1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Buổi thảo luận thứ hai môn luật hợp đồng và bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng năm 2022

20 25 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Buổi thảo luận thứ hai môn luật hợp đồng và bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng năm 2022
Tác giả Đỗ Văn Đại, Lê Minh Hùng
Người hướng dẫn DANH SÁCH THÀNH VIÊN NHÓM
Trường học Trường Đại Học Luật Thành Phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Luật hợp đồng và bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng
Thể loại Buổi thảo luận
Năm xuất bản 2022
Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 20
Dung lượng 1,01 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH KHOA LUẬT DÂN SỰ BUỔI THẢO LUẬN THỨ HAI VẤN ĐỀ CHUNG CỦA HỢP ĐỒNG Môn PHÁP LUẬT VỀ HỢP ĐỒNG VÀ BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI NGOÀI HỢP ĐỒNG GVHD DANH SÁCH THÀNH VIÊN NHÓM STT Họ và tên MSSV Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 08 tháng 04 năm 2022 MỤC LỤC VẤN ĐỀ 1 1 CHẤP NHẬN ĐỀ NGHỊ GIAO KẾT HỢP ĐỒNG 1 Hướng giải quyết của Tòa án đối với vấn đề thứ nhất 1 Hướng giải quyết của Tòa án đối với vấn đề thứ hai 1 Hướng giải quyết của Tòa án đối với vấn đề. MỤC LỤC VẤN ĐỀ 1: 1 CHẤP NHẬN ĐỀ NGHỊ GIAO KẾT HỢP ĐỒNG 1 1.1. Hướng giải quyết của Tòa án đối với vấn đề thứ nhất: 1 1.2. Hướng giải quyết của Tòa án đối với vấn đề thứ hai: 1 1.3. Hướng giải quyết của Tòa án đối với vấn đề thứ ba: 2 VẤN ĐỀ 2: 3 SỰ ƯNG THUẬN TRONG QUÁ TRÌNH GIAO KẾT HỢP ĐỒNG 3 2.1. Điểm mới của BLDS năm 2015 so với BLDS năm 2005 về vai trò của im lặng trong giao kết hợp đồng? 3 2.2. Việc Tòa án áp dụng Án lệ số 042016AL để công nhận hợp đồng chuyển nhượng trong tình huống trên có thuyết phục không? Vì sao? 3 VẤN ĐỀ 3: 5 ĐỐI TƯỢNG CỦA HỢP ĐỒNG KHÔNG THỂ THỰC HIỆN ĐƯỢC 5 3.1. Những thay đổi và suy nghĩ của anhchị về những thay đổi giữa BLDS năm 2015 và BLDS năm 2005 về chủ đề đang được nghiên cứu; 5 3.2. Thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố vô hiệu hợp đồng do đối tượng không thể thực hiện được được xác định như thế nào? Vì sao? 6 3.3. Toà án tuyên bố hợp đồng thế chấp trên vô hiệu do đối tượng không thể thực hiện được có thuyết phục không? Vì sao? 8 VẤN ĐỀ 4: 9 XÁC LẬP HỢP ĐỒNG GIẢ TẠO VÀ NHẰM TẨU TÁN TÀI SẢN 9 4.1. Thế nào là giả tạo trong xác lập giao dịch? 9 4.2. Đoạn nào của Quyết định cho thấy các bên có giả tạo trong giao kết hợp đồng? Các bên xác lập giao dịch có giả tạo với mục đích gì? 10 4.3. Hướng giải quyết của Tòa án đối với hợp đồng giả tạo và hợp đồng bị che giấu? 10 4.4. Suy nghĩ của anhchị về hướng xử lý của Tòa án về hợp đồng giả tạo và hợp đồng bị che giấu? 10 4.5. Vì sao Tòa án xác định giao dịch giữa vợ chồng bà Anh với vợ chồng ông Vượng là giả tạo nhằm trốn tránh thực hiện nghĩa vụ với bà Thu? 11 4.6. Suy nghĩ của anhchị về hướng xác định trên của Tòa án (giả tạo để trốn tránh nghĩa vụ)? 12 4.7. Cho biết hệ quả của việc Tòa án xác định hợp đồng trên là giao dịch nhằm trốn tránh nghĩa vụ. 12

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

KHOA LUẬT DÂN SỰ

BUỔI THẢO LUẬN THỨ HAI VẤN ĐỀ CHUNG CỦA HỢP ĐỒNG Môn: PHÁP LUẬT VỀ HỢP ĐỒNG VÀ BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI NGOÀI HỢP ĐỒNG

GVHD:

DANH SÁCH THÀNH VIÊN NHÓM

Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 08 tháng 04 năm 2022

Trang 2

MỤC LỤC

VẤN ĐỀ 1: 1

CHẤP NHẬN ĐỀ NGHỊ GIAO KẾT HỢP ĐỒNG 1

Hướng giải quyết của Tòa án đối với vấn đề thứ nhất: 1

Hướng giải quyết của Tòa án đối với vấn đề thứ hai: 1

Hướng giải quyết của Tòa án đối với vấn đề thứ ba: 2

VẤN ĐỀ 2: 4

SỰ ƯNG THUẬN TRONG QUÁ TRÌNH GIAO KẾT HỢP ĐỒNG 4

2.1 Điểm mới của BLDS năm 2015 so với BLDS năm 2005 về vai trò của im lặng trong giao kết hợp đồng? 4

2.2 Việc Tòa án áp dụng Án lệ số 04/2016/AL để công nhận hợp đồng chuyển nhượng trong tình huống trên có thuyết phục không? Vì sao? 4

VẤN ĐỀ 3: 7

ĐỐI TƯỢNG CỦA HỢP ĐỒNG KHÔNG THỂ THỰC HIỆN ĐƯỢC 7

3.1 Những thay đổi và suy nghĩ của anh/chị về những thay đổi giữa BLDS năm 2015 và BLDS năm 2005 về chủ đề đang được nghiên cứu; 7

3.2 Thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố vô hiệu hợp đồng do đối tượng không thể thực hiện được được xác định như thế nào? Vì sao? 8

3.3 Toà án tuyên bố hợp đồng thế chấp trên vô hiệu do đối tượng không thể thực hiện được có thuyết phục không? Vì sao? 10

VẤN ĐỀ 4: 11

XÁC LẬP HỢP ĐỒNG GIẢ TẠO VÀ NHẰM TẨU TÁN TÀI SẢN 11

4.1 Thế nào là giả tạo trong xác lập giao dịch? 11

4.2 Đoạn nào của Quyết định cho thấy các bên có giả tạo trong giao kết hợp đồng? Các bên xác lập giao dịch có giả tạo với mục đích gì? 12

4.3 Hướng giải quyết của Tòa án đối với hợp đồng giả tạo và hợp đồng bị che giấu? 12

4.4 Suy nghĩ của anh/chị về hướng xử lý của Tòa án về hợp đồng giả tạo và hợp đồng bị che giấu? 13

Trang 3

4.5 Vì sao Tòa án xác định giao dịch giữa vợ chồng bà Anh với vợ chồng ông Vượng là giả tạo nhằm trốn tránh thực hiện nghĩa vụ với bà Thu? 13 4.6 Suy nghĩ của anh/chị về hướng xác định trên của Tòa án (giả tạo để trốn tránh nghĩa vụ)? 14 4.7 Cho biết hệ quả của việc Tòa án xác định hợp đồng trên là giao dịch nhằm trốn tránh nghĩa vụ 15

Trang 4

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO VĂN BẢN PHÁP LUẬT

1 Bộ luật Dân sự năm 2005

2 Bộ luật Dân sự năm 2015

GIÁO TRÌNH

1 Lê Minh Hùng, Giáo trình Pháp luật về hợp đồng và bồi thường thiệt hại

ngoài hợp đồng, Nxb Hồng Đức - Hội Luật gia Việt Nam 2017, Chương

2

SÁCH

1 Đỗ Văn Đại, Luật hợp đồng Việt Nam - Bản án và Bình luận bản án, Nxb

Hồng Đức - Hội Luật gia Việt Nam 2018 (xuất bản lần thứ bảy), Bản án

số 26 - 28;

2 Đỗ Văn Đại, Luật hợp đồng Việt Nam - Bản án và Bình luận bản án, Nxb

Hồng

Đức - Hội Luật gia Việt Nam 2018 (xuất bản lần thứ bảy), Bản án số 18

- 19;

3 Lê Thị Hồng Vân, Sách tình huống Pháp luật hợp đồng và bồi thường

ngoài hợp đồng, Nxb Hồng Đức - Hội Luật gia Việt Nam 2017, Vấn đề

13;

4 Đỗ Văn Đại, Luật hợp đồng Việt Nam - Bản án và Bình luận bản án, Nxb

Hồng

Đức - Hội Luật gia Việt Nam 2018 (xuất bản lần thứ bảy), Bản án số 97

- 100;

5 Nguyễn Nhật Thanh, Sách tình huống Pháp luật hợp đồng và bồi thường

thiệt

hại ngoài hợp đồng, Nxb Hồng Đức - Hội Luật gia Việt Nam 2017, Vấn

đề 13;

6 Đỗ Văn Đại, Luật hợp đồng Việt Nam - Bản án và Bình luận bản án, Nxb

Hồng

Trang 5

Đức - Hội Luật gia Việt Nam 2018 (xuất bản lần thứ bảy), Bản án số 86

89 – 92

BẢN ÁN, QUYẾT ĐỊNH TÒA ÁN

1 Án lệ số 04/2016/AL ngày 06/4/2016 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao;

2 Bản án số 06/2017/DS-ST ngày 17/01/2017 của Toà án nhân dân TP

Một tỉnh Bình Dương;

3 Quyết định số 259/2014/DS-GĐT ngày 16/06/2014 của Tòa dân sự Tòa

án

nhân dân tối cao

Trang 6

VẤN ĐỀ 1:

CHẤP NHẬN ĐỀ NGHỊ GIAO KẾT HỢP ĐỒNG Hướng giải quyết của Tòa án đối với vấn đề thứ nhất:

“Bên đề nghị chưa nhận được chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng theo quy định của Điều 400 BLDS năm 2015.”

Tòa án đã xét rằng: “Bên đề nghị chưa nhận được chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng” Hướng giải quyết này là hợp lí, bởi vì D (bên được đề nghị) không chứng minh được đã gửi chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng cho C (bên đề nghị) Và C không thừa nhận đã nhận được chấp nhận đề nghị giao kết của D Như vậy, có thể xem là bên đề nghị chưa nhận được chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng

Tòa án căn cứ theo quy định của Điều 400 BLDS năm 2015 để đưa ra hướng giải quyết trên là chưa hợp lí Bởi vì, theo khoản 1 Điều 400 BLDS năm 2015 thì “Hợp đồng được giao kết vào thời điểm bên đề nghị nhận được chấp nhận giao kết” Các quy định còn lại của Điều 400 quy định về thời điểm giao kết hợp đồng Như vậy, theo Điều 400 chúng ta không thể xác nhận là bên đề nghị đã nhận được chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng hay chưa

Vì vậy, Tòa án xét rằng bên đề nghị chưa nhận được chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng theo quy định của Điều 400 BLDS năm 2015 là chưa chính xác

Hướng giải quyết của Tòa án đối với vấn đề thứ hai:

“Chấp nhận chưa được thực hiện trong thời hạn hợp lý theo quy định của Điều 394 BLDS năm 2015”

Tòa án đã xét rằng: “Chấp nhận chưa được thực hiện trong thời hạn hợp

lý theo quy định của Điều 394 BLDS năm 2015” Hướng giải quyết này của Tòa án là hợp lí Bởi vì, Tháng 1/2018, A, B và C gửi cho D một đề nghị giao kết hợp đồng nhưng đến tháng 1/2020 và tháng 2/2020, D mới gửi cho A và

B chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng của mình Thời hạn trả lời là 2 năm,

và đây là một khoảng thời gian khá dài và không hợp lí Bởi vì trong 2 năm

Trang 7

quyền lợi của bên đề nghị có thể bị ảnh hưởng nếu như không nhận được chấp nhận trả lời của bên được đề nghị

Ví dụ: A đề nghị bán cho B một cái điện thoại, thời hạn trả lời là 1 tuần Nhưng sau 1 tháng B mới chấp nhận đề nghị Như vậy, trong khoảng thời gian đó giá của chiếc điện thoại sẽ bị suy giảm, không bán được giá cao như ban đầu nữa Việc trả lời chậm của B đã làm thiệt hại đến A

Ở vấn đề thứ hai này, bên đề nghị đã không nêu rõ thời hạn trả lời thì căn

cứ theo khoản 1 Điều 394 BLDS năm 2015 thì “Khi bên đề nghị không nêu rõ thời hạn trả lời thì việc trả lời chấp nhận chỉ có hiệu lực nếu được thực hiện trong một thời hạn hợp lý”

Vì vậy, hướng giải quyết thứ hai của Tòa án “Chấp nhận chưa được thực

hiện trong thời hạn hợp lý theo quy định của Điều 394 BLDS năm 2015” là

hoàn toàn hợp lí

Hướng giải quyết của Tòa án đối với vấn đề thứ ba:

“Chấp nhận trên của D là đề nghị giao kết mới”

Tòa án đã xét rằng: chấp nhận trên của D là đề nghị giao kết mới Hướng giải quyết này của Tòa án là hợp lý Theo khoản 1 Điều 394 BLDS năm 2015 chỉ quy định hướng giải quyết trường hợp trả lời chấp nhận khi đã hết thời hiệu khi bên đề nghị có ấn định Còn đối với trường hợp bên đề nghị không

có ấn định thì không có quy định Xét thấy quy định trên nhằm làm cho người được đề nghị trả lời chấp nhận đề nghị trong thời hạn nhất định, tránh trường hợp họ kéo dài thời gian để có lợi cho mình, thậm chí có thể gây thiệt hại cho bên đề nghị Luật quy định việc trả lời chấp nhận đề nghị chỉ có hiệu lực trong thời hạn mà bên đề nghị ấn định nhằm tạo sự tự do trong giao kết hợp đồng, không làm cho quy định về việc trả lời chấp nhận đề nghị bị cứng nhắc Như vậy, chúng ta có thể áp dụng trường hợp trên để nghi nhận được trả lời khi

đã hết thời hạn thì chấp nhận được coi là đề nghị mới của bên chậm trả lời khi bên đề nghị không ấn định thời hạn tương tự như khi bên đề nghị có ấn định

Trang 8

Vì vậy, hướng giải quyết trên của Tòa án về vấn đề thứ 3 “chấp nhận trên của D là đề nghị giao kết mới” là rất phù hợp và thỏa đáng

Trang 9

VẤN ĐỀ 2:

SỰ ƯNG THUẬN TRONG QUÁ TRÌNH GIAO KẾT HỢP ĐỒNG 2.1 Điểm mới của BLDS năm 2015 so với BLDS năm 2005 về vai trò của im lặng trong giao kết hợp đồng?

Vấn đề im lặng trong giao kết hợp đồng chỉ được quy định tại khoản 2 Điều 404 BLDS năm 2005: “Hợp đồng dân sự cũng được xem như được giao kết khi hết hạn trả lời mà bên nhận được đề nghị vẫn im lặng, nếu có thỏa thuận im lặng là sự trả lời chấp nhận giao kết”

Theo khoản 2 Điều 393 BLDS năm 2015: “Bên được đề nghị giao kết hợp đồng im lặng là chấp nhận đề nghị giao kết khi các bên có sự thỏa thuận hoặc theo thói quen đã được xác lập giữa các bên.”

Ở hai điều luật trên ta thấy rõ về điểm mới của BLDS năm 2015 so với BLDS năm 2005 về vai trò của im lặng trong giao kết hợp đồng đó là:

+ BLDS năm 2005 đã ghi nhận vai trò của im lặng nhưng không nêu trong phần chấp nhận giao kết hợp đồng mà trong phần xác định thời điểm hợp đồng được giao kết và BLDS năm 2015 đã khắc phục nhược điểm này + BLDS năm 2015 về im lặng trong giao kết hợp đồng có bổ sung thêm quy định mới mà trước đó chưa tồn tại trong BLDS năm 2005 Theo BLDS năm 2015 thì im lặng không là chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng nhưng

có ngoại lệ, khi theo thỏa thuận hay theo thói quen của các bên im lặng vẫn

là chấp nhận giao kết hợp đồng

2.2 Việc Tòa án áp dụng Án lệ số 04/2016/AL để công nhận hợp đồng chuyển nhượng trong tình huống trên có thuyết phục không? Vì sao?

Việc Tòa án áp dụng Án lệ số 04/2016/AL để công nhận hợp đồng chuyển nhượng trong tình huống trên là chưa thực sự thuyết phục

Bởi lẽ, khi áp dụng Án lệ để giải quyết, thì cần xét đến điều kiện là “Áp dụng án lệ để giải quyết các vụ việc tương tự, bảo đảm những vụ việc có tình tiết, sự kiện pháp lý giống nhau phải được giải quyết như nhau” (khoản 2 Điều 8, Nghị quyết 03/2015/NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân

Trang 10

dân tối cao) Như vậy, nếu so sánh giữa vụ việc trong Án lệ số 04/2016/AL với vụ việc trong tình huống này, chúng ta nhận thấy có sự khác biệt:

Thứ nhất, tình tiết trong Án lệ liên quan đến tài sản chung của vợ chồng,

còn tình tiết trong tình huống đề cho liên quan đến tài sản của hộ (tức bao gồm tài sản chung của vợ chồng và cả của 5 người con)

Thứ hai, Án lệ số 04/2016/AL chỉ dừng lại ở việc giải quyết khi người còn

lại (vợ hoặc chồng) không ký vào hợp đồng chuyển nhượng nhưng có đủ các căn cứ được nêu ra ở Án lệ thì phải khẳng định rằng người đó đồng ý với hợp đồng chuyển nhượng

Nếu áp dụng Án lệ số 04/2016/AL đối với tình huống này thì hệ quả là: + Khẳng định được: Ông Bùi đồng ý với việc chuyển nhượng đất vì tình huống có nêu rõ: bà Chu, ông Bùi đã chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho ông Văn (tức đã có căn cứ để chứng minh ông Bùi có biết và tham gia chuyển nhượng đất) Năm 2004, ông Văn xây dựng chuồng trại trên đất chuyển nhượng, các bên đã làm thủ tục chuyển nhượng, ông Văn đã được cấp giấy chứng nhận và gia đình ông không có ý kiến gì, tức có thể ngầm hiểu rằng, ông Bùi biết và không phản đối

+ Tuy nhiên, lại không giải quyết được cho trường hợp các con bà Chu, ông Bùi yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch chuyển nhượng vô hiệu vì lý do chưa có sự đồng ý của họ Giả thiết rằng, trong 5 người con này, vào năm

2001 có người con chưa đủ tuổi nhận thức về việc chuyển nhượng đất giữa cha mẹ họ và ông Văn và đến năm 2004 vẫn chưa đủ tuổi nhận thức về việc ông Văn xây dựng chuồng trại và làm thủ tục chuyển nhượng thì cụm từ “gia đình bà Chu, ông Bùi không ai có ý kiến gì” cũng không đủ căn cứ để khẳng định người con này đồng ý hay không đồng ý “Nay”, vì đề bài không nêu rõ thời gian, giả sử là năm 2018 người con này đã có đầy đủ năng lực hành vi dân sự mới yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch chuyển nhượng này là vô hiệu thì cũng chưa thể giải quyết được thỏa đáng

Trang 11

Do đó, rõ ràng, Án lệ số 04 chưa giải quyết được triệt để vụ việc trong tình huống đề cho nên nếu chỉ áp dụng Án lệ số 04/2016/AL để công nhận hợp đồng trong tình huống trên là không hoàn toàn thuyết phục

Trang 12

VẤN ĐỀ 3:

ĐỐI TƯỢNG CỦA HỢP ĐỒNG KHÔNG THỂ THỰC HIỆN ĐƯỢC 3.1 Những thay đổi và suy nghĩ của anh/chị về những thay đổi giữa BLDS năm 2015 và BLDS năm 2005 về chủ đề đang được nghiên cứu;

Trong thực tế, chúng ta vẫn thường bắt gặp một số hợp đồng tuy đã ký

kết nhưng việc thực hiện lại không thể thực hiện được vì lý do bởi: “Hợp đồng

có đối tượng không thể thực hiện được” Đây là một trong những trường hợp

mà hợp đồng sẽ bị vô hiệu và để hoàn chỉnh chế định này thì tại BLDS 2015

đã khắc phục một số hạn chế tồn tại tại BLDS 2005 nên đã có một số điểm thay đổi, cụ thể:

Thứ nhất: khoản 1 Điều 408 BLDS năm 2015 đã bỏ cụm từ “vì lý do khách

quan” trong khoản 1 Điều 411 BLDS năm 2005

Khoản 1 Điều 411 BLDS năm 2005 quy định trường hợp hợp đồng vô hiệu do không thể thực hiện được nhưng chỉ khoanh vùng ở trường hợp “vì

lý do khách quan” trong khi đó, thực tiễn vận dụng điều luật này cả cho trường hợp không thể thực hiện vì lý do “chủ quan” như trường hợp các bên không thỏa thuận về các mặt tiếp giáp của mảnh đất được chuyển nhượng (đối với hợp đồng chuyển nhượng đất) hay đời máy cụ thể (đối với hợp đồng mua bán máy móc, thiết bị) nên hợp đồng không thể thực hiện được

Thực ra, việc khoanh vùng như hiện nay không thuyết phục vì nếu áp dụng đúng luật thì không thể thực hiện được vì lí do chủ quan không làm cho hợp đồng vô hiệu, nhưng nếu hợp đồng không vô hiệu thì hợp đồng cũng không thể thực hiện được và trong trường hợp này vẫn không có câu trả lời thuyết phục Do đó, BLDS năm 2015 bỏ đi cụm từ “vì lý do khách quan” là hoàn toàn thuyết phục

Như vậy, lý do khách quan hay chủ quan không ảnh hưởng tới khả năng vô hiệu của hợp đồng mà chỉ ảnh hưởng tới lỗi lầm phát sinh trách nhiệm bồi thường

Thứ hai: khoản 1 Điều 408 BLDS năm 2015 thay từ “kí kết” trong khoản

1 Điều 411 BLDS năm 2005 bằng “giao kết”

Trang 13

Việc BLDS năm 2005 dùng từ “kí kết” hợp đồng và thuật ngữ này là không có tính bao quát vì ký kết chỉ dùng cho hợp đồng văn bản có chữ ký trong khi đó hợp đồng có thể được hình thành mà không có chữ ký (như hợp đồng miệng, hợp đồng giao kết thông qua im lặng…) Để có tính bao quát hơn, BLDS năm 2015 đã dùng từ “giao kết”, và việc thay đổi này là hoàn toàn chính xác, khắc phục được khuyết điểm của BLDS năm 2005

Thứ ba: khoản 3 Điều 408 BLDS năm 2015 đã thay cụm từ “giá trị pháp

lý” trong khoản 3 Điều 411 BLDS năm 2005 bằng “hiệu lực”

Ta thấy rằng, hợp đồng vô hiệu thì chắc chắn là hợp đồng ko có hiệu lực pháp lý - nhưng ngược lại: hợp đồng ko có hiệu lực pháp lý chưa chắc

đã phải là hợp đồng vô hiệu - mà có thể là hợp đồng chưa được ký kết, đã

ký kết nhưng bị đình chỉ hiệu lực, hoặc đã hết hiệu lực Như vậy, dùng cụm

từ “hiệu lực” sẽ tạo sự khái quát, bao quát hơn so với việc dùm cụm từ “giá trị pháp lý” vì “giá trị pháp lý” chỉ mang ý nghĩa luật định, còn “hiệu lực” còn

có ý nghĩa trong việc thực thi

3.2 Thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố vô hiệu hợp đồng do đối tượng không thể thực hiện được được xác định như thế nào? Vì sao?

Cơ sở pháp lý: Điều 408 BLDS năm 2015

“1 Trường hợp ngay từ khi giao kết, hợp đồng có đối tượng không thể

thực hiện được thì hợp đồng này bị vô hiệu

2 Trường hợp khi giao kết hợp đồng mà một bên biết hoặc phải biết về việc hợp đồng có đối tượng không thể thực hiện được nhưng không thông báo cho bên kia biết nên bên kia đã giao kết hợp đồng thì phải bồi thường thiệt hại cho bên kia, trừ trường hợp bên kia biết hoặc phải biết về việc hợp đồng có đối tượng không thể thực hiện được

3 Quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này cũng được áp dụng đối với trường hợp có một hoặc nhiều phần đối tượng không thể thực hiện được nhưng phần còn lại của hợp đồng vẫn có hiệu lực.”

Ngày đăng: 03/05/2022, 11:21

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm