán bộ

quản lý và nhà giáo các trường đào tạo nghề trên địa bàn

tỉnh Đắk Lắk tính đến năm 2020

52

5 Bảng 2.5 Tổng hợp nguồn vốn đầu tư cơ sở vật chất, trang

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn Đề tài

Trong quá trình phát triển và hội nhập quốc tế, nguồn lao động kỹ thuật

chất lượng cao, đáp ứng được yêu cầu của quá trình CNH - HĐH đất nước luôn

là đòi hỏi cấp thiết Những năm vừa qua, Đảng và Nhà nước đã quan tâm đến yêu cầu này và đã có những chính sách kịp thời, hiệu quả thúc đẩy nhanh lĩnh vực đào tạo nghề với nguồn đầu tư lớn cho hoạt động đào tạo, mua sắm cơ sở vật chất, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, đội ngũ nhà giáo và kết quả là hệ thống trường đào tạo nghề được phân bố rộng khắp trong cả nước, cung cấp lực lượng lao động kỹ thuật trực tiếp phục vụ sự nghiệp CNH - HĐH đất nước và đáp ứng

yêu cầu hội nhập

Trường đào tạo nghề là cơ sở đào tạo lao động kỹ thuật trực tiếp, là nhân

tố có vai trò quan trọng đối với phát triển nguồn nhân lực, tạo việc làm, thực hiện công bằng xã hội, góp phần phát triển kinh tế bền vững và tiến bộ kỹ thuật

Để có được lực lượng lao động giỏi thì phải đầu tư và đầu tư cho giáo dục nói chung và đào tạo nghề nói riêng là đầu tư cho phát triển

Để tiếp bước đổi mới và nâng cao chất lượng ĐTN, phát triển các trường đào tạo nghề lên một tầm cao mới; tiếp tục đổi mới công tác QLNN đối với các trường đào tạo nghề trên địa bàn tỉnh phù hợp với nền kinh tế thị trường, nâng cao khả năng cạnh tranh với các trường khác thì việc tăng cường QLNN đối với các trường đào tạo nghề là rất cần thiết; thực hiện đồng bộ các mục tiêu, nhiệm vụ giải pháp đáp ứng tốt yêu cầu của thị trường lao động trong ĐTN và phát triển nguồn nhân lực kỹ thuật cao, góp phần phát triển KT-XH, nâng cao năng lực cạnh tranh của Việt Nam trên trường quốc tế

Thời gian qua, Chính phủ đã xây dựng và trình Quốc hội ban hành các Luật, Nghị định trong lĩnh vực GDNN và các lĩnh vực có liên quan nhằm phát triển các trường đào tạo nghề, trong đó, đáng chú ý là Luật Giáo dục nghề

Trang 10

nghiệp năm 2014 (Luật số 74/2014/QH13), đã làm thay đổi toàn diện cấu trúc

hệ thống GDNN; theo đó, hệ thống GDNN bao gồm: Trình độ sơ cấp, trình độ trung cấp và trình độ cao đẳng

Trong những năm qua, hệ thống các trường đào tạo nghề đã phát triển ổn định và bước đầu đã được kết quả khích lệ Các trường đào tạo nghề trên địa bàn đã có những chuyển biến mạnh mẽ vể cả quy mô ngành nghề đào tạo, chất lượng đào tạo nghề; đội ngũ cán bộ, nhà giáo và cơ sở vật chất được đầu tư đáp ứng yêu cầu đào tạo nghề; tỷ lệ HSSV ra trường có việc làm đạt trên 80%, góp phần nâng tỷ lệ đào tạo và đào tạo nghề đáp ứng mục tiêu đặt ra của địa phương

Bên cạnh những kết quả đạt được, công tác QLNN đối với các trường đào tạo nghề trên địa bàn tỉnh vẫn còn một số hạn chế như: Quy hoạch phát triển mạng lưới các trường đào tạo nghề chậm được sửa đổi, bổ sung; ban hành

và tổ chức thực hiện văn bản pháp luật QLNN đối với trường đào tạo nghề còn chậm và chưa đồng bộ; cơ chế tài chính đối với hoạt động ĐTN chưa hợp lý; công tác thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm chưa thường xuyên và hiệu quả chưa cao; tổ chức bộ máy QLNN đối với trường đào tạo nghề chưa đồng bộ; chưa có cơ chế chính sách điều tiết, phân luồng và liên thông trong hệ thống giáo dục theo hướng khuyến khích HSSV học nghề; công tác huy động các nguồn lực xã hội tham gia hoạt động ĐTN chưa mạnh

Xuất phát từ những hạn chế, khó khăn nêu trên, với những kiến thức đã tiếp thu được cả trên lý thuyết và thực tế dù còn rất khiêm tốn, tôi chọn đề tài:

“Quản lý nhà nước đối với các trường đào tạo nghề trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk”

làm Luận văn tốt nghiệp Thạc sĩ chuyên ngành Quản lý công

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến Đề tài Luận văn

Đào tạo nghề và QLNN đối với trường đào tạo nghề là đề tài được nhiều nhà lãnh đạo, quản lý, nhà khoa học quan tâm nghiên cứu Đã có nhiều công trình, đề tài nghiên cứu, bài viết xoay quanh vấn đề ĐTN và QLNN đối

Trang 11

với trường đào tạo nghề ở những khía cạnh, nội dung khác nhau Có thể kể đến các công trình sau đây:

- Các công trình nghiên cứu về GDNN:

+ “Giáo dục nghề nghiệp - Những vấn đề và giải pháp”, tác giả Nguyễn

Viết Sự; Tác giả nghiên cứu những vấn đề hạn chế, khó khăn phổ biến trong hệ thống GDNN của Việt Nam, từ chương trình, phương pháp, nội dung, đội ngũ cán bộ và nhà giáo, chất lượng đào tạo nghề; từ đó đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng đào tạo GDNN [22];

+ “Thực trạng và giải pháp gắn kết giữa giáo dục nghề nghiệp với

doanh nghiệp ở Việt Nam”, tác giả Vũ Xuân Hùng, Lê Thị Hồng Liên; Tác giả

nghiên cứu về thực trạng hệ thống cơ sở GDNN, tình hình hợp tác giữa cơ sở GDNN và doanh nghiệp; những khó khăn, thách thức trong hoạt động gắn kết với doanh nghiệp Từ đó, bài viết đề xuất một số giải pháp nhằm tăng cường gắn kết giữa các cơ sở GDNN và doanh nghiệp ở Việt Nam [43];

+ “Một số vấn đề nghiên cứu và áp dụng chuẩn, chuẩn hóa trong giáo

dục nghề nghiệp Việt Nam”, tác giả Phạm Xuân Thu, Lê Thị Thảo (2019); Tác

giả đã phân tích mục đích, ý nghĩa của tiêu chuẩn, chuẩn hóa và sự áp dụng chuẩn trong GDNN trên thế giới và Việt Nam Sau khi nghiên cứu tổng quan về các khái niệm tiêu chuẩn, chuẩn hóa và kinh nghiệm thế giới về những vấn đề này, tác giả đưa ra đánh giá về tình hình nghiên cứu về chuẩn

và chuẩn hóa trên thế giới và Việt Nam; đồng thời rút ra những hạn chế, khó khăn và áp dụng chuẩn hóa vào thực tế GDNN Việt Nam Những hạn chế này cùng với các nguyên nhân kèm theo sẽ giúp cho các nhà nghiên cứu đưa ra giải pháp để làm hiện thực hóa các tiêu chuẩn trong GDNN ở Việt Nam [31];

- Công trình nghiên cứu QLNN về ĐTN, QLNN đối với trường đào tạo nghề:

+ “Quản lý nhà nước về dạy nghề - Thực trạng và giải pháp từ thực tiễn

thành phố Hồ Chí Minh”, tác giả Nguyễn Ngọc Châu; Từ thực tiễn QLNN về

Trang 12

dạy nghề tại thành phố Hồ Chí Minh; tác giả phân tích, đánh giá các mặt tích cực, hạn chế trong quá trình QLNN về dạy nghề và chỉ ra nguyên nhân của những khó khăn, hạn chế trong việc phát triển nguồn nhân lực đáp ứng nhu cầu của thị trường lao động và đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng

và hiệu quả QLNN về dạy nghề [15];

+ “Quản lý nhà nước về đào tạo trong các trường nghề trên địa bàn tỉnh

Đồng Tháp”, tác giả Trần Thị Nguyệt; Luận văn tập trung vào nghiên cứu lý

luận và thực tiễn QLNN về đào tạo trong các trường nghề, qua đó đánh giá những việc làm được, những hạn chế về QLNN về đào tạo trong các trường nghề trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp thời gian qua, từ đó đưa ra những giải pháp hoàn thiện công tác QLNN về đào tạo trong các trường đào tạo nghề [20];

+ “Quản lý nhà nước đối với hoạt động dạy nghề trên địa bàn tỉnh Thái

Nguyên”, tác giả Hà Thị Thu Hường; Luận văn đã hệ thống hóa và bổ sung cơ

sở lý luận QLNN về dạy nghề, đưa ra cái nhìn tổng quan về QLNN trong lĩnh vực dạy nghề ở Thái Nguyên, những kết quả đạt được và những hạn chế, bất cập trong công tác QLNN đối với hoạt động dạy nghề, từ đó đưa ra một số giải pháp tăng cường QLNN đối với hoạt động dạy nghề ở Thái Nguyên [18];

+ “Quản lý nhà nước về đào tạo nghề trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk”, tác

giả Bùi Thị Hải; Luận văn này tập trung nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn QLNN về đào tạo nghề trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk, những kết quả đạt được và những hạn chế, những bất cập QLNN về đào tạo nghề trên địa bàn tỉnh,

từ đó đưa ra một số giải pháp tăng cường công tác QLNN về đào tạo nghề trên địa bàn tỉnh, đặc biệt nâng cao khả năng nghiên cứu và phục vụ cho công tác QLNN nói chung, đào tạo nghề trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk nói riêng [17]

Những công trình nghiên cứu nêu trên là nguồn tài liệu quý giá để tác giả tiến hành nghiên cứu đề tài của mình Bên cạnh đó, vẫn chưa có đề tài, công trình nào nghiên cứu chuyên sâu trực tiếp đến QLNN đối với các trường

Trang 13

đào tạo nghề trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk Tác giả mong muốn tiếp tục làm rõ những kết quả đã đạt được và thực trạng QLNN đối với các trường đào tạo nghề trên địa bàn tỉnh, đồng thời đề xuất một số giải pháp cơ bản để tăng cường QLNN đối với các trường đào tạo nghề trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở nghiên cứu về QLNN đối với các trường đào tạo nghề trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk để củng cố và làm sâu sắc thêm cơ sở lý luận và đề xuất những giải pháp tăng cường QLNN đối với các trường đào tạo nghề trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để thực hiện được mục đích trên, nhiệm vụ của Luận văn là:

- Hệ thống hoá, phân tích và làm rõ thêm lý luận QLNN đối với các trường đào tạo nghề

- Phân tích thực trạng QLNN đối với các trường đào tạo nghề trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk

- Đề xuất một số giải pháp tăng cường QLNN đối với các trường đào tạo nghề trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là các vấn đề lý luận và thực tiễn quản lý nhà nước đối với các trường đào tạo nghề trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk

4.2 Phạm vi nghiên cứu

- Phạm vi không gian: Trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk

- Phạm vi thời gian: Nghiên cứu thực trạng QLNN đối với trường đào tạo nghề trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk từ năm 2016 đến năm nay

Trang 14

- Phạm vi về nội dung: Trong khuôn khổ Luận văn, tác giả chỉ đi sâu vào nghiên cứu và phân tích các nội dung cơ bản liên quan đến:

+ Xây dựng và ban hành chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chính sách đối với trường đào tạo nghề;

+ Tổ chức thực hiện văn bản pháp luật đối với các trường đào tạo nghề; + Tổ chức và kiện toàn bộ máy quản lý, phát triển đội ngũ cán bộ quản

lý và nhà giáo đào tạo nghề;

+ Huy động, quản lý, sử dụng các nguồn lực và xã hội hóa hoạt động đào tạo nghề để phát triển trường đào tạo nghề;

+ Thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm trường đào tạo nghề

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

5.1 Phương pháp luận

Luận văn sử dụng phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử làm cơ sở phương pháp luận cho việc nghiên cứu

5.2 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp phân tích tài liệu: Tìm hiểu các nghiên cứu đã có về

QLNN đối với trường đào tạo nghề ở Việt Nam và trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk; đánh giá các quan điểm hợp lý và chưa hợp lý từ đó đưa ra các kiến giải theo cách tiếp cận của tác giả

- Phương pháp thực chứng: Dựa trên những tư liệu thực tiễn của các

ngành, các địa phương để phân tích, đánh giá thực trạng QLNN đối với các trường đào tạo nghề trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk; những kết quả, hạn chế làm cơ

sở để đối chứng, phân tích và đề xuất các giải pháp hoàn thiện QLNN trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk Ngoài ra còn sử dụng phương pháp thống kê, so sánh, phân tích trong quá trình nghiên cứu

- Phương pháp tổng hợp và phân tích định lượng: Dựa trên tài liệu, thông

tin thực tiễn của các trường và các dữ liệu thu thập được để phân tích, đánh giá

Trang 15

thực trạng QLNN đối với các trường đào tạo nghề trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk; những kết quả và hạn chế là cơ sở để đưa ra kết luận và đề xuất giải pháp hoàn

thiện công tác QLNN đối với trường đào tạo nghề trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của Luận văn

6.1 Đóng góp về lý luận của Luận văn

Làm sáng rõ những kiến thức lý luận QLNN đối với trường đào tạo nghề, đồng thời đặt ra những vấn đề mới cho việc nghiên cứu nhằm bổ sung cho hệ thống lý luận đó

6.2 Ý nghĩa thực tiễn của Luận văn

- Đánh giá thực trạng các trường đào tạo nghề trên địa bàn tỉnh tại Đắk Lắk, từ đó có những đề xuất để nâng cao chất lượng các trường đào tạo nghề trên địa bàn tỉnh tại Đắk Lắk

- Trên cơ sở thực trạng QLNN đối với trường đào tạo nghề địa bàn tỉnh tại Đắk Lắk, từ đó đề xuất để công tác QLNN đối với trường đào tạo nghề địa bàn tỉnh tại Đắk Lắk đạt hiệu quả cao hơn; đẩy mạnh phát triển nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu nhân lực kỹ thuật trực tiếp cho phát triển KT-XH của địa phương và đất nước

7 Kết cấu của Luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, danh mục bảng, sơ đồ, chữ cái viết tắt, nội dung chính của Luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Cơ sở khoa học quản lý nhà nước đối với các trường đào tạo nghề trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk

Chương 2: Thực trạng các trường đào tạo nghề và quản lý nhà nước đối với các trường đào tạo nghề trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk

Chương 3: Quan điểm, định hướng và giải pháp tăng cường quản lý nhà nước đối với các trường đào tạo nghề trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk.

Trang 16

Chương 1:

CƠ SỞ KHOA HỌC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI

CÁC TRƯỜNG ĐÀO TẠO NGHỀ 1.1 Các trường đào tạo nghề

1.1.1 Một số khái niệm

- Khái niệm đào tạo nghề:

Tại khoản 2, Điều 3, Luật GDNN được Quốc hội khóa XIII, kỳ họp thứ

8 thông qua ngày 27/11/2014 đưa ra khái niệm: “Đào tạo nghề nghiệp là hoạt

động dạy và học nhằm trang bị kiến thức, kỹ năng và thái độ nghề nghiệp cần thiết cho người học nghề để có thể tìm được việc làm hoặc tự tạo việc làm sau khi hoàn thành khóa học hoặc để nâng cao trình độ nghề nghiệp” [21, tr.1]

Như vậy, đào tạo nghề nghiệp bao gồm hai quá trình có quan hệ hữu cơ với nhau, đó là dạy nghề và học nghề Luật GDNN cũng quy định có các cấp trình độ đào tạo là sơ cấp, trung cấp, cao đẳng và các chương trình đào tạo nghề nghiệp khác cho người lao động, đáp ứng nhu cầu nhân lực trực tiếp trong sản xuất, kinh doanh và dịch vụ, được thực hiện theo hai hình thức là đào tạo chính quy và đào tạo thường xuyên

Nói cách khác, ĐTN là quá trình tác động có mục đích, có tổ chức đến người học nghề để hình thành và phát triển có hệ thống những kỹ năng, kiến thức và thái độ nghề nghiệp cần thiết nhằm đáp ứng nhu cầu của xã hội, trong

đó có nhu cầu người học nghề, nhu cầu doanh nghiệp và nhu cầu quốc gia

Mục tiêu của ĐTN là nhằm đào tạo nguồn nhân lực trực tiếp cho sản xuất, kinh doanh và dịch vụ, có năng lực hành nghề tương ứng với trình độ đào tạo; có đạo đức, sức khỏe; có trách nhiệm nghề nghiệp; có khả năng sáng tạo, thích ứng với môi trường làm việc trong bối cảnh hội nhập quốc tế; bảo đảm nâng cao năng suất, chất lượng lao động; tạo điều kiện cho người học sau khi hoàn thành khóa học có khả năng tìm việc làm, trình độ cao hơn

Trang 17

Bên cạnh những đặc điểm của giáo dục và đào tạo, đào tạo nghề còn có những đặc điểm riêng như sau:

Một là, ĐTN tập trung đào tạo năng lực thực hành nghề nghiệp và giáo

dục đạo đức cho người học; đáp ứng hợp lý về thời gian đào tạo ở các cấp trình

độ khác nhau theo yêu cầu của thị trường lao động ĐTN là đào tạo cho người học có được các kiến thức, kỹ năng và kỹ xảo nghề nghiệp ở trình độ nhất định

để có thể làm việc sau khi tốt nghiệp, đồng thời giáo dục cho HSSV những phẩm chất nghề nghiệp như: lòng yêu nghề, đạo đức nghề nghiệp, ý thức tổ chức, kỷ luật trong lao động sản xuất Đó chính là phẩm chất, năng lực tạo nên nhân cách người lao động mới mà các trường đào tạo nghề phải mang lại cho người học trong quá trình đào tạo nghề

Hai là, ĐTN gắn liền chặt chẽ và đáp ứng nhu cầu của thị trường lao

động và việc làm; gắn liền với quá trình lao động nghề nghiệp thực tế và công việc hàng ngày của người lao động Đặc thù cơ bản của đào tạo nghề là hoạt động dạy - học gắn liền với quá trình sản xuất, muốn nắm được nội dung nghề nghiệp thì phải trực tiếp nhìn nhận quá trình sản xuất hay ít nhất được thấy mô hình của nó (thiết bị, máy móc thực hành nghề)

Ba là, ĐTN hướng tới từng bước xoá bỏ sự cách biệt cứng nhắc giữa khu

vực nông thôn và khu vực thành thị, giữa lao động chân tay và lao động trí óc

Bốn là, kinh phí hỗ trợ hoạt động ĐTN được lấy từ ngân sách trung ương,

địa phương, doanh nghiệp Trong đó, ngân sách trung ương đảm bảo kinh phí

để thực hiện chính sách hỗ trợ lao động nông thôn học nghề, hoạt động ĐTN; các cá nhân, doanh nghiệp tham gia công tác ĐTN được thụ hưởng mức thuế

ưu đãi theo đúng quy định của pháp luật

- Khái niệm cơ sở đào tạo nghề (cơ sở GDNN):

Trong Luật GDNN, GDNN ”là một bậc học của hệ thống giáo dục quốc

dân nhằm đào tạo trình độ sơ cấp, trình độ trung cấp, trình độ cao đẳng và

Trang 18

các chương trình đào tạo nghề nghiệp khác cho người lao động, đáp ứng nhu

cầu nhân lực trực tiếp trong sản xuất, kinh doanh và dịch vụ, được thực hiện

theo hai hình thức là đào tạo chính quy và đào tạo thường xuyên” [21, tr.1]

Theo Điều 5, Chương 1, Luật GDNN, cơ sở GDNN bao gồm: Trung

tâm GDNN, trường Trung cấp và trường Cao đẳng Cơ sở GDNN được tổ

chức theo hình thức:

- Cơ sở GDNN công lập là cơ sở GDNN thuộc sở hữu nhà nước, do nhà

nước đầu tư, xây dựng cơ sở vật chất

- Cơ sở GDNN tư thục là cơ sở GDNN thuộc sở hữu của các tổ chức xã

hội, tổ chức xã hội- nghề nghiệp; tổ chức kinh tế tư nhân hoặc cá nhân,… đầu

tư xây dựng cơ sở vật chất

- Cơ sở GDNN có vốn đầu tư nước ngoài gồm cơ sở GDNN 100% vốn

nhà đầu tư nước ngoài, cơ sở giáo dục liên doanh giữa nhà đầu tư trong nước

và nhà đầu tư nước ngoài

Mục tiêu cụ thể đối với trình độ GDNN được quy định cụ thể như sau:

- Đào tạo trình độ sơ cấp để người học có năng lực thực hiện được các

công việc đơn giản của một nghề

- Đào tạo trình độ trung cấp để người học có năng lực thực hiện được

các công việc đơn giản của trình độ sơ cấp và thực hiện được một số công việc

có tính phức tạp của chuyên ngành hoặc nghề; có khả năng ứng dụng kỹ thuật,

công nghệ vào công việc, làm việc độc lập, làm việc theo nhóm

- Đào tạo trình độ cao đẳng để người học có khả năng thực hiện được

các công việc trình độ trung cấp và giải quyết được tính phức tạp chuyên

ngành hoặc nghề, có khả năng ứng dụng kỹ thuật, công nghệ hiện đại vào công

việc, hướng dẫn và giám sát được người khác trong nhóm thực hiện công việc

Trang 19

1.1.2 Vai trò của trường đào tạo nghề trong hệ thống giáo dục Việt Nam

Trường đào tạo nghề là cơ sở ĐTN thuộc hệ thống giáo dục Việt Nam được thành lập và hoạt động theo quy định của pháp luật Về mặt pháp lý, trường đào tạo nghề là đơn vị sự nghiệp, có quyền tự chủ và tự chịu trách nhiệm theo quy định pháp luật; có tư cách pháp nhân, có con dấu và tài khoản riêng Trường đào tạo nghề giữ một vị trí đặc biệt quan trọng trong cấu trúc nền giáo dục Việt Nam Trong nền kinh tế trí thức, khi mà trí thức là động lực của kinh tế thì sự phân công lao động có sự khác biệt với nền kinh tế truyền thống

Đó là xuất hiện đội ngũ những người lao động tri thức, có trình độ cao là các

kỹ sư, những nhà khoa học, sản phẩm của họ là ý tưởng, những công trình nghiên cứu khoa học trên một số lĩnh vực cụ thể được đưa trực tiếp vào nền kinh tế và tạo ra giá trị cho xã hội; họ là những người đưa lý thuyết đến thực hành, đưa khoa học công nghệ tới các vùng chậm phát triển của đất nước

Vai trò của trường đào tạo nghề được xác định dựa trên mục tiêu của loại

hình cơ sở giáo dục này, đó là “đào tạo nhân lực kỹ thuật trực tiếp trong sản

xuất, dịch vụ có năng lực thực hành nghề tương xứng với trình độ đào tạo, có đạo đức, lương tâm nghề nghiệp, ý thức kỷ luật, tác phong công nghiệp, có sức khoẻ nhằm tạo điều kiện cho người học nghề sau khi tốt nghiệp có khả năng tìm việc làm, tự tạo việc làm hoặc học lên trình độ cao hơn, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp CNH - HĐH đất nước” [21, tr.2]

Như vậy, trường đào tạo nghề đóng vai trò là cơ sở đào tạo nguồn lực lao động kỹ thuật trực tiếp có trình độ cao nhất trong hệ thống giáo dục Việt Nam Trong bối cảnh hội nhập và đổi mới GDNN, vai trò của các trường đào tạo nghề lại càng được khẳng định và nâng cao hơn

Hệ thống trường đào tạo nghề tuy chưa phát triển mạnh nhưng cũng đã

có những nỗ lực vượt khó khăn, tìm tòi cách đi, cách hoạt động, gánh vác một phần tải trọng giáo dục nói chung và GDNN nói riêng và mở rộng cơ hội học

Trang 20

nghề cho xã hội Nhiều trường đào tạo nghề đã khẳng định được chất lượng, tạo được niềm tin cho xã hội góp phần đáp ứng tốt hơn nhu cầu học tập của xã hội, nâng cao năng lực đào tạo nghề và đóng vai trò ngày càng quan trọng trong giáo dục Việt Nam Hơn nữa, các trường đào tạo nghề đã tạo công việc cho hàng nghìn cán bộ và nhà giáo, huy động được nguồn lực to lớn của xã hội để hiện thực hóa chủ trương xã hội hóa GDNN của Đảng và Nhà nước; sự ra đời

và phát triển của các trường đào tạo nghề đã có tác động mạnh mẽ và góp phần quan trọng vào sự nghiệp giáo dục Việt Nam

Mặc dù, các trường đào tạo nghề còn gặp nhiều khó khăn; đặc biệt là trong tạo dựng cơ sở vật chất, đội ngũ cán bộ, nhà giáo và tổ chức hoạt động ĐTN; nhưng phương thức này cho phép huy động sự đóng góp của các nhà đầu

tư để xây dựng hệ thống trường đào tạo nghề, góp phần thực hiện xã hội hóa GDNN, đáp ứng nhu cầu học nghề và đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng yêu cầu sự nghiệp CNH-HĐH trong điều kiện NSNN còn hạn hẹp

1.2 Quản lý nhà nước đối với các trường đào tạo nghề

1.2.1 Một số khái niệm và đặc điểm quản lý nhà nước đối với các trường đào tạo nghề

- Khái niệm quản lý nhà nước:

Quản lý nhà nước là hoạt động mang tính chất quyền lực Nhà nước, được

sử dụng quyền lực Nhà nước để điều chỉnh các quan hệ xã hội QLNN được xem là một hoạt động chức năng của Nhà nước trong quản lý xã hội và có thể xem là hoạt động chức năng đặc biệt

Giáo trình lý luận hành chính Nhà nước định nghĩa “ QLNN là một dạng

quản lý xã hội đặc biệt mang tính quyền lực Nhà nước, sử dụng pháp luật và chính sách để điều chỉnh hành vi của cá nhân tổ chức trên tất cả các mặt của đời sống xã hội do các cơ quan trong bộ máy Nhà nước thực hiện nhằm phục

vụ nhân dân, duy trì sự ổn định và phát triển của xã hội” [16, tr.3]

Trang 21

Như vậy, có thể hiểu: Quản lý nhà nước là hoạt động mang tính chất

chấp hành và điều hành của các cơ quan hành chính Nhà nước trên cơ sở và để thi hành hiến pháp, luật, và các văn bản của các cơ quan Nhà nước cấp trên nhằm đáp ứng các nhu cầu hợp pháp của công dân, duy trì sự ổn định và phát triển của xã hội

- Khái niệm quản lý nhà nước đối với các trường đào tạo nghề:

Trên cơ sở cách hiểu của khái niệm quản lý nhà nước và các quy định

của Luật GDNN năm 2014, có thể hiểu: Quản lý nhà nước đối với trường đào

tạo nghề là hoạt động của cơ quan hành chính Nhà nước, được thực hiện trên

cơ sở và để thi hành pháp luật trong lĩnh vực GDNN và các lĩnh vực khác có liên quan đến các trường đào tạo nghề; đảm bảo sự phát triển ổn định, bền vững của trường đào tạo nghề; bảo vệ quyền lợi của người học tại các trường đào tạo nghề và lợi ích của xã hội; góp phần thực hiện mục tiêu chung và từng mục tiêu cụ thể của trường đào tạo nghề theo quy định tại Luật GDNN

Theo cách hiểu về khái niệm quản lý nhà nước đối với các trường đào tạo nghề như trên cho thấy, khách thể quản lý (cũng là đối tượng quản lý) ở đây chính là các trường đào tạo nghề, với tư cách là một cơ sở GDNN trong hệ thống giáo dục quốc dân, có tư cách pháp nhân theo quy định của pháp luật

- Đặc điểm quản lý nhà nước đối với trường đào tạo nghề:

Một là, kết hợp QLNN và quản lý chuyên môn hoạt động trường đào tạo

nghề Nó vừa theo nguyên tắc quản lý hành chính nhà nước đối với hoạt động của quản lý giáo dục nói chung và quản lý trường đào tạo nghề nói riêng, vừa theo nguyên tắc hành chính giáo dục đối với một cơ sở ĐTN QLNN đối với trường đào tạo nghề thực chất là triển khai chức năng, nhiệm vụ quyền hạn do Nhà nước quy định; các cơ quan, tổ chức thay mặt nhà nước triển khai sự nghiệp giáo dục và điều hành, điều chỉnh các hoạt động ĐTN tương ứng phù hợp đối với từng địa phương QLNN thực chất là việc xây dựng các văn bản pháp quy

Trang 22

và chấp hành các văn bản Kết hợp với quản lý giáo dục là đưa việc xây dựng các văn bản cho các hoạt động chuyên môn của trường đào tạo nghề và làm cho mọi người hiểu, biết được các quy định của văn bản để thực hiện cho đúng

Hai là, về tính quyền lực nhà nước trong hoạt động quản lý QLNN đối

với các trường đào tạo nghề cũng là đặc điểm nổi bật của QLNN ở mọi lĩnh vực, đó là tính quyền lực nhà nước trong các hoạt động quản lý Đặc điểm này biểu hiện ở các nội dung sau:

+ Điều kiện để triển khai QLNN là phải có tư cách pháp nhân và yêu cầu

về tính hợp pháp, hợp lý trong quản lý là yêu cầu đầu tiên Muốn có tư cách pháp nhân để quản lý phải được bổ nhiệm và khi đã được bổ nhiệm cần phải thực hiện đúng, đủ chức năng, thẩm quyền Trong QLNN sẽ không có tư cách pháp nhân để "ra quyền” khi chưa được bổ nhiệm Tuy nhiên, mỗi tư cách pháp nhân đều có trách nhiệm và quyền hạn tương ứng, việc hiểu cho đúng, làm cho

đủ “thẩm quyền” là thước đo khả năng “sử dụng quyền lực nhà nước” của một

tư cách pháp nhân

+ Phương tiện QLNN đối với trường đào tạo nghề là các văn bản pháp luật Cần nhận thức rằng văn bản pháp luật là sự cụ thể hoá chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước; phản ánh lợi ích của toàn dân, đây chính là lành lang pháp lý cho việc triển khai các hoạt động QLNN đối với trường đào tạo nghề, bảo đảm tính quyền lực nhà nước trong quản lý Việc không tuân thủ hành lang pháp lý trong các hoạt động QLNN tức là vi phạm trật tự kỷ cương

và sẽ bị xử lí tuỳ theo quy định của pháp luật

+ Trong QLNN phải tuân thủ thứ bậc chặt chẽ hoạt động quản lý theo

sự phân công, phân cấp rõ ràng và mệnh lệnh, phục tùng là biểu hiện rõ nhất của tính quyền lực trong QLNN Tính quyền lực Nhà nước ở đây cũng chính là việc cán bộ quản lý trường đào tạo nghề cấp địa phương cần nhận thức đầy đủ rằng cấp dưới phải phục tùng cấp trên, địa phương phải phục tùng Trung ương

Trang 23

trong quá trình QLNN đối với trường đào tạo nghề

Ba là, phải có sự kết hợp Nhà nước và xã hội trong quá trình triển khai

QLNN đối với các trường đào tạo nghề Chúng ta đều biết công tác ĐTN là một hoạt động mang tính xã hội cao nhằm tạo ra nguồn nhân lực có kỹ năng thực hành và Đảng ta cũng đã nhấn mạnh ĐTN là sự nghiệp của Đảng, Nhà nước và của toàn dân Rõ ràng, dân chủ hoá và xã hội hóa hoạt động ĐTN mang tính chiến lược và nó có vai trò rất to lớn trong sự phát triển giáo dục nói chung và GDNN nói riêng

Tóm lại, QLNN đối với các trường đào tạo nghề là thực hiện chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền do Nhà nước quy định, phân công, phân cấp trong các hoạt động GDNN

Trong phạm vi của luận văn, tác giả tập trung vào những nội dung sau đây:

Một là, xây dựng và ban hành chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chính sách đối với trường đào tạo nghề:

- Công tác xây dựng và ban hành chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chính sách đối với trường ĐTN được coi là nhiệm vụ mang tính chất vĩ mô và có ý nghĩa quan trọng trong hoạt động ĐTN Quy hoạch, kế hoạch, chính sách đối với các trường ĐTN phải phù hợp với chiến lược phát triển KT-XH, quy hoạch phát triển nhân lực của đất nước, ngành, địa phương, khả năng đầu tư của Nhà nước, khả năng huy động các nguồn lực xã hội, đảm bảo cơ cấu ngành nghề, trình độ đào tạo và cơ cấu vùng, miền; tính đa dạng, đồng bộ của hệ thống giáo dục, gắn đào tạo với sản xuất, kinh doanh và dịch vụ, từng bước nâng cao chất lượng đào tạo phục vụ sự nghiệp CNH-HĐH đất nước và hội nhập quốc tế

- Xây dựng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch và chính sách đối với trường đào tạo nghề là cần thiết để đạt được mục tiêu, sứ mệnh đề ra; nhằm tạo ra sự

Trang 24

xây dựng và ban hành chiến lược, quy hoạch, kế hoạch và chính sách đối với trường đào tạo nghề cần phải chủ động, kịp thời, đảm bảo hợp pháp, hợp lý, có tính khả thi và được xây dựng trên các cơ sở pháp lý như: Luật GDNN số 74/2014/QH13 năm 2014; Quyết định số 1216/QĐ-TTg ngày 22/7/2011 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Quy hoạch phát triển nhân lực Việt Nam giai đoạn 2011-2020; Quyết định số 630/QĐ-TTg ngày 29/5/2012 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược phát triển dạy nghề thời kỳ 2011- 2020; Nghị định số 16/2015/NĐ-CP ngày 14/02/2015 quy định cơ chế tự chủ của đơn vị sự nghiệp công lập; Nghị định số 143/2016/NĐ-TTg ngày 14/10/2016 quy định

về điều kiện đầu tư và hoạt động trong lĩnh vực GDNN; Nghị định số 15/2019/NĐ-CP ngày 01/02/2019 của Chính phủ quy định về chi tiết một số điều và biện pháp thi hành của Luật GDNN; Thông tư số 06/2017/TT-BLĐTBXH ngày 08/3/2017 Quy định về tuyển dụng, bồi dưỡng đối với nhà giáo GDNN; Thông tư số 07/2017/TT-BLĐTBXH ngày 01/3/2017 Quy định

về chế độ làm việc của nhà giáo Giáo dục nghề nghiệp;

Hai là, tổ chức thực hiện văn bản pháp luật đối với trường đào tạo nghề:

- Hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật về GDNN tạo hành lang pháp

lý và điều chỉnh hành vi của các cá nhân, tổ chức trong lĩnh vực hoạt động của trường đào tạo nghề Chủ thể QLNN đối với trường đào tạo nghề tổ chức, triển khai thực hiện văn bản pháp luật của cơ quan cấp trên và ban hành văn bản pháp luật phù hợp với điều kiện thực tế của địa phương

- Việc tổ chức thực hiện văn bản pháp luật đối với trường đào tạo nghề cần đảm bảo khoa học, xác thực, đầy đủ, kịp thời để điều chỉnh các mối quan

hệ trong hoạt động ĐTN của các trường Nội dung và hình thức của văn bản pháp luật phải được ban hành phù hợp với thẩm quyền của chủ thể ban hành và phải tuân thủ Hiến pháp, Luật, pháp lệnh và các quyết định của cơ quan nhà nước cấp trên và cơ quan quyền lực cùng cấp; ban hành theo trình tự, thủ tục

Trang 25

luật định; cần bảo đảm cả tính hợp pháp và hợp lý

Ba là, tổ chức và kiện toàn bộ máy quản lý, phát triển đội ngũ cán bộ quản lý và nhà giáo đào tạo nghề:

- Công tác tổ chức và kiện toàn bộ máy quản lý, phát triển đội ngũ cán

bộ và nhà giáo ĐTN giữ vai trò quyết định đến sự phát triển sự nghiệp đào tạo nghề Căn cứ vào tình hình thực tế của địa phương để ra các quyết định tổ chức

bộ máy quản lý tinh gọn, thống nhất để phát huy tính chủ động sáng tạo

- Bên cạnh công tác tổ chức và kiện toàn bộ máy quản lý, cần quan tâm đào tạo và bồi dưỡng đội ngũ cán bộ quản lý và nhà giáo ĐTN có đủ năng lực

và trình độ chuyên môn đáp ứng được yêu cầu sự nghiệp CNH-HĐH và hội nhập quốc tế; thực hiện chuẩn hóa, nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ

sư phạm của đội ngũ nhà giáo theo quy định của pháp luật

Bốn là, huy động, quản lý, sử dụng các nguồn lực và xã hội hóa hoạt động ĐTN để phát triển trường đào tạo nghề:

Để phát triển trường đào tạo nghề cần có nhiều yếu tố, trong đó các nguồn lực đầu tư là yếu tố có vai trò quan trọng NSNN là nguồn cung cấp tài chính lớn nhất cho Giáo dục - Đào tạo nói chung, GDNN nói riêng Tuy nhiên, do nguồn NSNN còn hạn hẹp nên tỷ lệ chi cho phát triển hoạt động ĐTN trong tổng chi NSNN còn ở mức hạn chế Số phân bổ này cũng chỉ mới tập trung được cho việc đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị và trả lương cho đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý ĐTN

Trong những năm gần đây, NSNN đầu tư nhiều hơn cho lĩnh vực ĐTN thông qua kinh phí của các chương trình mục tiêu quốc gia, các dự án… Việc huy động thêm từ các nguồn lực ngoài ngân sách (cả trong và ngoài nước) cũng

đã có tác dụng đáng kể trong việc nâng cao hiệu quả công tác ĐTN

Mục tiêu chung là tăng cường huy động, quản lý, sử dụng các nguồn lực

và xã hội hóa hoạt động đào tạo nghề để phát triển các trường đào tạo nghề;

Trang 26

bên cạnh đó, cơ quan QLNN quy định việc quản lý, sử dụng các nguồn lực đúng mục đích và hiệu quả để phát triển các trường đào tạo nghề đáp ứng yêu cầu của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 và hội nhập quốc tế

Năm là, tổ chức nghiên cứu khoa học và ứng dụng khoa học công nghệ trong đào tạo nghề:

- Nghiên cứu khoa học và ứng dụng công nghệ vừa là phương tiện, vừa

là mục đích, là yếu tố đảm bảo chất lượng trường đào tạo nghề, điều này không chỉ phục vụ cho hoạt động của nhà trường mà còn góp phần quan trọng vào sự phát triển KT-XH Vì vậy, Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều Chỉ thị, Nghị quyết, Quyết định, Thông tư hướng dẫn về hoạt động khoa học công nghệ và khẳng định giảng dạy và nghiên cứu khoa học là hai nhiệm vụ quan trọng của nhà giáo Đặc biệt, ngày 27/02/2010 Thủ tướng Chính phủ đã ra Chỉ thị số

296/CT-TTg chỉ rõ “nâng cao năng lực quản lý và hiệu quả công tác nghiên cứu khoa học ở các trường Đại học, Cao đẳng góp phần tích cực nâng cao chất lượng đào tạo và phục vụ phát triển kinh tế - xã hội” [28]

- Công tác nghiên cứu khoa học phục vụ cho nhu cầu nâng cao chất lượng đào tạo toàn diện, đáp ứng yêu cầu xã hội; thực hiện theo hướng kết hợp giảng dạy, học tập với ứng dụng những tri thức khoa học vào thực tiễn và nghiên cứu, bao gồm: nghiên cứu những vấn đề cơ bản tổng hợp thuộc các lĩnh vực công nghệ, máy tính, phương pháp dạy - học ngoại ngữ, những vấn đề văn hoá, tâm

lý, ngôn ngữ, du lịch ; nghiên cứu những vấn đề phương pháp luận khoa học nhằm cải tiến công tác ĐTN, bao gồm: nội dung chương trình, giáo trình, sách giáo khoa, thường xuyên bổ sung vào nội dung giảng dạy những thành tựu và kiến thức mới nhất, hướng dẫn HSSV thực hiện nghiên cứu khoa học

- Việc ứng dụng khoa học công nghệ trong công tác ĐTN giúp cho đội ngũ cán bộ quản lý và nhà giáo đào tạo nghề cập nhật được kiến thức mới, tiếp thu kịp thời những kinh nghiệm trong quản lý, giảng dạy tiên tiến trong nước

Trang 27

và trên thế giới; đồng thời hỗ trợ việc giải quyết công việc nhanh chóng, thuận tiện hơn Công tác nghiên cứu, ứng dụng khoa học công nghệ tạo điều kiện cho phát triển trường đào tạo nghề, đáp ứng yêu cầu sự nghiệp CNH-HĐH

Sáu là, thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm đối với trường đào tạo nghề:

Công tác thanh tra, kiểm tra của cơ quan QLNN đối với các trường đào tạo nghề có vai trò vô cùng quan trọng Đây chính là khâu giúp quản lý sự tuân thủ, chấp hành pháp luật của đơn vị Do đó công tác này cần được tiến hành thường xuyên, liên tục nhằm đảm bảo thông tin thu thập luôn được cập nhật chính xác và kịp thời Các kết quả kiểm tra, thanh tra được gửi đến các đối tượng bị kiểm tra, thanh tra làm cơ sở để khắc phục các vi phạm; đồng thời gửi đến các cơ quan quản lý đào tạo nghề làm cơ sở theo dõi, chỉ đạo giải quyết

Chủ thể quản lý đối với các trường đào tạo nghề sau khi thực hiện thanh tra, kiểm tra cần tiến hành xử phạt theo quy định của pháp luật Việc xử phạt này mang tính chất răn đe, khiến các đối tượng vi phạm bị thiệt hại tới trực tiếp tới lợi ích kinh tế; qua đó thúc đẩy đối tượng vi phạm có biện pháp nhằm tuân thủ theo đúng chế tài pháp luật Ngoài phạt tiền, có thể ban hành những hình thức xử phạt bổ sung với từng trường hợp vi phạm như tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm; đình chỉ hoạt động; tước giấy phép hoạt động;… hoặc xử lý hình

sự đối với những hành vi đi ngược lại chính sách gây hậu quả nghiêm trọng

1.2.3 Chủ thể quản lý nhà nước đối với các trường đào tạo nghề

Chủ thể quản lý đối với các trường đào tạo nghề là các cơ quan QLNN

từ Trung ương đến địa phương Theo Luật GDNN số 74/2014/QH13, Nghị định

số 48/2015/NĐ-CP ngày 15/5/2015 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật GDNN, Nghị định số 15/2019/NĐ-CP ngày 01/02/2019 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật GDNN, chủ thể QLNN đối với lĩnh vực đào tạo nghề được quy định như sau:

- Chính phủ thống nhất QLNN về GDNN

Trang 28

- Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội là cơ quan QLNN về GDNN ở trung ương, chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện việc QLNN về GDNN

- Bộ, cơ quan ngang bộ phối hợp với cơ quan QLNN về GDNN ở trung ương thực hiện QLNN về GDNN theo thẩm quyền và trực tiếp quản lý cơ sở GDNN của bộ, ngành mình theo chức năng, nhiệm vụ được phân công

- UBND cấp tỉnh trong phạm vi, nhiệm vụ, quyền hạn của mình thực hiện QLNN về GDNN theo phân cấp của Chính phủ; xây dựng và tổ chức thực hiện

kế hoạch GDNN phù hợp với nhu cầu nhân lực của địa phương; kiểm tra việc chấp hành pháp luật về GDNN của các cơ sở GDNN, các tổ chức, cá nhân có tham gia GDNN trên địa bàn theo thẩm quyền; thực hiện xã hội hóa GDNN; nâng cao chất lượng và hiệu quả GDNN tại địa phương

Như vậy, hệ thống cơ quan QLNN đối với trường đào tạo nghề gồm có: Chính phủ, Bộ LĐ-TB&XH, Bộ và cơ quan ngang bộ có liên quan, UBND các cấp Trong đó, Chính phủ thống nhất QLNN về giáo dục; Bộ LĐ-TB&XH chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện QLNN về giáo dục; Bộ, cơ quan ngang

Bộ phối hợp với Bộ LĐ-TB&XH thực hiện QLNN về giáo dục theo thẩm quyền

và UBND các cấp thực hiện QLNN các trường đào tạo nghề theo phân cấp

1.2.4 Sự cần thiết phải quản lý nhà nước đối với trường đào tạo nghề

Một là, đảm bảo cho các trường đào tạo nghề theo đúng định hướng của Đảng và Nhà nước:

- Đảng ta luôn khẳng định phát triển nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực lao động trực tiếp là nhân tố quyết định để thực hiện thành công sự nghiệp CNH-HĐH và bảo vệ Tổ quốc Chính vì vậy QLNN đối với các trường đào tạo nghề nhằm tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước, nâng cao vai trò của các tổ chức, đoàn thể chính trị xã hội trong phát triển công tác đào tạo nghề, tạo ra một lực lượng lao động có chất lượng cao, phù hợp với yêu cầu CNH-HĐH và hội nhập quốc tế

Trang 29

- Công tác QLNN đối với các trường đào tạo nghề phải đảm bảo lấy chủ nghĩa Mác - Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam làm nền tảng, phải đảm bảo tính dân tộc, hiện đại, tiên tiến, thực hiện công bằng để ai cũng được học tập nâng cao trình độ, được thụ hưởng các chính sách phù hợp, không phân biệt tuổi tác, dân tộc, vùng miền

Hai là, đảm bảo thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ và phát triển nguồn nhân lực cho xã hội:

- Nguồn nhân lực được xem là năng lực nội sinh chi phối các nguồn

lực khác và quá trình phát triển KT-XH của mỗi quốc gia So với các nguồn lực khác, nguồn nhân lực với yếu tố hàng đầu là trí tuệ, chất xám có ưu thế nổi bật là không bị cạn kiệt nếu biết bồi dưỡng, khai thác và sử dụng hợp lý; còn các nguồn lực khác dù nhiều đến đâu cũng chỉ là yếu tố hữu hạn và chỉ phát huy được tác dụng khi kết hợp với nguồn nhân lực một cách có hiệu quả

- Nguồn nhân lực là nhân tố quyết định việc khai thác, sử dụng, bảo vệ

và tái tạo các nguồn lực khác; trong đó, nguồn nhân lực chất lượng cao quyết định quá trình tăng trưởng và phát triển KT-XH của mỗi quốc gia Đảng ta xác định phải lấy việc phát huy chất lượng nguồn nhân lực làm yếu tố cơ bản cho sự phát triển nhanh và bền vững; là điều kiện để rút ngắn khoảng cách tụt hậu, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và đẩy nhanh sự nghiệp CNH-HĐH đất

nước nhằm phát triển bền vững; là điều kiện hội nhập quốc tế sâu rộng

Do đó, trong chiến lược phát triển đất nước, nguồn nhân lực phải được quan tâm tạo điều kiện thuận lợi để nâng cao năng lực về trí tuệ, ý chí và niềm tin Nguồn nhân lực có chất lượng cao với số lượng và cơ cấu hợp lý, giàu trí tuệ và khát vọng, có lý tưởng cách mạng soi sáng, sẽ là động lực để sớm đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại, đáp ứng được yêu cầu của cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 đang diễn ra mạnh mẽ hiện nay

Ba là, đảm bảo chất lượng các trường đào tạo nghề:

Trang 30

- Bảo đảm chất lượng các trường đào tạo nghề được hiểu là một cơ chế quản lý, giám sát nhằm duy trì các chuẩn mực và không ngừng cải tiến, nâng cao chất lượng đào tạo Xây dựng, vận hành hệ thống bảo đảm chất lượng trong nhà trường là quản lý toàn bộ quá trình đào tạo để đảm bảo chất lượng các cấp

từ đầu vào, quá trình đào tạo và đầu ra với các yêu cầu: Thực hiện trước, trong

và sau quá trình đào tạo, phát hiện, phòng ngừa những yếu tố làm giảm chất lượng đào tạo; xác định theo các chuẩn mực và có quy trình, cơ chế bảo đảm chất lượng đầu ra, trách nhiệm của người tham gia quá trình đào tạo

- Trước nhu cầu đổi mới cơ chế quản lý, tăng tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các trường đào tạo nghề đã thúc đẩy các trường phải nhất thiết đổi mới và đảm bảo chất lượng Sự cần thiết đảm bảo chất lượng các trường đào tạo nghề là khẳng định thương hiệu, nâng cao năng lực cạnh tranh của các trường trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế

- Đối với trường đào tạo nghề để đảm bảo chất lượng hoạt động ĐTN phải xây dựng phù hợp các yếu tố đảm bảo chất lượng: Chương trình, giáo trình; đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý; cơ sở vật chất, trang thiết bị; nghiên

với nhau Phương pháp giảng dạy tương ứng với thiết bị và đội ngũ nhà giáo đạt trình độ để tiến hành công việc theo phương pháp giảng dạy được áp dụng

Vì vậy, để đảm bảo chất lượng các yếu tố trên phải được đảm bảo đồng thời

1.3 Kinh nghiệm quản lý nhà nước đối với các trường đào tạo nghề của các địa phương và bài học rút ra cho tỉnh Đắk Lắk

1.3.1 Kinh nghiệm quản lý nhà nước đối với trường đào tạo nghề

- Tỉnh Lâm Đồng:

Thời gian qua, dưới sự chỉ đạo của Tỉnh ủy Lâm Đồng và sự điều hành quyết

liệt, có hiệu quả của UBND tỉnh Lâm Đồng, hệ thống trường đào tạo nghề trên

địa bàn tỉnh đã có nhiều nỗ lực, vượt khó thực hiện nhiệm vụ từ khi thực hiện

Trang 31

Luật GDNN Đến nay, tỉnh Lâm Đồng có 07 trường đào tạo nghề, trong đó: 05 trường Cao đẳng nghề và 02 trường Trung cấp nghề Các trường Cao đẳng trên địa bàn tỉnh đều xuất phát từ trường Trung cấp và đã hoạt động trên 10 năm;

do đó, cơ sở vật chất, trang thiết bị đảm bảo phục vụ tốt cho hoạt động đào tạo tại các trường

Các trường đã chủ động phối hợp, hợp tác với doanh nghiệp để thực hiện xây dựng chương trình và đưa chương trình gần với thực tế hơn, tạo cơ hội việc làm, môi trường thực tập, thực hành ngày càng sát với thị trường lao động hơn cho HSSV; góp phần quan trọng trong thực hiện các chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước trong đào tạo nghề và phát triển nguồn nhân lực có kỹ năng nghề trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng

Bên cạnh đó, các trường đào tạo nghề trên địa bàn tỉnh đã xây dựng và ban hành chương trình, giáo trình, cập nhật chương trình chuẩn đầu vào, đầu ra; Trong đó, chú trọng đến những ngành có thế mạnh, những ngành nghề mũi nhọn của tỉnh Trên thực tế, giải quyết tốt vấn đề đào tạo và việc làm cho HSSV cần có sự đánh giá nhu cầu của người học và yêu cầu tuyển dụng của thị trường lao động; công tác dự báo nhu cầu việc làm giao trực tiếp cho các đơn vị tạo việc làm, ngành nghề được đào tạo nhất quyết phải được dự báo việc làm sau khi đào tạo, còn không thì sẽ không được tuyển sinh, mở rộng ngành nghề đào tạo Đây là điểm mới trong công tác QLNN về GDNN, bởi vì công tác dự báo việc làm không phải là trách nhiệm của cán bộ quản lý ĐTN mà phải do lãnh đạo các trường đào tạo nghề, đảm bảo đúng chuyên môn cũng như tính cập nhật

về nhu cầu thị trường lao động

Hơn nữa, tỉnh Lâm Đồng luôn tăng cường công tác tuyên truyền chính sách, chương trình, dự án của nhà nước liên quan đến ĐTN gắn với giải quyết việc làm để người dân nắm được thông tin đầy đủ và thay đổi nhận thức rõ, đúng đắn hơn việc học nghề, đảm bảo cơ cấu hợp lý nguồn nhân lực xã hội

Trang 32

Song song đó, tỉnh Lâm Đồng tăng cường công tác đào tạo, đào tạo lại, bồi dưỡng nâng cao trình độ, chuyên môn, nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ quản

lý và nhà giáo; chú trọng nâng cao đạo đức nghề nghiệp, tác phong, tư cách của đội ngũ nhà giáo để làm gương cho HSSV; thực hiện các chính sách ưu đãi về vật chất và tinh thần tạo động lực cho đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý, có chính sách thu hút đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giàu kinh nghiệm và uy tín tham gia phát triển trường đào tạo nghề; đảm bảo cho công tác quy hoạch gắn liền với nhu cầu sử dụng, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp đổi mới

- Tỉnh Gia Lai:

Trong nhiều năm qua, Tỉnh Gia Lai luôn là địa chỉ tin cậy cho người học muốn lập nghiệp bằng con đường học nghề Hệ thống trường đào tạo nghề được điều chỉnh về cơ cấu, ngành nghề đào tạo và mở rộng các nghề đào tạo theo nhu cầu doanh nghiệp; công tác thanh, kiểm tra và xử lý vi phạm góp phần giải quyết kịp thời vướng mắc trong quá trình ĐTN; công tác tuyển sinh năm 2019 vượt chỉ tiêu kế hoạch, tuyển 14.232/13.000 chỉ tiêu, đạt 109,5% kế hoạch Tỉnh cũng đã phân bổ và huy động nguồn xã hội hóa 491.290 triệu đồng để đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, trang thiết bị đảm bảo phục vụ tốt cho công tác ĐTN trên địa bàn tỉnh

Hoạt động xã hội hóa và huy động nguồn lực từ NSNN và các tổ chức,

cá nhân phục vụ công tác giảng dạy, học tập và tạo việc làm cho người học sau đào tạo của trường đào tạo nghề được quan tâm Tỉnh đã huy động mọi nguồn lực xã hội để phát triển ĐTN Khuyến khích, huy động tối đa sự tham gia của doanh nghiệp, làng nghề trong việc phát triển ĐTN

Để đạt được những kết quả như trên trên, tỉnh Gia Lai đã tập trung thực hiện đồng bộ các giải pháp như sau:

Trang 33

- Quy hoạch hệ thống trường đào tạo nghề trên cơ sở dự báo nhu cầu của thị trường lao động và năng lực đào tạo của các trường nghề phù hợp với yêu cầu phát triển nguồn nhân lực của địa phương

- Tăng cường nguồn vốn đầu tư nâng cấp cơ sở vật chất, trang thiết bị nhằm khắc phục tình trạng yếu kém, tụt hậu cũng như đổi mới chương trình , giáo trình đào tạo theo hướng giảm thiểu lý thuyết, tăng thời lượng thực hành, tiếp cận các chương trình đào tạo quốc tế, thường xuyên cập nhật các tiến bộ khoa học kỹ thuật, đổi mới phương pháp giảng dạy, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, nhà giáo và đẩy mạnh mối quan hệ gắn kết doanh nghiệp trong ĐTN và giải quyết việc làm sau đào tạo

- Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, hướng dẫn việc thực hiện các văn bản pháp luật, các chế độ chính sách về ĐTN nhằm phát hiện kịp thời những sai sót, lệch lạc để điều chỉnh, ngăn chặn các hiện tượng tiêu cực trong công tác ĐTN, góp phần nâng cao chất lượng trường đào tạo nghề;

- Đẩy mạnh công tác tuyên truyền nâng cao nhận thức về vai trò của ĐTN trong phát triển nguồn nhân lực, xóa đói giảm nghèo, tạo cơ hội việc làm, tăng thu nhập, nâng cao đời sống cho người dân; đồng thời, khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi cho các tổ chức, các doanh nghiệp đầu tư vào lĩnh vực ĐTN, nhất là đào tạo chuyển giao công nghệ, mặt khác, xây dựng mối quan hệ liên thông và gắn kết giữa ba nhân tố: Nhà trường, Doanh nghiệp và Trung tâm Dịch

vụ việc làm của tỉnh; thiết lập “kênh phân phối” với nguồn thông tin rõ ràng, đảm bảo cho việc nắm bắt và đáp ứng tốt nhu cầu thị trường lao động

1.3.2 Bài học rút ra cho tỉnh Đắk Lắk

Từ thực tiễn kinh nghiệm QLNN đối với trường đào tạo nghề tỉnh Lâm Đồng

và tỉnh Gia Lai, có thể rút ra bài học kinh nghiệm cho tỉnh Đắk Lắk như sau:

Một là, rà soát, sắp xếp lại các trường đào tạo nghề của tỉnh trên cơ sở

quy hoạch phát triển KT-XH của tỉnh nhằm đáp ứng nhu cầu nguồn nhân lực

Trang 34

kỹ thuật cao và hội nhập quốc tế Đối với các trường ĐTN hiện nay có nhiều ngành nghề trùng hợp cần nghiên cứu sáp nhập các trường có cùng nhóm ngành

để tập trung đào tạo chuyên sâu, tránh bị dàn trải và đạt hiệu quả cao hơn

Hai là, mở rộng quy mô đào tạo đi đôi với nâng cao chất lượng đào tạo

Huy động sự tham gia các nguồn lực trong và ngoài nước, các doanh nghiệp đầu tư và phát triển công tác đào tạo để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực

Có những chính sách khuyến khích các doanh nghiệp tham gia hoạt động đào tạo nguồn nhân lực Tập trung vào phát triển nền kinh tế mũi nhọn của tỉnh về xuất khẩu lao động, đào tạo nguồn nhân lực để đáp ứng số lượng công nhân vào làm cho các khu công nghiệp chất lượng cao

Ba là, tăng cường công tác thanh, kiểm tra và kiểm định chất lượng đào

tạo đối với trường đào tạo nghề UBND tỉnh cần quan tâm công tác phân cấp QLNN đối với trường đào tạo nghề trên địa bàn tỉnh nhằm nâng cao vai trò trách nhiệm của các cấp trong hoạt động QLNN đối với trường đào tạo nghề

Bốn là, thực hiện tốt công tác dự báo nhu cầu việc làm, các ngành nghề

đào tạo phải được dự báo việc làm sau khi đào tạo; tiến hành khảo sát nhu cầu người học, định hướng nghề sớm, đảm bảo số lượng lao động kỹ thuật lành nghề tương ứng cơ cấu nguồn lực lao động

Năm là, tuyên truyền sâu rộng về chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước đối với công tác đào tạo nghề, về năng lực đào tạo của các trường đào tạo nghề và cơ hội việc làm từ các doanh nghiệp; tăng cường công tác tuyên truyền để thay đổi nhận thức của xã hội về học nghề, lập nghiệp

Sáu là, tăng cường công tác đào tạo và bồi dưỡng kỹ năng nghiệp vụ,

nâng cao năng lực chuyên môn cho đội ngũ nhà giáo và đội ngũ cán bộ quản lý các trường đào tạo nghề theo tiêu chuẩn quy định

Trang 35

1.4 Những yếu tố ảnh hưởng đến quản lý nhà nước đối với trường đào tạo nghề trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk

1.4.1 Nhu cầu và nhận thức của xã hội

Nhu cầu và nhận thức của xã hội về lĩnh vực ĐTN tác động mạnh đến công tác QLNN đối với trường đào tạo nghề, ảnh hưởng rõ rệt nhất là công tác tuyển sinh Những năm qua, được sự quan tâm chỉ đạo và đầu tư của các cấp, ngành trong triển khai công tác ĐTN nên nhận thức của xã hội về tầm quan trọng của ĐTN, học nghề được thay đổi rõ rệt; ngày càng nhiều gia đình chọn trường đào tạo nghề cho con em theo học, nhiều người học đủ điểm học đại học hoặc đã tốt nghiệp bậc đại học cũng đã lựa chọn trường đào tạo nghề

để học tập; từ chỗ học theo phong trào, học chỉ để biết, người học đã chủ động lựa chọn nghề, tham gia học nghề nhằm tìm việc làm, chuyển đổi nghề nghiệp, học nghề để nắm vững khoa học kỹ thuật, từng bước thay đổi thói quen canh tác, từ đó tăng năng suất, chất lượng hàng hóa, dịch vụ góp phần nâng cao thu nhập, ổn định cuộc sống; tỷ lệ lao động qua ĐTN ngày càng tăng, góp phần tích cực trong công tác giảm nghèo của địa phương

Quan trọng hơn hết, công tác ĐTN phải xuất phát từ nhu cầu của xã hội, bám sát chiến lược phát triển KT-XH của địa phương và phải đáp ứng yêu cầu của thị trường lao động; phải gắn việc ĐTN với giải quyết việc làm sau đào tạo

1.4.2 Tổ chức bộ máy và năng lực của đội ngũ cán bộ quản lý

Trong QLNN đối với các trường đào tạo nghề, đội ngũ cán bộ quản lý

có ảnh hưởng trực tiếp tới hiệu quả quản lý Hiệu quả, chất lượng và uy tín của

bộ máy QLNN phụ thuộc nhiều vào đội ngũ cán bộ thực hiện chức năng quản

lý Đây là đội ngũ hoạch định chính sách, chiến lược, các chương trình, dự án,

kế hoạch dài hạn, định hướng phát triển đào tạo nghề dựa trên chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước Đồng thời, đội ngũ cán bộ quản lý này là đội ngũ

Trang 36

chuyển tải chủ yếu và tổ chức thực hiện đường lối, chiến lược phát triển đào tạo nghề tới những đối tượng tham gia vào hoạt động ĐTN Chính sách đãi ngộ trong quản lý là điều kiện đủ để nâng cao chất lượng và hiệu quả quản lý

Để QLNN đối với các trường đào tạo nghề có hiệu quả phải chuẩn bị tốt các nguồn lực tài chính và nguồn lực vật chất cần thiết Trong đó, nguồn lực vật chất bao gồm: Trụ sở làm việc, những điều kiện về cơ sở vật chất, kỹ thuật, máy móc, trang thiết bị,… để đảm bảo cho công tác QLNN đối với trường đào tạo nghề đạt kết quả cao Nguồn lực vật chất có ảnh hưởng lớn đến hiệu quả công việc, khi thiếu nguồn lực vật chất sẽ không đảm bảo chất lượng ĐTN; bên cạnh đó, nguồn lực tài chính bền vững cho công tác đào tạo nghề là một yếu tố quan trọng để thực hiện chức năng của các cơ sở ĐTN, nâng cao chất lượng đào tạo thường hàm ý là việc tăng thêm các yêu cầu về tài chính Đặc biệt là mối quan hệ trực tiếp giữa việc đảm bảo nguồn lực tài chính đầy đủ cho đội ngũ cán bộ và nhà giáo có năng lực, cơ sở vật chất và chất lượng đầu ra được

kỳ vọng để thực hiện công tác ĐTN theo các tiêu chuẩn nghề

Hơn nữa, đặc thù của hoạt động ĐTN với tỷ trọng thời gian thực hành chiếm tới 70-80% chương trình đào tạo thì cơ sở vật chất, trang thiết bị cần được ưu tiên đầu tư để đảm bảo chất lượng ĐTN Cơ sở vật chất, trang thiết

bị là yếu tố hết sức quan trọng, nó tác động trực tiếp lên chất lượng đào tạo nghề Điều kiện cơ sở vật chất, trang thiết bị đào tạo càng tốt, càng hiện đại bao nhiêu, theo sát với máy móc, trang thiết bị phục vụ cho sản xuất bao nhiêu thì HSSV có thể thích ứng, vận dụng nhanh chóng bấy nhiêu Chất lượng của các trang thiết bị, cơ sở vật chất đòi hỏi phải theo kịp tốc độ đổi mới hiện đại hoá của máy móc thiết bị sản xuất

Bởi vậy, các trường đào tạo nghề cần tập trung đầu tư mua sắm máy móc, trang thiết bị đồng bộ phục vụ yêu cầu chương trình đào tạo hoặc danh mục

Trang 37

thiết bị dạy nghề tối thiểu do cơ quan QLNN ban hành Ngoài máy móc, thiết

bị và nguyên vật liệu thực hành thì cần phải đảm bảo nguồn tài chính để xây dựng cơ sở vật chất và các hoạt động khác phục vụ cho quá trình ĐTN; từng bước phải chuẩn hoá và hiện đại hoá cơ sở vật chất, trang thiết bị góp phần cải thiện và nâng cao chất lượng đào tạo nghề

1.4.4 Các cơ chế, chính sách của Đảng, Nhà nước và địa phương

Thông qua cơ chế chính sách, Nhà nước sẽ tác động trực tiếp tới công tác QLNN đối với hoạt động đào tạo nghề Cơ chế, chính sách đưa ra phải gắn liền với điều kiện thực tế của ngành được đào tạo, lúc đó nó mới thúc đẩy ngành được đào tạo phát triển Với đặc thù tại mỗi địa phương khác nhau có những điều kiện về tự nhiên, tài nguyên, con người, nguồn vốn… khác nhau đặt ra cho các cơ quan QLNN tại mỗi địa phương có những biện pháp để khuyến khích các ngành kinh tế có lợi thế, tiềm năng phát triển

Các địa phương sẽ tùy từng giai đoạn phát triển và chiến lược phát triển của địa phương để có các cơ chế, chính sách cụ thể hỗ trợ phát triển đào tạo ngành, nghề nào hay siết chặt quản lý Có thể nói, cơ chế, chính sách của Đảng, Nhà nước và địa phương sẽ có tác động lớn và mang tính định hướng phát triển toàn diện trường đào tạo nghề theo hướng đã đề ra với các nguồn lực sẵn có

QLNN đối với trường đào tạo nghề có hiệu quả khi hệ thống thể chế về lĩnh vực ĐTN được ban hành có căn cứ khoa học, hợp lý; tạo hành lang pháp

lý đầy đủ, tạo nên cơ chế vận hành và điều hành đồng bộ, thông suốt trong hệ thống trường đào tạo nghề

Tiểu kết Chương 1

Trong nội dung chương 1, Luận văn giới thiệu những vấn đề chung về trường đào tạo nghề, quản lý nhà nước đối với trường đào tạo nghề và phân tích làm sáng rõ về vai trò, sự cần thiết, chủ thể, nội dung quản lý nhà nước đối với trường đào tạo nghề Bên cạnh đó, Luận văn cũng đề cập đến kinh nghiệm quản

Trang 38

lý nhà nước đối với các trường đào tạo nghề tỉnh Lâm Đồng và tỉnh Gia Lai, từ

đó rút ra một số bài học kinh nghiệm hữu ích cho tỉnh Đắk Lắk

Từ những khái niệm và nội dung về QLNN đối với các trường đào tạo nghề được nghiên cứu, tổng hợp và trích dẫn từ nhiều nguồn tài liệu khác nhau

và được phân tích, trình bày theo nhận thức, cách tiếp cận của tác giả Đây là

cơ sở quan trọng để tiếp tục nghiên cứu thực trạng quản lý nhà nước đối với các trường đào tạo nghề trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk ở chương 2

Trang 39

Chương 2:

THỰC TRẠNG CÁC TRƯỜNG ĐÀO TẠO NGHỀ VÀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI CÁC TRƯỜNG ĐÀO TẠO NGHỀ

TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH ĐẮK LẮK 2.1 Điều kiện tự nhiên và tình hình kinh tế - xã hội của tỉnh Đắk Lắk

2.1.1 Về điều kiện tự nhiên của tỉnh Đắk Lắk

Đắk Lắk là tỉnh nằm ở trung tâm vùng Tây Nguyên, là vùng đất đặc thù

về điều kiện tự nhiên, dân cư, dân tộc Địa hình của tỉnh rất đa dạng, địa hình dốc thoải, lượn sóng, khá bằng phẳng xen kẽ với các đồng bằng thấp ven theo các sông chính và có hướng thấp dần từ Đông Nam sang Tây Bắc Khí hậu ở Đắk Lắk có 02 mùa rõ rệt là mùa mưa và mùa khô, mùa mưa bắt đầu từ tháng

5 đến hết tháng 10 Đắk Lắk được ưu đãi về tài nguyên nước, đất, rừng và đa dạng về các loại khoáng sản như sét gạch ngói, than bùn, đá ốp lát, đá xây dựng, cát xây dựng [40]

Với đặc điểm về điều kiện tự nhiên tỉnh Đắk Lắk thích hợp cho phát triển cây công nghiệp có giá trị như cà phê, cao su, hồ tiêu, điều này thuận lợi cho các trường đào tạo nghề hướng đến tập trung phát triển ngành nghề đào tạo như: nghề trồng trọt, nghề chế biến cà phê - cacao, nghề khuyến nông lâm, v.v Hay việc tỉnh Đắk Lắk đa dạng về khoáng sản thì các ngành nghề liên quan đến khai thác, chế biến

2.1.2 Về tình hình kinh tế - xã hội của tỉnh Đắk Lắk

Hiện nay, Đắk Lắk có 15 đơn vị hành chính cấp huyện, gồm 01 thành phố (Buôn Ma Thuột), 01 thị xã (Buôn Hồ) và 13 huyện Dân số trung bình toàn tỉnh năm 2020 của tỉnh là 1.886.937 người, bao gồm dân số thành thị 466.479 người, chiếm 24,72%; dân số nông thôn là 1.420.458 người, chiếm 75,28% Cộng đồng dân cư Đắk Lắk gồm 49 dân tộc cùng sinh sống, mỗi dân tộc có những nét đẹp văn hoá riêng tạo nên sự đa dạng, phong phú về văn hóa

Trang 40

của Đắk Lắk; trong đó, người dân tộc thiểu số chiếm gần 35,7% dân số toàn tỉnh; bao gồm: M’nông và J’rai là các tộc người tại chỗ hay tộc người địa phương chính, còn các tộc người khác di cư đến trong 30 năm qua, như Tày, Nùng, Mường, Dao, Thái và Mông [6]

Kinh tế của tỉnh Đắk Lắk chủ yếu dựa vào sản xuất nông nghiệp và xuất khẩu nông, lâm sản như cà phê, hồ tiêu, cao su, ca cao, Đắk Lắk là tỉnh có diện tích cà phê lớn nhất cả nước với diện tích 182.343 héc ta và sản lượng hàng năm đạt trên 400.000 tấn, chiếm 40% sản lượng cả nước Đắk Lắk cũng

là tỉnh trồng nhiều các loại cây ăn trái khác như cây bơ, sầu riêng, chôm chôm, xoài Vì vậy, một số ngành nghề có nhu cầu nguồn nhân lực cao tại tỉnh Đắk Lắk: Công nghiệp chế biến; ứng dụng công nghệ cao, công nghệ sinh học vào sản xuất nông lâm nghiệp; xây dựng thương hiệu một số sản phẩm có lợi thế so sánh của vùng như cà phê, cao su, ca cao, tiêu ; công nghiệp chế biến nông lâm sản, công nghiệp khai thác và chế biến khoáng sản, ngành cơ khí chế tạo tập trung phục vụ cho ngành công nghiệp chế biến nông sản thực phẩm, chế biến lâm sản, khai thác chế biến khoáng sản; các ngành dịch vụ Do đó, những ngành nghề HSSV cần quan tâm: Trồng trọt; Sản xuất chế biến các loại nông sản hàng hóa có lợi thế; Công nghệ sinh học; Nông nghiệp kỹ thuật cao; Dịch

vụ nông nghiệp (khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư; dịch vụ bảo vệ thực vật, hướng dẫn phòng trừ sâu bệnh, dịch vụ thú y, dịch vụ ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật - công nghệ trong sản xuất nông nghiệp)

2.2 Thực trạng các trường đào tạo nghề trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk

2.2.1 Thực trạng lao động nghề trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk

Đắk Lắk là một tỉnh có dân số trẻ, lực lượng lao động dồi dào; tính đến cuối năm 2020, dân số của tỉnh 1.886.937 người; lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên 1.149.381 người (chiếm 61,32% so với tổng dân số); tỷ lệ lao động qua đào tạo toàn tỉnh đạt 60%; đây là lợi thế lớn trong việc xây dựng và phát

Ngày đăng: 05/05/2022, 12:18

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI - Hội nghị lần thứ 8 (2013), Nghị quyết số 29- NQ/TW ngày 04/11/2013 về đổi mới căn bản, toàn diện Giáo dục và Đào tạo, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 29- NQ/TW ngày 04/11/2013 về đổi mới căn bản, toàn diện Giáo dục và Đào tạo
Tác giả: Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI - Hội nghị lần thứ 8
Năm: 2013
2. Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII- Hội nghị lần thứ 6 (2017), Nghị quyết số 19- NQ/TW về tiếp tục đổi mới hệ thống tổ chức và quản lý, nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 19- NQ/TW về tiếp tục đổi mới hệ thống tổ chức và quản lý, nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập
Tác giả: Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII- Hội nghị lần thứ 6
Năm: 2017
3. Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2020), Dự thảo các Văn kiện trình Đại hội XIII của Đảng, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dự thảo các Văn kiện trình Đại hội XIII của Đảng
Tác giả: Ban Chấp hành Trung ương Đảng
Năm: 2020
4. Bộ LĐ-TX&XH (2017), Thông tư số 08/2017/TT-BLĐTBXH về việc Quy định chuẩn chuyên môn nghiệp vụ của nhà giáo giáo dục nghề nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư số 08/2017/TT-BLĐTBXH về việc Quy định chuẩn chuyên môn nghiệp vụ của nhà giáo giáo dục nghề nghiệp
Tác giả: Bộ LĐ-TX&XH
Năm: 2017
5. Bộ LĐ-TX&XH (2017), Thông tư số 09/2017/TTBLĐTBXH về Quy định việc thực hiện Chương trình đào tạo trình độ trung cấp, trình độ cao đẳng theo niên chế hoặc theo phương thức tích lũy mô đun hoặc tín chỉ, quy chế kiểm tra, thi, xét công nhận tốt nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư số 09/2017/TTBLĐTBXH về Quy định việc thực hiện Chương trình đào tạo trình độ trung cấp, trình độ cao đẳng theo niên chế hoặc theo phương thức tích lũy mô đun hoặc tín chỉ, quy chế kiểm tra, thi, xét công nhận tốt nghiệp
Tác giả: Bộ LĐ-TX&XH
Năm: 2017
6. Bộ LĐ-TX&XH (2017), Quyết định số: 1836/QĐ-LĐTBXH về việc phê duyệt ngành, nghề trọng điểm; trường được lựa chọn ngành nghề trọng điểm giai đoạn 2016-2020 và định hướng đến năm 2025, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số: 1836/QĐ-LĐTBXH về việc phê duyệt ngành, nghề trọng điểm; trường được lựa chọn ngành nghề trọng điểm giai đoạn 2016-2020 và định hướng đến năm 2025
Tác giả: Bộ LĐ-TX&XH
Năm: 2017
7. Cục Thống kê tỉnh Đắk Lắk (2019), Niên giám thống kê tỉnh Đắk Lắk, Nxb. Thống kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Niên giám thống kê tỉnh Đắk Lắk
Tác giả: Cục Thống kê tỉnh Đắk Lắk
Nhà XB: Nxb. Thống kê
Năm: 2019
8. Chính phủ (2012), Quyết định số 630/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt “Chiến lược phát triển dạy nghề thời kỳ 2011-2020” , Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 630/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt" “"Chiến lược phát triển dạy nghề thời kỳ 2011-2020”
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2012
9. Chính phủ (2015), Nghị định 16/2015/NĐ-CP ngày 14 tháng 02 năm 2015 quy định cơ chế tự chủ tài chính trong các đơn vị sự nghiệp công lập, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định 16/2015/NĐ-CP ngày 14 tháng 02 năm 2015 quy định cơ chế tự chủ tài chính trong các đơn vị sự nghiệp công lập
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2015
10. Chính phủ (2015), Nghị định số 48/2015/ NĐ- CP quy định chi tiết một số điều của Luật giáo dục nghề nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 48/2015/ NĐ- CP quy định chi tiết một số điều của Luật giáo dục nghề nghiệp
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2015
11. Chính phủ (2015), Nghị định số 79/2015/NĐ-CP quy định về xử phạt hành chính trong lĩnh vực giáo dục nghề nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 79/2015/NĐ-CP quy định về xử phạt hành chính trong lĩnh vực giáo dục nghề nghiệp
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2015
12. Chính phủ (2015), Nghị định số 86/2015/NĐ-CP quy định về cơ chế thu, quản lý học phí đối với cơ sở giáo dục thuộc hệ thống giáo dục quốc dân và chính sách miễn giảm học phí , hỗ trợ chi phí học tập từ năm học 2015- 2016 đến năm học 2020-2021, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 86/2015/NĐ-CP quy định về cơ chế thu, quản lý học phí đối với cơ sở giáo dục thuộc hệ thống giáo dục quốc dân và chính sách miễn giảm học phí , hỗ trợ chi phí học tập từ năm học 2015- 2016 đến năm học 2020-2021
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2015
13. Chính phủ (2016), Nghị định số 143/2016/NĐ-CP về điều kiện đầu tư và hoạt động trong lĩnh vực giáo dục nghề nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 143/2016/NĐ-CP về điều kiện đầu tư và hoạt động trong lĩnh vực giáo dục nghề nghiệp
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2016
14. Chính phủ (2019), Nghị định số 15/2019/ NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật GDNN, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 15/2019/ NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật GDNN
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2019
15. Nguyễn Ngọc Châu (2009), Quản lý nhà nước về dạy nghề - Thực trạng và giải pháp từ thực tiễn thành phố Hồ Chí Minh, Luận văn Thạc sỹ Quản lý công, Học viện Hành chính quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý nhà nước về dạy nghề - Thực trạng và giải pháp từ thực tiễn thành phố Hồ Chí Minh
Tác giả: Nguyễn Ngọc Châu
Năm: 2009
16. Nguyễn Hữu Hải (2010), Giáo trình lý luận hành chính Nhà nước, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình lý luận hành chính Nhà nước
Tác giả: Nguyễn Hữu Hải
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2010
17. Hà Thị Thu Hường (2014), Quản lý nhà nước đối với hoạt động dạy nghề trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên, luận văn thạc sĩ Kinh tế, ĐH Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý nhà nước đối với hoạt động dạy nghề trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên
Tác giả: Hà Thị Thu Hường
Năm: 2014
18. HDND tỉnh Đắk Lắk (2016), Nghị quyết số 189/2016/QN về mức thu học phí đào tạo Cao đẳng, Trung cấp tại các trường công lập trực thuộc tỉnh Đắk Lắk từ năm học 2016 - 2017 đến hết năm học 2020 - 2021, Đắk Lắk Sách, tạp chí
Tiêu đề: về mức thu học phí đào tạo Cao đẳng, Trung cấp tại các trường công lập trực thuộc tỉnh Đắk Lắk từ năm học 2016 - 2017 đến hết năm học 2020 - 2021
Tác giả: HDND tỉnh Đắk Lắk
Năm: 2016
19. Bùi Thị Hải (2017), Quản lý nhà nước về ĐTN trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk, Luận văn Thạc sĩ Quản lý công, Học viện Hành chính Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý nhà nước về ĐTN trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk
Tác giả: Bùi Thị Hải
Năm: 2017
47. Website của Tổng cục GNDD - Bộ LĐ -TB&XH http://www.gdnn.gov.vn Link

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

DANH MỤC BẢNG BIỂU - (Luận văn thạc sĩ) văn hóa công vụ trong các cơ quan chuyên môn thuộc UBND huyện krông ana, tỉnh đắk lắk
DANH MỤC BẢNG BIỂU (Trang 8)
Bảng 2.1. Hệ thống trường đào tạo nghề trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk - (Luận văn thạc sĩ) văn hóa công vụ trong các cơ quan chuyên môn thuộc UBND huyện krông ana, tỉnh đắk lắk
Bảng 2.1. Hệ thống trường đào tạo nghề trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk (Trang 43)
Bảng 2.3: Ngành, nghề đào tạo tại các trường đào tạo nghề tỉnh Đắk Lắk - (Luận văn thạc sĩ) văn hóa công vụ trong các cơ quan chuyên môn thuộc UBND huyện krông ana, tỉnh đắk lắk
Bảng 2.3 Ngành, nghề đào tạo tại các trường đào tạo nghề tỉnh Đắk Lắk (Trang 45)
Bảng 2.5: Tổng hợp nguồn lực đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị cho các trường đào tạo nghề trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk - (Luận văn thạc sĩ) văn hóa công vụ trong các cơ quan chuyên môn thuộc UBND huyện krông ana, tỉnh đắk lắk
Bảng 2.5 Tổng hợp nguồn lực đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị cho các trường đào tạo nghề trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk (Trang 65)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm