1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

BÀI THẢO LUẬN NHÓM 3 Trình bày về nhóm công cụ trực tiếp để thực thi chính sách tiền tệ của ngân hàng trung ương. Hãy phân tích và đánh giá về việc điều chỉnh lãi suất điều hành mà Ngân hàng nhà nước Việt Nam đã đưa ra trong bối cảnh dịch bệnh viêm đường

14 88 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 14
Dung lượng 26,27 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BÀI THẢO LUẬN NHÓM 3 Đề tài Trình bày về nhóm công cụ trực tiếp để thực thi chính sách tiền tệ của ngân hàng trung ương Hãy phân tích và đánh giá về việc điều chỉnh lãi suất điều hành mà Ngân hàng nhà nước Việt Nam đã đưa ra trong bối cảnh dịch bệnh viêm đường hô hấp cấp Covid 19 CHƯƠNG I TRÌNH BÀY NHÓM CÔNG CỤ TRỰC TIẾP ĐỂ THỰC THI CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ CỦA NGÂN HÀNG TRUNG ƯƠNG I 1 Giới thiệu chính sách tiền tệ và các loại chính sách tiền tệ Giới thiệu chính sách tiền tệ Chính sách tiền tệ là một.

Trang 1

BÀI THẢO LUẬN NHÓM 3

Đề tài: Trình bày về nhóm công cụ trực tiếp để thực thi chính sách tiền tệ của ngân hàng trung ương Hãy phân tích và đánh giá về việc điều chỉnh lãi suất điều hành mà Ngân hàng nhà nước Việt Nam đã đưa ra trong bối cảnh dịch bệnh viêm đường hô hấp cấp Covid-19.

CHƯƠNG I TRÌNH BÀY NHÓM CÔNG CỤ TRỰC TIẾP ĐỂ THỰC THI CHÍNH SÁCH TIỀN

TỆ CỦA NGÂN HÀNG TRUNG ƯƠNG I.1 Giới thiệu chính sách tiền tệ và các loại chính sách tiền tệ

Giới thiệu chính sách tiền tệ

Chính sách tiền tệ là một chính sách điều tiết kinh tế vĩ mô cực kì quan trọng của nhà nước trong nền kinh tế thị trường vì nó có ảnh hưởng lớn đến các biến số vĩ mô như: công ăn việc làm, tốc độ tăng trưởng, lạm phát Để đạt được các mục tiêu của chính sách tiền tệ thì việc sử dụng các công cụ của nó có vai trò cơ bản, quyết định Ở Việt Nam kể từ khi đổi mới đến nay, chính sách tiền tệ đặc biệt là các công cụ của nó đang từng bước hình thành, hoàn thiện và phát huy tác dụng đối với nền kinh tế Với đặc điểm của nền kinh tế Việt Nam thì việc lựa chọn các công cụ nào, sử dụng nó ra sao ở các giai đoạn cụ thể của nền kinh tế luôn

là một vấn đề thường xuyên phải quan tâm theo dõi và giải quyết đối với các nhà hoạch định

và điều hành chính sách tiền tệ quốc gia, các nhà nghiên cứu kinh tế Đặc biệt là trong bối cảnh nền kinh tế trong nước và quốc tế như hiện nay thì việc nghiên cứu về chính sách tiền tệ

cụ thể là các công cụ của chính sách tiền tệ là một vấn đề có ý nghĩa lý luận và thực tiễn cao

Chính sách tiền tệ là một chính sách kinh tế vĩ mô do Ngân hàng trung ương khởi thảo

và thực thi, thông qua các công cụ, biện pháp của mình nhằm đạt các mục tiêu: ổn định giá trị đồng tiền, tạo công ăn việc làm, tăng trưởng kinh tế Chúng ta có thể hiểu, chính sách tiền tệ là tổng hòa các phương thức mà ngân hàng nhà nước Việt Nam (NHTW) thông qua các hoạt động của mình tác động đến khối lượng tiền tệ trong lưu thông, nhằm phục vụ cho việc thực hiện các mục tiêu kinh tế - xã hội của đất nước trong một thời kỳ nhất định Mặt khác, nó là một bộ phận quan trọng trong hệ thống chính sách kinh tế tài chính vĩ mô của chính phủ.Tuỳ điều kiện các nước, chính sách tiền tệ có thể được xác lập theo hai hướng: chính sách tiền tệ mở rộng (tăng cung tiền, giảm lãi suất để thúc đẩy sản xuất kinh doanh ,giảm thất nghiệp nhưng lạm phát tăng chính sách tiền tệ chống thất nghiệp) hoặc chính sách tiền tệ thắt chặt (giảm cung tiền, tăng lãi suất làm giảm đầu tư vào sản xuất kinh doanh từ đó làm giảm lạm phát nhưng thất nghiệp tăng chính sách tiền tệ ổn định giá trị đồng tiền)

Các loại chính sách tiền tệ

Trang 2

Tùy theo tình hình hoạt động của nền kinh tế và các mục tiêu kinh tế vĩ mô đã được đặt ra trong mỗi thời kỳ phát triển của nền kinh tế xã hội mà Ngân hàng Trung ương có thể thực hiện một trong hai chính sách thắt chặt hay mở rộng tiền tệ

Chính sách tiền tệ mở rộng: Thực chất là Ngân hàng Trung ương mở rộng mức cung tiền trong nền kinh tế, làm cho lãi suất giảm xuống, qua đó làm tăng tổng cầu, nhờ vậy mà quy mô của nền kinh tế được mở rộng, thu nhập tăng và tỷ lệ thất nghiệp giảm Để mở rộng được mứ cung tiền, thực hiện chính sách tiền tệ mở rộng, Ngân hàng Trung ương có thể thực hiện một trong ba cách: Mua vào trên thị trường chứng khoán, hạ thấp tỷ lệ dự trữ bắt buộc,

hạ thấp mức lãi suất chiết khấu hay thực hiện đồng thời cả 2 hoặc 3 cách cùng lúc

Chính sách tiền tệ thắt chặt: Ngân hàng Trung ương tác động nhằm giảm bớt mức cung tiền trong nền kinh tế, làm cho lãi suất trên thị trường tăng lên Thông qua đó, thu hẹp được tổng cầu, làm mức giá chung giảm xuống Thực thi chính sách này, Ngân hàng Trung ương sử dụng các biện pháp làm giảm mức cung tiền bằng cách: Bán ra trên thị trường chứng khoán, tăng mức dự trữ bắt buộc hoặc tăng lãi suất chiết khấu, kiểm soát khắt khe đối với các hoạt động tín dụng…

II.2 Các công cụ của chính sách tiền tệ

Nghiệp vụ thị trường mở

Khái niệm: là những hoạt động mua bán chứng khoán do NHTW thực hiện trên thị trường mở nhằm tác động tới cơ số tiền tệ qua đó đIều tiết lượng tiền cung ứng Cơ chế tác động: Khi NHTW mua (bán) chứng khoán thì sẽ làm cho cơ số tiền tệ tăng lên (giảm đi) dẫn đến mức cung tiền tăng lên (giảm đi) Nếu thị trường mở chỉ gồm NHTW và các NHTM thì hoạt động này sẽ làm thay đổi lượng tiền dự trữ của các NHTM (R), nếu bao gồm cả công chúng thì nó sẽ làm thay đổi lượng tiền mặt trong lưu thông (C)

Đặc điểm: đo vận dụng tính linh hoạt của thị trường nên đây được coi là một công cụ rất năng động, hiệu quả, chính xác của CSTT vì khối lượng chứng khoán mua (bán) tỷ lệ với quy mô lượng tiền cung ứng cần điều chỉnh, ít tốn kém về chi phí, dễ đảo ngược tình thế Tuy vậy, vì được thực hiện thông qua quan hệ trao đổi nên nó còn phụ thuộc vào các chủ thể khác tham gia trên thị trường và mặt khác để công cụ này hiệu quả thì cần phải có sự phát triển đồng bộ của thị trường tiền tệ, thị trường vốn

Dự trữ bắt buộc

Khái niệm: số tiền dự trữ bắt buộc là số tiền mà các ngân hàng phải giữ lại, do NHTW quy định, gửi tại NHTW, không hưởng lãi, không được dùng để đầu tư, cho vay và thông thường được tính theo một tỷ lệ nhất định trên tổng số tiền gửi của khách hàng để đảm bảo khả năng thanh toán, sự ổn định của hệ thống ngân hàng Cơ chế tác động: Việc thay đổi tỷ lệ

dự trữ bắt buộc ảnh hưởng trực tiếp đến số nhân tiền tệ (m=1+s/s+ER+RR) trong cơ chế tạo tiền của các NHTM Mặt khác khi tăng (giảm) tỷ lệ dự trữ bắt buộc thì khả năng cho vay của

Trang 3

các NHTM giảm (tăng), làm cho lãi suất cho vay tăng (giảm),từ đó làm cho lượng cung ứng tiền giảm (tăng)

Đặc điểm: đây là công cụ mang nặng tính quản lý Nhà nước nên giúp NHTW chủ động trong việc điều chỉnh lượng tiền cung ứng và tác động của nó cũng rất mạnh (chỉ cần thay đổi một lượng nhỏ tỷ lệ dự trữ bắt buộc là ảnh hưởng tới một lượng rất lớn mức cung tiền) Song tính linh hoạt của nó không cao vì việc tổ chức thực hiện nó rất chậm, phức tạp, tốn kém và nó có thể ảnh hưởng không tốt tới hoạt động kinh doanh của các NHTM

Quản lý hạn mức tín dụng của các Ngân hàng Thương mại

Khái niệm: là việc NHTW quy định tổng mức dư nợ của các NHTM không được vượt quá một lượng nào đó trong một thời gian nhất định (một năm) để thực hiện vai trò kiểm soát mức cung tiền của mình Việc định ra hạn mức tín dụng cho toàn nền kinh tế dựa trên cơ sở là các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô (tốc độ tăng trưởng, lạm phát tiêu thụ ) sau đó NHTW sẽ phân bổ cho các NHTM và NHTM không thể cho vay vượt quá hạn mức do NHTW quy định Cơ chế tác động: Đây là một công cụ điều chỉnh một cách trực tiếp đối với lượng tiền cung ứng,việc quy định pháp lý khối lượng hạn mức tín dụng cho nền kinh tế có quan hệ thuận chiều với quy mô lượng tiền cung ứng theo mục tiêu của NHTM

Đặc điểm: giúp NHTW điều chỉnh, kiểm soát được lượng tiền cung ứng khi các công

cụ gián tiếp kém hiệu quả, đặc biệt tác dụng nhất thời của nó rất cao trong những giai đoạn phát triển quá nóng, tỷ lệ lạm phát quá cao của nền kinh tế Song nhược điểm của nó rất lớn: triệt tiêu động lực cạnh tranh giữa các NHTM, làm giảm hiệu quả phân bổ vốn trong nến kinh

tế, dễ phát sinh nhiều hình thức tín dụng ngoài sự kiểm soát của NHTW và nó sẽ trở nên quá kìm hãm khi nhu cầu tín dụng cho việc phát triển kinh tế tăng lên

Tỉ giá hối đoái

Khái niệm: tỉ giá hối đoái là đại lượng biểu thị mối tương quan về mặt giá trị giữa hai đồng tiền.nói cách khác tỉ giá hối đoái là giá cả của một đơn vị tiền tệ nước này được biểu hiện bằng một đơn vị tiền nước khác Cơ chế tác động: tác động đến hoạt động kinh tế , từ hoạt động xuất nhập khẩu đến sản xuất kinh doanh và tiêu dùng trong nước qua biến đổi của giá cả hàng hóa

Đặc điểm: ngân hàng trung ương có thể ấn định tỉ giá cố định hay thả nổi theo quan hệ cung cầu ngoại tệ trên thị trường ngoại hối bên cạnh đó còn có tỉ giá cố định nhưng di động khi cần thiết và tỉ giá thả nổi có quản lý Khi vận dụng công cụ này không phải NHTW đẩy tỉ giá lên cao hay kéo tỉ giá xuống thấp mà ổn định tỉ giá ở một mức độ hợp lí phù hợp với đặc điểm điều kiện kinh tế của đất nước trong từng giai đoạn để tác động chung cuộc của nó là tốt nhất

I.2.1 Các công cụ gián tiếp của CSTT

Trang 4

Quy định tỷ lệ dự trữ pháp định

Là phương thức quản lý khối lượng tiền trong lưu thông bằng các quy định tỷ lệ mà các NHTM được phép cho vay khi nhận được một khối lượng tiền gửi, tỷ lệ dự trữ pháp định

là tỷ lệ % trên số tiền gửi mà một NHTM nhận được phải gửi vào Tài khoản tại NHTW hoặc giữ tại ngân hàng theo quy định

Với biện pháp này NHTW nắm được khối lượng tín dụng mà các NHTM và các tổ chức tín dụng khác cung cấp và có khả năng cung cấp cho nền kinh tế Do đó NHTW có thể tác động trực tiếp đến khối lượng tín dụng bằng cách tăng hay giảm tỷ lệ dự trữ pháp định

Biện pháp thị trường mở

Nội dung của biện pháp này là NHTW tiến hành mua và bán các giấy tờ có giá trên thị trường tiền tệ theo mục tiêu của chính sách tiền tệ trong từng thời kỳ

Trong trường hợp NHTW muốn tăng khối lượng tiền trong lưu thông NHTW sẽ mua vào 1 lượng chứng khoán nhất định, việc các NHTM bán chứng khoán cho NHTW sẽ làm tăng dự trữ cho các NHTM nhờ vào lượng tiền nhận được từ NHTW Ngược lại, nếu NHTW muốn thu hẹp khối lượng tiền tệ NHTW sẽ bán ra 1 lượng chứng khoán nhất định, biện pháp này có ưu điểm là tác động trực tiếp đến dự trữ của các NHTM buộc các NHTM phải gia tăng hay giảm khối lượng ín dụng Nhưng có nhược điểm chỉ thực hiện được trong điều kiện các khoản tiền trong lưu thông đều nằm tại các NHTM

Biện pháp chiết khấu, tài chiết khấu và cho vay của Ngân hàng Trung ương

Là hình thức cung cấp tín dụng của NHTW cho các NHTM trong điều kiện có thế chấp, chiết khấu, tái chiết khấu các giấy tờ có giá của các NHTM Việc ấn định lãi suất cho vay, lãi suất chiết khấu, tái chiết khấu cao hay thấp có tác động đến khả năng cho vay của các NHTM và do đó làm cho khối cung tiền tệ tăng lên hay giảm đi Biện pháp này có ưu điểm các khoản cho vay của NHTW đảm bảo thu được về Việc cho vay gắn liền với yêu cầu phát triển kinh tế, do sự tác động của quy luật cung cầu nhưng có nhược điểm việc vay hay không vay phụ thuộc vào các NHTM

Giới hạn khối lượng tín dụng trên số tiền gửi nhận được

NHTW quy định giới hạn tỷ lệ tín dụng mà các NHTM có thể cung cấp khi nhận được

1 lượng tiền gửi, biện pháp này thường được đi kèm bằng biện pháp quy định tỷ lệ dự trữ ổn định, thông thường NHTW thường quy định tỷ lệ dư nợ tín dụng của các NHTM không được vượt quá bao nhiêu nhiêu lần so với vốn tự có Biện pháp này có ưu điểm quy định được 1 khối lượng tín dụng vừa phải theo yêu cầu phát triển kinh tế có tính đến mối quan hệ giữa tiết kiệm và đầu tư

I.2.2.1 Các công cụ trực tiếp của CSTT

Trang 5

Công cụ trực tiếp là công cụ mà thông qua chúng, ngân hàng trung ương có thể tác động trực tiếp đến các mục tiêu mà không phải qua một biến số trung gian nào khác Các công cụ trực tiếp mà ngân hàng trung ương có thể sử dụng thường là:

Lãi suất tiền gửi

Nếu lãi suất tiền gửi cao sẽ thu hút được nhiều tiền gửi, làm gia tăng nguồn vốn để cho vay Nếu lãi suất thấp, sẽ làm giảm tiền gửi, giảm khả năng mở rộng cung cấp tín dụng của các ngân hàng thương mại và các tổ chức tín dụng

Khi ngân hàng trung ương thay đổi các mức ấn định lãi suất tiền gửi, các NHTM và các tổ chức tín dụng phải tuân thủ các mức ấn định này, từ đó sẽ làm thay đổi khối lượng tiền

tệ, tín dụng trong nền kinh tế Việc thay đổi các mức ấn định lãi suất tiền gửi sẽ có tác động trực tiếp và nhanh chóng đến khối lượng tiền tệ và tín dụng của nền kinh tế, song nhục điểm của biện pháp này là làm cho các tổ chức tín dụng mất đi tính linh hoạt và quyền tự chủ kinh doanh, giảm khả năng cạnh tranh giữa các ngân hàng, dễ dẫn đến tình trạng ứ đọng vốn nhất thời ở ngân hàng nhưng lại thiếu vốn cho đầu tư hoặc có thể khuyến khích dân chúng dùng tiền vào dự trữ ngoại tệ, bất động sản trong khi ngân hàng hụt hẫng về tiền mặt cũng như nguồn vốn cho vay

Khung lãi suất tiền gửi và cho vay hoặc lãi suất cơ bản

Ngân hàng trung ương có thể tác động tới khối lượng tiền cung ứng bằng cách quy định và điều chỉnh khung lãi suất (giới hạn tối đa và tối thiểu) hoặc quy định điều chỉnh lãi suất cơ bản và biên độ dao động

Biện pháp này giúp ngân hàng thương mại được quyền lựa chọn mức lãi suất tiền gửi hoặc lãi suất cho vay phù hợp với điều kiện cụ thể của mình trong giới hạn khung lãi suất hoặc biên độ dao động của lãi suất cho phép để kinh doanh, nâng cao được tính độc lập, tự chủ của mỗi ngân hàng, mỗi tổ chức tín dụng Tuy nhiên, trong kinh tế thị trường, lãi suất rất nhạy cảm với đầu tư, nên nhiều khi khung lãi suất do ngân hàng trung ương quy định cho nên

gò bó, cứng nhắc, không theo kịp những diễn biến của thị trường

I.2.2.2 Ấn định hạn mức tín dụng

Đây là biện pháp ngân hàng trung ương không chế mức cho vay tối đa đối với ngân hàng thương mại và tổ chức tín dụng Trên cơ sở quy mô, tình hình hoạt động cũng như khả năng huy động vốn của từng tổ chức tín dụng, ngân hàng trung ương tiến hành phân chia hạn mức tín dụng cho từng tổ chức tín dụng Đó chính là mức tối đa mà mỗi ngân hàng, mỗi tổ chức tín dụng được phép vay từ ngân hàng trung ương Việc sử dụng biện pháp này tạo cho ngân hàng trung ương dễ dàng đạt được mục tiêu kiểm soát khối lượng tiền cung ứng Tuy nhiên trong nền kinh tế thị trường, với sự biến động thường xuyên của cung và cầu tiền vay, biện pháp này tỏ ra không còn linh hoạt phù hợp với sự biến động của nền kinh tế

Trang 6

Bên cạnh việc quy định hạn mức tín dụng đối với các tổ chức tín dụng, ngân hàng trung ương còn quy định hạn mức tín dụng Đối với nền kinh tế Trong trường hợp này ngân hàng trung ương có thể quy định giới hạn khối lượng tín dụng mà các tổ chức tín dụng được cung cấp cho nền kinh tế Công cụ này được sử dụng để kiểm soát chặt chẽ sự mở rộng tín dụng khi mà ngân hàng trung ương thực hiện chính sách thắt chặt tiền tệ

CHƯƠNG II PHÂN TÍCH VÀ ĐÁNH GIÁ VỀ VIỆC ĐIỀU CHỈNH LÃI SUẤT ĐIỀU HÀNH MÀ NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM ĐÃ ĐƯA RA TRONG BỐI CẢNH DỊCH

BỆNH VIÊM ĐƯỜNG HÔ HẤP CẤP COVID-19 II.1 Tình hình chung kinh tế Việt Nam trong giai đoạn dịch bệnh

Năm 2021, đại dịch Covid-19 tiếp tục diễn biến nguy hiểm và phức tạp với biến chủng Delta, khiến tiến trình phục hồi kinh tế phân hóa rõ rệt giữa các nước phát triển đã phổ quát vắc-xin với các nước đang, kém phát triển có tỷ lệ tiêm vắc-xin mức thấp Quỹ Tiền tệ quốc

tế - IMF (10/2021) dự báo tăng trưởng kinh tế toàn cầu năm 2021 đạt 5,9%, được dẫn dắt bởi các nền kinh tế phát triển như Mỹ, châu Âu Tình trạng đứt gãy chuỗi cung ứng toàn cầu tiếp tục là lực cản, đẩy giá hàng hóa cơ bản (lương thực, thực phẩm, năng lượng) và chi phí sản xuất tăng cao Lạm phát tăng cao kỷ lục tại nhiều nước trong nhiều thập kỷ trở lại đây, trong khi phục hồi kinh tế còn chưa vững chắc Xu hướng thu hẹp nới lỏng CSTT, tăng lãi suất trở thành chủ đạo để ứng phó với nguy cơ lạm phát và rủi ro bất ổn tài chính Tính đến cuối tháng 12/2021, đã có tổng cộng 113 lượt tăng lãi suất trên toàn cầu

Trong nước, đợt bùng phát dịch Covid-19 lần thứ tư tác động nghiêm trọng đến mọi mặt đời sống kinh tế - xã hội; giãn cách xã hội, chuỗi cung ứng đứt gãy, tỷ lệ thất nghiệp gia tăng trong khi nhiều doanh nghiệp thiếu hụt lao động… đã bào mòn sức chống chịu của doanh nghiệp, người dân, tạo gánh nặng lớn lên hệ thống an sinh xã hội Trong bối cảnh đó, mục tiêu bảo vệ sức khỏe Nhân dân được Đảng và Nhà nước ưu tiên trước hết và trên hết; với

sự phối hợp nhịp nhàng của các chính sách kinh tế vĩ mô và an sinh xã hội kịp thời, đồng bộ nên mặc dù bị tác động nghiêm trọng từ đại dịch Covid-19 nhưng tăng trưởng kinh tế năm

2021 vẫn đạt 2,58%, lạm phát được kiểm soát ở mức 1,84%, thấp nhất kể từ năm 2016

II.2 Tìm hiểu chung chính sách NHNN trong giai đoạn Covid-19

Năm 2021 là một năm đầy khó khăn, thách thức do tác động của biến chủng Delta, được đánh giá là nguy hiểm nhất từ khi đại dịch Covid-19 xuất hiện Có thể nói, trong bối cảnh đất nước đối mặt với những thử thách to lớn, thành công của Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIII đã tạo tiền đề vững chắc, dẫn dắt cả hệ thống chính trị đồng lòng, quyết tâm, chung tay đối phó với đại dịch, phát huy truyền thống tốt đẹp của dân tộc về tinh thần đoàn kết, tương thân tương ái trong khó khăn, dịch bệnh Mục tiêu bảo vệ sức khỏe nhân dân được Đảng và Nhà nước đặt lên hàng đầu, yêu cầu sản xuất an toàn, đẩy mạnh thực hiện các biện pháp bảo đảm an sinh xã hội, hỗ trợ doanh nghiệp và người dân ứng phó với các tác động tiêu

Trang 7

cực từ đại dịch Trong điều kiện khó khăn, so với cùng kỳ năm 2020, tổng sản phẩm quốc nội (GDP) 9 tháng đầu năm 2021 chỉ tăng trưởng 1,42%; nhưng kinh tế vĩ mô ổn định, lạm phát

ở mức thấp, bình quân 10 tháng là 1,81%; thị trường tiền tệ, ngoại hối tiếp tục vận hành thông suốt và ổn định

Bám sát các chỉ đạo của Đảng, Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, ngay từ đầu năm, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đã chủ động, quyết liệt, chỉ đạo hệ thống các tổ chức tín dụng (TCTD) triển khai đồng bộ, hiệu quả các giải pháp điều hành chính sách tiền tệ (CSTT), phối hợp chặt chẽ với chính sách tài khóa (CSTK) và các chính sách vĩ mô khác nhằm bảo đảm kiểm soát lạm phát, góp phần ổn định kinh tế vĩ mô, đồng thời triển khai hàng loạt các giải pháp hỗ trợ, tháo gỡ khó khăn, đồng hành với doanh nghiệp và người dân Điều hành CSTT của NHNN phù hợp với xu hướng của nhiều Ngân hàng Trung ương trên thế giới, mặt khác có những đặc điểm riêng phù hợp với đặc thù và tính chất cấp bách của tình hình trong nước, bao gồm những nhóm giải pháp sau đây:

Thứ nhất, bảo đảm thanh khoản trên thị trường tiền tệ, tạo điều kiện để các TCTD tiếp tục giảm lãi suất cho vay, sẵn sàng nguồn vốn hỗ trợ các TCTD đẩy mạnh tín dụng Đại dịch Covid-19 khiến nhiều hoạt động ngưng trệ, di chuyển của người dân bị hạn chế, sản xuất, lưu thông đứt gãy, dòng tiền gián đoạn Giải pháp hỗ trợ thanh khoản được hầu hết các Ngân hàng Trung ương triển khai nhằm hỗ trợ các thị trường vận hành thông suốt, duy trì dòng tiền, hỗ trợ ngân hàng và doanh nghiệp bảo đảm khả năng thanh toán Tương tự, thanh khoản được duy trì dồi dào tại hệ thống các TCTD trên cơ sở NHNN mua lượng lớn ngoại tệ, đưa tiền đồng ra thị trường, đồng thời hằng ngày chào mua giấy tờ có giá trên thị trường mở nhằm phát tín hiệu sẵn sàng hỗ trợ thanh khoản, ổn định thị trường tiền tệ Điều này thể hiện qua việc lãi suất liên ngân hàng - là mức lãi suất vay mượn lẫn nhau kỳ hạn ngắn giữa các TCTD

đã giảm xuống mức rất thấp trong lịch sử, khoảng từ 0,5%/năm đến 0,9%/năm cuối tháng 9, giảm chi phí vốn đầu vào cho TCTD, qua đó tạo điều kiện thuận lợi để các TCTD giảm lãi suất cho vay

Thứ hai, ổn định lãi suất điều hành ở mức thấp, tạo điều kiện để mặt bằng lãi suất cho vay và huy động của TCTD giảm Với đặc điểm của một nền kinh tế đang phát triển, nhu cầu vốn lớn song lại phụ thuộc nhiều vào hệ thống ngân hàng nên việc giảm lãi suất cho vay tại Việt Nam không dễ dàng Để kịp thời tháo gỡ khó khăn của doanh nghiệp và người dân, ngay trong năm 2020 khi dịch bệnh mới xuất hiện, NHNN đã 3 lần giảm lãi suất điều hành với mức giảm từ 1,5%/năm đến 2%/năm và là một trong những Ngân hàng Trung ương giảm lãi suất mạnh nhất khu vực; trong năm 2021, NHNN giữ nguyên các mức lãi suất thấp này, kết hợp với việc duy trì thanh khoản dồi dào trên thị trường tiền tệ Kết quả là, đến cuối tháng

9-2021, lãi suất huy động và cho vay bằng VND bình quân của các TCTD giảm tương ứng khoảng 0,46%/năm và 0,72%/năm so với cuối năm 2020 sau khi đã giảm khoảng 1%/năm trong năm 2020 Lãi suất cho vay bình quân đối với các lĩnh vực ưu tiên theo chủ trương của Chính phủ (gồm lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn; công nghiệp hỗ trợ; doanh nghiệp vừa và nhỏ; xuất khẩu; ứng dụng công nghệ cao) là 4,4%/năm

Thứ ba, bảo đảm cung ứng vốn tín dụng đầy đủ và kịp thời cho nhu cầu sản xuất, kinh doanh trong nền kinh tế, linh hoạt điều chỉnh chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng định hướng đối với các TCTD theo hướng tăng trưởng tín dụng đi đôi với chất lượng Với đặc thù thị trường tài

Trang 8

chính phụ thuộc nhiều vào hệ thống ngân hàng, việc điều hành tín dụng luôn cần có sự hài hòa, hợp lý Tăng trưởng tín dụng quá cao gây rủi ro lạm phát, song tăng trưởng tín dụng quá thấp lại có thể ảnh hưởng đến nguồn vốn cho tăng trưởng kinh tế Trên cơ sở mục tiêu tăng trưởng kinh tế 6,5% và lạm phát khoảng 4% do Quốc hội và Chính phủ đề ra, NHNN đã đưa

ra chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng định hướng 12% trong năm 2021, có điều chỉnh phù hợp với diễn biến tình hình thực tế

Bên cạnh đó, NHNN tiếp tục chỉ đạo các TCTD tăng trưởng tín dụng an toàn, hiệu quả, tập trung tín dụng vào các lĩnh vực sản xuất, lĩnh vực ưu tiên; kiểm soát chặt chẽ tín dụng vào các lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro như bất động sản, chứng khoán, các dự án xây dựng -chuyển giao - vận hành (BOT), dự án xây dựng - vận hành (BT) giao thông; tăng cường quản

lý rủi ro đối với tín dụng tiêu dùng; tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp và người dân tiếp cận vốn tín dụng ngân hàng, góp phần hạn chế tín dụng đen

Trên cơ sở đó, tín dụng tăng trưởng ngay từ đầu năm và cao hơn so cùng kỳ năm 2020, kịp thời đáp ứng nhu cầu của nền kinh tế Đến cuối tháng 10-2021, tín dụng tăng trưởng 8,72% so với cuối năm 2020, tăng 14,29% so với cùng kỳ 2020 (cùng kỳ năm 2020 tăng 6,71% so với cuối năm 2019 và tăng 10,24% so với cùng kỳ 2019) Cơ cấu tín dụng chuyển dịch tích cực theo hướng tập trung vốn cho lĩnh vực sản xuất, kinh doanh, cả 5 lĩnh vực ưu tiên có mức tăng trưởng tín dụng cao hơn mức tăng của cùng kỳ năm 2020, hỗ trợ tích cực quá trình cơ cấu lại ngành nông nghiệp, phát triển thủy sản, công nghiệp hỗ trợ, doanh nghiệp vừa và nhỏ, doanh nghiệp xuất khẩu, doanh nghiệp ứng dụng công nghệ cao Tăng trưởng tín dụng các lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro như bất động sản, chứng khoán, tiêu dùng vẫn trong tầm kiểm soát của NHNN

Thứ tư, ổn định thị trường ngoại tệ Nền kinh tế Việt Nam có độ mở cao (tổng kim ngạch xuất nhập khẩu cuối năm 2020 khoảng 200% GDP), việc điều hành tỷ giá của Việt Nam luôn phải đối mặt với những thách thức đến từ bên ngoài như việc các nước lớn đang dần thu hẹp các gói nới lỏng tiền tệ, đồng USD lên giá Ngay cả đối với thị trường trong nước, yếu tố tâm lý cũng luôn thường trực mỗi khi thị trường tài chính thế giới biến động Trước tình hình đó, công tác điều hành tỷ giá vẫn tiếp tục bảo đảm linh hoạt, bám sát cung cầu thị trường, các cân đối vĩ mô, tiền tệ và mục tiêu CSTT Trong khi xu hướng rút vốn khỏi các nước mới nổi và đang phát triển khiến đồng tiền của nhiều nước trong khu vực mất giá khá lớn so với USD (USD tăng 4,65%, Baht Thái giảm 11,2%, Ringgit Malaysia giảm 2,68%, Đô-la Singapore giảm 1,95%) thì tỷ giá VND/USD tiếp tục ổn định, đến cuối tháng

10, tỷ giá trung tâm tương đương cuối năm trước Thanh khoản thị trường thông suốt, các nhu cầu ngoại tệ hợp pháp được đáp ứng đầy đủ, kịp thời

Thứ năm, triển khai nhiều giải pháp tháo gỡ khó khăn, hỗ trợ khách hàng bị ảnh hưởng bởi đại dịch Covid-19 Ngân hàng nhà nước chỉ đạo các TCTD đồng hành, sát cánh với các doanh nghiệp, người dân thông qua triển khai hàng loạt các giải pháp hỗ trợ khách hàng bị ảnh hưởng bởi đại dịch, liên tục rà soát, chỉnh sửa để các biện pháp hỗ trợ ngày càng thiết thực hơn

II.3 Tìm hiểu chính sách điều chỉnh lãi suất điều hành của NHNN và thực trạng triển khai

Trang 9

Trong bối cảnh đại dịch Covid-19, NHNN đã thực hiện các thay đổi về CSTT nhằm giúp đỡ các NHTM, TCTD, các doanh nghiệp và người dân cùng vượt qua thời kỳ kinh tế khó khăn này NHNN linh hoạt điều hành CSTT và chỉ đạo hệ thống ngân hàng tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp và người dân, duy trì vốn cho sản xuất, góp phần thực hiện chính sách

an sinh xã hội, đảm bảo kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô Các hoạt động được NHNN thực hiện bao gồm:

- Đảm bảo thanh khoản thông suốt trên thị trường tiền tệ, tạo điều kiện để TCTD tiếp tục giảm lãi suất cho vay, hỗ trợ TCTD đẩy mạnh tín dụng đáp ứng đầy đủ, kịp thời nhu cầu vốn của nền kinh tế Điều này thể hiện qua việc lãi suất liên ngân hàng - là mức lãi suất vay mượn lẫn nhau kỳ hạn ngắn giữa các TCTD đã giảm xuống mức rất thấp trong lịch sử, khoảng từ 0,5%/năm đến 0,9%/năm cuối tháng 9, giảm chi phí vốn đầu vào cho TCTD, qua

đó tạo điều kiện thuận lợi để các TCTD giảm lãi suất cho vay

- Duy trì lãi suất điều hành ở mức thấp, tạo điều kiện và định hướng để mặt bằng lãi suất cho vay của TCTD giảm NHNN đã điều chỉnh lãi suất điều hành (một trong những công

cụ thi hành CSTT) 3 lần trong suốt thời kỳ diễn biến của dịch Covid19 với mức giảm 1,5 đến 2%/năm, là một trong những ngân hàng trung ương (NHTW) giảm lãi suất điều hành mạnh nhất khu vực Trong năm 2021, NHNN duy trì các mức lãi suất thấp này, kết hợp điều hành thanh khoản dồi dào trên thị trường tiền tệ Kết quả là, đến cuối tháng 11/2021, lãi suất huy động và cho vay VND bình quân của TCTD giảm tương ứng khoảng 0,51%/năm và 0,81%/năm so với cuối năm 2020 sau khi đã giảm khoảng 1%/năm trong năm 2020 Lãi suất cho vay bình quân đối với các lĩnh vực ưu tiên theo chủ trương của Chính phủ là 4,3%/năm (thấp hơn mức trần quy định là 4,5%/năm) Đặc biệt, NHNN cũng điều chỉnh giảm lãi suất chào mua giấy tờ có giá thông qua nghiệp vụ thị trường mở từ 3,0%/năm xuống 2,5%/năm

- Đảm bảo cung ứng vốn tín dụng đầy đủ và kịp thời cho các nhu cầu sản xuất, kinh doanh của nền kinh tế, linh hoạt điều chỉnh chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng đối với các TCTD, hướng tăng trưởng tín dụng gắn với chất lượng Trên cơ sở mục tiêu tăng trưởng kinh tế 6,5%

và lạm phát khoảng 4% do Quốc hội và Chính phủ đề ra, NHNN đã đưa ra chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng định hướng 12% trong năm 2021, có điều chỉnh phù hợp với diễn biến tình hình thực tế

- Ổn định thị trường ngoại tệ Công tác điều hành tỷ giá vẫn tiếp tục bảo đảm linh hoạt, bám sát cung cầu thị trường, các cân đối vĩ mô, tiền tệ và mục tiêu CSTT

- Triển khai nhiều giải pháp tháo gỡ khó khăn, hỗ trợ khách hàng bị ảnh hưởng bởi dịch Covid-19:

+ Với 2 lần sửa đổi và bổ sung Thông tư cho phép TCTD cơ cấu lại thời hạn trả nợ, miễn, giảm lãi, phí, giữ nguyên nhóm nợ nhằm hỗ trợ khách hàng chịu ảnh hưởng bởi dịch Covid-19 qua đó mở rộng quy mô, phạm vi đối tượng áp dụng các biện pháp hỗ trợ, kéo dài thời gian hỗ trợ đến tháng 6/2022

+ Hỗ trợ người sử dụng lao động trả lương ngừng việc cho người lao động NHNN cho vay tái cấp vốn với lãi suất 0%/năm, không tài sản bảo đảm đối với NHCSXH để cho vay người sử dụng lao động trả lương ngừng việc cho người lao động, khôi phục sản xuất, kinh doanh

Trang 10

+ Tháo gỡ khó khăn cho Tổng công ty Hàng không Việt Nam (Vietnam Airlines -VNA) theo chỉ đạo của Quốc hội thông qua việc NHNN tái cấp vốn 4.000 tỷ đồng để các TCTD cho VNA vay lại nhằm vượt qua giai đoạn khó khăn

+ Tiếp tục thực hiện các chương trình miễn, giảm phí dịch vụ thanh toán cho người dân, doanh nghiệp với tổng số phí dịch vụ thanh toán mà NHNN và Napas giảm để hỗ trợ nền kinh tế trong năm 2021 khoảng 1.557 tỷ đồng

Bên cạnh đó, để tiếp tục tháo gỡ khó khăn cho nền kinh tế, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) quyết định điều chỉnh các mức lãi suất, có hiệu lực từ ngày 01 tháng 10 năm

2020, cụ thể như sau:

1 Quyết định số 1728/QĐ-NHNN ngày 30 tháng 9 năm 2020 về lãi suất tái cấp vốn, lãi suất tái chiết khấu, lãi suất cho vay qua đêm trong thanh toán điện tử liên ngân hàng và cho vay bù đắp thiếu hụt vốn trong thanh toán bù trừ của NHNN đối với các ngân hàng Theo

đó, giảm lãi suất tái cấp vốn từ 4,5%/năm xuống 4,0%/năm; lãi suất tái chiết khấu từ 3,0%/năm xuống 2,5%/năm; lãi suất cho vay qua đêm trong thanh toán điện tử liên ngân hàng

và cho vay bù đắp thiếu hụt vốn trong thanh toán bù trừ của NHNN đối với các ngân hàng từ 5,5%/năm xuống 5,0%/năm

2 Điều chỉnh giảm lãi suất chào mua giấy tờ có giá thông qua nghiệp vụ thị trường mở

từ 3,0%/năm xuống 2,5%/năm

3 Quyết định số 1729/QĐ-NHNN ngày 30 tháng 9 năm 2020 về mức lãi suất tối đa đối với tiền gửi bằng đồng Việt Nam (VND) của tổ chức, cá nhân tại tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài (TCTD) theo quy định tại Thông tư số 07/2014/TT-NHNN ngày

17 tháng 3 năm 2014 Theo đó, lãi suất tối đa áp dụng đối với tiền gửi không kỳ hạn và có kỳ hạn dưới 1 tháng giữ nguyên là 0,2%/năm; lãi suất tối đa áp dụng đối với tiền gửi có kỳ hạn

từ 1 tháng đến dưới 6 tháng giảm từ 4,25%/năm xuống 4,0%/năm; lãi suất tối đa áp dụng đối với tiền gửi có kỳ hạn từ 1 tháng đến dưới 6 tháng tại Quỹ tín dụng nhân dân, Tổ chức tài chính vi mô giảm từ 4,75%/năm xuống 4,5%/năm; lãi suất tiền gửi có kỳ hạn từ 6 tháng trở lên do TCTD ấn định trên cơ sở cung - cầu vốn thị trường

4 Quyết định số 1730/QĐ-NHNN ngày 30 tháng 9 năm 2020 về mức lãi suất cho vay ngắn hạn tối đa bằng VND của TCTD đối với khách hàng vay để đáp ứng nhu cầu vốn phục

vụ một số lĩnh vực, ngành kinh tế theo quy định tại Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30 tháng 12 năm 2016 Theo đó, lãi suất cho vay ngắn hạn tối đa bằng VND của TCTD đối với khách hàng vay để đáp ứng nhu cầu vốn phục vụ một số lĩnh vực, ngành kinh tế giảm từ 5,0%/năm xuống 4,5%/năm; lãi suất cho vay ngắn hạn tối đa bằng VND của Quỹ tín dụng nhân dân và Tổ chức tài chính vi mô đối với các nhu cầu vốn này giảm từ 6,0%/năm xuống 5,5%/năm./

Qua các hành động và biện pháp nêu trên, ta có thể thấy NHNN đã kịp thời chủ động

hỗ trợ và sẻ chia với nền kinh tế của hệ thống ngân hàng trong bối cảnh chung của dịch bệnh Covid-19, khi mà các hệ thống ngân hàng cũng phải đối mặt với nhiều rủi ro như là khả năng trả nợ của các doanh nghiệp các cá nhân và hộ gia đình suy giảm, rủi ro gia tặng nợ xấu,… Với vai trò đứng đầu của ngành ngân hàng, NHNN đã giúp đỡ các NHTM đảm bảo cung cấp vốn đủ và kịp thời phục vụ việc phục hồi kinh tế, duy trì hoạt động của hệ thống ngân hàng

an toàn, ổn định và phát triển bền vững

Ngày đăng: 04/05/2022, 10:01

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w