Phần 1 NHỮNG ĐỊNH HƯỚNG CHUNG VỀ BÀI THI VÀ KĨ NĂNG LÀM BÀI THI MÔN NGỮ VĂN THPT 1 Những định hướng chung về bài thi môn Ngữ văn THPT Trong chương trình giáo dục phổ thông, Ngữ văn là môn học cơ bản, có tính bắt buộc đối với quá trình đào tạo Mục đích của việc dạy môn học này chính là bồi đắp và tạo ra những con người toàn diện về đức, trí, thể, mĩ và cả sự sáng tạo riêng của mỗi cá nhân người học Theo đó, cùng với đặc trưng cơ bản của vòng tròn giáo dục, việc kiểm tra đánh giá môn Ngữ văn chính.
Trang 1Phần 1 NHỮNG ĐỊNH HƯỚNG CHUNG VỀ BÀI THI VÀ KĨ NĂNG
LÀM BÀI THI MÔN NGỮ VĂN THPT
1 Những định hướng chung về bài thi môn Ngữ văn THPT
Trong chương trình giáo dục phổ thông, Ngữ văn là môn học cơ bản, cótính bắt buộc đối với quá trình đào tạo Mục đích của việc dạy môn học nàychính là bồi đắp và tạo ra những con người toàn diện về đức, trí, thể, mĩ và cả
sự sáng tạo riêng của mỗi cá nhân người học Theo đó, cùng với đặc trưng cơbản của vòng tròn giáo dục, việc kiểm tra đánh giá môn Ngữ văn chính làhoạt động không thể thiếu trong quá trình giáo dục bậc THPT
Bài thi môn Ngữ văn được triển khai trong kì thi THPT quốc gia nhằmmục đích đánh giá kết quả học tập của học sinh khi học tập môn học này Tuynhiên, việc đánh giá năng lực nhận thức Ngữ văn của học sinh khi học mônNgữ văn, Bộ Giáo dục xác định kiểm tra những kiến thức sâu và rộng hơn, cógắn với những thay đổi trong quan niệm giáo dục hiện đại, gắn với cách đánhgiá những năng lực đặc trưng cơ bản của môn Ngữ văn của thế giới Cũng bởithế, trong vài năm gần đây, đề thi môn Ngữ văn được cấu trúc thành hai phần:
I Đọc hiểu: đây là phần được thiết kế nhằm kiểm tra năng lực đọc và
tiếp nhận, thông hiểu nội dung của văn bản Trong phần này, thí sinh dựa vàomột văn bản ngắn/ một trích đoạn của một văn bản và thực hiện tìm phương
án cho các câu hỏi có liên quan tới nội dung của ngữ liệu được chọn Phầnnày trong đề thi cũng là phần thể hiện nhiều sự kiểm định kiến thức tổng hợpcủa học sinh (với Làm văn, với Tiếng Việt, với giáo dục công dân, lịch sử và
cả thực tiễn cuộc sống) Trong phần thi này, mức độ đánh giá năng lực họcsinh được tập trung ở các mức độ: nhận biết, thông hiểu và vận dụng bậc thấp.Các câu hỏi được thiết kế trong phần thi này cũng gắn với nhiều dạng câu hỏitrong kiểm tra đánh giá năng lực đọc hiểu của thế giới (thi đọc hiểu theoPISA)
II Làm văn: Đây là phần được xác định là trọng tâm của đề thi, chiếm
70% kiến thức, kĩ năng, thái độ của học sinh khi học và thể hiện trong bài làmcủa các em Phần này hướng tới mục đích đánh giá năng lực tạo lập văn bảncủa học sinh Trong đó, khi đánh giá khả năng tạo lập văn bản, gắn với yêucầu đặt môn Ngữ văn vào thực tiễn cuộc sống nên phần thi này lại cấu thànhthành hai mảng:
Kiểm tra đánh giá năng lực sản sinh văn bản của học sinh khi trình bàynhững vấn đề gắn liền với thực tế cuộc sống trong phần Nghị luận xã hội.Phần này vừa là kiểm tra kiến thức, kĩ năng tạo lập một kiểu văn bản mà các
em được học trong suốt từ THCS tới THPT, vừa kiểm định những hiểu biết
và khả năng mở rộng của các em từ sách vở vào thực tế cuộc sống Để việcđánh giá kiến thức, kĩ năng được liên tục, gần đây, nội dung thi Nghị luận xã
Trang 2hội thường gắn luôn với một câu, một quan niệm, một thái độ nào đó đượcbộc lộ trong chính ngữ liệu được thể hiện ở phần thi Đọc hiểu.
Một nội dung chiếm nhiều quỹ điểm nhất trong bài thi môn Ngữ vănchính là phần Nghị luận văn học (50% số điểm của bài thi) Để giảm bớt áplực thi cử cho học sinh; để có thể đánh giá được sát, chuẩn mức độ tiếp nhậntri thức của các em, nội dung thi tập trung vào các văn bản được xác định làtrọng tâm của môn học này trong hai khối lớp 11 và 12, trong đó những kiếnthức được học ở lớp 12 sẽ được sử dụng đánh giá là chính Mục đích của phầnthi Nghị luận văn học này hướng tới việc đánh giá khả năng nhận thức củahọc sinh khi học các văn bản trong chương trình Đồng thời với đó là việcđánh giá năng lực tạo lập văn bản nghị luận và đánh giá tư duy của người học.Việc đánh giá năng lực tư duy của học sinh được thể hiện qua việc xây dựngdạng đề so sánh – tổng hợp Dạng đề này đòi hỏi người học không chỉ nắmđược kiến thức mà nó còn người thực hiện phải biết phân tích, so sánh, chứngminh, tổng hợp, thể hiện thái độ của bản thân mình, liên hệ với cuộc sống hiệntại, với bản thân Quá trình đó, học sinh thể hiện được năng lực tư duy của bản thânmình Tuy nhiên, trong một khoảng thời gian thi không nhiều (120 phút), học sinhthực hiện tất cả các nhiệm vụ trên là không hề đơn giản Theo đó, trong cuốn sáchnày, chúng tôi muốn định hướng kĩ năng thực hiện dạng đề tổng hợp này để các embiết điều chỉnh lượng thời gian và nắm được cách thức đánh giá bài thi này
2 Cấu trúc đề thi và cách chấm đánh giá bài thi
Cấu trúc đề thi và cách chấm đánh giá bài thi
2.1 Cấu trúc đề thi
Đề thi môn Ngữ Văn, kì thi THPT quốc gia tập trung thành hai mảng kiếnthức và kĩ năng cơ bản sau:
Trang 3I ĐỌC HIỂU (3,0 điểm): Phần này cho ngữ liệu (phần nhiều là những
ngữ liệu bên ngoài sách giáo khoa), và đưa ra những câu hỏi nhằm yêu cầuhọc sinh các yêu cầu để đánh giả khả năng đọc và hiểu văn bản Hệ thống câuhỏi cho phần này thường từ 03 đến 05 câu, chủ yếu ở các mức độ: nhận biết(một số kiến thức về Văn, Tiếng Việt và Làm văn); thông hiểu (ý nghĩa của
từ, câu, đoạn, văn bản); vận dụng thấp (thể hiện thái độ của bản thân với mộtchi tiết, một câu hay một quan điểm nào đó có trong văn bản)
II LÀM VĂN (7,0 điểm): phần này gồm hai nhiệm vụ tách biệt:
- Kiểm tra đánh giá năng lực tạo lập văn bản nghị luận xã hội Phần này
chiếm 2, 0 điểm
- Kiểm tra đánh giá năng lực tạo lập văn bản nghị luận văn học Phần này
chiếm 5,0 điểm
2.2 Cách đánh giá bài thi
Theo đó, thang đánh giá cho môn Ngữ văn được tường minh qua cácmức độ đánh giá như sau:
Phần I Đọc hiểu: các loại văn bản được lựa chọn: văn bản văn học;
văn bản nhật dụng (các văn bản nghị luận xã hội, văn bản chính luận, văn bảnthuyết minh ) Như vậy, đối với phần này, thí sinh thực hiện không quá 06câu hỏi ngắn Thời gian thực hiện cho phần này khoảng 20 phút
Các mức độ đánh giá:
* Nhận biết: chiếm 10% số lượng điểm, khoảng từ 01 - 02 câu hỏi, và
được đánh giá qua các phương diện:
- Nêu được những thông tin chính/ khái quát về nội dung văn bản
- Chỉ ra được thể loại, phương thức biểu đạt, gọi tên được biện pháp tu từ, thểloại,
* Thông hiểu: cũng chiếm 10% số lượng điểm, khoảng từ 01 - 02 câu hỏi và
đánh giá thí sinh dựa vào:
- Giải thích ý nghĩa của một từ, một chi tiết, một câu hay nhan đề của văn bản;
- Hiểu ý nghĩa/tác dụng của chi tiết, biện pháp tu từ trong văn bản
Trang 4- Hiểu và thể hiện được quan điểm về nội dung cơ bản của văn bản.
* Vận dụng: được đánh giá chủ yếu ở mức độ thấp, chiếm khoảng 10%
số lượng nội dung đánh giá và căn cứ đánh giá cho mức độ này là: giải quyết,thể hiện thái độ của bản thân đối với một vấn đề hoặc tình huống trong vănbản bằng cách gắn vấn đề đó vào thực tiễn cuộc sống, thực tiễn hiểu biết củabản thân trên cơ sở những thông tin đã tiếp nhận được từ văn bản
Theo các mức độ đó, tổng số câu cho phần đọc hiểu có thể dao động từ
3 – 5 câu, chiếm 30% tổng số điểm của toàn bài
Phần II Làm văn: được chia thành 02 yêu cầu cụ thể với các mức độ
đánh giá học sinh:
Đối với Nghị luận xã hội, có một yêu cầu thực hiện theo nội dung và
các mức độ đánh giá sau:
* Nhận biết: Nhận biết được vấn đề xã hội cần bàn luận thuộc hiện
tượng xã hội hay tư tưởng đạo lí Mức độ này chiếm 2,5 % tỉ lệ kiến thức, kĩnăng của câu tương ứng với mức đánh giá là 0,25 điểm
* Thông hiểu:Hiểu và giải thích được bản chất vấn đề cần bàn luận Mức độnày cũng chiếm 2,5 % tỉ lệ kiến thức, kĩ năng của câu tương ứng với mức đánh giá là0,25 điểm
* Vận dụng: Vận dụng hiểu biết xã hội và kĩ năng tạo lập văn bản đểviết bài nghị luận xã hội về một tư tưởng đạo lí, một hiện tượng đời sống.Mức độ này chiếm 15 % tỉ lệ kiến thức, kĩ năng của câu tương ứng với mức đánhgiá là 1,5 điểm
* Đối với Nghị luận văn học: là bài chiếm phân nửa số điểm toàn bài Nội
dung của phần này hướng tới mục đích là đánh giá khả năng vận dụng (tích hợp) kiếnthức, kĩ năng được học về đọc hiểu văn bản trong chương trình vào giải quyết các bàilàm văn theo những yêu cầu cụ thể, đồng thời đánh giá năng lực tư duy như phântích, chứng minh, lấy ví dụ, khái quát, tổng hợp và so sánh của học sinh Cũng vìthế, với phần thi này, đề thi thường được thể hiện theo những dạng thức khác nhau.Mức đánh giá cho phần thi này là:
* Nhận biết: nêu được những thông tin về tác giả, tác phẩm, hoàn cảnhsáng tác, đề tài của các tác phẩm Mức độ này chiếm 5 % tỉ lệ kiến thức, kĩnăng của câu tương ứng với mức đánh giá là 0,5 điểm
* Thông hiểu:Mức độ này cũng chiếm 5 % tỉ lệ kiến thức, kĩ năng của
câu tương ứng với mức đánh giá là 0,5 điểm và đánh giá ở các mức độ:
- Hiểu và giải thích được ý nghĩa tác phẩm/ chi tiết
Trang 5- Biết giải thích, đánh giá được sự tương đồng, khác biệt về nội dung,hình tượng nghệ thuật, ý nghĩa chi tiết trong tác phẩm.
* Vận dụng: đánh giá ở 2 mức độ là vận dụng thấp và vận dụng cao,trong đó đặc biệt chú trọng tới mức độ vận dụng bậc cao Theo đó, tỉ trọng
điểm cho phần này là 40%, tương ứng với 4,0 điểm cho phần thi này Căn cứ
đánh giá học sinh ở phần thi này là:
Vận dụng kiến thức đọc hiểu và kĩ năng tạo lập văn bản để viết bài nghịluận văn học về một trích đoạn, một tác phẩm, một vấn đề văn học
Với nội dung đánh giá phần Làm văn, dù là nghị luận xã hội hay nghịluận văn học, học sinh cần hướng tới các yêu cầu dưới đây:
1 Giới thiệu được nội dung vấn đề (giới thiệu được tác giả/ tác phẩm/hoàn cảnh sáng tác của văn bản): 0,25 – 0,5 điểm
2 Giải thích được vấn đề cần trình bày: 0,25 – 0,5 điểm
3 Phân tích, chứng minh, bình luận vấn đề: 0,5 – 1,5 điểm
4 Bình luận, đánh giá vấn đề: : 0,5 – 1,5 điểm
5 Liên hệ bản thân/ bài học thực tế: 0,25 – 0,5 điểm
6 Tổng hợp lại vấn đề: 0,25 – 0,5 điểm
3 Một số kiến thức chung trong phần Đọc hiểu
Đọc hiểu là phần có nhiệm vụ kiểm tra năng lực tiếp nhận, lí giải thông tin vàhiểu được nội dung của một ngữ liệu cụ thể và trên cơ sở đó, thí sinh thể hiện đượckhả năng nhận thức, thông hiểu và sự vận dụng kiến thức, kĩ năng ở mức độ thấp củabản thân mình Việc đánh giá năng lực đọc hiểu của thí sinh được đánh giá theo cácphương diện sau:
Thứ nhất, thí sinh đọc và hiểu được những nội dung ngữ nghĩa của văn bản:hiểu được nghĩa của từ ngữ và các tầng nghĩa của từ ngữ, cấu trúc câu, cấu trúc củavăn bản Xác định được mục đích tạo văn bản và phương thức biểu đạt của văn bảnđó
Thí sinh đọc, nhận biết và thông hiểu được các ý chính và chi tiết trongvăn bản (hiểu ý nghĩa của chi tiết; có thể giải thích nội dung ý nghĩa của chitiết; rút ra thông tin mới, nhận biết được ý chính; tóm tắt văn bản; đối chiếuthông tin; hiểu quan điểm tác giả biết đưa ra và lí giải nội dung của chi tiết,của văn bản)
Thí sinh biết kết nối văn bản với kiến thức chung để suy luận và rút rathông tin từ văn bản Từ những vấn đề được nêu trong ngữ liệu, thí sinh biếtlựa chọn, phản hồi và đánh giá về thông tin trong văn bản (xác nhận tính đúng
Trang 6đắn, phù hợp của thông tin, quan điểm tác giả; rút ra bài học cho bản thân,phân tích sự phù hợp của văn bản với các bối cảnh và các độc giả khác nhau).
Thí sinh biết vận dụng những kiến thức đã học trong môn Ngữ văn và
các môn học khác để giải quyết vấn đề: nêu được ý kiến, biện pháp giải quyếtmột hoặc một số vấn đề trong những tình huống tương tự hoặc trong tìnhhuống khác với tình huống ở văn bản; giải thích lí do đề xuất ý kiến và biệnpháp của bản thân
Trong quá trình đọc hiểu văn bản, thí sinh cần lưu ý tới một số kiếnthức cần nhận biết như sau:
3.1 Các phong cách ngôn ngữ
Việc nhận diện của các loại phong cách phải gắn liền với thể loại vănbản, phạm vi sử dụng của các ngữ liệu được trích dẫn Theo đó, khi xác địnhphong cách ngôn ngữ trong những ngữ liệu, học sinh phải bám sát văn bản,thể loại và phạm vi sử dụng của văn bản đó
3.1.1 Phong cách ngôn ngữ nghệ thuật: là phong cách ngôn ngữ được
sử dụng chủ yếu trong tác phẩm văn chương Nó được thể hiện rõ qua các đặctrưng: tính hình tượng, tính truyền cảm và tính cá thể hóa Là phong cáchngôn ngữ dễ được nhận biết trong đề thi Phong cách ngôn ngữ này được biểuhiện qua các đặc trưng cơ bản là tạo nên hình tượng nghệ thuật, tạo tính đanghĩa trong tác phẩm, thể hiện, khơi gợi và truyền cảm xúc, thái độ, tình cảm
và tính riêng trong mỗi phong cách nghệ sĩ (tính cá thể hóa)
3.1.2 Phong cách ngôn ngữ chính luận: được sử dụng chủ yếu trong
những văn bản chính luận (bàn luận về chính trị, đời sống xã hội) Nó thường gắnvới những văn bản như: xã luận, bình luận thời sự, tuyên ngôn, hịch, cáo, chiếu biểuthông cáo Đây cũng là phong cách ngôn ngữ dễ được hỏi, nói được sử dụng trongnhững ngữ liệu là những văn bản nghị luận về một vấn đề nào đó của đời sống xãhội Điểm nổi bật của phong cách ngôn ngữ này là nó thường sử dụng nhiều từ ngữchính trị, các câu thường là có kết cấu chuẩn mực, câu sau nối tiếp câu trước theomạch suy luận
3.1.3 Phong cách ngôn ngữ sinh hoạt: Lời ăn tiếng nói trong hoạt động
giao tiếp hàng ngày của con người Trong ngữ liệu cụ thể, phong cách nàythường là lời đối thoại giữa các nhân vật (lời nói tái hiện) được người nghệ sĩtạo ra nhằm dụng ý riêng của bản thân Biểu hiện cơ bản của phong cách ngônngữ này là sử dụng nhiều từ ngữ tự nhiên, từ ngữ hô gọi, tình thái từ, câurườm rà, câu tỉnh lược
3.1.4 Phong cách ngôn ngữ báo chí: dùng chủ yếu trong văn bản báo
chí Nếu được thể hiện, thường gắn với một số thể loại như: bản tin, phóng sự,tiểu phẩm hài, xã luận, bình luận thời sự, thông cáo báo chí Khi chọn ngữliệu trong phần đọc hiểu là những văn bản báo chí, các ngữ liệu được chọn
Trang 7lựa thường là những bản phóng sự, xã luận, bình luận thời sự (vì những kiểuvăn bản này ít nhiều gắn với kiểu văn bản nghị luận xã hội).
3.1.5 Phong cách ngôn ngữ khoa học: dùng trong những văn bản khoa
học Thường là những văn bản bàn về vấn đề nào đó thuộc khoa học (kiểungữ liệu này ít được lựa chọn trong đề thi vì văn bản khoa học thường gắn vớinhững tri thức khoa học, và biên độ nhận thức về nó khá khái quát và rộnglớn)
3.1.6 Phong cách ngôn ngữ hành chính công vụ: Dùng trong những
văn bản hành chính (kiểu ngữ liệu này cũng ít được lựa chọn trong đề thi dođặc trưng thông tin được truyền tải trong kiểu văn bản này thường gắn vớinhững nguyện vọng, đề đạt hay nhu cầu phải giải quyết trong cuộc sống)
3.2 Các phương thức biểu đạt
Thí sinh cần nhớ tới 06 phương thức biểu đạt chính bao gồm: tự sự,miêu tả, biểu cảm, thuyết minh, nghị luận và hành chính công vụ Học sinhcần lưu ý một điều là: một văn bản bao giờ cũng gắn liền với một phươngthức biểu đạt chính Bên cạnh đó, mỗi văn bản lại có thể có sự kết hợp giữaphương thức biểu đạt chính với các yếu tố lập luận khác như tự sự và miêu tả,thuyết minh và biểu cảm… nhằm làm nổi bật tính hấp dẫn cho văn bản Việcxác định phương thức biểu đạt phải gắn liền với nhiệm vụ xác định mục đíchcủa việc trình bày văn bản đó Trong đề thi, thí sinh chú ý tới các phươngthức biểu đạt sau (sắp xếp theo trật tự thường được hỏi cho tới ít khi được hỏitrong đề thi):
3.2.1 Phương thức tự sự: bản chất của phương thức này là thuật, kể lại
chuỗi các sự việc, sự kiện theo diễn biến nhất định) có quan hệ nhân quả dẫnđến kết quả Phương thức này có thể được thể hiện qua một số kiểu văn bảnnhư: bản tin, bản tường thuật lại một sự kiện, văn bản văn học (kể lại một kỉniệm, cuộc đời một nhân vật )
3.2.2 Phương thức miêu tả: xuất hiện nhiều trong văn bản văn học (tự
sự, trữ tình ), một số văn bản nghị luận xã hội (về một hiện tượng đời sống),văn bản thuyết minh (danh lam thắng cảnh, danh nhân văn hóa, một dự án,một sản phẩm ) Mục đích của phương thức này là tái hiện các tính chất,thuộc tính sự vật, hiện tượng, giúp con người có thể hiểu hơn và như nhìnthấy được chúng
3.2.3 Phương thức biểu cảm: được thể hiện nhằm bày tỏ thái độ, tình
cảm, cảm xúc của con người trước những vấn đề tự nhiên, xã hội, sự vật Nóđược sử dụng nhiều trong văn bản văn học
3.2.4 Phương thức nghị luận: được thực hiện nhằm bàn luận, trình bày
ý kiến đánhgiá, tư tưởng, chủ trương quan điểm của con người đối với tựnhiên, xã hội, qua các luận điểm, luận cứ để từ đó thuyết phục người tiếp
Trang 8nhận Được sử dụng trong một số thể loại văn bản là: văn bản nghị luận, vănbản chính luận, xã luận, bình luận thời sự
3.2.5 Phương thức thuyết minh: bản chất của phương thức biểu đạt này là người viết trình bày thuộc tính, cấu tạo, nguyên nhân, kết quả có ích
hoặc có hại nhằm giới thiệu, làm sáng tỏ về sự vật hiện tượng, để người đọc
có tri thức và có thái độ đúng đắn với chúng Phương thức biểu đạt này xuấthiện trong những văn bản được viết nhằm thuyết minh sản phẩm; giới thiệu ditích, thắng cảnh, danh nhân văn hóa
3.3 Các thao tác lập luận
Trong một văn bản người viết thường kết hợp nhiều thao tác lập luậnvới nhau nhằm tạo sự hấp dẫn cho nội dung bàn luận Tuy nhiên, khi kết hợpcác thao tác lập luận thì vẫn bắt đầu từ một thao tác chính Để học sinh dễnhận biết các thao tác lập luận trong văn bản, các em cần chú ý tới những thaotác lập luận đã được học dưới đây:
3.3.1.Thao tác lập luận giải thích: là cách người viết vận dụng tri thức
để lý giải, nhằm giúp người tiếp nhận có thể hiểu vấn đề nghị luận một cách
rõ ràng và giúp người khác hiểu đúng ý của mình
3.3.2 Thao tác lập luận chứng minh: bản chất của thao tác lập luận này
là đưa ra những cứ liệu – dẫn chứng xác đáng để làm sáng tỏ một lí lẽ một ýkiến để khẳng định tính đúng đắn, và từ đó thuyết phục người đọc người nghetin tưởng vào vấn đề
3.3.3 Thao tác lập luận phân tích: là thao tác lập luận được người viết
sử dụng nhằm dẫn dắt người tiếp nhận hiểu hơn từng đặc điểm, từng biểu hiệnthông qua việc chia nhỏ đối tượng thành những phần khác nhau, qua đó cócách nhìn chính xác, khách quan đối với của nội dung được bàn luận Nhờ cóphân tích, người tạo lập thể hiện cách thức tiếp cận đối tượng, rút ra nhữnghiểu biết của bản thân và dẫn dắt người tiếp nhận đi đến các phán đoán, kếtluận khoa học, và nhận thức đúng nội dung nghị luận
3.3.4 Thao tác lập luận so sánh: trong văn bản nghị luận, so sánh là
một thao tác lập luận được người tạo lập dùng để tìm ra sự giống nhau hoặckhác nhau giữa các đối tượng, và qua sự so sánh ấy để dẫn dắt người tiếpnhận đi đến một ý kiến, nhận định nào đấy đối với nội dung được bàn luận
3.3.5 Thao tác lập luận bình luận: là thao tác lập luận giúp người viết,thể hiện rõ tư tưởng, tình cảm, thái độ của mình đối với bản thân nội dungluận bàn thông qua lý lẽ, dẫn chứng cụ thể
3.3.6 Thao tác lập luận bác bỏ: bản chất của thao tác lập luận này là
cách người viết tổ chức lập luận nhằm phủ nhận một ý kiến, một kết luận bằng cáchdùng lý lẽ, dẫn chứng để chỉ ra một cách rõ ràng, tường tận, thấu đáo những sự vô lý,
Trang 9sai lầm của nó Nó thực chất là cách người tạo lập thực hiện các động tác phủ địnhnhằm thể hiện nhận thức, thái độ của bản thân đối với nội dung được nghị bàn.
3.4 Các biện pháp tu từ
Trong đề thi, học sinh nhiều khi cũng gặp câu hỏi yêu cầu về các biệnpháp tu từ hoặc viết một câu, một đoạn ngắn để phân tích hiệu quả của biệnpháp tu từ ấy Các biện pháp tu từ được sử dụng nhiều trong một số loại vănbản như: văn bản văn học, văn bản chính luận, phóng sự, bút kí Chính vì thếcác em phải nhớ được hiệu quả nghệ thuật mang tính đặc trưng của từng biệnpháp Với yêu cầu kiến thức này, các em cần nhớ:
3.4.1 So sánh: thường được thể hiện qua cấu trúc so sánh (A như B; A
là B; A bằng B; A tựa như B ) Việc sử dụng biện pháp tu từ này nhằm tạohình ảnh cho đối tượng, tạo sự sinh động, hấp dẫn, tác động đến trí tưởngtượng, gợi hình dung và cảm xúc Ví dụ: theo cấu trúc: A như B
Miệng cười như thể hoa ngâu
3.4.2 Nhân hóa: Làm cho đối tượng có hành động, đặc điểm, tính chất,
tâm trạng và có hồn gần với con người và từ đó, tạo sự mới lạ độc đáo, khiến
sự vật hiện ra sinh động, gần gũi Chẳng hạn trong câu:
Mưa cũng làm nũng mẹ
Vừa khóc xong đã cười.
(Tô Đông Hải)Mưa được nhân hóa, giống như trẻ thơ, có những đặc trưng của trẻ thơ(làm nũng, khóc, cười)
3.4.3 Ẩn dụ tu từ: là biện pháp tu từ được thực hiện trên cơ sở liên tưởng
tương đồng, nói sự vật này nhưng lại hiểu và nghĩ tới sự vật khác Nhờ cách diễn đạtmang tính hàm súc, cô đọng, giá trị biểu đạt cao, gợi những liên tưởng ý nhị, sâu sắc
Ví dụ, cách so sánh em bé - với mặt trời của mẹ tạo ra một cảm nhận về tình mẫu tửthiêng liêng, sâu sắc của người mẹ Tây Nguyên:
Mặt trời của bắp thì nằm lưng đồi
Mặt trời của mẹ, em nằm trên lưng.
(Nguyễn Khoa Điềm)
3.4.4 Hoán dụ tu từ: được thực hiện trên cơ sở liên tưởng tương cận, nói tới
sự vật này nhưng lại ngầm biểu thị tới những đối tượng, sự vật khác nhằm tạo sựsinh động cho nội dung được thông báo và gợi những liên tưởng ý vị, sâu sắc
Trang 10Chẳng hạn, áo chàm trong câu thơ sau được dùng để biểu thị cho người dânViệt Bắc:
Áo chàm đưa buổi phân li
Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay
(Tố Hữu)
3.4.5 Biện pháp điệp tu từ: (gồm nhiều loại như: điệp từ/ điệpngữ/ điệp
cấu trúc) Được sử dụng với mục đích nhấn mạnh, làm nổi bật hoặc tạo điểm
ấn tượng cho đối tượng được thông báo, từ đó tăng giá trị biểu cảm, tạo âmhưởng nhịp điệu cho câu văn, câu thơ Ví dụ:
Ai có súng, dùng súng Ai có gươm, dùng gươm Không có súng, gươm
thì dùng cuốc thuổng gậy gộc (lặp từ, lặp cấu trúc)
(Hồ Chí Minh)
3.4.6 Biện pháp nói giảm, nói tránh: là biện pháp tu từ mà ở đó người
viết sử dụng các từ, ngữ, các câu có sắc thái ý nghĩa dung hòa, nhẹ nhàng
nhằm mục đích làm giảm nhẹ đi ý muốn thông báo, đồng thời qua đó thể hiện
sự trân trọng đối với đối tượng được nói tới Ví dụ:
Bác đã đi rồi sao Bác ơi?
(Tố Hữu)
3.4.7 Biện pháp thậm xưng (ngoa dụ): là biện pháp tu từ có biểu hiện
ngược chiều so với nói giảm Đó là biện pháp tu từ mà ở đó người viết sửdụng các từ ngữ có sắc thái làm quá nhằm tô đậm, phóng đại về đối tượng
3.4.8 Câu hỏi tu từ: là biện pháp tu từ mà ở đó người viết sử dụng hình thức
câu hỏi nhằm bộc lộ một suy nghĩ, tâm trạng hay gửi gắm một thông điệp ngầm nào
đó của bản thân Khi sử dụng câu hỏi tu từ, người viết chỉ nêu câu hỏi mà không cần
có câu trả lời như câu hỏi thông thường Ví dụ:
Sao anh không về chơi thôn Vĩ?
(Hàn Mặc Tử) 3.4.9 Đảo ngữ: là biện pháp tu từ mà ở đó người viết đảo trật tự của
các thành phần câu nhằm dụng ý nhấn mạnh vào một thông điệp nào đó Phầnđược đảo lên chính là phần được nhấn mạnh hoặc gây ấn tượng Ví dụ:
Rất đẹp hình anh, lúc nắng chiều
(Tố Hữu)
Trang 113.4.10 Đối: là biện pháp sử dụng nhiều trong thơ, nhất là thơ trung đại bản
chất của biện pháp này là người viết tạo ra sự đối lập giữa các từ, các câu nhằm tạo
sự cân đối, hài hòa, tạo nhịp điệu, nhấn mạnh ý, gợi hình ảnh sinh động, tạonhịp điệu cho lời nói, cho văn bản
Lom khom dưới núi, tiều vài chú Lác đác bên sông, chợ mấy nhà.
(Bà Huyện Thanh Quan)
3.4.11 Im lặng: là biện pháp tu từ mà ở đó người viết thực hiện sự im
lặng giữa những nội dung nhằm tạo điểm nhấn, gợi sự lắng đọng cảm xúc.Biện pháp này được sử dụng nhiều trong các văn bản văn xuôi với hình thức
là dùng dấu “ ” ở giữa như hình thức ngắt, nghỉ trong khi nói
3.4.12 Liệt kê: là biện pháp tu từ mà ở đó người viết sử dụng những từ
ngữ nhằm dụng ý kể, thuật hay nêu một loạt các sự vật, hiện tượng có liênquan tới vấn đề được trình bày
3.5 Các phép liên kết (liên kết các câu trong văn bản)
Một văn bản bao giờ cũng có sự thống nhất với nhau về mặt nội dung
Và hình thức thể hiện sự liên kết đó chính là việc sử dụng các phép liên kết.Theo đó, xác định các phép liên kết trong văn bản cũng có thể được hỏi, theo câu hỏi
ở phần nhận biết hoặc thông hiểu Khi xác định các phép liên kết câu trong văn bản,học sinh cần dựa vào đặc điểm và tác dụng của các phép liên kết theo sự khái quátdưới đây:
3.5.1 Phép lặp từ ngữ: là phép liên kết mà ở đó người viết sử dụng lặp
đi lặp lại các từ ngữ trong nhiều câu nhằm nhấn mạnh đối tượng được trìnhbày trong đoạn, trong văn bản Ví dụ:
Tre giữ làng Tre giữ nước, giữ mái nhà tranh, giữ đồng lúa chín.
(Thép Mới)
Các từ “tre, giữ”, được lặp lại nhằm nhấn mạnh giá trị của cây tre đối
với người dân Việt Nam
3.5.2 Phép liên tưởng (đồng nghĩa / trái nghĩa): là phép liên kết mà ở
đó người viết sử những từ ngữ đồng nghĩa/ trái nghĩa hoặc cùng trường liêntưởng với từ ngữ đã có ở câu trước để tạo hình ảnh hoặc cách diễn đạt sángtạo, tránh sự trùng lặp Ví dụ:
Một chiếc mũ len đỏ nếu chị sinh con gái Chiếc mũ sẽ màu xanh nếu chị đẻ con trai
Các từ “sinh, đẻ” là các từ đồng nghĩa, được dùng để biểu thị một nội
dung thông tin về chuyện sinh nở của người phụ nữ
Trang 123.5.3 Phép thế: Phép thế là cách thay những từ ngữ nhất định bằng
những từ ngữ có ý nghĩa tương đương (cùng chỉ sự vật ban đầu, còn gọi là cótính chất đồng chiếu) nhằm tạo tính liên kết giữa các phần văn bản chứachúng Phép liên kết này thường được sử dụng ở câu đứng sau các từ ngữ cótác dụng thay thế các từ ngữ đã có ở câu trước Dùng phép thế không chỉ cótác dụng tránh lặp đơn điệu, mà còn có tác dụng tu từ nếu chọn được những từngữ thích hợp cho từng trường hợp dùng Chẳng hạn:
Đến cuối chợ đã thấy lũ trẻ đang quây quần chơi nghịch Chúng nó thấy chị em Sơn đến để lộ vẻ vui mừng, nhưng chúng vẫn đứng xa, không
dám vồ vập.
(Thạch Lam)
3.5.4 Phép nối: là cách dùng những từ ngữ sẵn mang ý nghĩa chỉ quan
hệ (kể cả những từ ngữ chỉ quan hệ cú pháp bên trong câu), và chỉ các quan
hệ cú pháp khác trong câu, vào mục đích liên kết các phần trong văn bản (từcâu trở lên) lại với nhau Nó thường được sử dụng ở câu sau các từ ngữ biểuthị quan hệ (nối kết)với câu trước nhằm tạo sự liên kết chặt chẽ giữa các câutrong văn bản hoặc nhấn mạnh nội dung thông tin được đề cập trong đoạnvăn Ví dụ:
Ông có xe hơi, có nhà lầu, lại có cả trang trại ở nhà quê nữa Vậy thì
chính là người giàu đứt đi rồi
(Nguyễn Công Hoan)
3.5.5 Phép tỉnh lược: là cách lược bỏ một số thành phần của câu sau để
làm cho câu gọn hơn, vừa thông tin được nhanh hơn
3.6 Các thể thơ
Các thể thơ thường được thực hiện theo những quy định cụ thể về sốlượng tiếng, về số câu, về cách ngắt nhịp Theo chương trình Ngữ văn, các emđược trang bị những thể thơ cơ bản sau: lục bát, song thất lục bát, hát nói; ngũngôn, thất ngôn; năm tiếng, bảy tiếng, tám tiếng, hỗn hợp, tự do, thơ - vănxuôi,… Dựa vào hình thức của văn bản được nêu trong phần đọc hiểu, dựavào đặc điểm của từng thể thơ để xác định được thể thơ cho văn bản
3.7 Các kiểu câu
3.7.1 Câu phân loại theo mục đích nói
Trang 13Là các kiểu câu được sử dụng nhằm thể hiện dụng ý của người nói khitruyền đạt nội dung thông tin nào đó tới người tiếp nhận Với những kiến thứcđược triển khai trong chương trình, khi gặp yêu cầu nhận biết câu phân loạitheo mục đích nói, học sinh cần chú ý tới những kiểu câu sau:
3.7.1.1 Câu kể (câu tường thuật, câu trần thuật, câu trình bày):
Là kiểu câu được người nói/ người viết sử dụng nhằm mục đích tả, kểhoặc thuật lại một sự việc, hoặc nêu một nhận định nào đó về sự vật, hiệntượng Ví dụ:
Lớp mình đang học Ngữ văn.
3.7.1.2 Câu nghi vấn (câu hỏi):
Là kiểu câu có nội dung hỏi nhằm yêu cầu người đối thoại giải đáp nộidung đó trong câu trả lời Nội dung hỏi bao gồm những sự vật, hành độngtrạng thái của sự vật, sự việc được nêu trong câu mà người nói còn hoàinghi (chưa biết hoặc chưa rõ) Đặc trưng cơ bản nhất của kiểu câu này làngười nói thường sử dụng từ nghi vấn (đại từ nghi vấn, phụ từ nghi vấn và trợ
từ nghi vấn) và dấu chấm hỏi.Các bạn học sinh cũng cần lưu ý là câu hỏitrong phân theo mục đích nói thường kèm theo có câu trả lời, còn câu hỏi tu
từ thì hỏi nhưng không cần câu trả lời Ví dụ:
Bao giờ thì bạn mới tốt nghiệp?
3.7.1.3 Câu cảm thán:
Là kiểu câu được sử dụng khi cần thể hiện đến một mức độ nhất địnhnhững tình cảm khác nhau, thái độ đánh giá, những trạng thái tinh thần khácthường của người nói đối với sự vật hay sự kiện mà câu nói đề cập hoặc ámchỉ Đặc trưng của kiểu câu này là: dùng những từ ngữ cảm thán, kết thúcbằng dấu chấm than Ví dụ:
Đẹp vô cùng Tổ quốc ta ơi!
(Tố Hữu)3.7.1.4 Câu cầu khiến (câu mệnh lệnh):
Là kiểu câu được dùng để bày tỏ ý muốn nhờ hay bắt buộc người nghethực hiện điều được nêu trong câu Kiểu câu này thường được cấu tạo bởi các
phụ từ tạo ý mệnh lệnh (hãy, đừng, có mà, chớ, không được ) và cũng hay sử
dụng dấu chấm than ở cuối câu thể hiện ngữ điệu mạnh Ví dụ:
Hãy đi ra ngoài ngay!
Các em cần lưu ý là muốn phân biệt các kiểu câu trên đặc biệt là nhữngcâu có những đặc điểm hình thức giống nhau (câu cảm thán, câu cầu khiến),
Trang 14chúng ta cần đọc nó và xác định ý nghĩa của nó trong đúng văn bản, trongmối quan hệ với các câu trước và sau chúng.
3.7.2 Câu phân loại theo cấu tạo ngữ pháp
Ông/ có xe hơi, có nhà lầu, có đồn điền, lại có cả trang trại ở nhà quê nữa.
Câu ghép chính phụ thường có những cặp quan hệ từ chính phụ nối các
vế câu với nhau.Ví dụ:
Nếu trời / không mưa thì chúng tôi / sẽ đi chơi.
CN1 VN1 CN2 VN2
Câu ghép đẳng lập là chuỗi các câu đơn, thường nối tiếp nhau và có sựngăn cách bởi dấu phẩy Ví dụ: