Chương 4 CON NGƯỜI CHÍNH TRỊ GVCC TS Nguyễn Quốc Tuấn Nếu quyền lực chính trị là trung tâm của mọi hoạt động chính trị thì con người chính trị là nhân tố trực tiếp quyết định việc tổ chức và thực thi quyền lực chính trị I KHÁI NIỆM CON NGƯỜI CHÍNH TRỊ 1 Con người chính trị theo dòng lịch sử Con người đã từng trăn trở với các câu hỏi suốt chiều dài lịch sử triết học “Ta là ai? Ta sẽ biết được cái gì? Ta sẽ đi về đâu? Và từ đó, Ta sẽ phải làm gì?” Mác đã viết “Bản chất con người không phải là cái.
Trang 1Chương 4 CON NGƯỜI CHÍNH TRỊ
GVCC TS Nguyễn Quốc Tuấn
Nếu quyền lực chính trị là trung tâm của mọi hoạt động chính trị thì conngười chính trị là nhân tố trực tiếp quyết định việc tổ chức và thực thi quyền lựcchính trị
I KHÁI NIỆM CON NGƯỜI CHÍNH TRỊ
1 Con người chính trị theo dòng lịch sử
Con người đã từng trăn trở với các câu hỏi suốt chiều dài lịch sử triết học:
“Ta là ai? Ta sẽ biết được cái gì? Ta sẽ đi về đâu? Và từ đó, Ta sẽ phải làm gì?”
Mác đã viết: “Bản chất con người không phải là cái trừu tượng vốn có củamột cá nhân riêng biệt Trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là tổng hòatất cả các quan hệ xã hội” 1 Trong xã hội có nhà nước, một trong những mối quan
hệ và phương thức tồn tại của con người là quan hệ chính trị và hoạt động chínhtrị; người tham gia hoạt động chính trị với tư cách là một chủ thể gọi là con ngườichính trị Quan niệm về con người chính trị hình thành và phát triển trên cơ sở thếgiới quan, phương pháp luận và ý chí lợi ích của giai cấp trong từng giai đoạn lịch
sử cụ thể
Thứ nhất, Lãnh tụ - Thủ lĩnh theo quan niệm Phương Tây
Ngay từ thời cổ đại, Socrat và Democrit đã xác định được nền tảng quantrọng nhất của người lãnh đạo chính trị là “Đạo đức” và “Tài năng” Socrat (470 -
1 C Mác và Ph Ăngghen: Toàn tập, t 3, Nxb CTQG, H., 1995, tr.11.
Trang 2399 TCN) là người đầu tiên bàn về người lãnh đạo chính trị ở cấp độ tư tưởng, ông
đã yêu cầu người thủ lĩnh chính trị phải có đạo đức mà đạo đức đó lại là sản phẩmcủa trí tuệ Democrit (460 - 370 TCN) cũng đã cho rằng người điều hành chính trịphải là nhân vật có tài năng mà tài năng đó cũng chỉ tồn tại và phát triển trên nềntảng của đạo đức
Cenophon (427 - 355 TCN) xem người thủ lĩnh chính trị phải có kỹ thuậtgiỏi, sức thuyết phục giỏi, biết vì lợi ích chung (chăm sóc người bị trị), biết tập hợp
và nhân lên sức mạnh của nhân dân Platon (427 - 374 TCN) đòi hỏi người caiquản thành bang phải thực sự có khoa học chính trị như là tiêu chuẩn của mọi tiêuchuẩn, có tính khí phù hợp với từng nhiệm vụ đảm đương, không bị ràng buộc bởi
sở hữu về tài sản, không bị quyến rũ bởi phụ nữ, biết hy sinh cá nhân vì những lợiích và những giá trị chung Aristote (384-322 TCN), như một nghệ thuật chính trị,xem người tốt nhất để quản lý thành bang là người “Sung túc” (người thuộc tầnglớp trung lưu) sẽ không bị cuốn hút bởi của cải và cũng không bị đè nén lo âu giàunghèo Nhân vật “Trung gian” này dễ “uốn mình” theo những lời khuyên của cácbên và sẽ luôn là “Trung điểm” của tất cả
Ciceron (106 - 43 TCN) tổng kết những tư tưởng tiến bộ trước đó, xuất phát
từ quan niệm chính trị như một sự bắt nguồn từ nghĩa vụ đạo đức và duy trì đờisống cộng đồng, đã yêu cầu người điều hành các công việc nhà nước cần phải sángsuốt, công minh, có khả năng hùng biện và hiểu biết những nguyên lý cơ bản củapháp luật mà nếu thiếu nó đó thì không thể công minh được Đó là con người có sựthông thái, có trách nhiệm và có sự cao thượng của phẩm hạnh; phải thống nhấttrong mình giữa tài năng và quyền uy, có “uy thế tinh thần” và có “tâm hồn caothượng”; biết hy sinh bản thân vì lợi ích chung, bỏ qua những lợi ích tiền bạckhông chính đáng
Trang 3Ogustanh (357 - 430, nhà Thần học) đã yêu cầu người cầm quyền phải đặtquyền uy vào phục vụ thần dân; lấy công bằng làm gốc, lấy từ thiện làm ngọn.Cầm quyền không phải là một danh dự mà là một gánh nặng, địa vị càng cao thìtrách nhiệm càng nặng nề, cũng là lúc dễ gây nguy hiểm nhất cho xã hội Cho nên,người cầm quyền phải biết chỉ huy mình trước khi chỉ huy người khác; phải biết tựđiều tiết, tự kiềm chế dục vọng và tránh ngạo mạn; biết phân biệt giữa những lợiích thật sự của quốc gia và những đòi hỏi có tính lệch lạc của thần dân TomatĐacanh (Thomas Daquin, 1225 - 1274) xem người cầm quyền có đạo đức và tráchnhiệm, biết phấn đấu cho lợi ích chung; con người chính trị là người có quyền lựcnhất định trong hệ thống cai trị của xã hội.
Thời Phục hưng, N Makiaveli (1469 – 1527) đã có những kiến nghị mới vềcon người chính trị Người cầm quyền phải được nhân dân bầu ra; là có những đứctính như: tính thực tế, tính tập thể - là con người tập thể; biết rèn luyện bản thân,biết tinh toán, có uy lực và được yêu mến; khéo léo, có tài điêu luyện, nghị lực sắt
đá, khôn khéo và quyết đoán; biết mưu lược, nắm được quy luật vận động của thờithế; có lòng phản trắc và biết kiềm chế, biết hy sinh và cống hiến cho lợi íchchung
Thời cận đại, các nhà tư tưởng Phương Tây như: J.Locke (1632-1704),Ch.L.S.Montesquieu (1689 - 1755), Jean Jacques Rousseau (1712 - 1778) đã mởrộng khái niệm con người chính trị toàn hể nhân dân, là những công dân có quyềnquyết định quyền lực nhà nước
Thứ hai, “Người Hiền” theo quan niệm Trung Quốc
Các nhà tư tưởng Trung Quốc cổ đại đã có những luận điểm mang tính kinhđiển về các phẩn chất cơ bản của con người chính trị - “Người cai tri” - bậc đếvương, quân tử
Trang 4Lão Tử (580 - 500 TCN) và Trang Tử (396 – 286) đã chủ trương người trịquốc bằng thực hành “Đạo vô vi” Trước hết, phải hiểu biết “Đạo người” và “Đạotrời” Đạo người gắn với Đạo trời mà Đạo trời diễn ra theo quy luật của tự nhiênmột cách bền bỉ và đều đặn tưởng như “không làm gì” mà vẫn có hiệu quả, vì tất
cả đều diễn ra theo quy luật (“Đạo”) của nó Về mặt lý tưởng, Đạo người cố đạttới chỗ “không làm” như Đạo trời, tránh can thiệp thô bạo vào quy luật của tựnhiên và quy luật của xã hội, vì chúng cũng đang diễn ra một cách tự nhiên nhưĐạo trời
Người cai trị phải biết cai trị bằng “không cai trị” thì không gì không cai trị
và không gì không do cai trị mà ra (1) “Không cai trị” tức không can thiệp thô bạo
vào đời sống dân, hạch sách quấy nhiễu dân, không xâm lấn thôn tính lẫn nhau thìđời sống của dân, của xã hội tự thân vận động theo quy luật của mình, mọi thứ đềuđược tạo ra (2) Trị bằng “không trị” (“làm” “bằng” “không làm”) sự cai trị diễn ramột cách tự nhiên, người bị trị cảm thấy mình không bị trị, họ tự giác hành độngtheo quy luật tự nhiên của lịch sử và như vậy “không có cái gì mà không được tạora” từ sự “cai trị” của “không cai trị” (3) Đạo trị nước theo “Vô vi” là phép trịnước khiến lòng dân không dục vọng, no đủ, không tham vọng, không hung hăngchiến tranh chém giết thì, “không làm” ắt “không có gì là không trị”
Đề cao nền chính trị “Vương đạo”, Khổng Tử (551 - 479 TCN) và Mạnh
Tử (372 - 289 TCN) chủ trương thuyết “Trọng Hiền” – sử dụng người “Hiền”(Đức và Tài) vào việc trị quốc Khổng Tử chủ trương: “Quốc gia dùng người nên
cử người hiền tài, không kể thân hay không thân mà chỉ hỏi hiền hay khônghiền”; thấy người hiền mà không chịu nhường vị trí, không cất nhắc là ăn cắp địa
vị của họ Mạnh Tử xem việc trị quốc là một nghề cao quý nhất nên người cai trịphải được tuyển chọn và đào tạo một cách thật công phu, chu đáo Vì vậy, vua phảibiết sử dụng người hiền để giúp vua giữ đạo, sửa mình nhưng việc lựa chọn người
Trang 5hiền phải thật thận trọng, phải thấy đúng là hiền mới sử dụng; đó là người cố gắngthực hiện “Nhân”, “Lễ”, “Nghĩa”, “Trí”, “Tín” và phải được nhân dân thừa nhận,tiến cử ra trị nước
Khổng Tử yêu cầu người trị quốc phải “Chính danh” - ai ở địa vị nào phảilàm tròn trách nhiệm của địa vị ấy và ai phải giữ phận nấy, không được “Việt vị”,không được hưởng quyền lợi cao hơn địa vị của mình, không ở chức vụ nào thìđừng mưu tính việc của chức vụ ấy Khổng Tử nói: “Đối với người cai trị, thânmình mà chính được thì không phải ra lệnh mọi việc vẫn được tiến hành, thân mình
mà không chính được thì dù có ra lệnh cũng chẳng ai theo Nếu thân mình màchính được rồi thì đối với mọi việc chính trị còn gì khó, không thể chính được thânmình thì chính người khác thế nào!” Người quân tử chưa có danh thì đừng nóinhưng, khi có danh rồi thì phải nói, nói rồi thì phải làm nên người quân tử phảithận trọng với lời nói của mình”; đối với những điều mình không biết, “Ngườiquân tử hãy để khuyết, đừng nói” - biết cái mình không biết mới là biết, còn khôngbiết cái mình không biết là không biết gì cả; thấy cái mà không ai thấy mới là thấy,còn thấy cái mà mọi người đã thấy là không thấy gì cả
Người quân tử phải “Trung”, “Hiếu”, “Dũng”, “Liêm”; “Chính công vô tư”nên phải “Tu thân” và “Tề gia” rồi mới trị quốc cho thiên hạ thái bình, cho cuộcsống xã hội thịnh vượng “Tu thân” để bồi dưỡng “Đạo Nhân”; mà “Tu thân” thì
phải “Chính tâm”, “Thành ý”, “Trí tri” và “Cách vật”; trong đó, “Tu thân” là gốc
của tất cả
Mặc Tử (478TCN - 392 TCN) yêu cầu người cai trị phải biết làm cho mọingười cùng có lợi nên thực hành “Kiêm tương ái” và “Giao tương lợi” là hai mặtkhông tách rời nhau, là đức căn bản để trị nước Quân tử không gì bằng xét kỹ trước
“Đức kiêm” mà chăm chú thi hành Cho nên, phải “Thượng hiền” - cử người tài
Trang 6giỏi ra trị quốc mà không phân biệt nguồn gốc xã hội của người đó như thế nàomiễn là anh ta có ích cho công việc chung.
Người làm chính trị phải biết khai thác triệt để “Cái dụng của chính trị” đemđến cho người ta những cái lợi thiết thực trong đời sống hằng ngày Phải làm chodân được sống trong hòa bình và an ninh, đói có ăn, lạnh có mặc, mệt được nghỉ,được xét xử công bằng Vì vậy, phải thực hành “Chủ nghĩa công lợi” làm cho mọingười bình đẳng về lao động và hưởng thụ bằng tổ chức tốt lao động tập thể Bởivậy, cùng với việc đẩy mạnh lao động sản xuất, phải thực hành tiết kiệm, tránh xahoa phung phí ở cung đình cùng những lễ nghi rườm rà gây tốn kém làm kiệt quệsức dân, chống chiến tranh cướp bóc, chiến tranh thôn tính lẫn nhau
Hàn Phi Tử (280 TCN - 233 TCN) yêu cầu vua phải biết cai trị dân bằngpháp luật theo thời thế, biết sử dụng chỉnh thể “Pháp”, “Thuật” và “Thế” mà
“Pháp” là trung tâm Hơn nữa, người trị nước mà mê tín quỷ thần thì đất nước cũngkhông còn, vì tôn “Thần quyền” và thi hành pháp chế là hai việc chống đối nhau
Thời cận đại, các nhà tư tưởng như: Khang Hữu Vi (1858 - 1927), LươngKhải Siêu (1873 - 1929), Đàm Tự Đồng (1865 - 1898), Nghiêm Phục (1853 -1921), Tôn Trung Sơn (1866 - 1925) đã có những kiến giả mới về con người chínhtrị là hướng đến nguồn lực chính trị từ nhân dân
Thứ ba, Người lãnh đạo cộng đồng Việt Nam truyền thống
Người lãnh đạo chính trị phải là người yêu dân, bảo vệ dân, chăm lo cuộc
sống cho dân từ vật chất đến tinh thần; biết “khoan thư sức dân”, khoan dung và
độ lượng; không chỉ biết chăm lo cho những thế hệ hôm nay mà còn phải biết
“tính kế ngàn đời cho con cháu về sau”; biết đối nhân xử thế, nho nhã và lịchlãm, thấu lý mà đạt tình, phải trái phân minh, nghĩa tình trước sau trọn vẹn; gầngũi với mọi người, gắn bó và tận tụy với việc nước Dũng cảm và kiên cường,
Trang 7mưu trí và linh hoạt, thông minh và sáng tạo; có bản lĩnh trước kẻ thù, biết tiếnlùi đúng lúc đúng chỗ, biết địch biết ta, biết thời biết thế; “biết tĩnh như núi”đồng thời “biết động như biển”, “thắng không kiêu, bại không nản”; biết nhânnhượng, thỏa hiệp khi cần nhưng mục tiêu chiến lược là vì lợi ích quốc gia dântộc thì không bao giờ thay đổi - “dĩ bất biến, ứng vạn biến”; dám hiến dâng cuộcđời vì quốc gia dân tộc, vì cuộc sống của con người
Thứ tư, Con người chính trị theo quan niệm macxit
C.Mác và Ph.Ănghen đã xem trong xã hội có các quan hệ giai cấp thì cácquan hệ xã hội của con người sẽ bị chi phối trực tiếp hoặc gián tiếp bởi chính trị.Xuất phát từ quan niệm con người là chủ thể của xã hội, xác định quần chúngnhân dân là người sáng tạo ra lịch sử Vai trò lực lượng quyết định của quần chúngnhân dân đối với sự phát triển xã hội thể hiện rõ nhất không chỉ trong nền sản xuất
xã hội mà còn ở những phong trào chính trị, các cuộc cách mạng xã hội
Sau và theo C.Mác và Ph.Ănghen, V.I.Lênin cũng đã chỉ ra sứ mệnh lịch sửcủa giai cấp công nhân, sự tham gia của đông đảo nhân dân vào sự nghiệp đấutranh giai cấp chống lại giai cấp tư sản trong cách mạng giành chính quyền cũngnhư trong công cuộc xây dựng xã hội chủ nghĩa và vai trò của lãnh tụ giai cấp côngnhân trong sứ mệnh đó
Chính trị là quan hệ giữa các giai cấp, các dân tộc, các lực lượng xã hộitrong việc giành, giữ và thực thi quyền lực nhà nước với mục đích làm cho đờisống con người, cộng đồng người tốt hơn Cho nên, con người chính trị là tất cảnhững con người thúc đẩy nền chính trị xã hội phát triển theo hướng tiến bộ màcon người chính trị chân chính và đông đảo nhất - quyết định mọi cuộc vận độngchính trị còn là quần chúng nhân dân
Trang 8Lênin đã khẳng định: “Trong lịch sử, chưa hề cĩ một giai cấp nào giànhđược quyền thống trị, nếu nĩ khơng đào tạo ra được trong hàng ngũ của mìnhnhững lãnh tụ chính trị, những đại biểu tiền phong cĩ đủ khả năng tố chức và lãnhđạo phong trào” 2 Lãnh tụ chính trị phải cĩ đạo đức mà “Đạo đức, đĩ là những gìgĩp phần phá hủy xã hội cũ của bọn bĩc lột và gĩp phần đồn kết tất cả nhữngngười lao động chung quanh giai cấp vơ sản sáng tạo ra xã hội của những ngườicộng sản”3.
Nhân tố trực tiếp quyết định hiệu quả hoạt động của người lãnh đạo lại lànghệ thuật chính trị Đĩ là “nghệ thuật của những bước đi” lắt léo và vịng vèo,ngoắt ngoéo với những bước tiến, bước lùi, bước vịng; của sự thỏa hiệp, điều hịa;của những sức ép, những mưu mẹo…; đặc biệt là nghệ thuật tính tốn chính trịthiệt hơn một cách chu đáo của những nhà lãnh đạo cĩ trí tuệ ở tầm cao4
Hồ Chí Minh lực lương cách mạng là tồn thể nhân dân mà quan trọng nhất
là nhân dân lao động; động lực cách mạng là giai cấp cơng nhân, giai cấp nơng dân
và đội ngũ trí thức; lực lượng lãnh đạo cách mạng là đội tiền phong của giai cấpcơng nhân, của nhân dân lao động và của cả dân tộc Việt Nam
Hồ Chí Minh xem người cán bộ phải yêu nước thương dân, phải cho lo cho
số đơng trong dân được tự do, ấm no và hạnh phúc Người cán bộ phải “vừa hồng
vừa chuyên”, vừa cĩ đức vừa cĩ tài mà đức là gốc “Đạo đức cách mạng là: Quyết tâm suốt đời đấu tranh cho Đảng, cho cách mạng” 5 “Đạo đức cách mạng là bất kỳ
ở cương vị nào, bất kỳ làm cơng việc gì, đều khơng sợ khĩ, khơng sợ khổ, đều mộtlịng một dạ phục vụ lợi ích chung của giai cấp, của nhân dân, đều nhằm mục đích
2 V.I.Lênin: Toàn tập, Nxb Tiến bộ, Matxcơva, 1978, T4, Tr 273
3 Lênin: Tồn tập Nxb Tiến bộ, Mátxcơva 1974 Tập 4, trang 473.
4 Xem: Lênin: Tồn tập.Nxb Tiến Bộ Matxcơva, 1978 Tập 41 tr 19.
5 Hồ Chí Minh: Tồn tập, tập 9, Nxb CTQG, H.19 96, tr 285.
Trang 9xây dựng chủ nghĩa xã hội”6 Người cán bộ phải có được phương cách “đemđường lối, chính sách của Đảng, của Chính phủ giải thích cho dân chúng rõ đểthi hành Đồng thời, đem tình hình của dân chúng báo cáo cho Đảng, cho Chínhphủ để đặt chính sách cho đúng”7 “Công việc thành công hay thất bại đều do cán
bộ tốt hay kém”, “cán bộ là gốc của mọi việc” “Vì vậy, vấn đề cán bộ là vấn đề rấttrọng yếu, rất cần kíp”, “huấn luyện cán bộ là công việc gốc của Đảng” 8
2 Các dấu hiệu đặc trưng của con người chính trị
Từ những giá trị về con người chính trị trong lịch sử và của thời đại, có thểrút ra các dấu hiệu đặc trưng của con người chính trị như sau:
- Con người chính trị là sản phẩm của những xã hội cụ thể Trong từng giai
đoạn phát triển của lịch sử, mỗi giai tầng có địa vị kinh tế, xã hội xác định Mỗi hệthống tổ chức quyền lực chính trị xác định, mỗi lực lượng chính trị có vị trí và vaitrò nhất định trong đời sống chính trị Trong chế độ xã hội và hệ thống chính trịxác định đó, mỗi người có những phẩm chất nhất định có thể đảm nhận nhữngnhiệm vụ xác định tương ứng với yêu cầu của giai cấp và khả năng của chủ thể
- Con người chính trị là con người có năng lực của một chủ thể chính trị.
Con người chính trị là con người tự ý thức được nhu cầu và phương thức hiện thựchóa lợi ích giai cấp, của dân tộc và của con người; nhận thức được nhu cầu lợi íchcủa mình, nhu cầu lợi ích của người khác và khả năng hiện thực hóa nhu cầu đó;tham gia vào đời sống chính trị xã hội trong sự phân công và hợp tác với tư cách làthành tố của một chỉnh thể tổ chức cuộc vận động chính trị; đồng thời, biết chịuhoàn toàn trách nhiệm về mọi hoạt động chính trị của mình trước cộng đồng, trướcgiai cấp, trước quốc gia dân tộc và với chính bản thân mình
6 Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 10, Nxb CTQG, H.1996, tr 306.
7 Xem: Hồ Chí Minh Toàn tập Nxb Chính trị quốc gia HN 1975 Tập 5, trang 296.
8 Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1995, t 5, tr.269.
Trang 10- Thực chất của con người chính trị Con người chính trị chân chính luôn là
một chỉnh thể sự phát triển bản chất giai cấp, bản sắc dân dân tộc và tính nhân loại
Trong xã hội có phân chia giai cấp và đấu tranh giai cấp, mỗi người thuộcmột giai tầng nhất định, lợi ích của họ gắn bó với giai tầng và cuộc đấu tranh củagiai cấp đó Chính trị và cách mạng xã hội là phong trào giai cấp, một nhà chính trịnào cũng đều là đại biểu của một giai cấp, một lực lượng xã hội, một dân tộc nhấtđịnh; con người chính trị trước hết là con người giai cấp
Giai cấp tồn tại trong dân tộc và cuộc đấu tranh giai cấp trước hết diễn ratrong quốc gia, chính trị cũng không chỉ giải quyết vấn đề của giai cấp mà còn giảiquyết vấn đề của dân tộc Con người chính trị không chỉ là thành viên của giai cấp,của dân tộc mà lợi ích và động lực của họ còn từ dân tộc; trên lập trường của giaicấp, con người chính trị mang đậm dấu ấn tâm lý và nét đặc sắc của dân tộc trongthừa hành nhiệm vụ
Giai cấp và dân tộc là một bộ phận hợp thành nhân loại và thời đại Hơnnữa, giai cấp đại biểu cho phương thức sản xuất tiên tiến cũng là giai cấp đại biểucho và động lực thúc đẩy sự phát triển lịch sử chung loài, lợi ích và cuộc đấu tranhcủa họ không chỉ vì giai cấp và dân tộc mà còn từ và vì lợi ích, vì sự phát triển củanhân loại
Vậy, Con người chính trị mang bản chất giai cấp với tính chỉnh thể con người, có đạo đức và năng lực của một chủ thể tương ứng với vị thế trong hệ thống quyền lực chính trị xác định
II PHÂN LOẠI CON NGƯỜI CHÍNH TRỊ THEO CẤP ĐỘ TRONG
HỆ THỐNG TỔ CHỨC QUYỀN LỰC NHÀ NƯỚC
1 Lãnh tụ, thủ lĩnh chính trị
Thứ nhất, Vị trí - vai trò lãnh tụ, thủ lĩnh chính trị
Trang 11Trong từng giai đoạn phát triển của lịch sử, mỗi cộng đồng (một giai cấp,một dân tộc) bao giờ cũng đào luyện, lựa chọn người tiêu biểu kết tinh ý chí,nguyện vọng và lợi ích cho mình làm người đứng đầu: lãnh tụ, thủ kĩnh chính trị(gọi chung là thủ lĩnh chính trị) Đó là người tiêu biểu cho sự phát triển chính trị và
là trung tâm các mối quan hệ chính trị của tổ chức với xã hội
Đặc quyền tối cao của người thủ lĩnh chính trị là tổ chức, quản lý, điều hành
và chỉ huy toàn bộ hoạt động của tổ chức, cũng là người chịu trách nhiệm cá nhâncao nhất đối với mọi vấn đề của tổ chức và các phong trào chính trị do tổ chứcmình lãnh đạo
Hoạt động định hướng của thủ lĩnh chính trị có ý nghĩa quyết định đến sựthành bại của tổ chức Đó là việc hình thành quan điểm, xác định mục tiêu, vạchđường lối, định ra chiến lược và sách lược, chủ trương, biện pháp, chính sách lâudài hay mỗi chặng đường cho việc hiện thực hóa quyền lực và lợi ích của lực lượng
xã hội mà mình đại diện
Thứ hai, Phẩm chất của lãnh tụ, thủ lĩnh chính trị
Người thủ lĩnh chính trị có phông văn hóa rộng, có tri thức phong phú, trình
độ trí tuệ cao, hiểu biết sâu; nắm bắt được quy luật phát triển của lịch sử mà nhất làquy luật hiện thực hóa quyền lực và lợi ích của giai cấp, của dân tộc và của conngười; hiểu biết sâu sắc những vấn đề chính trị - xã hội đương thời; nắm bắt kịpthời những vấn đề đặt ra trước giai cấp, dân tộc và con người; am hiểu tường tậncác phong trào chính trị của quần chúng
Người thủ lĩnh chính trị có lý tưởng chính trị xã hội cao đẹp, lập trườngchính trị vững vàng, có niềm tin vững chắc sự nghiệp của giai cấp, kiên định conđường đấu tranh và kiên định đường lối, chính sách, chuẩn tắc của tổ chức, đấu
Trang 12tranh không khoan nhượng với tất cả những gì gây phương hại cho tổ chức, choquốc gia dân tộc và cho con người
Người thủ lĩnh chính trị có đạo đức tốt, xác lập được một cách vững chắc hệchân giá trị nhân văn cho bản thân và gia đình với phong cách làm việc phù hợpvới nhiệm vụ đảm đương và lối sống trong sạch, đúng mực, gần gũi với mọi người,tin yêu và quý trọng con người; hết lòng hết sức phục vụ cho dân, không ngừngphấn đấu cho những giá trị chung, cho sự tiến bộ của xã hội; đặc biệt, phải đượcquần chúng nhân dân tín nhiệm và tiến cử
Người thủ lĩnh chính trị có năng lực thực tiễn, có khả năng định hướng chínhtrị với năng lực tổ chức, quản lý, điều hành hoạt động chuyên môn của những cánhân, các tập thể người rộng lớn; có năng lực quyết đoán với những quyết địnhlãnh đạo, chỉ đạo sáng suốt và đúng đắn trong những điều kiện khác nhau mà biểuhiện tập trung là sử dụng được nhiều phương thức chính trị mang tính nghệ thuậtcao trong xử lý tình huống phức tạp và gây cấn; biết vận dụng sáng tạo những lýthuyết chính trị vào việc giải quyết vấn đề thực tiễn đang đặt ra với hiệu quả cao vàbiết tổng kết sâu sắc kinh nghiệm thực tế cho việc đúc kết hoàn thiện hệ tư tưởngchính trị mà mình đang theo đuổi
Như vậy, Lãnh tụ - thủ lĩnh chính trị được đặc trưng bởi tri thức, xu hướng, đạo đức và năng lực lãnh đạo việc thực hiện quyền lực chính trị vì lợi ích của giai cấp, dân tộc và con người trong điều kiện lịch sử xác định
2 Giới chính trị chuyên nghiệp, công chức
Thứ nhất, Nhân diện giới chính trị chuyên nghiệp, công chức
Giới chính trị chuyên nghiệp, công chức là những người được bầu, đề bạthay bổ nhiệm nắm giữ vai trò điều khiển, chỉ huy, lãnh đạo một tổ chức hay một
cơ quan quyền lực hoặc thực thi những nhiệm vụ được giao phó hay do luật định
Trang 13Giới chính trị chuyên nghiệp, công chức là “khâu trung gian”, là “cầu nối”giữa lãnh tụ - thủ lĩnh chính trị và người dân; người trực tiếp thực hiện ý tưởng,mệnh lệnh của lãnh tụ - thủ lĩnh hay thực thi công vụ; quyền và lợi ích gắn với hệthống quyền lực chính trị, quyền lực nhà nước.
Thứ hai, Phẩm chất của giới chính trị chuyên nghiệp, công chức
Giới chính trị chuyên nghiệp, công chức có những phẩm chất cơ bản:
(1) Trung thành với lợi ích của giai cấp, dân tộc; có bổn phận phục vụ xãhội, phục vụ dân với sự tuân thủ pháp luật một cách công khai, minh bạch, côngbằng và vô tư trong hoạt dộng công vụ; mẫn cảm, tận tụy và có trách nhiệm trongcông việc; có văn hóa trong lãnh đạo, quản lý, ứng xử và giao tiếp
(2) Được đào tạo và bồi dưỡng kỹ càng, có năng lực và trình độ chuyênmôn, có kinh nghiệm tương ứng với vị trí và nhiệm vụ đảm trách; có năng lực hiệnthực hóa ý tưởng - mênh lệnh của lãnh tụ - thủ lĩnh; có khả năng tổng kết thực tiễn,khái quát lý luận và có khả năng thể chế hóa quan điểm, đường lối của đảng cầmquyền thành pháp luật chính sách của nhà nước
(3) Có phong cách làm việc phù hợp với từng nhiệm vụ đảm đương và từngđối tượng trong những môi trường cụ thể; phù hợp với tư cách là người đại diệncho nhà nước, bộ mặt của chế độ chính trị Phong cách phản ánh trình độ phát triểnvăn hóa chính trị và kinh nghiệm mà cá nhân đã tích lũy
3 Nhân dân với tư cách con người chinh trị
Nhân dân với tư cách con người chinh trị là người có đủ điều kiện và tư cáchcông dân là chủ thể và cũng là khách thể của quyền lực chính trị và quyền lực nhànước Con người chinh trị nhân dân có những phẩm chất cơ bản sau:
- Ý thức chính trị rõ ràng Nhận thức được lợi ích và con đường hiện thực
hóa lợi ích của cộng đồng, của giai cấp và quốc gia dân tộc; ý thức được lợi ích và
Trang 14khả năng chính trị của mình trong cuộc vận động chính trị của xã hội Nhận thứcđược các vấn đề chính trị của giai cấp, của đất nước và kể cả những vấn đề chinhtrị quốc tế.
- Khả năng chính trị nhất định Có khả năng góp phần tích cực vào việc hình
thành các thể chế chính trị cộng đồng; đóng góp vào quá trình xây dựng chế độchính trị và chế độ nhà nước; có khả năng thực hiện sự phản biện và giám sát xãhội đối với việc hình thành và tổ chức thực hiện đường lối, chủ trương của giai cấp
và pháp luật, chính sách của nhà nước; có khả năng thực thi một công việc chính trịnào đó trong toàn bộ quá trình chính trị của giai cấp
- Đạo đức chính trị tốt Có tinh thần yêu nước và thương dân, gắn bó và có
trách nhiệm với quốc gia dân tộc Tự giác tuân thủ và chủ động thực hiện đườnglối, chủ trương của giai cấp và của cuộc vận động chính trị cùng chuẩn mực củacộng đồng Trong điều kiện làm chủ đất nước, con người chính trị nhân dân cònphải đề cao và tích cực thực thi pháp luật, chính sách của nhà nước; luôn làm trònnghĩa vụ của một công dân, trách nhiệm của người dân đối với đất nước
III CON NGƯỜI CHINH TRỊ VIỆT NAM HIỆN NAY
1 Đặc điễm con người chính trị Việt Nam hiện nay
a Thực chất con người chính trị Việt Nam hiện nay
- Con người chính trị của giai cấp công nhân
- Con người chính trị của nhân dân lao động
- Con người chính trị của dân tộc Việt Nam
- Con người của chủng loài, của thời đại
b Phẩm hạnh của con người chính trị Việt Nam hiện nay
- Yêu nước, thương dân, yêu thương con người
Trang 15- Trung thành với chế độ với quốc gia dân tộc
- Công tư phân minh, cuộc sống cá nhân và gia đình trong sạch
- Mềm dẻo, sắt son, hy sinh, nghĩa tình, đôn hậu, ung dung
c Năng lực thực tiễn của con người chính trị Việt Nam hiện nay
- Khả năng nhận thức đúng các vấn đề chính trị cần thiết
- Khả năng tham gia xây dụng thể chế chính trị
- Khả năng hành động chính trị thực tiễn tương ứng với vị thế
- Khả năng thực hiện nghĩa vụ chính trị quốc tế
2 Người cán bộ lãnh đạo Việt Nam hiện nay
a Yêu cầu đối với người cán bộ lãnh đạo Việt Nam hiện đại
Người lãnh đạo Việt Nam hiện nay phải có những phẩm chất đặc thù theoyêu cầu của nhiệm vụ với một chỉnh thể Đức – Tài mà Đức là gốc, Tài là nền vàNghệ thuật chính trị (sản phẩm của đức và tài) là đỉnh cao
Thứ nhất, Có đạo đức cách mạng Hồ Chủ tịch dạy: “Có đạo đức cách mạng
thì khi gặp khó khăn, gian khổ, thất bại cũng không sợ sệt, rụt rè, lùi bước Có đạođức cách mạng thì khi gặp thuận lợi và thành công vẫn giữ vững tinh thần giankhổ, chất phác, khiêm tốn”9
- Có lòng trung thành với lý tưởng cộng sản chủ nghĩa Người lãnh đạo có
ý thức đầy đủ, sâu sắc về con đường và phương thức thực hiện quyền lực và lợiích của giai cấp, của nhân dân, của dân tộc và con người Thể hiện được lòngtrung thành với lý tưởng, với mục tiêu cách mạng; một sự vững vàng về chính trị,
sự kiên định trước mọi thử thách Luôn xem việc đấu tranh thúc đẩy xã hội loài
9 Hồ Chí Minh: Toàn tập Nxb Chính trị quốc gia HN 1996 Tập 9, trang 284.