1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Câu hỏi ôn tập Kinh tế chính trị có đáp án

20 67 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 20
Dung lượng 170,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Câu1 Phân tích chức năng và phương pháp khoa học của KTCT Mác –Lê Nin Câu 1 Phân tích chức năng và phương pháp khoa học của Kinh tế chính trị Mác Lê ? Kinh tế chính trị học là khoa học xã hội nghiên cứu các quy luật kinh tế của sản xuất xã hội và phân phối của cải vật chất trong các giai đoạn phát triển khác nhau của xã hội loài người Trong quá trình hình thành và phát triển, kinh tế chính trị học đã có nhiều trường phái khác nhau Trong phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa đã xuất hiện và hình.

Trang 1

CÂU 1: Phân tích chức năng và phương pháp khoa học của Kinh tế chính trị Mác-Lê ?

Kinh tế chính trị học là khoa học xã hội nghiên cứu các quy luật kinh tế của sản xuất xã hội và phân phối của cải vật chất trong các giai đoạn phát triển khác nhau của xã hội loài người Trong quá trình hình thành và phát triển, kinh tế chính trị học đã có nhiều trường phái khác nhau Trong phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa đã xuất hiện và hình thành các trường phái kinh tế chính trị học tư sản cổ điển, kinh tế chính trị học tư sản cận đại, kinh tế chính trị học tư sản hiện đại Các trào lưu này đều bảo vệ lợi ích của giai cấp tư sản

KT-CT MLN là một trong ba bộ phận hợp thành của CNML, có quan hệ mật thiết với 2 bộ phận kia là triết học và CNXHKH KTCTML là biểu hiện mẫu mực của sự vận dụng quan điểm duy vật về lịch sử vào sự phân tích kinh tế Kinh tế học chính trị M-L thực hiện những chức năng sau:

-Chức năng nhận thức: KTCT học nghiên cứu, giải thích các hiện tượng và quá trình kinh tế

theo bản chất của chúng, để từ đó phát hiện ra các qui luật kinh tế: qui luật chung, qui luật đặc thù…

Là chìa khoá để nhận thức lịch sử phát triển của sản xuất vật chất và lịch sử phát triển của xã hội loài người nói chung, về chủ nghĩa tư bản nói riêng, để giải thích các hiện tượng và quá trình kinh tế đang diễn ra trong thực tiễn

-Chức năng tư tưởng: Trên cơ sở nhận thức khoa học về qui luật vận động và phát triển của

CNTB, KT học CTMLN đã góp phần đắc lực xây dựng thế giới quan cách mạng và niềm tin sâu sắc của người học vào cụôc đấu tranh của GCCN, nhằm xoá bỏ áp bức bóc lột giai cấp và dân tộc, xây dựng XH mới XH-XHCN KTCT học rất gần gũi với nhà nước, mỗi nhà nước có bản chất xã hội không giống nhau vàa ngay ở một quốc gia do 1 nhà nước thống trị cũng có những giai đoàn khác nhau Đó là cơ sở để góp phần hình thành đường lối, chiến lược kinh tế nên KTCT thể hiện rõ chức năng tư tưởng trong mối quan hệ 2 chiều với nhà nước

-Chức năng thực tiễn:

Phân tích phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa và tiếp thu có phê phán những yếu tố khoa học trong kinh tế chính trị học tư sản cổ điển, Mác và Anghen đã xây dựng nên kinh tế chính trị học

vô sản thực sự khoa học Sau này, trong điều kiện mới, Lênin đã kế thừa và phát triển thành kinh tế chính trị học Mác-Lênin, một bộ phận hợp thành quan trọng nhất của lý luận chủ nghĩa Mác-Lênin Kinh tế chính trị học Mác-Lênin giúp ta có được phương pháp luận đúng, một mặt để làm cơ

sở cho các môn kinh tế khác, mặt khác nhờ phương pháp luận đúng để có thể nhận thức được bản chất của các hiện tượng của các quá trình kinh tế và từ đó tìm ra các quy luật kinh tế, bao gồm các quy luật kinh tế chung là các quy luật có ở mọi nền kinh tế và các quy luật đặc thù ở từng hình thức sản xuất của nền kinh tế, quy luật riêng có trong từng phương thức sản xuất

Trong phạm vi lớn, chức năng thực tiễn của kinh tế chính trị học Mác-Lênin góp phần quan trọng để hình thành mô hình, đường lối chiến lược kinh tế Từ đó làm cơ sở cho các chính sách kinh

tế ở từng thời kỳ phát triển của các quốc gia Trong phạm vi nhỏ là phạm vi doanh nghiệp, các đơn

vị sản xuất kinh doanh Mục đích trực tiếp của các doanh nghiệp là hiệu quả kinh tế, hay là lợi nhuận Do vậy, các doanh nghiệp không thể sử dụng một cách trực tiếp của các nguyên lý của kinh

tế chính trị học Mác-Lênin vào trong quá trình kinh doanh để có được hiệu quả cao, lợi nhuận nhiều, nhưng nó có thể giúp cho doanh nghiệp thích nghi được với các quy luật kinh tế, nhờ đó mà phát triển bền vững hơn

Để nghiên cứu kinh tế chính trị học Mác-Lênin phải có phương pháp khoa học

Phương pháp chung, đó là phương pháp mà mọi môn khoa học đều sử dụng chúng Trong đó

có các phương pháp có tính phương pháp luận:

Trang 2

Phương pháp trừu tượng hóa khoa học được sử dụng để nâng từ nhận thức kinh nghiệm lên thành nhận thức khoa học, từ trực quan sinh động lên tư duy trừu tượng Để sử dụng phương pháp này, người ta thường tìm các biện pháp để loại bỏ những yếu tố, những quan hệ không bản chất để tập trung vào những yếu tố và quan hệ bản chất hơn của các sự vật và hiện tượng, hình thành các phạm trù, quy luật, rồi sau đó vạch rõ mối liên hệ giữa bản chất và hiện tượng Trong khoa học tự nhiên, để phát hiện các quy luật, để chứng minh các giả thiết, có thể thực hiện trong phòng thí nghiệm Nhưng trong kinh tế chính trị phương pháp thực nghiệm không thể thực hiện được ở phòng thí nghiệm Để chứng minh cho một tư tưởng kinh tế chỉ có thể thông qua cuộc sống thực tế với tất

cả mối quan hệ xã hội hiện thực

Trong kinh tế chính trị cũng như trong các khoa học xã hội nói chung, phương pháp trừu tượng hóa có ý nghĩa nhận thức lớn lao, đòi hỏi gạt bỏ những yếu tố ngẫu nhiên, tách ra những cái điển hình, bền vững ổn định, trên cơ sở ấy nắm được bản chất của các hiện tượng, từ bản chất cấp một tiến tới bản chất ở trình độ sâu hơn hình thành những phạm trù và những quy luật phản ánh những bản chất đó

Vì không hiểu đúng phương pháp trừu tượng hóa khoa học nên có ý kiến cho rằng: Các học thuyết kinh tế của Mác thiếu tính thực tiễn do sử dụng nhiều giả định khi phân tích Thực ra, khi vận dụng một cách đúng đắn thì trừu tượng hóa là sức mạnh của tư duy khoa học, không làm cho tư duy

xa rời hiện thực mà giúp hiểu rõ hiện thực ở cấp độ bản chất, hiểu quy luật vận động của hiện thực, điều mà nhận thức cảm tính không bao giờ có thể đạt được Ví dụ để phát hiện bản chất của chủ nghĩa tư bản có thể và cần phải trừu tượng hóa, không tính đến sản xuất hàng hóa nhỏ của những thợ thủ công và nông dân các thể, mặc dù nó vẫn tồn tại ở mức độ nhiều hay ít trong mỗi nước tư bản chủ nghĩa Tuy nhiên, không được bỏ qua quan hệ hàng hóa-tiền tệ, nhất là không được bỏ qua việc chuyển sức lao động thành hàng hóa vì không có quan hệ hàng hóa- tiền tệ và không có hàng hóa sức lao động thì cũng không tồn tại chủ nghĩa tư bản Chính vì vậy mà có ý kiến cho rằng:”Do Mác đưa ra các giả thiết khi nghiên cứu đã làm cho các kết luận xa rời thực tế cuộc sống khiến chúng không còn mang tính khoa học” là ý kiến sai và đã được giải thích ở trên

Phương pháp gắn liền logic với lịch sử trong nghiên cứu Quan hệ logic đó là quan hệ tất nhiên, nó nhất định xảy ra khi có những tiền đề cho quan hệ đó Lịch sử đó là những hiện thực của logic ở một đối tượng cụ thể, trong một không gian và thời gian xác định Sự thống nhất giữa logic

và lịch sử là xuất phát từ quan niệm cho rằng xã hội ở bất cứ nấc thang phát triển nào cũng đều là một cơ thể hoàn chỉnh, trong đó mỗi yếu tố đều nằm trong mối liên hệ qua lại nhất định Lịch sử là một quá trình phức tạp và nhiều vẽ, trong đó chứa đựng những ngẫu nhiên, những sự phát triển quanh co Tuy nhiên sự vận động của lịch sử là một quá trình phát triển có tính quy luật Phương pháp lịch sử đòi hỏi phải nghiên cứu các hiện tượng và quá trình kinh tế qua các giai đoạn phát sinh, phát triển và tiêu vong của chúng trong một không gian và thời gian xác định Phương pháp logíc lại đòi hỏi phải tìm ra cái chung cho mỗi sự phát triển đó Quan hệ logíc là quan hệ có tính tất nhiên, nhất định xảy ra khi có tiền đề Việc nghiên cứu lịch sử sẽ giúp cho việc tìm ra logíc nội tại của đối tượng và sự nhận thức về cơ cấu nội tại của xã hội lại làm cho nhận thức về lịch sử trở nên khoa học Điều này thể hiện rõ trong công trình nghiên cứu của Mác về chủ nghĩa tư bản

Như đã biết tư bản thương nghiệp tồn tại từ lâu trước chủ nghĩa tư bản Nhưng khi nghiên cứu chủ nghĩa tư bản, Mác không bắt đầu từ tư bản thương nghiệp, sở dĩ như thế là vì đối tượng nghiên cứu của Mác là phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa, mà trong lịch sử chủ nghĩa tư bản ra đời bằng hai cách: Một là, người sản xuất hàng hóa nhỏ vươn lên thành nhà tư bản, hai là người thương nhân lúc đầu chỉ đón lấy sản phẩm thừa của người sản xuất nhỏ, dần dần nắm lấy sản xuất đầu tư

Trang 3

xây dựng xí nghiệp để đưa nhiều hàng hóa ra thị trường Trong hai cách trên nhà tư bản đề đảm nhận cả sản xuất và lưu thông Sau này sự lớn lên của qui mô kinh doanh mới dẫn đến sự phân công

xã hội xuất hiện loại nhà tư bản chuyên trách khâu lưu thông, tức là nhà tư bản thương nghiệp Chính vì vậy khi phân tích lôgíc, Mác đã giả định rằng tư bản công nghiệp là một thể thống nhất đảm nhiệm cả khâu lưu thông, dịch vụ tiền tệ, thanh toán Rồi sau mới phân tích sự ra đời của tư bản thương nghiệp, tư bản cho vay và tín dụng ngân hàng Đây chính là biểu hiện của sự kết hợp chặt chẽ lôgíc và lịch sử

Thống nhất các khái niệm và phạm trù Khái niệm và phạm trù là cơ sở để hình thành các nguyên lý khoa học, chúng phải được hình thành và sử dụng một cách thống nhất, nhờ đó mà mang tính phổ biến

Các phương pháp mang tính kỹ thuật như thống kê, lập biểu, đồ thị, Phân tích, tổng hợp

Phương pháp riêng của kinh tế chính trị học Mác-Lênin là:

Phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử Phương pháp này đòi hỏi phải có quan điểm khách quan, trung thực, xem xét sự vật một cách toàn diện, mang tính hệ thống, trong sự vận động và phát triển, có quan điểm lịch sử cụ thể Xem xét các hiện tượng và quá trình kinh tế trong mối liên hệ chung và sự tác động lẫn nhau trong trạng thái phát triển không ngừng, trong tiến trình

đó sự tích lũy những biến đổi về lượng sẽ dẫn đến những biến đổi về chất

Như khi nghiên cứu phương thức sản xuất, Mác đã vận dụng phương pháp biện chứng duy vật

để phân tích: “Con người không thể tự ý lựa chọn quan hệ sản xuất nói chung và quan hệ sở hữu nói riêng một cách chủ quan duy ý chí Kiểu quan hệ sản xuất-quan hệ sở hữu này hay kiểu quan hệ sản xuất-quan hệ sở hữu khác tùy thuộc vào tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất xã hội” Bất cứ một sự cải biến nào về mặt quan hệ sở hữu cũng đều là kết quả tất yếu của việc tạo nên những lực lượng sản xuất mới

Lực lượng sản xuất quyết định quan hệ sản xuất, khi trình độ phát triển và tính chất của lực lượng sản xuất biến đổi thì sớm hay muộn quan hệ sản xuất cũng phải biến đổi theo cho phù hợp Tuy nhiên, quan hệ sản xuất không hoàn toàn thụ động, mà có tác động trở lại lực lượng sản xuất, quan hệ sản xuất thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển khi nó phù hợp với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất Trái lại trở thành trói buộc, kìm hãm lực lượng sản xuất khi nó đã lỗi thời hoặc vượt trước không phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất

Tóm lại, để nghiên cứu kinh tế chính trị học Mác-Lênin cần có phương pháp khoa học, tổng hợp nhiều phương pháp, trong đó phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử là trọng tâm, kết hợp với các phương pháp khác./

Chức năng : KTCT học Mác –Lê Nin là một trong ba bộ phận hợp thành của chủ nghĩa Mác –

Lê Nin ,có quan hệ mật thiết với hai bộ phạn kia là triết học và CNXH khoa học KTCT Mác-Lê Nin là biểu hiện mẫu mực của sự vận dụng quan điểm duy vật về lịch sử vào sự phân tích kinh

tế KTCT học Mác –Lê Nin có những chức năng sau :

a.Chức năng nhận thức : KTCT học M-L cung cấp những tri thức về sự vận động của các quan hệ sản xuất ,về sự tác động lẫn nhau giữa quan hệ sản xuất với lực lượng sản xuất và kiến trúc thượng tầng ,về những quy luật kinh tế của xã hội trong những trình độ phát triển khác nhau của xã hội Đó là chìa khóa để nhận thực lịch sử phát triển của của sx vật chất và lịch sử phát triển của xh loài người nói chung ,về CNTB nói riêng để giải thích các hiện tượng và quá trình kinh tế đang

Trang 4

diễn ra trong thực tiễn ; phân tích nguyên nhân và dự báo triển vọng ,chiều hướng ph áp át triển kinh tế -xã hội

Những tri thức do kinh tế học chính trị cung cấp là cơ sở khoa học để đề ra đường lối ,chính sách kinh tế tác động vào hoạt động kinh tế , định hướng cho sự phát triển kinh tế và cũng là cơ sở

để nhận thức sâu sắc đường lối , chính sách kinh tế

b Chức năng tư tưởng : Trên cơ sở nhận thức khoa học về về quy luật vận động và phát triển của CNTB ,Kinh tế học CT Mác-Lê đã góp phần đắc lực xây dựng thế giới quan cách mạng và niềm tin sâu sắc của người học vào cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân nhằm xóa bỏ áp bức bóc lột giai cấp và dân tộc ,xây dựng xã hội mới –XHXHCN, làm cho niềm tin có một căn cứ khoa học vững chắc đủ sức vượt qua khó khăn ,kể cả những thất bại tạm thời trong quá trình phát triển của cách mạng Kinh tế học chính trị Mác-Lê , cùng với các bộ phận hợp thành khác của chủ nghĩa M-L

là vũ khí tư tưởng của giai cấp công nhân và nhấn dân lao động trong cuộc đấu tranh chống áp bức ,bóc lột Xây dựng chế độ xã hội mới

c Chức năng thực tiễn : Giai cấp công nhân và nhân dân lao động nhận thức các quy luật kinh

tế là để thực hiện nhiệm vụ cải tạo thế giới Các học thuyết chính trị của Mác đã trang bị cho giai cấp cong nhân và nhân dân lao động một công cụ đấu tranh giai cấp mạnh mẽ ,giúp họ nhận rõ sứ mệnh lịch sử của mình Kinh tế học chính trị tuy không đưa ra những giải pháp cụ thể cho mọi tình huống tronmg cuộc sống nhưng nó vạch ra những quy luật và những xu hướng phát triển chung cung cấp những tri thức mà nếu thiếu chúng sẽ không giải quyết được tốt những vấn đề cụ thể Khi quần chúng đã nắm vững lý luận khoa học thì lý luận khoa học sẽ trở thành lực lượng vật chất Tính khoa học và cách mạng của kinh tế học chính trị Mác –Lê Nin là những yếu tố quyết định thực tiễn của người học ,nâng cao hiệu quả hoạt động thực tiễn đó ,nhất là trong công cuộc xây dựng xã hội mới –Xã hội XHCN

d.Chức năng phương pháp luận : Kinh tế học chính trị là nền tảng lý luận cho một tổ hợp các khoa học kinh tế ,trong đó có các khoa học kinh tế ngành như kinh tế công nghiệp ,nông nghiệp ,xây dựng, vận tải ,lao động,tài chính ,lưu thông tiền tệ và tín dụng … ngoài ra ,còn một loạt khoa học kinh tế nằm giáp ranh giữa các tri thức ngành khác nhau như địa lý kinh tế , nhân khẩu học …Đối với các khoa học kinh tế nói trên ,kinh tế học chính trị thực hiện chức năng phương pháp luận ,nghĩa là cung cấp nền tảng lý luận khoa học ,mang tính Đảng cho các môn khoa học kinh tế

cụ thể

-Câu 2: Trình bày khái niệm, phân tích vai trò của TLSX trong nền KTXH.Quy luật ưu tiên trong sản xuất TLSX trong tái sản xuất XH?

Đáp án :Con người vừa là một thực thể tự nhiên vừa là là sự tổng hoà của các mối quan hệ xã hội Sỡ dĩ như vậy là vì con người vừa có đời sống XH và các hoạt động xã hội tạo thành mặt xã hội của mình Không có quan hệ xã hội không thể là một con người Nhưng xét tới cùng trong hoạt động xã hội, hoạt động sản xuất và nhất là hoạt động sản xuất của cải vật chất là cơ sở của đời sống

xã hội loài người và là hoạt động cơ bản nhất trong các hoạt động của con người.Muốn lao động sản xuất làm ra của cải vật chất , ngoài sức lao động con người còn cần có những tư liệu sản xuất để tạo

Trang 5

thành quá trình lao động sản xuất Tư liệu sản xuất là đối tượng chiếm hữu quan trọng ,qua đó xác lập các chủ sở hữu , chủ các quá trình sản xuất và chủ thể của nền kinh tế

TLSX thường được phân thành đối tượng lao động và tư liệu lao động

+Đối tượng lao động là những yếu tố tham gia vào quá trình lao động, nhờ có lao động tạo thành sản phẩm của quá trình lao động đó

+Đối tượng LĐ có thể có sẵn trong tự nhiên hay là sản phẩm trong hệ thống phân công lao động XH Đối tượng lao động có thể ở dạng vật chất hay phi vật chất

Cả ba yếu tố cơ bản của sản xuất là sức lao động ,đối tượng lao động và tư liệu lao động chỉ mới nói lên khả năng quá trình diến ra quá trình lao động sản xuất.Muốn biến khả năng thành hiện thực phải kết hợp được cả 3 yếu tố đó lại với nhau theo công nghệ nhất định Tư liệu lao động và đối tượng lao động hợp thành tư liệu sản xuất với tính cách là yếu tố khách thể của sx,còn slđ là yếu tố chủ thể của sx.Sx không thể tiến hành được nếu không có tư liệu sx ,nhưng nếu không có lđ của con người thì TLSX cũng không thể phát huy tác dụng.Bởi vậy LĐSX của con người giữ vai trò quyết định và mang tính sáng tạo Toàn bộ SLĐ và TLSX được gọi là LLSX

LLSX là toàn bộ những năng lực sx của một xã hội nhất định ,ở một thời kỳ nhất định Các yếu tố cấu trúc LLSX có quan hệ chặt chẽ với nhau , trong đó con người là yếu tố chủ thể LLSX phát triển từ thấp đến cao , từ thô sơ đến hiện đại.Trình độ phát triển của LLSX biểu hiện ở trình độ năng suất lao động xã hội trong từng thời kỳ ;đây là tiêu chí quan trọng nhất và chung nhất của tiến

bộ xã hội

Quy luật ưu tiên tái sản xuất TLSX trong TSXXH

Xã hội không thể không ngừng tiêu dùng nên không thể ngừng sản xuất Bởi vậy, mọi quá trình sản xuất xã hội ,nếu xét theo tiến trình đổi mới không ngừng,thì đồng thời là quá trình tái sản xuất Như vậy quá trình tái sản xuất là quá trình sản xuất được lặp đi, lặp lại thường xuyên và phục hồi không ngừng

-Căn cứ theo phạm vi ta chia tái SX thành tái SX cá biệt và tái SX xã hội

-Căn cứ theo quy mô ta chia tái SX thành tái Sx giản đơn và tái Sx mở rộng

Tái SX mở rộng gồm hai hình thức : Tái Sx mở rộng theo chiều rộng và Tái Sx mở rộng theo chiều sâu

Trong bất kỳ xã hội nào thì quá trình tái sản xuất XH cũng bao gồm những nội dung chủ yếu : Tái sx của cải vật chất ;tái sx sức lao động;tái sx quan hệ sản xuất; tái sx môi trường thiên nhiên Của cải vật chất bị tiêu dùng trong quá trình sản xuất và sinh hoạt xã hội ,bao gồm cả tư liệu sản xuất và tư liệu tiêu dùng ,do vậy tái sản xuất của cải vật chất cũng có nghĩa là tái sản xuất TLSX

và TLT dùng Tái sx mở rộng CCVC là điều kiện cho sự tồn tại và phát triển của xã hội Trong tái

sx CCVC,việc tái sx TLSX có ý nghĩa quyết định đối với tái sx tư liệu tiêu dùng ;việc tái sx TLTD lại có ý nghĩa quyết định đối với tái sx sức lao động của con người ,lực lượng sản xuất hàng đầu

Quá trình tái sản xuất phải đảm bảo tính cân đối ,nghĩa là phải bảo đảm các quan hệ về số lượng giữa các yếu tố ,giữa các bộ phận cấu thành nền kinh tế sao cho quá trình tái ssản xuất diễn ra một cách thuận lợi Trong nền kinh tế có nhiều mối quan hệ cân đối nhưng nhưng có thể quy thành

3 quy quan hệ cơ bản : cân đối giữa các yếu tố sản xuất ;cân đối về mặt công nghệ sản xuất ;cân đối các khu vực kinh tế

Trang 6

Tiền đề kinh tế chung của qua strình sản xuất là phải giữ được tính cân đối giữa các yếu tố sản xuất theo những tỷ lệ nhất định Vi phạm tính cân đối tất yếu làm ảnh hưởng dến quá trình sản xuất bằng cách phân chia nền sản xuất thành hai khu vực :

Khu vực I : Sản xuát TLSX

Khu vực II: Sản xuất TLTD Mác đã rút ra quy luật như sau :

+Tái sản xuất giản đơn :

-Thứ nhất ,giá trị tái sx ra ở khu vực I phải bằng tư liệu sx đã tiêu dùng hết ở khu vực II.Cầu

về TLSX ở khu vực II bằng cung ở khu vực I công thức I(v+m)=II(C)

-Thứ hai toàn bộ giá trị sản phẩm ở khu vực I phải bằng tổng giá trị tLSX đã hao mòn ở cả 2 khu vực Tổng cung TLSX= Tổng cầu TLSX ở 2 khu vực Công thức : I(c+v+m)=I(c) + II(c )

-Thứ ba ,toàn bộ giá trị snả phẩm ở khu vực 2 phải bằng tổng giá trịn sản phẩm mới ssnags tạo

ra ở cả 2khuu vực.Tổng cung về tư liệu têu dùng xã hội = tổng cầu tLTD ở cả 2 khu vực

II( c+v+m) =I(v+m) + II(v+m)

+Tái sản xuất mở rộng :

-Giá trị mới ở khu vực I phải lớn hơn giá trị TLSX đã tiêu dùng ở khu vực 2 I(v+m) > II (c ) -Toàn bộ giá trị sản phẩm khu vực 1 phải lớn hơn tổng giá trị TLSX đã tiêu dùng ở cả hai khu vực I(c+v+m) >I(c )+ II( c)

-Toàn bộ giá trị ở cả hai khu vực phỉa lớn hơn giá trị sản phẩm ở khu vực 2 I(v+m) +II(v+m)>II(c+v+m)

-Câu 3: Tăng trưởng kinh tế theo chiều rộng và chiều sâu.Ví dụ?Các quy luật tái sản xuất

và ý nghĩa ?

Đáp án :

Tăng trưởng kinh tế(TTKT)là sự gia tăng tổng sản phẩm quốc dân trong một chu kỳ nhất định Theo tính chất cảu tSX ,có kiểu tăng trưởng kinh tế theo chiều rộng và tăng trưởng kinh tế theo chiều sâu

-Tăng trưởng theo chiều rộng là tăng yếu tố đầu vào như lao động, đất đai, tiền vốn trên cơ sở

kỹ thuật cũ.Tăng trưởng theo chiều rộng thì tính kinh tế và tính hiệu quả không tăng Ví dụ tăng số lượng đàn gia súc nhưng không chú trọng đến con giống , chất lượng con giống ;tăng diện tích canh tác nhưng không chú trọng việc cải tạo đất để tăng năng suất cây trồng…

Tái sản xuất theo chiều sâu là sự tăng trưởng dựa trên cơ sở sự biến đổi về chất của các yếu tố sản xuất Ở đây nhân tố chủ yếu để tăng trưởng là việc sử dụng những công nghệ mới ,những nguyên vật liệu mới và nguồn năng lượng,trí tuệ mới cũng như cải tiến việc sử dụng những yếu tố của sản xuất Định hướng của tăng trưởng kinh tế theo chiều sâu là tăng chất lượng sản phẩm ,tăng hàm lượng chất xám trong sản phẩm ,tăng năng suất lao động ,tiết kiệm nguồn nguyên liệu Vd: muốn tăng thị phần ngành sữa đã đầu tư trang thiết bị cải tiến chất lượng sữa ,các hàm lượng vi chất

có trong sữa,hợp vệ sinh ,an toàn thực tiễn

Các quy luật tái sản xuất –ý nghĩa :

Trang 7

Tái sản xuất là quá trình sx được lặp đi lặp lại và đổi mới không ngừng với các chu kỳ nhất định.Các quy luật của tái sản xuất :

+Quy luật cân đối : Yêu cầu phải duy trì các quan hệ tỷ lệ cân đối giữa các yếu tố ,bộ phận , khu vực của nền kinh tế trong quá trình thực hiện tái sản xuất Có thể quy thành 3 mối quan hệ cơ bản :

-Cân đối giữa các yếu tố sản xuất ;

-Cân đối giữa khâu tái sản xuất ;

-Cân đối giữa các khu vực của nền kinh tế

+Quy luật liên hệ : Tái sản xuất xã hội có thể phân thành các khâu :sản xuất –phân phối-trao đổi-tiêu dùng.Sản xuất là khâu mở đầu trực tiếp làm ra của cải.Phân phối và trao đổi là các khâu trung gian nối sản xuất với tiêu dùng Phân phối thường gồm phân phối các yếu tố sản xuất và sản phẩm;phân phối cho sx và cho tiêu dùng cá nhân Trao đổi thường gồm trao đổi hoạt động trong sản xuất và trao đổi sản phẩm sau quá trính sản xuất Tiêu dùng là khâu cuối cùng kết thúc một quá trình tái sản xuất hay một chu kỳ sản xuất Tiêu dùng có thể là tiêu dùng sản xuất hay tiêu dùng cá nhân Tiêu dùng tạo ra nhu cầu và mục đích cho sx và được thực hiện bởi sx ,phân phối và trao đổi Nghiên cứu các quy luật của tái sản xuất giúp các quyết định quản lý của chúng ta có hiệu quả cao khi quyết định đó có tính đến mối liên hệ giữa các khâu và quá trình trong tái sản xuất xã hội

-Câu 4:Phân biệt hàng hóa slđ với hàng hóa khác ?Nguyên nhân khủng hoảng thừa ?Điều kiện sản xuất hàng hóa ?

TRẢ LỜI: Hàng hóa là sản phẩm của lao động có thể thỏa mãn một nhu cầu nào đó của con

người và đi vào tiêu dùng thông qua trao đổi mua bán Nhưng không phải bất kỳ vật phẩm nào cũng

là hàng hóa Những vật phẩm tiêu dùng nhưng không thông qua trao đổi mua bán thì nó không phải

là hàng hóa Thí dụ: thóc, ngô, khoai của nông dân làm ra nếu chỉ để tiêu dùng cho bản thân họ thì không phải là hàng hóa, mà chỉ là sản phẩm do lao động làm ra Mác chỉ ra rằng: không phải yếu tố vật chất quyết định sản phẩm là hàng hóa, mà phải qua mua bán trao đổi Cho nên sản xuất hàng hóa

và hàng hóa là phạm trù lịch sử Vì trong lúc này nó là hàng hóa, trong lúc khác nó không là hàng hóa Sản phẩm do con người làm ra với mục đích là chỉ để tiêu dùng nhưng không đem ra thị trường trao đổi mua bán thì nó là hàng hóa Những sản phẩm đem nộp tô cũng không phải là hàng hóa

Hàng hóa có hai thuộc tính là giá trị sử dụng và giá trị Đó cũng là hai mặt chất và lượng của hàng hóa

Giá trị sử dụng là công dụng, là tính có ích của hàng hóa giúp thỏa mãn nhu cầu các của con người, của xã hội, có thể là nhu cầu cá nhân, có thể là nhu cầu tiêu dùng trong sản xuất như máy móc, nguyên liệu … có thể là nhu cầu vật chất hay tinh thần Chính công dụng của vật phẩm đã làm cho nó trở thành một giá trị sử dụng Giá trị sử dụng của vật phẩm do thuộc tính tự nhiên của vật phẩm quy định Xã hội loài người càng phát triển thì càng phát hiện ra nhiều thuộc tính tự nhiên và tạo ra nhiều loại giá trị sử dụng khác nhau Căn cứ vào giá trị sử dụng, vào công dụng có thể phân biệt được các loại hàng hóa khác nhau Vì vậy, giá trị sử dụng nói lên mặt chất của hàng hóa Giá trị

sử dụng xuất phát từ thuộc tính cơ lý hóa tự nhiên của vật chất nên nó là một phạm trù vĩnh viễn Hàng hóa đem trao đổi sẽ có giá trị trao đổi Giá trị trao đổi là quan hệ tỷ lệ, tức là quan hệ về

số lượng giữa những hàng hóa có giá trị sử dụng khác nhau Thí dụ: 1mét vãi đổi được 10kg thóc

Trang 8

Vải và thóc là hai hàng hóa có giá trị sử dụng khác nhau, trao đổi được với nhau vì chúng thuộc hai

sở hữu khác nhau và họ cần đến sản phẩm của nhau Chúng trao đổi với nhau theo một tỷ lệ nhất định, vì chúng có cơ sở chung là: đều là sản phẩm của lao động; kết tinh lượng hao phí lao động như nhau Cơ sở chung này được gọi là giá trị của hàng hóa

Như vậy giá trị của hàng hóa là hao phí lao động xã hội của người sản xuất kết tinh trong hàng hóa Nó biểu hiện quan hệ sản xuất xã hội của những người sản xuất hàng hóa và cho thấy thực chất của trao đổi hàng hóa chính là trao đổi hao phí lao động cho nhau Giá trị hàng hóa là phạm trù lịch

sử riêng có của sản phẩm hàng hóa

Vậy, sản phẩm khác với hàng hóa ở chỗ: sản phẩm chỉ có thuộc tính giá trị sử dụng; còn hàng hóa có hai thuộc tính giá trị sử dụng và giá trị kết tinh trong hàng hóa, hai thuộc tính này song song cùng tồn tại trong một hàng hóa

Hàng hóa có hai thuộc tính là giá trị và giá trị sử dụng vì lao động sản xuất có tính chất hai mặt Hai mặt đó là: lao động cụ thể tạo ra giá trị sử dụng của hàng hóa; lao động trừu tượng tạo ra giá trị của hàng hóa

Lao động cụ thể là lao động có ích, dưới một hình thức cụ thể của những nghề nghiệp chuyên môn nhất định như: lao động của người thợ xây, thợ mộc, thợ may kết quả của lao động cụ thể là tạo ra một công cụ nhất định, tức là tạo ra giá trị sử dụng của hàng hóa

Lao động trừu tượng là lao động của người sản xuất hàng hóa biểu hiện sự hao phí sức lao động của con người về cơ bắp, tinh thần… trong quá trình lao động chung của con người không kể hình thức cụ thể của nó như thế nào Lao động trừu tượng tạo ra giá trị của hàng hóa

Lao động cụ thể và lao động trừu tượng là hai mặt vừa thống nhất vừa mâu thuẫn của lao động sản xuất hàng hóa, chúng phản ảnh cơ bản của sản xuất hàng hóa “lao động tư nhân mâu thuẫn với lao động xã hội”

Để giải quyết mâu thuẫn của công thức chung của tư bản chúng ta cần thấy rằng ,điều kiện để tiền biến thành tư bản là sự tồn tại trên thị trường một loại hàng hoá mà việc sử dụng nó có thể tạo

ra giá trị lớn hơn giá trị của bản thân nó ,đó là hàng hoá sức lao động Trong mọi xã hội ,SLĐ đều

là yếu tố của sản xuất nhưng slđ chỉ trở thành hàng hoá khi có đủ hai điều kiện sau đây :

-Thứ nhất : Người lao động phải có khả năng chi phối sức lao động ấy ,phải là người tự do sở hữu năng lực lao động ,thân thể của mình và chỉ bán sức lao động đó trong một thời gian nhất định Nếu người lao động bán bán đứt hẳn sức lao động trong một lần thì có nghĩa đã tự bán cả bản thân mình và trở thành người nô lệ

-Thứ hai : Người lao động không còn có tư liệu sản xuất cần thiết để tự mình thực hiện sức lao động của mình ,cho nên muốn lao động để có thu nhập buộc người lao động phải bán sức lao động cho người khác sử dụng Việc sức lao động rở thành hàng hoá đánh dấu một bước ngoặt cách mạng trong phương thức kết hợp người lao động với tư liệu sản xuất ;là một bước tiến lịch sử so với chế

độ nô lệ và phong kiến Sự cưỡng bức lao động bằng biện pháp phi kinh tế đã được thay bằng việc

ký kết hợp đồng mua và bán giữa hai người bình đẳng về hình thức : Giữa người sở hữu slđ và người sở hữu TLSX.Sự bình đẳng về hình thức ấy che đậy bản chất bóc lột của chủ nghĩa tư bản,chế

độ bóc lột được được xây dựng trên sự đối kháng lợi ích kinh tế giữa kẻ bị bóc lột và người bị bóc lột Chính sự kết hợp giữa biện pháp cưỡng bức lao động bằng kinh tế với quyền tự do của mỗi cá nhân là mâu thuẫn nội tại của nền dân chủ tư sản

Trang 9

Vì là hàng hoá nên hàng hoá sức lao động cũng có hai thuộc tính : Giá trị sử dụng và giá trị GTSD của hàng háo slđ thể hiện ra trong quá trình tiêu dùng sức lđộng Trong quá trình lao động ,slđ tạo ra một lượng giá trị mới lớn hơn giá trị của bản thân nó,phần giá trị dôi ra so với giá trị slđ là giá trị thặng dư.Đó chính là đặc điểm riêng của giá trị sử dụng của hàng hoá slđ.Đặc điểm này

là chìa khoá để giải quyết mâu thuẫn trong công thức chung của tư bản

Giá trị hàng hoá slđ cũng do số lượng lao động xã hội cần thiết để sản xuất và tái sản xuất ra

nó quyết định Sản xuất và tái sản xuất slđ được thông qua tiêu dùng cá nhân của công nhân Bởi vậy giá trị slđ là giá trịh toàn bộ các tư liệu cần thiết để sx và tái sx sức lao động ,để duy trì đời sống của công nhân làm thuê

Là hàng hoá đặc biệt nên giá trị hàng hoá slđ khác hàng hoá thông thường ở chỗ nó bao hàm

cả yếu tố tinh thần và yếu tố lịch sử

Nguyên nhân sâu xa của hiện tượng khủng hoảng thừa trong nền kinh tế hàng hoá ?

Khủng hoảng thừa trong nền kinh tế hàng hoá hay còn là khủng hoảng sản xuất hàng hoá thừa nghĩa là hàng hoá sản xuất ra không tiêu thụ được ,tư bản không thu hồi được chi phí sản xuất ,bị phá sản,đóng cửa xí nghiệp Việc mất khả năng thanh toán ,phá sản của một nhà tư bản dẫn đến sự sụp đổ ,phá sản của hàng loạt doanh nghiệp khác trong xã hội Hàng hoá bị phá huỷ ,sản xuất đình đốn ,người lao động thát nghiệp Đố không phải là sản xuất thừ tuyệt đối ,mà là sản xuất “thừa “so với sức mua ,với khsr năng thanh toán hạn hẹp của người lao động

Tính hai mặt của lao động sản xuất hàng hóa còn dẫn tới phát hiện ra hai xu hướng vận động trái ngược nhau :Khối lượng của cải vật chất ngày càng tăng lên đi đôi với khối lượng giá trị của nó ngày càng giải xuống hơạc không đổi Quan hệ giữa lao động cụ thể và lưu động trừu tượngbiểu hiện mâu thuẫn giữa tính tư nhân và tính xã hội của lao động sản xuất hàng hóa Mâu thuẫn này chứa đựng mầm mống của sự sản xuất thừa trong nền kinh tế hàng hóa

Khả năng khủng hoảng kinh tế đã có mầm mống từ nền sản xuất kinh tế hàng hoá giản đơn nhưng chưa có khả anwng trở thành hiện thực Trong nền kinh tế TBCN ,Khủng hoảng kinh tế mới trở thành hiện thực Bởi vị CNTB dựa trên cơ sở sản xuất đại công nghiệp cơ khí ,phân công lao động phát triển,năng suất lao động cao,khủng haongr kinh tế có điều kiện xảy ra

Nguyên nhân sâu xa của khủng hoảng kinh tế là mâu thuẫn cơ bản của CNTB ,mâu thuẫn

giữa tính chất xã hội của sản xuất với hình thức chiếm hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa về tư liệu sản xuất Mâu thuẫn đó được biểu hiện thành các mâu thuẫn sau :

*Mâu thuẫn giữa tính có tổ chức ,có kế hoạch trong từng xí nghiệp và tình trạng sản xuất vô chính phủ trong toàn xã hội Vì mục đích chạy theo lợi nhuận nên ,các nhà tư bản một mặt tìm cách hợp lý hoá tổ chức xí nghiệp để giảm chi phí đầu vào ; mặt khác chỉ dầu tưu kinh daonh vào những ngành có lợi nhuận cao và cạnh tranh quyết liệt với nhau Kết quả làm phá hoại sự cân đối giữa các ngành sản xuất , quan hệ cung-cầu bị rối loạn nghiêm trọng ,đến một mức độ nào đó thì xảy ra khủng hoảng kinh tế

*Mâu thuẫn giữa xu hướng mở rộng sản xuất vô hạn của CNTB với sức mua có hạn của quần chúng lao động Do theo đuổi lợi nhuận siêu ngạch ,các nhà tư bản dã ra sức mở rộng sản xuất ,cải tiến kỹ thuật và cạnh tranh rất gay gắt ;của cải snar xuất ra ngày càng nhiều và sức mua của quần chúng theo không kịp do(bị bần cùng hóa dẫn tới hàng hóa bị ứ thừa trên thị trường

*Mâu thuẫn giữa tư bản và lao động : Nhà tư bản là người sở hữu tư liệu sx nhưng không lao động ,còn công nhân lao động làm ra của cải nhưng lại bị tước đoạt hết tư liệu sản xuất.Sản

Trang 10

phẩm làm ra ,hầu hết thuộc về nhà tư bản Sự tách rời tư liệu snar xuất và sức lao động đã dẫn đến nền kinh tế đến sự phát triển “mù quáng” ,vhayj theo lợi nhuận ,làm cho khủng hoảng trở nên hiện thực

Khắc phục

Khủng hoảng kinh tế mang tính chu kỳ theo quy luật khách quan của sự phát triển thế nên chúng ta không thể làm triệt tiêu chu kỳ của khủng hoảng kinh tế mà chỉ can thiệp ,điều tiết bằng cách sử dụng một loạt các hệ thống công cụ điều tiết đa dạng ,lin h hoạt như các chính sách tài chính ,tiền tệ ,tín dụng ,chính sách xuất ,nhập khẩu; chính sách đầu tư,mở rộng tiền tệ trong thời kỳ khủng hoảng ,hạn chế cầu ,hạn ché đầu tư thắt chặt tiền tệ khi nền kinh tế hoạt động quá nóng ,lạm phát

Điều kiện của sản xuất hàng hóa ?

Sự ra đời của sản xuất hàng hóa gắn liền với sự phát triển của phân công lao động và trao đổi Sản xuất hàng hóa tồn tại trong chế độ chiếm hữu nô lệ, phong kiến, tư bản chủ nghĩa, xã hội chủ nghĩa Trước chủ nghĩa tư bản, sản xuất hàng hóa giản đơn chiếm ưu thế, phổ biến, nó tiếp tục tồn tại và phát triển trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội do đó hàng hóa và sản xuất hàng hóa là một phạm trù lịch sử, nó chỉ xuất hiện và tồn tại trong những điều kiện lịch sử như sau:

Một là có sự phân công lao động xã hội sự phân công lao động xã hội là sự phân chia lao động xã hội ra thành các ngành, các lĩnh vực sản xuất , tạo nên sự chuyên môn hóa lao động Do có

sự phân công lao động, mỗi người chỉ sản xuất một thứ hay vài thứ sản phẩm, nên người sản xuất này phải dựa vào người sản xuất khác , phải trđo mua bán sản phẩm của nhau Tuy nhiên, trong mỗi công xưởng ngày nay, có sự phân công lao động, nhưng không có sự trao đổi mua bán của nhau, nên sản phẩm cũng không phải là hàng hóa Chỉ có sản phẩm của lao động tư nhân độc lập và không phụ thuộc vào nhau mới đối diện với nhau như những hàng hóa Vậy sản xuất hàng hóa ra đời không phải chỉ có điều kiện phân công lao động mà còn điều kiện thứ hai nữa

Hai là, có sự tách biệt tương đối về kinh tế của những người sản xuất hàng hóa: sự tách biệt này do lao động tư nhân độc lập và không phụ thuộc vào nhau của những người sản xuất hàng hóa

Đó là sự tách biệt do chế độ sở hữu quy định Ngoài ra, sự tách biệt còn do chế độ sử dụng, sự khác nhau giữa các loại lao động có ích với tư cách là công việc của những chủ thể sản xuất độc lập, của những ngành nghề lao động khác nhau Trong những điều kiện đó khi muốn tiêu dùng sản phẩm của nhau họ phải thông qua mua bán sản phẩm, tức là phải trao đổi dưới hình thức hàng hóa, làm cho sản xuất hàng hóa ra đời

Trong kinh tế hàng hóa giản đơn, người sản xuất trực tiếp là người sở hữu tư liệu sản xuất, hoặc thuê tư liệu sản xuất để sản xuất, làm cho sản xuất phát triển Dưới sự trao đổi của quy luật giá trị, sự biến động của giá cả, của cạnh tranh đã làm phân hóa những người sản xuất nhành người giau, trở thành ông chủ, và những người nghèo trở thành người làm thuê Thêm vào đó, quá trình tích lũy ban đầu của tư bản bằng bạo lực đã tạo thêm điều kiện để người giàu có đủ điều kiện để xây dựng nhà máy, mua nguyên vật liệu và thuê công nhân sản xuất nhằm thu về lợi nhuận, phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa được hình thành

Như vậy phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa ra đời từ sự chuyển kinh tế hàng hóa giản đơn thành kinh tế hàng hóa tư bản chủ nghĩa phải có hai điều kiện: có sự tập trung một số tiền lớn vào trong tất yếu một số ít người đủ để lập ra các xí nghiệp; có một lớp người tự do, không phải là nô lệ,

họ không có tư liệu sản xuất, buộc phải bán sức lao động cho nhà tư bản

Ngày đăng: 04/05/2022, 10:29

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w