HỌC VIỆN HÀNG KHÔNG VIỆT NAM KHOA QUẢN TRỊ KINH DOANH TIỂU LUẬN MÔN DẪN LUẬN PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU KHOA HỌC ĐỀ TÀI CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN QUYẾT ĐỊNH CÁ NHÂN DỰA TRÊN TÍNH HỢP PHÁP CỦA DOANH NGHIỆP Sinh viên thực hiện Lớp MSSV Giáo viên hướng dẫn TP Hồ Chí Minh – 2021 NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN CHẤM BÀI 1 Ngày tháng năm GV chấm 1 NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN CHẤM BÀI 2 Ngày tháng năm GV chấm 2 MỤC LỤC CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU NGHIÊN CỨU 1 1 1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI 1 1 2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI 1 1 2 1 M.
Trang 1HỌC VIỆN HÀNG KHÔNG VIỆT NAM KHOA QUẢN TRỊ KINH DOANH
HỢP PHÁP CỦA DOANH NGHIỆP
Sinh viên thực hiện:
Lớp:
MSSV:
Giáo viên hướng dẫn:
TP Hồ Chí Minh – 2021
Trang 2NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN CHẤM BÀI 1
Ngày tháng năm
GV chấm 1 NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN CHẤM BÀI 2
Ngày tháng năm
GV chấm 2
MỤC LỤC
Trang 3CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU NGHIÊN CỨU 1
1.1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI 1
1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI 1
1.2.1 Mục tiêu chung 1
1.2.2 Mục tiêu cụ thể 1
1.3 CÂU HỎI NGHIÊN CỨU 3
1.4 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 3
1.5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3
1.5.1 Nguồn dữ liệu sử dụng 3
1.5.2 Phương pháp thực hiện 4
1.6 Ý NGHĨA NGHIÊN CỨU 4
1.7 BỐ CỤC NGHIÊN CỨU 5
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 7
2.1 ĐẶC ĐIỂM CÁ NHÂN 7
2.1.1 Khái niệm đặc điểm cá nhân 8
2.1.2 Các lý thuyết về đặc điểm cá nhân 8
2.2 TÍNH HỢP PHÁP 8
2.2.1 Khái niệm về tính hợp pháp 9
2.2.2 Các lý thuyết về tính hợp pháp 12
2.3 PHÁT TRIỂN GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU 15
CHƯƠNG 3: THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU 19
3.1 QUY TRÌNH NGHIÊN CỨU 19
3.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 19
3.2.1 Phương pháp nghiên cứu định tính 20
3.2.2 Phương pháp nghiên cứu định lượng 21
3.3 MÔ TẢ DỮ LIỆU 22
3.3.1 Phương pháp chọn mẫu 22
3.3.2 Phương pháp xử lý số liệu 23
TÀI LIỆU THAM KHẢO 26
DANH MỤC HÌNH, BIỂU ĐỒ Hình 2.1 Lý thuyết thể chế 13
Trang 4Hình 2.2 Mô hình nghiên cứu được đề xuất 17Hình 3.1 Quy trình nghiên cứu 19
Trang 5CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU NGHIÊN CỨU
1 Lý do chọn đề tài
Trong vài thập kỷ qua, tính hợp pháp đã trở thành một vấn đề trọng tâm của các doanhnghiệp và học thuật các nhà nghiên cứu vì nó được coi là một nguồn lực thiết yếu chohoạt động kinh doanh (Zimmerman & Zeitz, 2002) Các tổ chức có tính hợp pháp caohơn có thể thu được kết quả tốt hơn, bởi vì tính hợp pháp tạo điều kiện thuận lợi cho việctiếp cận các nguồn lực thiết yếu (Cruz-Suarez và cộng sự, 2014a; Pollack, Rutherford &Nagy, 2012) Những kết quả này cho thấy rằng việc đạt được tính hợp pháp là yếu tố thenchốt để thành công trong kinh doanh
Nghiên cứu về tính hợp pháp đã tập trung vào việc chỉ ra mối quan hệ giữa tính hợppháp và kết quả của tổ chức (tức là Pollock & Rindova, 2003), cũng như đầu tư các chiếnlược mua lại tính hợp pháp (Cho, Roberts, & Patten, 2010; Suddaby & Greenwood,2005) Kiến thức mở rộng của chúng tôi trong lĩnh vực này đã mang lại lợi ích cho cáchtiếp cận của chúng tôi đối với các vấn đề như trách nhiệm về tính mới của các dự án kinhdoanh mới (U € berbacher, 2014), mở rộng quốc tế (Kostova, Roth, & Dacin, 2008), khảnăng tiếp cận tài chính (Higgins & Gulati, 2006), hoặc sự phát triển của trách nhiệm xãhội của doanh nghiệp (Scherer & Palazzo, 2011)
Các cá nhân đóng một vai trò quan trọng trong tính hợp pháp của tổ chức Tính hợppháp của tổ chức được xác định bởi những cá nhân quan sát và đánh giá tổ chức theo các
mô hình xã hội (Ruef & Scott, 1998) Tuy nhiên, vai trò của các cá nhân trong việc hìnhthành tính hợp pháp của một tổ chức đã bị đánh giá thấp theo tỷ lệ Khoảng cách kiến thức này được thể hiện rõ ràng bởi một số nghiên cứu đã kêu gọi một cái nhìn sâu hơn vềcách các cá nhân xây dựng nhận thức về tính hợp pháp (Deephouse & suchman, 2008;Deephouse, Bundy, Tost, & suchman, 2017; Suddaby, Bitektine, & Haack, 2017)
Nhiều nỗ lực đang được tiến hành theo hướng này Kể từ năm 2011, các học giả đãxây dựng các mô hình được đánh giá cao (Tost, 2011) và các lý thuyết (Bitektine, 2011;Bitektine & Haack, 2015) về việc hình thành các phán quyết về tính hợp pháp của cánhân Các tài liệu này cho rằng tính hợp pháp của tổ chức đánh giá là hoạt động đa cấp.Nói cách khác, nó không chỉ xem xét nhận thức của cá nhân (cấp độ vi mô) mà còn bịảnh hưởng bởi hành vi của các tác nhân tập thể (cấp độ vĩ mô) như chính phủ, truyềnthông, chuẩn mực xã hội, hiệp hội thương mại, hoặc các nhà lãnh đạo quan điểm
Trang 6Các cấu trúc đánh giá tính hợp pháp có hai thành phần chính: tính hợp lệ và tính hợppháp (Dornbusch & Scott, 1975) Ở cấp độ vĩ mô, người đánh giá tính hợp lệ theo sự phùhợp với niềm tin, giá trị và chuẩn mực xã hội mà họ cho là có thể áp dụng, ngay cả khi họkhông đồng ý với chúng Xã hội ngày càng dựa vào ý kiến của người khác để đưa raquyết định (Muchnik, Aral, & Taylor, 2013) và tìm kiếm các tiêu chuẩn được ủy quyền
để so sánh đánh giá của họ (Zucker, 1977) Người đánh giá sẽ khám phá sự tồn tại của sựđồng thuận tập thể liên quan đến các hành vi của tổ chức được đánh giá Trong một sốtrường hợp, họ thậm chí có thể ngăn chặn các đánh giá cá nhân của mình để ủng hộ ýkiến của đa số (Suddaby và cộng sự, 2017) Tuy nhiên, ngay cả trong những trường hợpđược xã hội nhất trí đánh giá về tính chính xác của các hành vi của một tổ chức, việc ápdụng quan điểm về tính hợp pháp của tổ chức cuối cùng vẫn là một quyết định cá nhân(Bitektine & Haack, 2015)
Ở cấp độ vi mô, các cá nhân đánh giá tính đúng đắn của các hoạt động của một tổchức Do đó, tính hợp pháp của một tổ chức phụ thuộc vào đánh giá của nhiều ngườiđánh giá có đặc điểm không đồng nhất (Voronov & Yorks, 2015; Voronov, De Clercq, &Hinings, 2013) Tình huống này làm cho tổ chức gặp khó khăn hơn trong việc cung cấpđáp ứng cho nhiều nhu cầu của những người đánh giá cá nhân của nó Mặc dù vẫn có thể
có phản hồi tổng hợp (Lock, Filo, Kunkel, & Skinner, 2015)
Suddaby và cộng sự (2017)) lưu ý rằng yếu tố quan trọng của tính hợp pháp như mộtvấn đề nhận thức là nhận thức rằng có nhiều phán quyết về tính hợp pháp ở cấp độ vi mô.Thậm chí, bối cảnh mà người đánh giá thấy mình có thể ảnh hưởng đến việc đánh giátính hợp pháp của họ (Haack, Pfarrer, & Scherer, 2014) và có thể hiện đại hóa quá trìnhnày (Tost, 2011) Một kết luận khả thi từ điều này là việc tăng cường phân khúc sẽ tạođiều kiện cho sự hiểu biết về cách các cá nhân xây dựng đánh giá tính hợp pháp của họ.Tuy nhiên, rất ít công trình nghiên cứu mối quan hệ giữa các đặc điểm cá nhân và nhậnthức của họ về tính hợp pháp của tổ chức
Kể từ suchman (1995), các học giả cho rằng bối cảnh xã hội mà mọi người hoạt động
là điều cần thiết để hiểu các đánh giá về tính hợp pháp của họ (Deephouse và cộng sự,2017) Các đặc điểm cá nhân xác định các loại chuẩn mực và quy trình được sử dụng đểđánh giá tính hợp pháp của tổ chức (Lamin & Zaheer, 2012), dẫn đến các đánh giá khácnhau tùy thuộc vào các loại chuẩn mực được áp dụng (Bitektine & Haack, 2015)
Trang 7Điều này có hậu quả tổ chức rõ ràng Hiểu được nguyên nhân của sự khác biệt này cóthể giải thích tại sao một số khách hàng đưa ra quyết định của họ dựa trên những lý dothuần túy thực dụng (ví dụ: giá cả), trong khi những người khác lại coi trọng các yếu tốkhác (ví dụ: trách nhiệm xã hội) Tại sao những khác biệt này lại xảy ra? Điều gì giảithích việc khách hàng đánh giá tính hợp pháp của tổ chức từ những quan điểm khác nhaunhư vậy? Hiểu được quy trình này sẽ cho phép các nhà quản lý tập trung tốt hơn vào nhucầu của người đánh giá và nâng cao hiệu quả của các quyết định quản lý của họ
Xuất phát từ những lý do trên, nghiên cứu này nhằm mục đích xác định tác động củayếu tố quyết định cá nhân đến tính hợp pháp của doanh nghiệp được thực hiện trên sinhviên Đại học Quản trị Kinh doanh từ Học viện Hàng không Việt Nam
1.2 Mục tiêu nghiên cứu đề tài
1.2.1 Mục tiêu chung
Nghiên cứu nhằm xác định yếu tổ ảnh hưởng quyết định cá nhân dựa trên tính hợppháp của doanh nghiệp Từ đó đề xuất một số chính sách quản trị nhằm nâng cao hiệuquả của các quyết định quản lý của tổ chức
1.3 Câu hỏi nghiên cứu
Để đạt được mục tiêu nghiên cứu đề ra như trên, nghiên cứu phải trả lời cho cáccâu hỏi như sau:
- Những yếu tố cá nhân nào có ảnh hưởng đến tính hợp pháp của doanh nghiệp?
Trang 8- Mức độ ảnh hưởng của các yếu tố cả nhân đến tính hợp pháp của doanh nghiệp?
- Đề xuất hàm ý quản trị nào để giúp các nhà quản lý tìm được chiến lược của họ để
có được loại tính hợp pháp phù hợp nhất cho khách hàng?
1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu của đề tài này là đặc điểm cánhân và tính hợp pháp
- Đối tượng khảo sát: sinh viên Đại học Quản trị kinh doanh từ Học việnhàng không Việt Nam
- Phạm vi nghiên cứu: Học viện hàng không Việt Nam
- Thời gian nghiên cứu: từ ngày 09/11/2021 đến 05/01/2022
1.5 Phương pháp nghiên cứu
1.5.1 Nguồn dữ liệu sử dụng:
Đề tài nghiên cứu sử dụng nguồn dữ liệu sơ cấp và thứ cấp:
- Dữ liệu sơ cấp: Nghiên cứu được thực hiện bằng bảng câu hỏi dược dựatrên các tài liệu lý thuyết và thực nghiệm về tính hợp pháp của doanh nghiệp
- Dữ liệu thứ cấp: Được các nhà nghiên cứu trước đây đã sử dụng phân tíchnội dung (Deephouse, 1996; Pollack và cộng sự, 2012), khảo sát (Chaney,Lunardo, & Bressolles, 2016; Chung và cộng sự, 2015; Dıez-Martın và cộng sự,2013a; Finch, Deephouse, & Varella, 2015), các quan điểm liên kết (Rutherford &Buller, 2007), nghiên cứu điển hình (Drori & Honig, 2013), và phân tích dữ liệuthứ hai (Blanco-Gonzalez, Cruz-Suarez, & Dıez-Martın, 2015; Chen, Wu, & Yao,2016; Cruz-Suarez, Prado-Roman, & Escamilla-Solano, 2015; Deephouse &Carter, 2005; Dıez-Martın, Blanco-Gonzalez, & Prado-Roman, 2016)
1.5.2 Phương pháp thực hiện
Đề tài nghiên cứu được thực hiện bằng phương pháp định tính và phương pháp địnhlượng:
Phương pháp nghiên cứu định tính: thông qua nghiên cứu sơ bộ bằng các câu hỏi mở
nhằm xác định các yếu tố ảnh hưởng đến đánh giá tính hợp pháp của tổ chức Loại mẫunày đảm bảo rằng những người được hỏi có chung một bối cảnh xã hội-văn hóa tương tự,liên quan đến: khu vực địa lý (Madrid), độ tuổi và trình độ học vấn (Quản trị kinh doanh)
Trang 9Nghiên cứu trước đây cho thấy rằng sinh viên đại học có những đặc điểm văn hóa giốngnhau (Lin ~ an, Urbano, & Guerrero, 2011).
Phương pháp nghiên cứu định lượng: Dữ liệu nghiên cứu được thu thập từ tổng số 614
sinh viên đại học trong giai đoạn cuối của năm học 2021 Việc thu thập dữ liệu được thựchiện thông qua một bảng câu hỏi Bảng câu hỏi đã được mô tả trong tài liệu kinh doanhnhư một công cụ mạnh mẽ và hữu ích để thu thập dữ liệu liên quan đến các đặc điểm củacon người như thái độ, suy nghĩ và hành vi (Easterby-Smith, Thorpe, & Jackson, 2012)
Dữ liệu sau đó đã được xử lý bằng gói phần mềm SPSS
1.6 Ý NGHĨA NGHIÊN CỨU
Về mặt lý thuyết, nghiên cứu đóng góp và củng cố lý thuyết về các loại tính hợp pháp.
Từ đó giúp các nhà quản lý tập trung nỗ lực chiến lược của họ để có được loại tính hợppháp phù hợp nhất cho khách hàng của họ
Về mặt thực tiễn, nghiên cứu đã tiến hành khảo sát cư dân ở Việt Nam Kết quả nghiên
cứu sẽ đề xuất một số hàm ý quản trị để cải thiện và nhằm đóng góp triển vọng khác biệtvới sự lựa chọn điểm đến của khách du lịch nước ngoài
1.7 BỐ CỤC NGHIÊN CỨU
Bố cục nghiên cứu được chia thành 5 chương như sau:
Chương 1: Giới thiệu nghiên cứu Chương này trình bày lý do chọn đề tài, mục tiêu
nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, ý nghĩa nghiêncứu và bố cục của đề tài nghiên cứu
Chương 2: Cơ sở lý luận và mô hình nghiên cứu Tác giả trình bày một số lý thuyết
về tính hợp pháp Trên cơ sở đó, tác giả đề xuất mô hình nghiên cứu và các giả thuyếtnghiên cứu
Chương 3: Thiết kế nghiên cứu Trình bày quy trình nghiên cứu và phương pháp
nghiên cứu
Chương 4: Kết quả nghiên cứu Mô tả kết quả của nghiên cứu tập trung vào các biến
số ảnh hưởng đến quá trình ra quyết định dựa trên tính hợp pháp
Trang 10Chương 5: Kết luận và hàm ý quản trị Tóm tắt kết quả nghiên cứu, ý nghĩa thực
tiễn của đề tài, hạn chế của đề tài và đề xuất hướng nghiên cứu trong tương lai
Tóm tắt chương 1
Trong chương này, nhóm tác giả trình bày tổng quan về đề tài đang nghiên cứu thôngqua lý do dẫn dắt để hình thành đề tài, mục tiêu nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu vàphương pháp nghiên cứu tổng quát
Những nội dung này sẽ cho thấy có cái nhìn tổng quát về nội dung của nhóm tác giả,quá trình hình thành đề tài, để từ đó tạo cơ sở cho việc tìm hiểu sâu về các cơ sở lý thuyếtliên quan trong chương tiếp theo
Trang 11Chương 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU
Chương một giới thiệu khái quát về nghiên cứu Chương hai tác giả trình bày các kháiniệm và lý thuyết có liên quan đến tính hợp pháp của tổ chức Các lý thuyết này sẽ làm
cơ sở cho việc đề xuất mô hình nghiên cứu dự kiến tại Học viện Hàng không Việt Nam
2.1 ĐẶC ĐIỂM CÁ NHÂN
Việc lựa chọn một phương pháp đánh giá phụ thuộc vào ảnh hưởng của nhiều yếu tốđối với người đánh giá và mức độ quan trọng khác nhau của các yếu tố này đối với mỗingười đánh giá Trên thực tế, bối cảnh xã hội của cá nhân quyết định sự nổi bật của mộtkiểu đánh giá này so với kiểu đánh giá khác (suchman, 1995) Điều này ngụ ý rằng bốicảnh xã hội của người đánh giá có thể ảnh hưởng đến quá trình đánh giá tính hợp phápcủa tổ chức Bitektine (2011) đề xuất một số biến số có thể ảnh hưởng đến đánh giá củangười đánh giá trong quá trình này: khả năng hiển thị của quyết định, lợi ích kinh tế,nguy cơ nhận các lệnh trừng phạt xã hội, nhận thức xã hội và lòng tin
Khả năng hiện thị quyết định
“Khả năng hiển thị cao của đánh giá đối với các tác nhân khác cho thấy sự lựa chọn
của người đánh giá đối với việc xem xét kỹ lưỡng và phê bình, do đó, khiến người đánh giá áp dụng sự siêng năng và cẩn thận hơn trong các đánh giá của mình” (Bitektine,
2011, trang 169) Khả năng hiển thị quyết định là phán đoán của người đánh giá xác suấtbiểu hiện phán đoán trạng thái, vì khả năng hiển thị cho phép người đánh giá gửi “tínhiệu trạng thái” đến các tác nhân khác (Podolny, 2005) và yêu cầu một vị trí nhất địnhtrong thứ tự trạng thái
Lợi ích kinh tế
Khái niệm lợi ích kinh tế đã được đề cập trong nghiên cứu của (Bansal & Clelland,
2004).Lợi ích kinh tế là những lợi thế về kinh tế, đánh giá về uy tín có thể được sử dụngkhi lợi nhuận kinh tế cao khiến người đánh giá phải nỗ lực nhiều hơn cho việc thẩm địnhnhằm giảm thiểu rủi ro thiệt hại kinh tế liên quan đến sự lựa chọn “sai lầm”
Nguy cơ nhận các lệnh trừng phạt xã hội
Khái niệm ý thức xã hội đã được đề cập trong nghiên cứu của (Bitektine, 2011 ).Trừng phạt xã hội là một phản ứng xã hội tán thành hoặc không tán thành trước hành
Trang 12động của một người Các biện pháp trừng phạt xã hội thực thi một tiêu chuẩn hành viênđược coi là chấp nhận được về mặt xã hội và là điều cần thiết để xã hội tự điều chỉnh vàduy trì trật tự.
Ý thức xã hội
Khái niệm ý thức xã hội đã được đề cập trong nghiên cứu của (Bitektine, 2011 ).Ýthức xã hội là nhận thức về những vấn đề ảnh hưởng đến người khác và sau đó phấn đấugiải quyết những vấn đề đó
Lòng tin
Niềm tin là một kiểu ràng buộc tình cảm ngụ ý các liên kết và cam kết tích cực hoặctiêu cực của các tác nhân đối với những người, địa điểm, ý tưởng hoặc sự vật khác(Goodwin, Jasper, & Polletta, 2007)
2.1.1 Lý thuyết về đặc điểm cá nhân
Lý thuyết phán xét xã hội
Theo Bitektine (2011), lý thuyết phán xét xã hội có thể được định nghĩa là quyết địnhhoặc ý kiến của người đánh giá về các thuộc tính xã hội của một tổ chức Quan điểm củangười đánh giá bổ sung cho phương pháp tiếp cận tính hợp pháp, danh tiếng và địa vị nhưcác nguồn lực của tổ chức được áp dụng trong các tài liệu hiện có và thu hút sự chú ý đếnmột số câu hỏi nghiên cứu quan trọng chưa được khám phá trong nghiên cứu tổ chức:Làm thế nào để người đánh giá hình thành đánh giá của họ về tổ chức? Sự không chắcchắn ảnh hưởng đến phán đoán của người đánh giá như thế nào? Các tác nhân xã hội bênngoài tác động đến quá trình hình thành phán đoán xã hội như thế nào? Vì (các) phán xét
xã hội mà người đánh giá đưa ra có thể là vấn đề sinh tử đối với một tổ chức (ví dụ: đánhgiá về tính hợp pháp của cơ quan quản lý), nên việc người đánh giá lựa chọn hình thứcđánh giá để đưa ra, những ảnh hưởng mà họ phải chịu , và những hạn chế về nhận thức
mà họ phải đương đầu có thể gây ra những hậu quả lớn cho tổ chức mà họ đang đánhgiá.Lý thuyết phán xét xã hội là một khuôn khổ nghiên cứu khả năng phán đoán của conngười Nó là một lý thuyết tổng hợp hướng nghiên cứu về quan điểm nhận thức, đó làcách bạn nhận thức các tình huống Ví dụ, nguyên tắc tâm sinh lý liên quan là khi một tácnhân kích thích ở càng xa điểm neo phán đoán của một người, thì hiệu ứng tương phảnrất có thể xảy ra; khi kích thích gần đến mỏ neo, hiệu ứng đồng hóa có thể xảy ra Lý
Trang 13thuyết phán xét xã hội đại diện cho một nỗ lực nhằm khái quát hóa các nguyên tắc phánđoán tâm sinh lý và những phát hiện về phán đoán xã hội Với vị trí ưa thích của mộtngười là mỏ neo phán xét, SJT là một lý thuyết chủ yếu tập trung vào các quá trình nội tạitrong quá trình phán đoán của chính một người liên quan đến mối quan hệ trong mộtthông điệp được truyền đạt Khái niệm này được thiết kế để trở thành một phương phápgiải thích được thiết kế để chi tiết hóa thời điểm các thông điệp thuyết phục có nhiều khảnăng thành công nhất.
Lý thuyết phán đoán xã hội được phát triển bởi nhà tâm lý học Muzafer Sherif, với ýkiến đóng góp quan trọng của Carl I Hovland và Carolyn W Sherif Bắt nguồn từ lýthuyết phán đoán, liên quan đến việc phân biệt và phân loại các tác nhân kích thích, nó cốgắng giải thích cách các thái độ được thể hiện, đánh giá và sửa đổi Lý thuyết mô tả chitiết cách thức các thái độ được thể hiện về mặt nhận thức, các quá trình tâm lý liên quanđến việc đánh giá các giao tiếp thuyết phục và các điều kiện mà các thái độ được giaotiếp được chấp nhận hoặc bị từ chối
2.2 TÍNH HỢP PHÁP
2.2.1 Khái niệm về tính hợp pháp
Tính hợp pháp là một trạng thái phản ánh sự phù hợp về văn hóa, sự ủng hộ mang tínhchuẩn mực hoặc sự phù hợp với các quy tắc và luật có liên quan (Scott, 1995) Một trongnhững định nghĩa được chấp nhận nhiều nhất của nó coi nó là “nhận thức tổng quát hoặcgiả định rằng các hoạt động của một thực thể là mong muốn, đúng đắn hoặc phù hợp,trong bất kỳ hệ thống quy tắc, giá trị, niềm tin và định nghĩa có cấu trúc xã hội nào”(suchman, 1995, trang 574 ) Nói cách khác, tính hợp pháp liên quan đến sự phán xét dựatrên nhận thức của mọi người Để hợp pháp hóa bản thân, các tổ chức cố gắng có đượcnhững đánh giá có lợi từ những người đánh giá của họ Các tổ chức hợp pháp có nhiềukhả năng hơn để thu được lợi ích từ xã hội dưới hình thức tiếp cận tốt hơn với các nguồnlực Với mục tiêu này, họ có thể thực hiện các hành động từ việc điều chỉnh các mô hình
xã hội đã được thiết lập (ví dụ theo thuyết đẳng cấu) đến việc thao túng môi trường mà
họ đang hoạt động (Oliver, 1991)
Tài liệu về tính hợp pháp ghi nhận sự tồn tại của nhiều loại tính hợp pháp (xemBitektine, 2011) Tuy nhiên, một bộ bốn kiểu chữ là phổ biến nhất trong số các học giả.Nguồn gốc của những loại này có thể được tìm thấy trong Scott (1995) và suchman
Trang 14(1995) Cả hai tác giả đều đề cập đến ba loại tính hợp pháp mặc dù chúng không hoàntoàn trùng khớp Scott (1995) xem xét sự tồn tại của tính hợp pháp về quy định, chuẩnmực và nhận thức Suchman (1995) chỉ ra ba loại bao gồm tính hợp pháp thực dụng, đạođức và nhận thức Những kiểu mẫu này có thể được kết hợp thành bốn loại tính hợp pháp.
Tính hợp pháp thực dụng
Tính hợp pháp thực dụng xuất hiện khi các bên liên quan coi các nhiệm vụ cá nhân của
họ đã hoàn thành Các tổ chức có được tính hợp pháp thực tế khi các bên liên quan đạtđược các mục tiêu của họ thông qua tổ chức Sự hỗ trợ không phát sinh do việc tổ chứcđạt được mục tiêu như tăng doanh thu mà là do các bên liên quan cho rằng tổ chức đang
dễ dàng tiếp nhận các lợi ích cụ thể của họ (Deephouse & Carter, 2005) Loại tính hợppháp này thể hiện mối quan hệ vật chất về quyền lực và sự phụ thuộc giữa tổ chức và cácbên liên quan Đôi khi kiểu phân loại này còn được gọi là tính hợp pháp chuẩn tắc(Greenwood, Suddaby, & Hinings, 2002)
Tính hợp pháp về mặt đạo đức
Tính hợp pháp về mặt đạo đức đề cập đến các phán đoán đạo đức liên quan đến cáchành động của tổ chức Trái ngược với tính hợp pháp thực dụng, trong đó mục tiêu là đạtđược kết quả, tính hợp pháp về mặt đạo đức tập trung vào các phương pháp để đạt đượckết quả đã nói Điều này liên quan đến một loại đánh giá trong đó các kết quả thu đượccủa một tổ chức không được coi là được coi là cách thức mà chúng đạt được Loại tínhhợp pháp này xuất hiện khi các cá nhân coi rằng các hành động được thực hiện bởi một tổchức là “điều đúng đắn phải làm” (suchman, 1995: 579) Tính hợp pháp về mặt đạo đứcthường được nghiên cứu bằng cách đánh giá xem các thủ tục, kỹ thuật hoặc cơ cấu tổchức được sử dụng để đạt được kết quả có phù hợp nhất theo nghĩa đạo đức hay không.Các thực hành đạo đức của tổ chức được thúc đẩy bởi các giá trị của người quản lý, cácgiá trị của chính tổ chức hoặc thậm chí bởi lợi ích chiến lược (xem Cruz-Suarez và cộng
sự, 2014b)
Tính hợp về mặt quy định
Tính hợp pháp của quy định phát sinh từ các quy định, quy tắc, tiêu chuẩn và kỳ vọng
do chính phủ, hiệp hội công nhận, hiệp hội nghề nghiệp và các tổ chức có ảnh hưởngkhác tạo ra (Zimmerman & Zeitz, 2002) Các tổ chức có được tính hợp pháp theo quy
Trang 15định thông qua việc tuân thủ các quy tắc Loại tính hợp pháp này được sử dụng không chỉ
để ngăn chặn các biện pháp trừng phạt mà còn để đạt được chứng nhận hoặc giấy phép đểphát triển một hoạt động kinh doanh
Tính hợp pháp về mặt nhận thức
Tính hợp pháp của nhận thức dựa trên kiến thức, thay vì dựa trên kết quả hoặc cáchành động cần thiết để đạt được chúng Cụ thể, nó phát sinh từ kiến thức mà người đánhgiá có được về tổ chức.Một tổ chức đạt được loại tính hợp pháp này khi những ngườiđánh giá nhận thấy rằng tổ chức đó có thể hiểu được Khi họ hiểu cách thức hoạt độngcủa tổ chức Một cách khác để đạt được tính hợp pháp về mặt nhận thức là khi ngườiđánh giá cho rằng không thể tưởng tượng được việc làm theo bất kỳ cách nào khác (ví dụ:tùy chọn thanh toán bằng thẻ tín dụng) Tính hợp pháp về mặt nhận thức ở cấp độ caonhất được thực hiện khi một sản phẩm, quy trình hoặc dịch vụ mới được coi là đã đượcthiết lập (Aldrich & Fiol, 1994) Cũng có thể đạt được tính hợp pháp về mặt nhận thứcbằng cách nhận được khuyến nghị từ một tổ chức hợp pháp (Zimmerman & Zeitz, 2002),bằng cách áp dụng các hành vi tương tự như các nhà lãnh đạo trong ngành (suchman,1995), hoặc thậm chí bằng cách sử dụng các công cụ truyền thông như kể chuyện (Garud,Schildt, & Lant, 2014)
2.2.2 Các lý thuyết về tính hợp pháp
Khái niệm về tính hợp pháp đã tạo ra mối quan tâm và mối quan tâm chung của cáchọc giả về Lý thuyết thể chế (Meyer & Rowan, 1977), Lý thuyết phụ thuộc vào nguồnlực (Pfeffer & Salancik, 1978), và Hệ sinh thái tổ chức (Singh, Tucker, & House, 1986)
Lý thuyết thể chế
Lý thuyết thể chế tập trung vào vai trò của các hệ thống xã hội, chính trị và kinh tế,trong đó các công ty hoạt động và đạt được tính hợp pháp của chúng 11Theo giải thíchcủa Scott, các tổ chức cung cấp các quy tắc của trò chơi và xác định các cách sẵn có đểvận hành bằng cách ngăn cản, hạn chế hoặc khuyến khích các mẫu hành vi nhấtđịnh Chúng có tác động đến quá trình ra quyết định trong việc đưa ra các dấu hiệu vềđiều gì có thể chấp nhận được hay không, và xác định mức độ xã hội hóa của các chuẩnmực và hành vi cá nhân trong một xã hội nhất định Scott mô tả ba trụ cột mà xã hội đượcxây dựng trên đó: quy định, quy chuẩn và nhận thức Trụ cột quy định là chính thức và
Trang 16được hệ thống hóa về mặt pháp lý, trong khi trụ cột quy phạm bao gồm các thái độ khôngđược hệ thống hóa hiện có trong các xã hội Khi những kỳ vọng và thái độ chuẩn mựcđược phổ biến rộng rãi trong xã hội, chúng dần dần được các cá nhân nội tâm hóa và trởthành những chuẩn mực mà mọi người được khuyến khích tuân theo Các thể chế manglại sự ổn định và khả năng dự đoán cho các hành vi xã hội Các áp lực và kỳ vọng có thểđược tạo ra bởi các thành phần cấu thành thể chế, chẳng hạn như nhà nước, ngành nghề,nhóm lợi ích, dư luận và gia đình Logic cơ bản của trụ cột quy định là sự phù hợp vớicác quy tắc và luật, trong khi của trụ cột quy chuẩn liên quan đến những gì được coi làphù hợp 12 Tuy nhiên, các phản ứng đối với các áp lực và kỳ vọng của thể chế có thể từtuân thủ thụ động đến phản kháng tích cực, tùy thuộc vào bản chất và bối cảnh của các áplực.
Meyer và Rowan (1977) một mặt phân biệt giữa một thực hành hoặc tiêu chuẩn thểchế được chấp nhận thực sự và cố chấp và mặt khác là những huyền thoại về thể chế Sailầm về thể chế là những tiêu chuẩn hoặc thông lệ chỉ được chấp nhận một cách nghi thức
để tổ chức đạt được hoặc duy trì tính hợp pháp trong môi trường thể chế Các tổ chức ápdụng các từ vựng về cấu trúc phổ biến trong môi trường của họ như chức danh công việc
cụ thể, vai trò tổ chức, thủ tục và chính sách (chẳng hạn như chính sách đa dạnggiới) Việc áp dụng và hiển thị nổi bật những bẫy về tính hợp pháp được thể chế chấpnhận này giúp duy trì một hành động tổ chức dựa trên thiện chí Tính hợp pháp trong môitrường thể chế giúp đảm bảo sự tồn tại của tổ chức Khi việc chấp nhận một chính sáchhoặc thông lệ (chẳng hạn như mục tiêu đa dạng giới) chỉ mang tính nghi lễ và hời hợt chứkhông phải là dấu hiệu của mong muốn thay đổi thực sự, thì đây có thể được coi là mộthình thức phản kháng của tổ chức đối với sự thay đổi Khả năng chống lại sự thay đổi của
tổ chứccó thể phát sinh ở cấp độ cá nhân (bao gồm cả sự chống đối của lãnh đạo cấpcao), cấp độ tổ chức con (chẳng hạn như bộ phận) hoặc ở cấp độ toàn bộ tổ chức
Mỗi lý thuyết thể chế, học thuật đa văn hóa và lý thuyết ghép pháp luật đều cung cấpnhững quan điểm có giá trị về câu hỏi làm thế nào và tại sao sự phản kháng của tổ chứcđối với sự thay đổi quy định lại xảy ra trong các bối cảnh văn hóa và thể chế khác nhau( Bovey & Hede, 2001 ; Greenwood, Suddaby, & Hinings, 2002 ; Hall & Thelen,
2009 ; Neck, 1996 ; Schiele, 2011 ; Yilmaz & Kılıçoğlu, 2013) Trong Nghiên cứu 2, tôi
sử dụng những hiểu biết do các học giả này cung cấp để xem xét thái độ của các nhà lãnhđạo công ty đối với nhiều cải cách quy định khác nhau có thể có nhằm mục đích nâng cao
Trang 17sự đa dạng về giới của hội đồng quản trị công ty ở Trung Quốc và Ấn Độ Khung kháiniệm được sử dụng để phân tích các câu trả lời khảo sát bắt đầu bằng việc thừa nhận rằngthái độ đối với sự đa dạng giới và đối với sự thay đổi về quy định / tổ chức nói chungđược hình thành và giúp hình thành, sự kết hợp của các lực lượng cá nhân, tổ chức, xãhội / văn hóa và thể chế / quản lý Khung khái niệm này có thể được minh họa dưới dạng
sơ đồ ( Hình 2.1 )
Trang 18Hình 2.1 Lý thuyết thể chế (Meyer & Rowan, 1977)
(Nguồn: Meyer & Rowan, 1977)
Chìa khóa để hiểu khung khái niệm này là nó không có nghĩa là quan hệ nhân quả theobất kỳ nghĩa đơn chiều nào, mà mục đích của nó là minh họa các mối quan hệ theo nghĩahai chiều và đa hướng Nói cách khác, cá nhân, văn hóa / xã hội,các yếu tố tổ chức và thểchế / quy định đều được hình thành và giúp hình thành lẫn nhau Thái độ của cá nhân vừaảnh hưởng vừa chịu ảnh hưởng của môi trường xã hội và tổ chức mà cá nhân đó hoạtđộng Đến lượt mình, môi trường tổ chức được mô hình hóa một phần và cũng giúp hìnhthành các lực lượng điều tiết - các quy tắc về cách thức tổ chức được hình thành và cách
nó hoạt động Văn hóa thể chế giúp hình thành và cũng được hình thành bởi niềm tin, thái
độ, hành vi và sở thích của các cá nhân hoạt động trong tổ chức Hơn nữa, các cá nhân, tổchức và cơ quan quản lý đều là một bộ phận và hoạt động trong bối cảnh của các lựclượng xã hội / văn hóa rộng lớn hơn
Lý thuyết phụ thuộc vào nguồn lực
Lý thuyết phụ thuộc nguồn lực (RDT) mô tả công ty như một hệ thống mở, phụ thuộcvào các yếu tố bất thường của môi trường bên ngoài ( Pfeffer & Salancik, 1978 ) TheoRDT, các công ty tham gia hợp tác với các bên liên quan bên ngoài để quản lý sự phụthuộc của họ vào các nguồn lực quan trọng Nó đề xuất rằng các tổ chức thiếu một số
Môi trường xã hội / Lực lượng văn hoá
Môi trường tổ chức
trường pháp lý