TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH KHOA LUẬT DÂN SỰ BUỔI THẢO LUẬN THỨ NHẤT NGHĨA VỤ Môn PHÁP LUẬT VỀ HỢP ĐỒNG VÀ BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI NGOÀI HỢP ĐỒNG GVHD DANH SÁCH THÀNH VIÊN NHÓM STT Họ và tên MSSV Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 08 tháng 04 năm 2022 MỤC LỤC VẤN ĐỀ 1 1 THỰC HIỆN CÔNG VIỆC KHÔNG CÓ ỦY QUYỀN 1 1 1 1 1 2 2 1 3 3 1 4 5 1 5 6 VẤN ĐỀ 2 7 THỰC HIỆN NGHĨA VỤ (THANH TOÁN MỘT KHOẢN TIỀN) 7 2 1 7 2 2 8 2 3 8 2 4 9 2 5 9 VẤN ĐỀ 3 11 CHUYỂN GIAO NGHĨA VỤ THEO THỎA THUÂ. MỤC LỤC VẤN ĐỀ 1: 1 THỰC HIỆN CÔNG VIỆC KHÔNG CÓ ỦY QUYỀN 1 1.1. Thế nào là thực hiện công việc không có ủy quyền? 1 1.2. Vì sao thực hiện công việc ko có ủy quyền là căn cứ phát sinh nghĩa vụ? 2 1.3. Cho biết điểm mới của BLDS 2015 so với BLDS 2005 về chế định “thực hiện công việc không có ủy quyền. 3 1.4. Các điều kiện để áp dụng chế định “thực hiện công việc không có ủy quyền theo BLDS 2015? Phân tích từng điều kiện. 4 1.5. Trong tình huống trên, sau khi xây dựng xong công trình, nhà thầu C có thể yêu cầu chủ đầu tư A thực hiện những nghĩa vụ trên cơ sở các quy định của chế định “thực hiện công việc không có ủy quyền” trong BLDS 2015 không? Vì sao? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời. 5 VẤN ĐỀ 2: 7 THỰC HIỆN NGHĨA VỤ (THANH TOÁN MỘT KHOẢN TIỀN) 7 2.1 Thông tư trên cho phép tính lại giá trị khoản tiền phải thanh toán như thế nào? Qua trung gian là tài sản gì? 7 2.2. Đối với tình huống thứ nhất, thực tế ông Quới sẽ phải trả cho bà Cô khoản tiền cụ thể là bao nhiêu? Nêu rõ cơ sở pháp lý khi trả lời. 8 2.3. Thông tư trên có điều chỉnh việc thanh toán tiền trong hợp đồng chuyển nhượng bđs như trong Quyết định số 152018DSGĐT không? Vì sao? 8 2.4. Đối với tình huống trong Quyết định số 152018DSGĐT, nếu giá trị nhà đất được xác định là 1.697.760.000đ như Tòa án cấp sơ thẩm đã làm thì, theo Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội, khoản tiền bà Hường phải thanh toán cho cụ Bảng cụ thể là bao nhiêu? Vì sao? 9 2.5. Hướng như trên của Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội có tiền lệ chưa? Nêu một tiền lệ (nếu có)? 9 VẤN ĐỀ 3: 11 CHUYỂN GIAO NGHĨA VỤ THEO THỎA THUẬN 11 3.1. Điểm giống và khác nhau cơ bản giữa chuyển giao quyền yêu cầu và chuyển giao nghĩa vụ theo thỏa thuận? 11 3.2. Thông tin nào của bản án cho thấy bà Phượng có nghĩa vụ thanh toán cho bà Tú? 14 3.3. Đoạn nào của bản án cho thấy nghĩa vụ trả nợ của bà Phượng đã được chuyển sang cho bà Ngọc, bà Loan và ông Thạnh? 14 3.4. Suy nghĩ của anhchị về đánh giá trên của Tòa án? 15 3.5. Nhìn từ góc độ văn bản, người có nghĩa vụ ban đầu có còn trách nhiệm đối với người có quyền không khi người thế nghĩa vụ không thực hiện nghĩa vụ được chuyển giao? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời. 15 3.6. Nhìn từ góc độ quan điểm các tác giả, người có nghĩa vụ ban đầu có còn trách nhiệm đối với người có quyền không khi người thế nghĩa vụ không thực hiện nghĩa vụ được chuyển giao? Nêu rõ quan điểm của các tác giả mà anhchị biết. 16 3.7. Đoạn nào của bản án cho thấy Tòa án theo hướng người có nghĩa vụ ban đầu không còn trách nhiệm đối với người có quyền? 16 3.8. Kinh nghiệm của pháp luật nước ngoài đối với quan hệ giữa người có nghĩa vụ ban đầu và người có quyền. 16 3.8.1. Xét về điều kiện để chuyển giao nghĩa vụ có giá trị pháp lý. 16 3.8.2. Xét về quyền và nghĩa vụ của các chủ thể liên quan. 17 3.9. Suy nghĩ của anh chị về hướng giải quyết trên của Tòa án. 17 3.10. Trong trường hợp nghĩa vụ của bà Phượng đối với bà Tú có biện pháp bảo lãnh của người thứ ba thì, khi nghĩa vụ được chuyển giao, biện pháp bảo lãnh có chấm dứt không? Nêu rõ cơ sở pháp lý khi trả lời. 18
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHOA LUẬT DÂN SỰ
BUỔI THẢO LUẬN THỨ NHẤT
NGHĨA VỤ Môn: PHÁP LUẬT VỀ HỢP ĐỒNG VÀ BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI NGOÀI HỢP ĐỒNG
Trang 23.1 Điểm giống và khác nhau cơ bản giữa chuyển giao quyền yêu cầu và chuyển
3.2 Thông tin nào của bản án cho thấy bà Phượng có nghĩa vụ thanh toán cho bà
Trang 33.9 18 3.10 19
Trang 4VẤN ĐỀ 1:
THỰC HIỆN CÔNG VIỆC KHÔNG CÓ ỦY QUYỀN
Thực hiện công việc không có ủy quyền là việc một người tự nguyện thực hiện một công việc của người khác Thực hiện công việc không có ủy quyền chủ yếu là dựa trên tinh thần tương hỗ trong thực tế Do đó mà lợi ích được hướng đến là lợi ích của người có công việc được thực hiện mà không dựa trên một cơ sở hợp đồng thỏa thuận thực hiện công việc hay pháp luật quy định phải thực hiện
Về khái niệm của “Thực hiện công việc không có ủy quyền”, BLDS 2015
có quy định cụ thể tại Điều 574: “Thực hiện công việc không có ủy quyền là việc một người không có nghĩa vụ thực hiện công việc nhưng đã tự nguyện thực hiện công việc đó, vì lợi ích của người có công việc được thực hiện khi người này không biết hoặc biết mà không phản đối”
Từ quy định trên của BLDS năm 2015, ta rút ra được ba (03) yếu tố để xác định việc thực hiện công việc không có ủy quyền:
Thứ nhất, việc thực hiện công việc thực tế hoàn toàn không là nghĩa vụ
của người thực hiện công việc không có ủy quyền do thỏa thuận của hợp đồng hay do pháp luật quy định
Thứ hai, việc thực hiện công việc này là nhằm lợi ích cho người có công
việc được thực hiện
Thứ ba, người có công việc được thực hiện không biết có người khác
thực hiện công việc của mình hoặc biết nhưng không phản đối việc thực hiện
đó
Việc thực hiện công việc không ủy quyền là do người thực hiện thực hiện với tinh thần tương hỗ, tự nguyện Song, pháp luật dân sự vẫn có những quy định nhất định đối với người thực hiện và người có công việc được thực hiện nhằm nâng cao tinh thần trách nhiệm, đảm bảo quyền lợi cho người thực hiện công việc Cụ thể là quy định tại Điều 575 và Điều 576 BLDS năm
2015
Trang 5Theo đó, người thực hiện công việc không có ủy quyền phải thực hiện công việc như là công việc của mình; phù hợp với khả năng, điều kiện của bản thân; phải thực hiện công việc theo đúng ý của người có công việc được thực hiện nếu biết hoặc đoán được ý; có nghĩa vụ báo về quá trình, kết quả, tiến độ,…cho người có công việc được thực hiện nếu người đó yêu cầu (Điều
nghĩa vụ?
Theo Đ.275.3 – BLDS năm 2015 quy định về căn cứ làm phát sinh nghĩa vụ: “Thực hiện công việc không có ủy quyền”
Điều 574 – BLDS năm 2015 quy định: “Thực hiện công việc không có
ủy quyền là việc một người không có nghĩa vụ thực hiện công việc nhưng đã
tự nguyện thực hiện công việc đó vì lợi ích của người có công việc được thực hiện khi người này không biết hoặc biết mà không phản đối.”
Điều 274 – BLDS năm 2015 quy định: “Nghĩa vụ là việc mà theo đó, một hoặc nhiều chủ thể (sau đây gọi chung là bên có nghĩa vụ) phải chuyển giao vật, chuyển giao quyền, trả tiền hoặc giấy tờ có giá, thực hiện công việc hoặc không được thực hiện công việc nhất định vì lợi ích của một hoặc nhiều chủ thể khác (sau đây gọi chung là bên có quyền)”
Có thể thấy, bản chất của quá trình thực hiện công việc không có ủy quyền cũng là việc một bên tự nguyện thực hiện công việc của người khác,
vì lợi ích của người đó, ý thức rằng nếu không có ai thực hiện công việc này thì người có công việc bị thiệt hại một số lợi ích vật chất nhất định Mục đích cuối cùng của hành vi này là nhằm mang lại lợi ích cho người có công việc
Trang 6Như vậy, quá trình này đương nhiên là căn cứ để phát sinh nghĩa vụ cho cả hai bên
Trong trường hợp này, xuất phát từ yếu tố chủ động và tự nguyện khi thực hiện công việc, pháp luật không buộc người thực hiện tạo ra lợi ích thực
tế, nhưng buộc người có công việc thực hiện nghĩa vụ trả tiền thù lao, thanh toán các chi phí hợp lý mà 2 người thực hiện công việc đã bỏ ra, ngay cả khi kết quả công việc được thực hiện đó không như ý muốn (theo Điều 576 BLDS năm 2015)
Bên cạnh đó, thực hiện công việc không có ủy quyền còn làm phát sinh nghĩa vụ thực hiện và nghĩa vụ bồi thường thiệt hại cho chính người thực hiện công việc Bằng việc tự ý, tự nguyện thực hiện phần việc của người khác, người thực hiện công việc sẽ có những nghĩa vụ nhất định đối với chính công việc mình thực hiện, cũng như với người có công việc được thực hiện (theo Điều 575, 577 BLDS năm 2015) Bản thân người thực hiện công việc phải cố gắng thực hiện tốt nhất có thể, cũng như chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại khi gây ra những thiệt hại thực tế cho người có công việc… để tránh trường hợp những quy định này bị lợi dụng nhằm mục đích tiêu cực riêng
“thực hiện công việc không có ủy quyền"
Nhìn chung, chế định “thực hiện công việc không có ủy quyền” ở BLDS
2015 so với Bộ luật Dân sự năm 2005 (BLDS năm 2005) có hai điểm mới nổi bật như sau:
Về mục đích thực hiện:
Trang 7Thứ nhất, BLDS năm 2015 đã bỏ đi từ “hoàn toàn” khi quy định về khái
niệm “thực hiện công việc không có ủy quyền” BLDS năm 2005 yêu cầu công việc được thực hiện phải “hoàn toàn vì lợi ích của người có công việc được thực hiện” (Điều 594 BLDS năm 2005) Cách quy định này có thể được hiểu theo hai nghĩa: “Nghĩa thứ nhất là người thực hiện công việc hoàn toàn không
có lợi ích trong công việc mà họ thực hiện và tất cả phải vì lợi ích của người
có công việc được thực hiện.” hoặc “Nghĩa thứ hai là việc thực hiện công việc hoàn toàn vì lợi ích của người có công việc được thực hiện không ngoại trừ khả năng người tiến hành công việc cũng có lợi ích từ việc thực hiện.” Trong thực tiễn xét xử, đã có nhiều trường hợp người có công việc được thực hiện dựa vào hai chữ “hoàn toàn” này để lý giải theo nghĩa thứ nhất, đưa ra cơ sở rằng việc thực hiện không có ủy quyền đó vẫn có yếu tố vì lợi ích của người thực hiện công việc Đây là cách giúp người có công việc chối
bỏ nghĩa vụ thanh toán của mình, tạo nên bất cập lẫn thiệt thòi cho người thực hiện công việc trong quá trình xét xử
Chính vì vậy, việc BLDS năm 2015 bỏ đi hai chữ “hoàn toàn” là để củng
cố cho cách hiểu thứ hai, nhằm tăng cường bảo đảm quyền lợi cho người thực hiện công việc Đồng thời, đây cũng là cơ sở để Tòa án linh hoạt hơn trong việc xét xử các vụ việc liên quan đến “thực hiện công việc không có ủy quyền”, hạn chế tranh cãi, nhập nhằng trong quá trình xét xử
Thứ hai, BLDS năm 2015 đã phân định rõ đối tượng thực hiện công việc
có ủy quyền có thể là cá nhân hoặc pháp nhân Tại khoản 4 Điều 575 quy định về “nghĩa vụ thực hiện công việc” (Điều 595 BLDS năm 2005) và khoản
4 Điều 578 về “chấm dứt thực hiện nghĩa vụ” (Điều 598 BLDS năm 2005), với sự xuất hiện của “cá nhân” và “pháp nhân” (làm rõ các đối tượng “người thực hiện nghĩa vụ”) Việc bổ sung này góp phần tăng thêm tính cụ thể, chi tiết của Bộ luật Dân sự, giúp cho quá trình xét xử được diễn ra thuận lợi, chính xác và nhanh chóng hơn
Như vậy, tuy không có nhiều điểm mới so với BLDS năm 2005, BLDS năm 2015 đã thành công khắc phục điểm hạn chế (lỗ hổng) khi quy định về
Trang 8chế định “thực hiện nghĩa vụ không có ủy quyền” Từ đó, BLDS năm 2015 đã củng cố bảo vệ quyền lợi cho người thực hiện công việc, giúp Tòa án có cơ
sở giải quyết tranh chấp một cách hợp lý, đưa pháp luật dân sự Việt Nam phát triển bắt kịp xu hướng với luật pháp các nước tiến bộ trên thế giới
ủy quyền theo BLDS 2015? Phân tích từng điều kiện
Từ Điều 574 BLDS năm 2015 về thực hiện công việc không có ủy quyền thì các điều kiện để áp dụng chế định “thực hiện công việc không có ủy quyền theo BLDS năm 2015” gồm:
Thứ nhất: người thực hiện công việc không có ủy quyền là người hoàn
toàn không có nghĩa vụ phải thực hiện công việc đó nhưng đã thực hiện công việc đó
Thứ hai: Thực hiện công việc này vì lợi của người có công việc
Thứ ba: Người có công việc được thực hiện không biết hoặc biết mà
không phản đối việc thực hiện đó
Phân tích từng điều kiện:
Thứ nhất: Người thực hiện không có nghĩa vụ thực hiện công việc đó nhưng đã tự nguyện thực hiện Điều này đồng nghĩa với việc thực hiện công việc hoàn toàn không do các bên thỏa thuận hoặc do pháp luật quy định đối
định hoặc do các bên thỏa thuận)
Thứ hai: Việc thực hiện công việc đó phải hoàn toàn vì lợi ích của người
có công việc, nếu người thực hiện công việc vì lợi ích của mình hoặc của người khác thì không áp dụng chế định này
Thứ ba: Theo điều 574 BLDS năm 2015 về “ thực hiện công việc không
có ủy quyền” thì một người không có nghĩa vụ thực hiện công việc nhưng đã
tự nguyện thực hiện công việc đó vì lợi ích của người có công việc được thực hiện, vì vậy trong việc này người có công việc được thực hiện luôn nhận được lợi ích từ việc người thực hiện công việc đã làm
Trang 91.5 Trong tình huống trên, sau khi xây dựng xong công trình, nhà thầu
C có thể yêu cầu chủ đầu tư A thực hiện những nghĩa vụ trên cơ sở các quy định của chế định “thực hiện công việc không có ủy quyền” trong BLDS năm 2015 không? Vì sao? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời
1 Căn cứ Điều 574 BLDS năm 2015 về thực hiện công việc
không có ủy quyền:
“Thực hiện công việc không có ủy quyền là việc một người không có nghĩa vụ thực hiện công việc nhưng đã tự nguyện thực hiện công việc đó vì lợi ích của người có công việc được thực hiện khi người này không biết hoặc biết mà không phản đối.”
Trong trường hợp trên , ban quản lý dự án B đã tự ý ký kết hợp đồng với nhà thầu C mà không có sự ủy quyền của chủ đầu tư A và chủ đầu tư A cũng không biết về việc này nên có thể kết luận trong trường hợp trên B đã thực hiện công việc không có ủy quyền và người có công việc được thực hiện là A Xét hai trường hợp:
Thứ nhất: Khi nhà thầu C chưa hoàn thành công việc, chủ đầu tư A biết
và phản đối Trong trường hợp này không thỏa mãn các quy định về thực hiện công việc không có ủy quyền nên C không thể yêu cầu A thực hiện các nghĩa vụ
Thứ hai: Khi nhà thầu C đã hoàn thành công việc mà chủ đầu tư A vẫn
không biết về việc ký kết hợp đồng giữa B và C Khi đó, C có thể yêu cầu A thực hiện nghĩa vụ thanh toán dựa trên quy định tại Điều 576 BLDS năm 2015
về nghĩa vụ thanh toán của người có công việc được thực hiện Vậy trường hợp nhà thầu C đã hoàn thành công việc thì C có thể yêu cầu chủ đầu tư A thực hiện những nghĩa vụ trên cơ sở các quy định của chế định “thực hiện công việc không có ủy quyền” trong BLDS năm 2015
Trang 10VẤN ĐỀ 2:
THỰC HIỆN NGHĨA VỤ (THANH TOÁN MỘT KHOẢN TIỀN)
như thế nào? Qua trung gian là tài sản gì?
Theo thông tư liên tịch số 01/TTLT ngày 19/06/1997 của Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp, Bộ Tài chính hướng dẫn về việc xét xử và thi hành án về tài sản cho phép tính lãi giá trị khoản tiền phải thanh toán như sau:
“Đối với nghĩa vụ là các khoản tiền bồi thường, tiền hoàn trả, tiền công, tiền lương, tiền chia tài sản, tiền đền bù công sức, tiền cấp dưỡng, tiền vay không có lãi, tiền truy thu thuế, tiền truy thu do thu lợi bất chính thì giải quyết như sau:
+ Nếu việc gây thiệt hại hoặc phát sinh nghĩa vụ dân sự xảy ra trước ngày 01/07/1996 và trong thời gian từ thời điểm gây thiệt hại hoặc phát sinh nghĩa vụ đến thời điểm xét xử sơ thẩm mà giá gạo tăng từ 20% trở lên, thì Tòa án quy đổi các khoản tiền đó ra gạo theo giá gạo loại trung bình ở địa phương (gọi tắt là “giá gạo”) tại thời điểm gây thiệt hại hoặc phát sinh nghĩa
vụ, rồi tính số lượng gạo đó thành tiền theo giá gạo tại thời điểm xét xử sơ thẩm để buộc bên có nghĩa vụ về tài sản phải thanh toán và chịu án phí theo
số tiền đó
+ Nếu gây thiệt hại hoặc phát sinh nghĩa vụ xảy ra sau ngày 01/07/1996 hoặc tuy xảy ra trước ngày 01/07/1996, nhưng trong khoảng thời gian từ thời điểm gây thiệt hại hoặc phát sinh nghĩa vụ đến thời điểm xét xử sơ thẩm mà giá gạo không tăng hay tuy có tăng nhưng ở mức dưới 20% thì Tòa án chỉ xác định các khoản tiền đó để buộc bên có nghĩa vụ phải thanh toán bằng tiền Trong trường hợp người có nghĩa vụ có lỗi thì ngoài khoản tiền nói trên còn phải trả lãi đối với số tiền chậm trả theo lãi suất nợ quá hạn do Ngân hàng Nhà nước quy định tương ứng với thời gian chậm trả tại thời điểm xét
xử sơ thẩm theo quy định tại Điều 313.2 BLDS, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác
Trang 11Đối với các khoản tiền tịch thu, tiền phạt, tiền án phí thì khi xét xử, Tòa
án chỉ quyết định mức tiền cụ thể mà không áp dụng cách tính đã hướng dẫn tại Khoản 1 nói trên
Đối với các khoản tiền vay, gửi ở tài sản Ngân hàng, tín dụng, do giá trị của các khoản tiền đó đã được bảo đảm thông qua các mức lãi suất do Ngân hàng Nhà nước quy định, nên khi xét xử, trong mọi trường hợp, Tòa án đều không phải quy đổi các khoản tiền đó ra gạo, mà quyết định buộc bên có có nghĩa vụ về tài sản phải thanh toán số tiền thực tế đã vay, gửi cùng với khoản tiền lãi kể từ ngày giao dịch cho đến khi thi hành án xong, theo mức lãi suất tương ứng do Ngân hàng Nhà nước quy định.”
Như vậy, qua Thông tư trên, chúng ta thấy rằng tài sản trung gian được dùng để tính lại giá trị khoản tiền phải thanh toán
Cô khoản tiền cụ thể là bao nhiêu? Nêu rõ cơ sở pháp lý khi trả lời
Đối với tình huống thứ nhất, thực tế ông Quới sẽ phải trả cho bà Cô khoản tiền cụ thể là 5 474 452.555 đồng, theo quy tắc tam suất
Cơ sở pháp lý: Điểm a Khoản 1 Mục I, Thông tư 01/TTLT ngày 19/6/1997 của Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ
Tư pháp, Bộ Tài chính hướng dẫn việc xét xử và thi hành án về tài sản
chuyển nhượng bất động sản như trong Quyết định số 15/2018/DS-GĐT không? Vì sao?
Thông tư trên không điều chỉnh việc thanh toán tiền trong hợp đồng chuyển nhượng bất động sản như trong quyết định số 15/2018/DS-GĐT
Vì thông tư trên chỉ áp dụng cho các khoản tiền bồi thường, tiền hoàn trả, tiền công, tiền lương, tiền chia tài sản
Vì đối tượng về nghĩa vụ và tài sản như trong quyết định số SĐT là đất đai và tài sản phần nổi trên đất việc thanh toán tiền trong hợp đồng chuyển nhượng bất động sản này là được thanh toán tài sản phần nổi
Trang 1215/2018/DS-xây dựng (gồm nhà ở 58,25m2, công trình phụ ) và công tôn tạo cho ông
S, bà Th là 93.322.900 đồng
trị nhà đất được xác định là 1.697.760.000đ như Tòa án cấp sơ thẩm đã làm thì, theo Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội, khoản tiền bà Hường phải thanh toán cho cụ Bảng cụ thể là bao nhiêu? Vì sao?
Trong bản án, Tòa án nhân dân cấp cao Hà Nội nhận định: “bà Hương phải thanh toán cho cụ Bảng số tiền còn nợ tương đương 1/5 giá trị nhà, đất theo định giá tại thời điểm xét xử sơ thẩm mới đúng với hướng dẫn tại điểm b2, tiểu mục 2.1, mục 2, phần II Nghị Quyết số 02/2004/NQ-HĐTP ngày 10/8/2004 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao” Tòa án nói rõ:
“Bà Hương phải thanh toán cho cụ Bảng số tiền còn nợ tương ứng với số tiền 1/5 giá trị căn nhà, đất theo định giá tại thời điểm xét xử sơ thẩm mới đúng”
Vậy nên giá trị nhà đất được xác định là: 1.679.760.000đ thì bà Hương phải thanh toán cho cụ Bảng là: 1.679.760.000đ*1/5= 339.552.000đ
lệ chưa? Nêu một tiền lệ (nếu có)?
Với hướng như trên, Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội đã có tiền lệ
Đó là Quyết định Giám đốc thẩm số: 09/HĐTP-DS ngày 24/02/2005 về “Vụ
án tranh chấp nhà đất và đòi nợ”
Tóm tắt bản án:
Nguyên đơn: Bà Phạm Thị Lai
Bị đơn: Ông Phạm Thanh Xuân
Người có quyền và nghĩa vụ liên quan:
+ Bà Trần Thị Minh
+ Ông Hoàng Minh Khoa
Diễn biến vụ việc: