TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI KHOA NGỮ VĂN KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP NHÂN VẬT TRONG TRUYỆN NGẮN NGUYỄN CÔNG HOAN TRƯỚC CÁCH MẠNG THÁNG TÁM NHÌN TỪ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU TIỂU SỬ Chuyên ngành Văn học Việt nam hiện đại Sinh viên thực hiện Nguyễn Hoàng Mộc Miên Lớp C – K68 Giảng viên hướng dẫn Tiến sĩ Nguyễn Thị Tuyết Nhung Hà Nội, tháng 4 năm 2022 MỤC LỤC LỜI CẢM ƠN 1 MỞ ĐẦU 2 1 Lí do chọn đề tài 2 2 Lịch sử vấn đề 2 3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4 4 Nhiệm vụ nghiên cứu 4 5 Phương pháp tiếp cận 5 6.
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
KHOA NGỮ VĂN -
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆPNHÂN VẬT TRONG TRUYỆN NGẮN NGUYỄN CÔNG HOAN
TRƯỚC CÁCH MẠNG THÁNG TÁM NHÌN TỪ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU TIỂU SỬ
Chuyên ngành: Văn học Việt nam hiện đại
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Hoàng Mộc Miên
Lớp: C – K68
Giảng viên hướng dẫn: Tiến sĩ Nguyễn Thị Tuyết Nhung
Hà Nội, tháng 4 năm 2022
Trang 2MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN 1
MỞ ĐẦU 2
1 Lí do chọn đề tài 2
2 Lịch sử vấn đề 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4
4 Nhiệm vụ nghiên cứu 4
5 Phương pháp tiếp cận 5
6 Cấu trúc của Khóa luận 6
CHƯƠNG 1: GIỚI THUYẾT CHUNG VỀ TIỂU SỬ HỌC, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU TIỂU SỬ VÀ NGUYỄN CÔNG HOAN 7
1.1 Tiểu sử học 7
1.1.1 Khái niệm 7
1.1.2 Cơ sở hình thành 7
1.1.3 Lịch sử của thể loại tiểu sử 9
1.1.4 Nghiên cứu tiểu sử học 11
1.2 Phương pháp nghiên cứu tiểu sử 15
1.3 Nguyễn Công Hoan từ phương pháp nghiên cứu tiểu sử 17
1.3.1 Lịch sử gia đình 17
1.3.2 Quãng đường xã hội 19
1.3.3 Chủ thể tính 21
1.3.4 Giới xã hội 28
CHƯƠNG 2: NHỮNG KIỂU LOẠI VÀ ĐẶC ĐIỂM NHÂN VẬT TRONG TRUYỆN NGẮN NGUYỄN CÔNG HOAN TRƯỚC NĂM 1945 TỪ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU TIỂU SỬ 31
2.1 Hệ thống nhân vật ở nông thôn 31
2.1.1 Nhân vật người nông dân 31
2.1.2 Nhân vật quan lại 36
2.1.2.1 Nhân vật quan ông 36
2.1.2.2 Nhân vật quan bà 39
2.2 Hệ thống nhân vật ở thành thị 41
Trang 32.2.1 Tầng lớp dân nghèo thành thị 42
2.2.1.1 Nhân vật phu xe 42
2.2.1.2 Nhân vật thằng ở, con sen 44
2.2.1.3 Nhân vật ăn mày, ăn cắp 46
2.2.2 Tầng lớp tiểu tư sản 49
2.2.2.1 Nhân vật cô gái tân thời 49
2.2.2.2 Nhân vật học trò 53
2.2.2.3 Nhân vật thầy giáo 56
2.2.2.4 Nhân vật nhà văn, ông chủ báo, viên chức 58
2.2.3 Tầng lớp tư sản thành thị 61
CHƯƠNG 3 NGHỆ THUẬT XÂY DỰNG NHÂN VẬT TRONG TRUYỆN NGẮN NGUYỄN CÔNG HOAN TỪ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU TIỂU SỬ 66
3.1 Đặt nhân vật vào tình huống mâu thuẫn, trào phúng và cốt truyện hấp dẫn, linh hoạt 67
3.2 Miêu tả chân dung nhân vật mang sắc thái giễu nhại, trào phúng 69
3.3 Thể hiện nhân vật qua ngôn ngữ đối thoại 72
KẾT LUẬN 76
TÀI LIỆU THAM KHẢO 78
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Đề tài Nhân vật trong truyện ngắn trước năm 1945 của Nguyễn Công
cứu và làm luận văn tốt nghiệp sau thời gian theo học tại Khoa Ngữ văn,Trường Đại học Sư phạm Hà Nội Trong quá trình nghiên cứu và hoàn thiệnluận văn, em đã nhận được nhiều sự quan tâm, giúp đỡ từ Quý thầy cô trongtrường cũng như là gia đình và bạn bè Để luận văn có được kết quả như ngàyhôm nay, em xin gửi lời cảm ơn chân thành đến với:
Khoa Ngữ văn, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội đã tạo môi trường họctập và rèn luyện rất tốt, cung cấp cho em những kiến thức và kỹ năng bổ íchgiúp em có thể áp dụng và thực hiện luận văn một cách thuận lợi
Giảng viên hướng dẫn Nguyễn Thị Tuyết Nhung - người cô tâm huyết, đãtận tâm hướng dẫn, giúp đỡ em trong suốt quá trình nghiên cứu và thực hiện đềtài Cô đã có những trao đổi và góp ý kịp thời và khoa học để em có thể hoànthành tốt đề tài nghiên cứu này
Em cũng xin trân trọng cảm ơn Ban Giám hiệu và đội ngũ giáo viênTrường Đại học Sư phạm Hà Nội đã tạo cơ hội cho em được học tập tại trường
để có những kiến thức cũng như là kinh nghiệm trong thực tế để có thông tinchính xác, hữu ích cho luận văn
Cuối cùng, em xin cảm ơn gia đình, bạn bè đã luôn động viên và tạo điềukiện tốt nhất để em có thể nỗ lực hoàn thành tốt bài nghiên cứu
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Nhà văn Nga Xantưkốp Sêđrin đã từng viết: “Nghệ thuật nằm ngoài quyluật của sự băng hoại Chỉ mình nó không thừa nhận cái chết” Câu nói đã kháiquát được sự trường tồn của nghệ thuật nói chung và văn học nói riêng Văn họcViệt Nam từ đầu thế kỉ XX đến năm 1945 có một diện mạo vô cùng mới mẻ vàđầy khởi sắc, đặc biệt khác so với văn học thời kì trước đó Cho đến nay, ta đãphần nào quan sát được sức sống mãnh liệt và sự tồn tại bền bỉ của nó Chính vìvậy, giai đoạn văn học này luôn là một đề tài thu hút các nhà nghiên cứu, nhữngngười làm khoa học đào sâu tìm tòi, khám phá
Làm nên một chặng đường văn học rực rỡ như vậy, chúng ta không thểkhông kể đến vai trò của các tác giả tiêu biểu trên văn đàn Mỗi người mộtphong cách sáng tác riêng làm nên bức tranh văn học muôn màu, muôn vẻ.Trong bức tranh ấy, ta có những đại diện xuất sắc cho khuynh hướng hiện thực
và một mảnh ghép không thể thiếu cho khuynh hướng này chính là NguyễnCông Hoan Ông đã để lại rất nhiều tác phẩm ghi dấu ấn sâu sắc trong lòng độcgiả
Hơn thế nữa, trải qua quá trình học tập, nghiên cứu về các tác giả, chúngtôi nhận ra mối quan hệ biện chứng giữa tiểu sử và các yếu tố sáng tác của tácgiả và Nguyễn Công Hoan cũng không phải ngoại lệ Cũng như các tác giảkhác, Nguyễn Công Hoan có một chặng đường đời thăng trầm nhiều sự kiện vàbiến cố, bản thân ông cũng là một con người đặc biệt, có thế giới quan và nhânsinh quan phong phú Tiền đề ấy đã khiến cho ông và các tác phẩm của mình trởthành đối tượng mà rất nhiều nhà nghiên cứu quan tâm nghiên cứu
Chính vì những lí do kể trên, chúng tôi đã lựa chọn đề tài Nhân vật trong truyện ngắn trước năm 1945 của Nguyễn Công Hoan nhìn từ phương pháp nghiên cứu tiểu sử trở thành khóa luận tốt nghiệp của mình.
2 Lịch sử vấn đề
Trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi đã tìm kiếm và khảo sát một sốcông trình nghiên cứu chung về Nguyễn Công Hoan và sáng tác của ông quacác thời kì lịch sử
Nguyễn Công Hoan là một nhà văn có vị trí quan trọng trên văn đàn.Chính vì vậy, những sáng tác của ông luôn là một đề tài thu hút nhiều sự quan
Trang 6tâm, chú ý của các học giả, các nhà phê bình và nghiên cứu Về phương diện nội
dung tư tưởng, có thể kể đến Luận án Phó tiến sĩ văn học với đề tài Truyện ngắn Nguyễn Công Hoan của Lê Thị Đức Hạnh, Thế giới nhân vật trong truyện ngắn
và tiểu thuyết của Nguyến Công Hoan của tác giả Nguyễn Thị Thành, Tính kịch trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan trước Cách mạng tháng Tám 1945 của
Nguyễn Khánh Chung Về phương diện ngôn ngữ, tác phẩm của ông cũng trở
thành cứ liệu cho một số đề tài nghiên cứu như: Nghệ thuật điển hình hóa trong những sáng tác tiêu biểu trước Cách mạng tháng Tám của Nguyễn Công Hoan
của Nguyễn Cẩm Yến, Luận văn thạc sĩ ngôn ngữ học của Hà Thị Tuyết với đề
tài Câu có hình thức nghi vấn trong tác phẩm của Nguyễn Công Hoan Bên
cạnh đó, một số công trình đi sâu vào nghiên cứu quan niệm sáng tác của
Nguyễn Công Hoan như: Luận văn thạc sĩ của Đỗ Thị Huyền với đề tài Quan niệm của Nguyễn Công Hoan về một số vấn đề văn học, Luận văn tốt nghiệp của Vũ Thị Thúy Hằng với đề tài Quan niệm văn học của Nguyễn Công Hoan,
…
Ở Việt Nam, những công trình nghiên cứu trực tiếp liên quan đến tiểu sử
nhà văn đã xuất hiện từ đầu thế kỉ XX như Sự nghiệp và thi văn của Uy viễn Tướng công Nguyễn Công Trứ của Lê Thước Sau này, khi nghiên cứu về một
số tác giả văn học trung đại, nhiều nhà nghiên cứu cũng đã sử dụng phươngpháp tiểu sử để khảo cứu và phê bình về các nhà văn, nhà thơ như nghiên cứu
về Hồ Xuân Hương của nhà nghiên cứu Hoa Bằng, nghiên cứu về đại thi hào
Nguyễn Du của Nguyễn Bách Khoa Tiêu biểu hơn cả là công trình Hàn Mặc
Tử, thân thế và thi văn của Võ Doãn Mại (1941) và Tú Xương, con người và nhà thơ của Trần Thanh Mại Hai công trình nói trên đã khắc họa rất rõ mối
quan hệ giữa tiểu sử và chặng đường văn chương, đồng thời từ những căn cứ ởphương diện tiểu sử đã đưa ra những kiến giải tương đối sắc sảo về một số tácphẩm của những tác giả này Về tác giả Nguyễn Công Hoan, chúng tôi thấychưa thực sự có nhiều những công trình nghiên cứu về mối quan hệ giữa cuộc
đời và sự nghiệp của ông Duy chỉ có công trình Nguyễn Công Hoan: Về tác giả
và tác phẩm của PGS Lê Thị Đức Hạnh được đánh giá là một công trình nghiên
cứu bài bản, lớp lang về tác giả này Đây cũng là công trình gây được tiếng vang
Trang 7và nhờ đó, bà được giới nghiên cứu phê bình nhắc tới như một “chuyên giahàng đầu về Nguyễn Công Hoan”.
Từ những cơ sở nói trên, chúng ta có thể rút ra kết luận: những công trìnhnghiên cứu về Nguyễn Công Hoan chủ yếu tập trung vào phương diện nội dung
tư tưởng hoặc là ngôn ngữ nghệ thuật trong các sáng tác, đặc biệt là truyệnngắn Trên cơ sơ tiếp thu và thụ hưởng kết quả nghiên cứu vô cùng giá trị củanhững người đi trước, chúng tôi mang đến một góc nhìn tương đối mới mẻ vềnhân vật trong các truyện ngắn của nhà văn Nguyễn Công Hoan thông quaphương pháp nghiên cứu tiểu sử Từ phương pháp này, có thể nhận thấy mốiquan hệ gắn bó chặt chẽ giữa cuộc đời và sáng tác của nhà văn một cách rõ nét,khoa học và logic hơn, từ đó đưa ra những kiến giải phục vụ cho việc nghiêncứu toàn diện về tác giả Nguyễn Công Hoan hoặc các tác giả cùng thời kì
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của Khóa luận là thế giới nhân vật trong truyệnngắn trước năm 1945 của Nguyễn Công Hoan từ góc nhìn tiểu sử học, trong đóchúng tôi tập trung làm sáng tỏ yếu tố tiểu sử của nhà văn Nguyễn Công Hoangóp phần định hình nên thế giới nhân vật và chi phối nghệ thuật xây dựng nhânvật độc đáo của ông
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Để triển khai và hoàn thiện đề tài nghiên cứu, Khóa luận tập trung khảo
sát cuốn Hồi kí Đời viết văn của tôi (NXB Thanh niên) và các truyện ngắn được sáng tác trước năm 1945 trong tập Nguyễn Công Hoan truyện ngắn chọn lọc (tập 1 và tập 2) do Lê Minh – con gái nhà văn trực tiếp sưu tầm và tuyển chọn,
được in vào năm 2002 tại Nhà xuất bản Hội nhà văn
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
Với đề tài này, chúng tôi xác định nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể của khóaluận là:
Trang 8- Giới thuyết chung về lý thuyết Tiểu sử học, Phương pháp nghiên cứutiểu sử – nguồn gốc, quan điểm, cách tiếp cận, những thuật ngữ chính của líthuyết và phương pháp.
- Phân tích, đánh giá đặc điểm thế giới nhân vật tiêu biểu trong truyệnngắn Nguyễn Công Hoan trước 1945 từ phương pháp nghiên cứu tiểu sử
- Phân tích, đánh giá nghệ thuật xây dựng nhân vật trong truyện ngắnNguyễn Công Hoan trước 1945 từ phương pháp nghiên cứu tiểu sử
5 Phương pháp tiếp cận
Để thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu trên, Khóa luận đã sử dụng chủ yếucác phương pháp nghiên cứu sau:
- Phương pháp nghiên cứu tiểu sử
- Phương pháp phân tích tác phẩm văn học theo thể loại: Phương phápnày chú trọng đặc trưng thi pháp của thể loại, cụ thể là thể loại truyện ngắn, đặttrong mối quan hệ với diện mạo chung của văn học Việt Nam từ đầu thế kỉ XXđến năm 1945
- Phương pháp cấu trúc - hệ thống: Khóa luận tập trung phân tích truyệnngắn Nguyễn Công Hoan theo lát cắt cấu trúc nội tại hình thành nên tác phẩm(sự kết hợp giữa nội dung và hình thức); đồng thời đặt truyện ngắn của ôngtrong bối cảnh lịch sử, văn hóa, xã hội Việt Nam nửa đầu thế kỉ XX nói chung,
để thấy được đặc sắc riêng của truyện ngắn Nguyễn Công Hoan trong diện mạochung của văn học giai đoạn này
- Phương pháp phân tích - tổng hợp: Phân tích đặc sắc về nội dung vàhình thức nghệ thuật của truyện ngắn Nguyễn Công Hoan trước 1945 từ gócnhìn Tiểu sử học, từ đó tổng hợp, khái quát những yếu tố tác động đến sự hìnhthành phong cách sáng tác của nhà văn
- Phương pháp so sánh - đối chiếu: Đối chiếu giữa các yếu tố tiểu sử củaNguyễn Công Hoan với thế giới nhân vật, và so sánh truyện ngắn Nguyễn CôngHoan với các nhà văn hiện thực cùng thời để có cái nhìn khái quát, đa chiều vàtoàn diện hơn
- Phương pháp thống kê - phân loại: Thống kê số lượng, sự xuất hiện củacác kiểu loại nhân vật trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan trước 1945
Trang 96 Cấu trúc của Khóa luận
Ngoài Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, nội dung chính của Khóaluận được triển khai thành ba chương:
Chương 1: Giới thuyết chung về tiểu sử học, phương pháp nghiên cứutiểu sử và Nguyễn Công Hoan
Chương 2: Những kiểu loại và đặc điểm nhân vật trong truyện ngắnNguyễn Công Hoan trước năm 1945 từ phương pháp nghiên cứu tiểu sử
Chương 3: Nghệ thuật xây dựng nhân vật trong truyện ngắn NguyễnCông Hoan từ phương pháp nghiên cứu tiểu sử
Trang 10“Tiểu sử” (thuật ngữ tiếng Anh là “autobiography”), nghĩa là “câu chuyện
về cuộc đời của một con người” Có thể coi đó là một bản mô tả chi tiết những
sự kiện cơ bản như sinh ra và lớn lên, chế độ giáo dục, công việc, các mối quan
hệ và cái chết; ngoài ra, nó còn miêu tả trải nghiệm của một người về những sựkiện diễn ra trong cuộc sống của một cá nhân - chủ thể câu chuyện Khônggiống như hồ sơ xin việc hoặc lý lịch trích ngang, tiểu sử trình bày câu chuyệncuộc đời của một chủ thể, nêu bật các khía cạnh khác nhau trong cuộc sống củangười đó, bao gồm các chi tiết kinh nghiệm thân mật và có thể bao gồm phântích tính cách của chủ thể
Tiểu sử học là ngành khoa học nghiên cứu những “câu chuyện cuộc đời”[9; 68] của con người qua những tác phẩm tự thuật/ hồi kí hoặc những sáng tácmang dấu ấn của tự thuật/ hồi kí Từ hướng tiếp cận tiểu sử, nhà nghiên cứumong muốn khám phá những trải nghiệm đời tư, cá tính của chủ thể cũng nhưdấu ấn của lịch sử, xã hội, văn hóa, tư tưởng góp phần hình thành nên nhân cáchcon người văn hóa – và đến lượt nó, những yếu tố đó lại hội tụ và kết tinh trongnhững sáng tạo nghệ thuật của những chủ thể văn hóa đó
1.1.2 Cơ sở hình thành
Con người luôn khao khát tìm hiểu và tri nhận bản thân mình Cho đếntận ngày nay, cuộc tìm kiếm bản thể và ý nghĩa hiện hữu vẫn luôn được đặt ravới mỗi cá nhân, bằng tất cả các hình thức khác nhau Khi khoa học phát triển,mỗi ngành khoa học lại có con đường riêng để tìm hiểu về con người Tuynhiên, ở phương diện cá nhân, việc hiểu biết chính mình là một khái niệm đặc
Trang 11biệt trong đó chủ thể và đối tượng là một Nhưng nếu cuộc hành trình đó chỉdừng lại ở trong tâm thức thì sẽ không cần đến lĩnh vực nghiên cứu tiểu sử học
mà chỉ cần lĩnh vực tâm lí học Vì lẽ đó, xuất hiện hình thái diễn đạt cá nhântrong đó có tiến trình tự sự hay còn được hiểu là kể lại câu chuyện của bản thân
để tự thân cũng như là các đối tượng khác hiểu hơn về chính mình
Hình thức này xuất hiện đầu tiên ở văn hóa phương Tây Triết học Socrateđưa ra những luận đề về việc khám phá bản thể Trường phái này từng nhắc nhở
con người: “Hãy tự tri hiểu chính mình” Sau này, Platon cũng dẫn lời thoại của Socrate: “Vì ta vẫn chưa biết chính ta, như châm ngôn khắc trên đền thờ Delphes đòi hỏi, và vì có vẻ nực cười khi không biết chính mình mà lại đi tìm hiểu biết các sự vật khác bên ngoài…” [9; 19] Ở một ghi chép khác, trong cuộc
đối thoại với Alcibiade, Socrate cũng đặt ra chất vấn xoay quay phương diện
này: “Khi chúng ta nhìn mắt người chúng ta, gương mặt chúng ta sẽ được phản chiếu trong con ngươi như một tấm gương vậy” [9; 20].
Tất cả những trích dẫn trên là những tiền đề xa xưa nhất, cơ bản nhất thôithúc con người tìm hiểu về chính mình Vậy làm cách nào để tìm hiểu về chínhmình trong khi con người luôn luôn là một bản thể phức tạp và kì diệu? Về saunày, ngành nghiên cứu khoa học xã hội đã phân tích bản thể cá nhân cũng theođịnh hướng: hiểu biết về một cá nhân dựa trên mối quan hệ của cá nhân với cácđối tượng khác
Cơ sở của tiểu sử học còn bắt nguồn từ những tư tưởng tôn giáo Theo Ki
tô giáo: “Cuộc tìm về bản thân không nên diễn ra trong tình trạng cô đơn mà còn gắn với tình huynh đệ nghĩa là con người đi tìm chính mình cũng phải cần đến những kẻ khác và họ sẽ trở thành gương soi cho tâm hồn mình” [9; 22] Lại
một lần nữa, cách thức tìm hiểu bản thân gắn với những người xung quanh đượckhẳng định Nếu chỉ tự bản thân tìm kiếm về bản thân thì sẽ cho một kết quảchủ quan, khiên cưỡng và sẽ để lại những nhận thức sai lầm về chính bản thânmình Còn đặt bản thân trong mối quan hệ với những người xung quanh sẽ đạtđược kết quả có tính chính xác tương đối cao trong quá trình chủ thể muốn trinhận chính mình
Trang 12Sau khi có một hướng đi về quá trình tìm hiểu chính mình thì họ lại đặt ramột câu hỏi khác: “Kết quả của quá trình khám phá ấy là gì? Liệu con người cómột diện mạo, sắc vóc mới hay không sau quá trình tự nghiên cứu ấy?” Câu hỏi
ấy mãi cho đến cuối thế kỉ IV, đầu thế kỉ V mới được trả lời, cụ thể là trong tác
phẩm Những lời trần tình của thánh Augustin Ở đó, ông đã kể lại hành trình
cuộc đời mình từ ngày ấu thơ đến tuổi trưởng thành Đây có thể coi là hình thứcđầu tiên của tự sự Hơn thế nữa, tác phẩm ấy còn hướng đến việc nâng lòng trícủa con người lên Thượng đế Đặt con người ở một vị trí cao như vậy là một tưduy mới mẻ hiếm có Cho đến thời kì Phục Hưng, quan niệm ấy trở nên phổbiến và dường như trở thành tôn chỉ trong mọi lĩnh vực của đời sống Ở thời kìnày, họ nhìn nhận con người sở hữu những khả năng thông tuệ vô hạn và tiềm
ẩn Con người trở thành thước đo của mọi giá trị Ta có thể nhận thấy sự khácbiệt vô cùng lớn: quan niệm này khác hoàn toàn với niềm tin tưởng và sự sợ hãi
mù quáng trước thiên nhiên, và vào tôn giáo Quan niệm này cũng tạo tiền đềcho trào lưu cá nhân diễn ra ở các lĩnh vực khác nhau ở thời điểm bấy giờ Việcnhận thức sâu sắc về giá trị con người cũng là một cơ sở quan trọng cho việcviết và nghiên cứu tiểu sử sau này Nếu không nhận thấy đối tượng hướng đến,đối tượng nghiên cứu có giá trị hay tiềm năng thì nhân loại sẽ khước từ thể loại
tự sự và nó sẽ bị khai tử
Từ thời nguyên Khai Minh đến thời kì hiện đại, tất cả đã tạo cơ hội cho
sự khẳng định khả năng làm chủ con người cá nhân đồng thời tạo ra một tràolưu khai minh với tinh thần Cách mạng và từ chối truyền thống bất biến để chútrọng đến yếu tố lý trí và ý niệm tiến bộ Từ đó, con người hiểu hơn vị thế củabản thân trong xã hội hiện hữu Hơn thế nữa, đây cũng là thời kì khoa học pháttriển dẫn đến tư duy đề cao lí trí và kinh nghiệm cá nhân Con người có nhữngphương thức tìm hiểu về bản thân khoa học và lí trí hơn nhiều so với những thời
kì trước Việc họ nâng cao giá trị của bản thể chính là tiền đề đầu tiên cho việccuộc đời của con người trở thành đối tượng của một bộ môn khoa học mang têntiểu sử học
Trang 131.1.3 Lịch sử của thể loại tiểu sử
Một trong những người viết tiểu sử sớm nhất là Cornelius Nepos, người
đã xuất bản tác phẩm Excellentium Imperatorum Vitae (Cuộc đời của những vị
tướng kiệt xuất) vào năm 44 trước Công nguyên Sau đó, một tiểu sử dài hơn vàrộng hơn đã được viết bằng tiếng Hy Lạp bởi Plutarch, trong cuốn Parallel Lives của ông, xuất bản khoảng năm 80 sau Công nguyên Một tập các tiểu sử
cổ đại nổi tiếng khác là De vita Caesarum (On the Lives of the Caesars)
của Suetonius, viết về năm 121 sau Công nguyên của hoàng đế Hadrian Vàođầu thời Trung cổ (400 đến 1450 sau Công nguyên), đã có sự suy giảm nhậnthức về văn hóa cổ điển ở châu Âu Các tác phẩm tiểu sử thời kì này có ý nghĩatruyền cảm hứng cho người dân và phương tiện để chuyển đổi sang Cơ đốcgiáo (tác phẩm Hagiography) Một ví dụ thế tục quan trọng của tiểu sử từ thời
kỳ này là cuộc đời của Charlemagne được cận thần Einhard viết
Đối tượng của những tác phẩm tiểu sử cũng có những sự khác biệt giữamỗi thời kì Trong nền văn minh Hồi giáo thời trung cổ (khoảng năm 750 đến
1258 sau Công nguyên), các từ điển tiểu sử sớm nhất ban đầu tập trung vàocuộc sống của các nhà tiên tri Hồi giáo và những người bạn đồng hành của họ,
với một trong những ví dụ ban đầu là Cuốn sách về các lớp học chính của Ibn Sa'd al-Baghdadi Và sau đó bắt đầu các tài liệu về cuộc sống của nhiều nhân
vật lịch sử khác (từ những người cai trị đến các học giả) sống trong thế giới Hồigiáo thời trung cổ
Đến cuối thời Trung cổ, tiểu sử trở nên ít hướng đến nhà thờ ở châu Âukhi tiểu sử của các vị vua, hiệp sĩ và bạo chúa bắt đầu xuất hiện Nổi tiếng nhất
trong các tiểu sử như vậy là Le Morte d'Arthur của Sir Thomas Malory Cuốn
sách là một câu chuyện kể về cuộc đời của Vua Arthur huyền thoại và Hiệp sĩBàn tròn của ông Theo Malory, sự nhấn mạnh mới về chủ nghĩa nhân văn trongthời Phục hưng đã thúc đẩy sự tập trung vào các chủ đề thế tục, như các nghệ sĩ
và nhà thơ, và khuyến khích viết bằng tiếng bản địa
Cuộc đời của các nghệ sĩ của Giorgio Vasari (1550) là tiểu sử mang tính
bước ngoặt tập trung vào cuộc sống thế tục Vasari làm cho những người nổi
Trang 14tiếng về các đối tượng của mình, khi nó trở thành một “cuốn sách bán chạynhất” đầu tiên Hai sự phát triển khác rất đáng chú ý: sự phát triển của báo introng thế kỷ 15 và sự gia tăng dần dần của số người biết chữ Tiểu sử hiện đạiđầu tiên, và một tác phẩm có ảnh hưởng đáng kể đến sự phát triển của thể loạinày, là Cuộc đời của Samuel Johnson của James Boswell, tiểu sử của nhà từđiển học và người viết thư Samuel Johnson xuất bản năm 1791 Trong khi việclàm quen cá nhân của Boswell với chủ đề của ông chỉ bắt đầu vào năm 1763,khi Johnson 54 tuổi, Boswell đã bao quát toàn bộ cuộc đời của Johnson bằngphương pháp nghiên cứu bổ sung Tự truyện được viết bởi các tác giả,như Charles Dickens (người kết hợp các yếu tố tự truyện trong tiểu thuyết củaông) và Anthony Trollope, (Tự truyện của ông ra đời sau khi ông mất, nhanh
chóng trở thành một cuốn sách bán chạy nhất ở Luân Đôn ), các nhà triết học,như John Stuart Mill, nhà thờ - John Henry Newman - và những người trongngành giải trí - PT Barnum Thời hiện đại, khái niệm thông thường về các anhhùng và các câu chuyện kể về thành công đã biến mất, thay vào đó là sự tậptrung viết về những khám phá tâm lý về tính cách Nhà phê bình người Anh
Lytton Strachey đã cách mạng hóa nghệ thuật viết tiểu sử với tác phẩm Những người Victoria nổi tiếng năm 1918, bao gồm tiểu sử của bốn nhân vật hàng đầu
từ thời Victoria: Hồng y Manning, Florence Nightingale, Thomas Arnold vàTướng Gordon Strachey quyết định đẩy sức sống vào thời đại Victoria để cácthế hệ tương lai có thể đọc Vào Thế chiến thứ nhất, các bản in bìa cứng giá rẻ
đã trở nên phổ biến Những thập kỷ của thập niên 1920 – giai đoạn bối cảnh xãhội xảy ra nhiều sự kiện và biến cố- đã chứng kiến “sự bùng nổ” tác phẩm tiểu
sử Năm 1973 là bước ngoặt trong tự truyện của phụ nữ; có thể kể đến một số
cuốn tiểu sử như Zelda ấn hành năm 1970 của Nancy Milford, ấn phẩm Tạp chí
cô đơn của May Sarton Đây chính là tự truyện đầu tiên của một người phụ nữ
kể về câu chuyện cuộc đời mình Thêm vào đó, xã hội luôn trải qua những thăngtrầm, biến thiên, vì vậy, nhu cầu ghi chép và tạo lập tiểu sử ngày càng trở nênphổ biến Đó cũng là lí do trong những năm gần đây, tiểu sử đa phương tiện đãtrở nên phổ biến hơn các hình thức văn học truyền thống Cách thức tiếp cậnmới đã giúp nhiều đối tượng có thể tiếp cận với lối viết tiểu sử
Trang 151.1.4 Nghiên cứu tiểu sử học
Nghiên cứu về những câu chuyện cuộc đời chưa bao giờ là hành động dễdàng cho dù chúng ta xuất phát từ bất cứ lí thuyết nào Tuy nhiên, đây lại là mộthướng nghiên cứu mới đầy tiềm năng của ngành khoa học xã hội nhân văn nóichung, trong đó có văn học Câu chuyện cuộc đời có thể chứa đựng những ýhướng rõ ràng hay ngầm ẩn về các tác giả Không chỉ dừng lại ở những vấn đề
kí ức mà nó còn hướng tới những địa tầng khác liên quan đến khoa học và suytưởng
Nhắc đến nghiên cứu tiểu sử học không thể không nhắc đến trường pháiChicago Đây là cách nói chỉ tổng hợp những công trình nghiên cứu của sinhviên và giảng viên khoa Xã hội học của trường Đại học Chicago từ năm 1915đến năm 1940 Lĩnh vực nghiên cứu chính của họ là xã hội, đặc biệt là xã hội đôthị (nhắm đến tầng lớp thị dân) Họ quan tâm đến những vấn đề như bạo lực, tộiphạm vị thành niên, trộm cắp,… Ta không tập trung vào đối tượng và mục đíchnghiên cứu của nhóm nghiên cứu này mà đi sâu vào phương pháp nghiên cứucủa họ Họ đã sử dụng những tư liệu cá nhân như là nhật kí, sổ tay ghi chéptrong các nghiên cứu của mình để phân tích về đối tượng Từ đây, về phươngdiện phương pháp luận, việc sử dụng những tư liệu cá nhân đã được thừa nhận.Hơn cả việc dùng tư liệu cá nhân để phân tích về một đối tượng cụ thể, họ còndùng nó để xem xét cả một cộng đồng
Nghiên cứu tiểu sử học được định nghĩa là một phương pháp nghiên cứuthu thập và phân tích toàn bộ cuộc sống của một người, hoặc một phần của cuộcsống, thông qua cuộc phỏng vấn sâu và không có cấu trúc, hoặc đôi khi đượccủng cố bằng phỏng vấn bán cấu trúc hoặc tài liệu cá nhân Các thông tin có thểđến từ “lịch sử bằng miệng, câu chuyện cá nhân, tiểu sử và tự truyện” hay “nhật
ký, thư từ, biên bản ghi nhớ và các tài liệu khác” [9; 76] Mục tiêu trọng tâmcủa nghiên cứu tiểu sử là “khái quát các loại cấu trúc của hành động” [9; 79], cónghĩa là “hiểu logic của hành động hoặc cách con người và cấu trúc được liênkết với nhau” Phương pháp này có thể được sử dụng để hiểu cuộc sống của một
cá nhân trong bối cảnh xã hội của nó hoặc hiểu các hiện tượng văn hóa
Trang 16Khi nghiên cứu tiểu sử của một đối tượng, ta cần phải xét đến những yếu
* Giới xã hội
Đây là một khái niệm quen thuộc được sử dụng như là tiền để để nghiêncứu các vấn đề khoa học xã hội Giới xã hội được tạo nên xung quanh một loạihình hoạt động chuyên biệt, đó là một kiểu hoạt động ngành nghề Hơn thế nữa,giới xã hội còn “tương đối ổn định, có sự phân chia vai trò, cương vị, có nhữngngôn ngữ chung, có sự hỗ trợ về quyền và nghĩa vụ”; “đòi hỏi một tinh thầnthuộc về ý thức sống chung, hay ít ra làm chung với nhau việc gì đó” [9; 111].Chúng ta đã quen thuộc với các khái niệm như giới nghệ sĩ, giới họa sĩ, giới tríthức, giới kinh doanh… Vì vậy, khi phân tích đối tượng, cần đặt đối tượng vàođúng giới xã hội của họ; bên cạnh đó phải nắm vững các nguyên lí về sự vận
Trang 17hành của giới đó Việc nghiên cứu giới xã hội là một trong những bước đệm đầutiên để người nghiên cứu có thể hiểu được căn tính, cơ chế hình thành căn tínhcũng như xu hướng quyết định, lựa chọn của đối tượng.
* Quãng đường xã hội
Khái niệm này nhằm biểu đạt những giai đoạn khác nhau với sự hiện tạihóa các khả năng khác nhau của cá nhân xét trên bình diện xã hội Nó giúpchúng ta hiểu về những hành động của đối tượng trong xã hội từ đó xét đoán các
vị trí khác nhau của cá nhân ở những thời điểm khác nhau của cuộc đời Chúng
ta cần đặc biệt lưu ý đến những dấu mốc như thất bại, thành công, mất mát,chuyển dịch… để xem xét xem chúng để lại kết quả và ý nghĩa như thế nào đốivới toàn bộ quãng đường xã hội của cá nhân Tham khảo khía cạnh quãngđường xã hội sẽ giúp chúng ta có những biện luận và diễn giải chính xác hơn vềđối tượng cần nghiên cứu
* Vị trí xã hội
Cần phân biệt khái niệm vị trí xã hội và giới xã hội Vị trí xã hội là kháiniệm chỉ tổng thể những người mà hoàn cảnh hay vị trí sản sinh ra những khókhăn, thuận lợi, những nguyên nhân giống nhau tuy nhiên họ không có cùngcách thức hoạt động để trở thành một giới xã hội Do đó, khái niệm giới xã hội
là khái niệm rộng hơn và không bao hàm khái niệm vị trí xã hội Ví dụ như vị trí
xã hội cao hay thấp: người áp bức hay người bị áp bức, người sử dụng nô lệ hay
nô lệ, quan chức hay là thường dân… Nhờ việc thu thập dữ liệu của khía cạnhnày, chúng ta có thể hiểu được quá trình từng bước dẫn đối tượng đến vị trí xãhội đó; hơn thế nữa còn khám phá được thái độ của đối tượng với vị trí xã hộicủa mình (thỏa mãn, bất mãn, ngạo mạn, cảm thấy kém cỏi,…)
* Chủ thể tính
Theo Hành trình cùng triết học của Ted Honderich, chủ thể tính
(Subiectivity) là những yếu tố liên quan tới chủ thể và bối cảnh, tình cảm, niềmtin, và ước muốn riêng của chủ thể Thuật ngữ này phổ biến trong triết học Cậnđại, thường được coi là một phương diện đối lập với khách quan tính Nó còn
Trang 18trở thành một xu hướng của cá nhân quan sát và nhận định thế giới theo bản tínhriêng của mình Ngoài các yếu tố nội sinh như bản tính thì chủ thể tính còn chịuảnh hưởng bởi kinh nghiệm, thể chế văn hóa chính trị hay tôn giáo Đây là mộtyếu tố quan trọng chi phối cực kì sâu sắc đến cuộc đời một con người
Bên cạnh những mặt tích cực, phương pháp nghiên cứu tiểu sử học tồn tạimột số mặt hạn chế Các sự kiện và chi tiết được kể có thể thiếu tính xác thựchoặc tồn tại những mâu thuẫn không có lời giải, hoặc đối tượng nghiên cứu đãqua đời hay thất lạc tài liệu Do vậy, bản thân người nghiên cứu cần phải xemxét nhiều nguồn tư liệu khác nhau để có được kết quả cuối cùng Việc làm nàyđòi hỏi quá trình lâu dài và sự dày công tìm kiếm, khai thác tài liệu của ngườinghiên cứu
Có thể kết luận rằng, nghiên cứu tiểu sử học là một công việc không hềđơn giản nhưng đem lại nhiều kết quả ý nghĩa Đây cũng là một hướng đi đượcnhiều nhà nghiên cứu lựa chọn trong thời điểm hiện nay
1.2 Phương pháp nghiên cứu tiểu sử
Trải qua một chặng đường lịch sử lâu dài với nhiều chuyển biến về quanniệm, ý thức về vấn đề tiểu sử, đến thế kỉ XX, nhà phân tâm học Sigmund Freudcùng một số cộng sự đã chủ trương nghiên cứu tác phẩm đề tìm hiểu lịch sử củanhà văn Mặt khác, đây cũng là thời kì bùng nổ của việc xuất hiện các loại tiểu
sử văn học cũng như là các phương pháp nghiên cứu, phê bình văn học bằngtiểu sử học Nguyên tắc đặc trưng của loại phương pháp này là dùng yếu tố tiểu
sử của nhà văn để lí giải tác phẩm văn học của nhà văn đó Chính vì vậy, các tácphẩm tiểu sử văn học chính là nguồn tư liệu dồi dào và có tính chính xác cao đểcác nhà nghiên cứu bám vào đó mà khảo nghiệm và nghiên cứu
Để văn bản tiểu sử thực hiện được chức năng nền tảng thì bản thân tiểu
sử cũng cần phải đáp ứng một số nguyên tắc nhất định như: khách quan, trungthực, là sản phẩm tinh thần dựa trên cuộc đời của chính nhà văn mà không cóyếu tố bên ngoài tác động, gò ép và đặc biệt hơn cả là không được xuất phát từđịnh kiến Có thể lí giải những nguyên tắc nói trên như sau:
Trang 19Đầu tiên, các yếu tố tiểu sử của nhà văn hoàn toàn có thể có mối liên hệvới tác phẩm của họ thông qua hai con đường: trực tiếp và gián tiếp Trong đó,những mối liên hệ trực tiếp thường có dấu tích chứng thực để người nghiên cứu
có thể nhanh chóng tìm kiếm và lắp ghép Ngược lại, các mối quan hệ gián tiếpthì nảy sinh dựa trên những cơ sở trừu tượng hơn; nó không còn là sự chuyểnđổi một cách cơ học và nguyên vẹn từ cuộc đời vào tác phẩm nữa mà nó nằm ởmức độ trừu tượng và phức tạp hơn Cũng chính mối quan hệ gián tiếp giữa tiểu
sử và tác phẩm dẫn đến hệ định kiến của những nhà nghiên cứu máy móc Họ
cố gắng chắp nối để tạo ra một mạch “tưởng như là logic” nhưng về bản chất,
đó chỉ là những suy luận lí tính khiên cưỡng, dẫn đến hệ quả sai lầm trong việctìm hiểu về nhà văn và tác phẩm của họ
Thứ hai, các yếu tố của sáng tác không thực sự nhất thiết phải có đầy đủcác yếu tố đối ứng với tiểu sử nhà văn Ví dụ, chúng ta rất khó để tìm trong mộttác phẩm truyện ngắn đầy đủ yếu tố lịch sử gia đình, yếu tố giới xã hội, yếu tốchặng đường đời, yếu tố chủ thể tính,… đặc biệt là trong các tác phẩm có dunglượng ngắn như thơ, truyện ngắn,…
Vậy nên, việc sử dụng các cơ sở tư liệu tiểu sử không phải là một côngviệc dễ dàng, nó đòi hỏi một sự chính xác và khách quan cao độ Khi nghiêncứu tác phẩm văn học qua góc độ tiểu sử học, cần chú ý một số điểm như sau:
Thứ nhất, đối với những tác giả đã qua đời, những chi tiết tiểu sử cần phảiđược xem xét dựa trên nhiều nguồn để đảm bảo tính xác thực và khách quan.Trong một số trường hợp, người nghiên cứu cũng cần sử dụng các phương pháp
và biện pháp khoa học nhằm tìm kiếm thông tin mang độ chính xác cao
Thứ hai, việc áp dụng phương pháp tiểu sử thường dẫn đến hệ quả là kếtquả nghiên cứu trở nên lệ thuộc, khiên cưỡng, máy móc Các nhà nghiên cứucần thận trọng với lối chắp ghép, liên hệ một cách cơ học Đây là một phươngpháp có tính ứng dụng cao, tuy nhiên, nếu gò ép những cơ sở dữ liệu tiểu sử thì
sẽ dễ đi đến những nhận định thiếu tính chính xác
Trang 20Từ những cơ sở và nguyên tắc nói trên, đề tài tiến hành nghiên cứu đặcđiểm thế giới nhân vật trong truyện ngắn trước năm 1945 của tác giả NguyễnCông Hoan từ phương pháp nghiên cứu tiểu sử nhằm làm sáng tỏ mối quan hệqua lại giữa cuộc đời nhà văn với những sáng tác nói chung và thế giới nhân vậtnói riêng.
1.3 Nguyễn Công Hoan từ phương pháp nghiên cứu tiểu sử
1.3.1 Lịch sử gia đình
Nguyễn Công Hoan sinh ngày mùng 6 tháng 3 năm 1903, quê quán tạilàng Xuân Cầu, huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên Ông sinh ra trong một giađình quan lại phong kiến có truyền thống khoa bảng Gia tộc họ Nguyễn củaNguyễn Công Hoan nhiều đời có người thi đỗ cao, được ghi tạc trên tấm biathân thế sự trạng họ Nguyễn tại chính quê hương của ông Có thể kể đến cụNguyễn Hằng, đỗ Tiến sĩ năm 29 tuôi, khoa Bính Tuất, làm quan đến chứcTham chính, cụ Nguyễn Tính, đỗ Tiến sĩ năm 30 tuổi khoa Canh Thìn, làm tới
Lễ bộ hữu thị Lang Nghĩa quận công, cho đến bây giờ vẫn còn văn bia dựng tạiQuốc Tử Giám, Hà Nội Cụ Nguyễn Hành, đỗ Tiến sĩ năm 33 tuổi, khoa MậuThìn (1688), làm đến chức Lại bộ tả thị lang Tước tử, cụ Nguyễn Gia Cát, đỗTiến sĩ khoa Đinh Mùi (1787)
Tuy nhiên, truyền thống khoa bảng chỉ kéo dài đến đời ông nội củaNguyễn Công Hoan và đến thời của ông thì gia đình bắt đầu thất thế ChaNguyễn Công Hoan là Nguyễn Đạo Khang, đỗ Tú tài, giữ chức huấn đạo (chứcquan trông coi việc học) còn mẹ ông là Tô Thị Tám, làm ruộng Ông còn có bà
nội thuộc dòng dõi nhà nho, thuộc lòng nhiều sách như Truyện Kiều, Nhị độ mai, thơ Đường Trong hồi kí Đời viết văn của tôi, Nguyễn Công Hoan còn kể
về bà nội: bà thuộc nhiều thơ Đường, truyện Nôm “nên tối tối, trước khi đi ngủ,
bà thường ngâm nga, rồi dạy truyền khẩu” [3; 14] Vì thế, “niêm luật của thơ ca,nhạc điệu của ngôn ngữ được luyện vào tai tôi, được nhuần vào óc tôi, ngay từngày ấy” [3; 14].Ông trẻ của Nguyễn Công Hoan chính là Đặng Tích Trù, dịch
giả tập thơ Đường Thiên thai Bởi vì hoàn cảnh thất thế nói trên, cha Nguyễn
Trang 21Công Hoan tỏ rõ sự bất mãn với thời cuộc và thường kể cho con mình nhữnggiai thoại có tính chất trào lộng, châm biếm, đả kích về tầng lớp quan lại
Vì nhà nghèo nên từ năm bốn tuổi, Nguyễn Công Hoan đến sống vớingười bác Nguyễn Đạo Quán Ông Đạo Quán đỗ phó bảng khoa Mậu Tuất(1898) được bổ nhiệm tri huyện, sau thăng lên làm tri phủ Mặc dù làm quannhưng người bác vẫn giữ lối sống thanh bạch hơn thế nữa lại vô cùng yêu thích
thơ văn Ông Nguyễn Đạo Quán là tác giả cuốn Lịch sử 18 Hùng Vương và cuốn Hán văn khai tâm, do Tản Đà thư cục xuất bản năm 1923
Từ yếu tố gia đình của Nguyễn Công Hoan có thể thấy rằng: dù NguyễnCông Hoan được sinh trưởng từ một gia đình nho giáo và phong kiến cuối mùa,
dù cho những yếu tố Nho học đã dần mai một đi trong gia đình ông nhưng nhìnchung, dòng họ Nguyễn của ông vẫn được đánh giá là một dòng họ lớn, cótruyền thống khoa bảng và văn học Điều đó đã ảnh hưởng trước hết đến thếgiới quan và nhân sinh quan của ông
Ngoài ra, cha ông là người gần gũi con cái, am hiểu văn hóa văn học.Theo hồi ức của Nguyễn Công Hoan, cha là người tổ chức học tập khoa học,ông đã trao cho con rất nhiều kiến thức bằng nhiều phương pháp mới mẻ “đểchúng tôi nhớ ngay và nhớ lâu các bài học và Sử kí và Địa lí, cha tôi lại đặtthành văn vần” [3; 20] Những kí ức ấy dường như in hằn vào trí óc của ông từthuở nhỏ, đặc biệt và hữu dụng cho sự nghiệp sáng tác sau này
Như vậy sống trong một gia đình quan lại, Nguyễn Công Hoan đã nghe
và chứng kiến đủ mọi chuyện chốn quan trường, thấy biết bao điều chướng tai
gai mắt ở phòng nha hay trại lính lệ, lính cơ Ông viết trong cuốn Đời viết văn của tôi: “Tôi xem anh lính lệ tán tỉnh người dân ngớ ngẩn, tôi ngắm anh nho
bóp nặn người dân khờ khạo Tôi lắng nghe thầy lục sự xúc xiểm, dọa nạt ngườidân chất phác đến đưa đơn kiện Tôi nhìn thấy nét mặt của họ thay đổi ra sao,khi họ vừa được tiền của người dân nghèo khó Và tôi còn được nghe thấy, saubuổi hầu, họ chế nhạo những người ngốc nghếch tin họ mà mất tiền cho họ” [3;79] Từ những điều “mắt thấy tai nghe”, sau này trong các tác phẩm của mình,ông đã xây dựng rất thành công cặp nhân vật đối lập quan lại – dân nghèo
Trang 22Đồng thời, chính trong gia đình Nguyễn Công Hoan, mẹ ông là nông dân
“sống bằng mấy sào ruộng hậu của bà ngoại” [3; 19] nên nhà văn cũng có sự amhiểu tương đối sâu sắc về cuộc sống cơ cực, vất vả của tầng lớp nhỏ bé trong xãhội này Từ trải nghiệm thực tế từ chính gia đình mình, Nguyễn Công Hoan đã
có những tri thức vô cùng quý báu để xây dựng hệ thống nhân vật sinh động,nhiều màu sắc trong các tác phẩm của ông
1.3.2 Quãng đường xã hội
Nhà văn lớn của nước Nga M Gork từng viết: “Cuộc sống là trường đạihọc vĩ đại đối với tôi” Còn nhà thơ Chế Lan Viết cũng đề nghị: “Hãy để cuộcsống đánh vào thơ anh muôn ngàn lớp sóng” Không thể phủ nhận, những biến
cố thăng trầm trong cuộc đời có tác động mạnh mẽ đến sự lựa chọn nghề nghiệp
và chặng đường sáng tác của văn nghệ sĩ Thậm chí có nhiều nhà văn, nhà thơbiến cuộc đời họ thành một tác phẩm nghệ thuật có sức hấp dẫn và làm bạn đọcsay đắm Nguyễn Công Hoan cũng không phải ngoại lệ Dẫu cho không phảinhư Vũ Trọng Phụng “sống trong sự bần bạc chết trong sự bần bạc” nhưng ôngcũng gặp rất nhiều biến cố trong cuộc đời, điều đó hình thành trong ông vốnsống phong phú, tạo dựng nhân sinh quan và thế giới quan sâu sắc và đa diện
Quê hương của Nguyễn Công Hoan vốn ở làng Xuân Cầu, huyện VănGiang, tỉnh Bắc Ninh, nay là huyện Văn Giang tỉnh Hưng Yên Năm NguyễnCông Hoan lên bốn tuổi, vì nhà nghèo nên ông đến ở với người bác ruột làNguyễn Đạo Quán Năm 1909 khi lên sáu tuổi, Nguyễn Công Hoan học chữnho tại nhà, do bác dạy Lên bảy tuổi, bác dạy chữ quốc ngữ, học ca dao,… Báccho học chữ Pháp vỡ lòng, nhờ thầy ký rượu dạy nhưng đây là một ông thầydốt, Công Hoan đến đây cốt không phải để học tiếng Pháp mà là đánh đànQuảng Đông với thầy
Năm 1912, Nguyễn Công Hoan lên Hà Nội học trường Bưởi ở lớp đồng
ấu và đăng kí ăn ở trong trường Thời gian ăn bán trú ngắn ngủi và đến năm
1913, ông ra trọ học ở số 8 phố Hàng Hài Cũng trong thời gian này, ông có dịpquen biết với Tản Đà và một số nhà văn khác Có thể coi, đây là những dấu ấn
Trang 23đầu tiên của quá trình ông được hấp thụ văn hóa, văn học dân gian cùng văn hóaPháp và tiếp xúc với giới văn nghệ sĩ Việt Nam đầu thế kỉ XX.
Năm 1919, Nguyễn Công Hoan thi đỗ sơ học Pháp – Việt nhưng khôngthi vào cấp Thành Chung tại trường Bười Năm 1920, đây cũng là giai đoạn ônghiểu rằng “gia đình buồn nhiều vì tôi” [3; 86], Công Hoan bỏ nhà ra Hải Phòng
với người anh con bác Nguyễn Đạo Quán Trong thời gian này, ông viết Quyết chí phiêu lưu như giãi bày tâm sự của lòng mình Năm 1923, Nguyễn Công
Hoan trở về quê hương, viết truyện “tai nghe mắt thấy” khi ở phố phủ và khi ởHải Phòng Lúc đó, ông cũng lập gia đình cùng bà Vũ Thị Yến, con một thầythuốc có tiếng đồng thời cũng xuất thân từ một gia đình Nho giáo Cái gốc Nhohọc vốn đã ăn sâu trong con người ông nay lại càng được củng cố, phát huy
Năm 1922, ông ra Hà Nội học ôn để chuẩn bị thi vào trường Nam Sưphạm, ông đã thi đỗ ngay trong năm ấy Năm 1924, gia đình nhỏ của NguyễnCông Hoan có thêm một thành viên mới – cậu con trai đầu lòng tên là NguyễnTài Khoái Sự nghiệp dạy học của Nguyễn Công Hoan bắt đầu, năm 1928, ông
đi dạy học tại thị xã Hải Dương, cuối năm 1928, dạy học ở phủ Hồng Châu.Cùng năm này sự nghiệp chính trị của Nguyễn Công Hoan bước sang một trangmới Ông gia nhập Việt Nam Quốc Dân Đảng của Nguyễn Thái Học Vì tínhtình thẳng thắn lại là tác giả của những tác phẩm châm biếm, đả kích sâu caynên hầu như Nguyễn Công Hoan không ở địa phương nào quá hai năm Năm
1931, ông lại chuyển đến dạy học ở thị xã Lào Cai, trong thời gian này, Công
Hoan liên tục ra mắt bạn đọc những truyện ngắn như Cô Kếu gái tân thời, Báo hiếu trả nghĩa mẹ, Thế là mợ nó đi Tây, Những cảnh khốn nạn
Năm 1935 ông dạy học ở phủ Kinh Môn nhưng ngay tháng 9 năm 1935,ông đã chuyển đến thị xã Nam Định Năm 1938, ông dạy học ở trường Trà Cổ,tỉnh Móng Cái Đến năm 1939, ông dạy học ở trường Monguillot, thị xã Thái
Binh Cũng năm 1939, ông viết Cái thủ lợn, cuốn tiểu thuyết bị cấm và không
được in Tiếp đó, các truyện ngắn bị kiểm duyệt liên tiếp, xóa bỏ gần hết hoặc
xóa sạch như: Êu êu mê-đo, Hồi còi báo động, Công dụng của cái miệng, Người thứ ba, Chuộc cụ Ông bị treo bút Sự nghiệp dạy học của ông kết thúc ở đây.
Trang 24Năm 1945, Nguyễn Công Hoan bị bắt về tội chính trị và giam tại nhà tù củaHiến binh Nhật, nay là số 39 đường Trần Hưng Đạo, Hà Nội Đến ngày 19tháng 8 năm 1945, ông ra tù, làm Giám đốc Sở kiểm duyệt báo chí Bắc bộ, kiêmGiám đốc Sở Tuyên truyền Bắc Bộ.
Có thể nói, cuộc sống gắn bó với nghề giáo long đong, đi khắp nơi, tiếpxúc với nhiều hạng người trong xã hội, chứng kiến nhiều cảnh đời đã tạo nênvốn sống dồi dào cho Nguyễn Công Hoan và trở thành chất liệu nghệ thuật sinhđộng cho những sáng tác của ông trước Cách mạng tháng Tám năm 1945
1.3.3 Chủ thể tính
* Nguyễn Công Hoan là người giản dị, khiêm tốn
Mặc dù được đánh giá là một trong những tác giả viết nhiều, viết khỏecủa nền văn học Việt Nam, Nguyễn Công Hoan vẫn luôn khiêm tốn về học thức
của mình Có rất nhiều giai thoại được ghi lại trong Đời viết văn của tôi về đức
tính khiêm tốn của ông: Khi cảnh sát khu vực đến nhà Nguyễn Công Hoan để
kê khai bổ sung về hộ khẩu, đến mục “Trình độ văn hóa”, ông chỉ khai là “đọcthông, viết thạo” khiến cho người cảnh sát khu vực phải rất ngạc nhiên và thốtlên “Thưa bác, bác là nhà văn lớn mà khai thế này, liệu có khiêm tốn quákhông?” Khi ấy, Nguyễn Công Hoan rất điểm nhiên trả lời “Ghi đúng đấy Tôihồi trước học theo văn bằng của Pháp chỉ tương đương hết phổ thông bây giờ”[3; 266]
Nguyễn Công Hoan nói về mình thì khiêm tốn nhưng ông lại dùng hết lời
để ngợi ca những người ông cho là có tài, là xuất sắc, trong đó có Tản Đà Ôngcho rằng viết viết văn dễ, làm thơ khó, làm thơ hay lại còn khó hơn “Việc làmthơ phải dành cho những người có tài Người làm thơ có tài như Tản Đà thật rấthiếm Trái lại, nói chuyện, viết truyện bằng văn xuôi nhiều người đã làmđược…Tôi tầm thường, tôi cũng kể được chuyện như họ” [3; 98] Hay khi nhậnxét về sáng tác của mình, ông hạ mình mà nói “giả sử ngày ấy, có người dạy tôinhững lí luận về tiểu thuyết… thì chắc chắn là hôm nay, tôi không có mặt ởđây” [3; 93]
Trang 25Cái sự giản dị, khiêm tốn ấy thể hiện rất rõ trong các tác phẩm của ôngsau này: gần gũi trong ngôn từ, trong cách phác họa nhân vật Sự chừng mực ấycủa Nguyễn Công Hoan khác với sự cầu kì, tỉa tót của Nguyễn Tuân, khác với
sự mượt mà, tinh tế của Thạch Lam, lại khác với sự sắc sảo, tân kì của Vũ TrọngPhụng,…Chính điều ấy làm nên sắc vóc riêng của Nguyễn Công Hoan trên vănđàn văn học Việt Nam trước năm 1945
* Nguyễn Công Hoan là người có tinh thần cầu tiến
Được sự rèn giũa và dạy bảo của người bác, dù hiếu động và có phầnnghịch ngợm nhưng Nguyễn Công Hoan vẫn có tinh thần cầu thị trong học tậpcũng như công việc Về những bài thơ thuở nhỏ, ông nói rằng: “Lúc đầu, tôi đọcthơ, nhưng tôi chưa hiểu Rồi sau, vì đọc đi đọc lại luôn, tôi hiểu dần, nghĩa lýcủa những bài ấy như thấm tí một, tí một vào trong người” [3; 60] Tuy nhiên,Nguyễn Công Hoan có một điểm yếu là ông chỉ cầu thị trong những vấn đề ôngyêu thích và say mê, đặc biệt là văn hóa, văn học dân gian như ca dao, tục ngữ,kho tàng văn học dân tộc, còn đối với những kiến thức khác, đặc biệt là nhữngkiến thức trên ghế nhà trường, ông lại sẵn sàng bỏ ngỏ
Sự lơ là những kiến thức trong nhà trường ấy kéo dài đến năm thứ ba Caođẳng, khi sự cầu tiến nhắc nhở ông rằng bản thân “đuối sức” nên ông đã khépmình vào kỉ luật bằng cách “xin vào ăn trong trường để học hành có giờ giấc”[3; 98] Và mãi cho đến giữa năm cuối cùng, Công Hoan đã thực sự bứt tốc “vùiđầu vào học” Ông đã liệt kê các thành tích của mình ở giai đoạn nước rút: xếpthứ tư trong kì thi “lục cá nguyệt” cuối cùng, trúng tuyển ba bằng thi mãn khóa
và đỗ thứ hai trong kì thi chuyên nghiệp sư phạm Về bản chất, Công Hoan làmột người thông minh và khi thật sự quyết chí thì việc thành sự là điều vô cùng
dễ dàng
Về công việc, khi tập hợp 30 tiểu thuyết và hơn 200 truyện ngắn NguyễnCông Hoan sáng tác, ta thấy được sự sung sức trong ngòi bút của Nguyễn CôngHoan Ông không bao giờ hài lòng với bản thân mình Ông cầm bút từ khi cònrất trẻ (có sáng tác đầu tay vào năm 1920, khi mới 17 tuổi) và cũng đạt đượcmột số thành công đáng kể trong giai đoạn này, tuy nhiên khi hỏi vể giai đoạn
Trang 26sáng tác này, ông chỉ coi đó là “thời kì ấu trĩ” của bản thân Lí giải về khốilượng tác phẩm lớn của mình, ông kể lại lí do rất đơn giản là viết truyện để đáp
lễ bạn mình, “Mỗi tuần tôi phải có một truyện Dù sao cũng phải nghĩ cho ra đểviết Không viết không được Không có truyện thì phụ bạn, thì thua bạn Vì kínhmến bạn cũng có, vì tự ái cũng có, tôi cứ viết đều đều Đó là động cơ thúc đẩytôi viết” [3; 129]
Hơn thế nữa, việc làm thế nào để các sáng tác của mình luôn thức thời,bắt kịp với xu thế thờ đại và thị hiếu của độc giả chính là trăn trở của bất cứ nhàvăn nào, trong đó có Nguyễn Công Hoan Ông thường xuyên theo dõi thời sự,
thích tìm đọc báo chí tiến bộ như Việt Nam hồn, Người cùng khổ,… Với xuất
phát điểm là nghề viết báo nên ông luôn ý thức về việc làm mới các tác phẩmcủa mình sao cho tác phẩm phải mang đậm hơi thở cuộc sống
* Nguyễn Công Hoan là người hài hước, nghịch ngợm
“Tôi vốn lười học và thích chơi nghịch” [3; 74], ông đã tự nhận xét về
mình như vậy trong cuốn hồi kí Đời viết văn của tôi Tính cách này đã có từ khi
Nguyễn Công Hoan là một đứa trẻ Đọc những trang hồi ký của ông, hẳn độcgiả đều có chung một nhận xét là mặc dù còn nhỏ tuổi nhưng cậu học sinh nàyrất hóm, nghịch hay tò mò quan sát và hay làm chuyện trái với quy luật thôngthường Cũng trong hồi kí, ông kể về những ngày hè “chơi lêu lổng”, “thấyxung quanh toàn người quê mùa, tôi trêu họ, tôi lừa họ, tôi nhạo họ để cười.Suốt mấy tháng tôi không mò đến quyển sách mang ở trường về” [3; 47] Ởtrường Bưởi nhút nhát bao nhiêu thì về nhà, Công Hoan lại kiêu ngạo bấy nhiêu
Và ông cũng giải thích rằng, vì ngồi ở lớp Sơ đẳng A ba năm nên ông mới trởnên tinh ranh, nghịch ngợm như mọi người vẫn thường thấy Sau này, ông cònlập tâm để xin thôi học bằng cách ghi những triệu chứng về bệnh lao mà ônghọc được vào trong đơn xin nghỉ Ông cũng chép những bài văn của Phan KếBính in trên bài làm của mình để nộp cho thầy Với tính cách nghịch ngợm, nhất
là trong giai đoạn ngồi trên ghế học sinh, ông đã xây dựng các nhân vật học tròtrong sáng tác của mình với những trò “nhất quỷ, nhì ma” vô cùng đặc sắc Mộttrong những câu chuyện ông kể “báo trước” những sáng tác văn chương mang
Trang 27phong cách hài hước, trào phúng của Nguyễn Công Hoan sau này, đó là câuchuyện làm giấy khai sinh: “Làm giấy khai sinh là việc nghiêm chỉnh, nhưng tôikhông bỏ được thói tinh nghịch Muốn ngày sinh tháng đẻ của tôi có ý nghĩa dốitrá, tôi đã lấy ngày 1 tháng 4 là ngày phong tục nước Pháp cho phép cả nướcđược nói lừa để lừa nhau” [3; 58]
Sự nghịch ngợm của Nguyễn Công Hoan vô hình chung đã đẩy ông vàolối sống phiêu lưu, “nguy hiểm” Lối sống ấy liệu có giúp ích cho đời văn củaCông Hoan không? Ông đã viết trong hồi kí của mình “Đối với tôi, nó khôngnguy hiểm, không phiêu lưu, vì ngay từ thuở nhỏ, tôi đã chịu ảnh hưởng tốt vềmặt văn học cũng như về mặt chính trị Hai mặt ấy bồi bổ lẫn cho nhau, tạo chotôi một lập trường và quan điểm để nghe, nhìn và suy nghĩ về sự việc xảy ra ởquanh mình, và cho tôi một cái hướng là thứ văn nào và thích lối văn nào” [3;87] Và dường như, ngay cả khi đọc những sáng tác của Nguyễn Công Hoan ở
độ tuổi trung niên, người đọc vẫn bắt gặp đâu đó nét “tinh quái” ngầm đặc trưngcủa tác giả này
* Nguyễn Công Hoan là người sâu sắc, thâm trầm
Như đã nói ở trên, tính hài hước, dí dỏm là một phần làm nên diện mạoriêng của Nguyễn Công Hoan, đó không phải là cái hài hước nhạt nhẽo, nôngcạn hay hời hợt Thói quen ưa thích quan sát, những cảm nhận đa dạng trướccuộc sống khiến ông trở nên sâu sắc trong suy nghĩ mặc dù tuổi đời còn rất trẻ
“Tôi đã bắt đầu biết cảnh thiên nhiên là đẹp”, “Trời lam, nước sông Lô xanhtrong, con tàu trắng nhả khói màu tro, lừ lừ tới…Nhìn những cảnh ấy, tim tôinhư nhảy lên, lòng rạo rực” [3; 23] Sự vui tính dường như là lớp áo bên ngoàicủa một trí tuệ linh hoạt và nhạy bén Vậy nên, nói đến Nguyễn Công Hoan làcòn nói đến sự sâu sắc, thâm trầm Nó thể hiện ở cách hành xử, cách đối nhân
xử thế của ông Đối với bạn hữu, Nguyễn Công Hoan hay có thói quen bôngđùa, tuy nhiên ông vẫn luôn thể hiện thái độ tôn trọng khi nhắc đến nhữngngười bạn của mình đặc biệt là Tản Đà Tình bạn vong niên giữa Tản Đà vàNguyễn Công Hoan khiến cho rất nhiều người ngạc nhiên và đặt ra một câu hỏi:
Trang 28“Tại sao một con người duyên dáng và trữ tình như Tản Đà lại kết thân vớingười bông phèng, tinh quái như Nguyễn Công Hoan?”.
Sự sâu sắc của tác giả còn thể hiện qua lời tự thuật của ông Là một đạidiện của chủ nghĩa hiện thực, tưởng chừng bên trong con người Nguyễn CôngHoan là sỏi đá, là khô khan nhưng ông đã sáng tác vô cùng thành công tác phẩm
Tắt lửa lòng, câu chuyện tình yêu bi thảm của hai nhân vật Lan và Điệp Tác phẩm này được ví như là Romeo và Julliet ở Việt Nam, đã từng lấy đi bao nhiêu
nước mắt của những thiếu nữ đương thời Dẫu cho Nguyễn Công Hoan tỏ ý rất
không vui khi bạn đọc cũng như các nhà nghiên cứu xếp Tắt lửa lòng vào nhóm
các tác phẩm lãng mạn, nhưng ông cũng phải thừa nhận rằng có nhữngchương ,những đoạn trong tác phẩm này khi ông đọc lại cũng tự mình rơi nướcmắt
* Nguyễn Công Hoan là người am hiểu lẽ đởi
Đặc điểm này không phải có từ khi cha sinh mẹ đẻ mà được hình thànhdần trong quá trình trưởng thành của Nguyễn Công Hoan Từ thuở nhỏ, ông đãđược tiếp xúc với lí lệ, chứng kiến được những chuyện “hỉ, nộ, ái, ố” nơi cửaquan Sau đó, ông lên Hà Nội và sớm sống độc lập, quen với nhân tình thế tháingười phường phố, thành thạo sự đời Ông cũng có cơ hội để đi nhiều nơi, gặp
gỡ nhiều hạng người trong xã hội nên tự bao giờ, sự sành sỏi ăn sâu, bám rễ vàocon người nhà văn Không bao giờ, ông tỏ ra ngây thơ, dại dột mắc lừa ngườikhác Dân con buôn Hà Nội có định “chơi” ông thì ông “chơi lại, chứ không
kém cạnh” (chữ của Nguyễn Công Hoan trong Đời viết văn của tôi) Từ những
thành thạo của người “Kẻ Chợ”, đi nhiều biết nhiều, ông không bao giờ rơi vàotình trạng muốn thoát li hay lý tưởng hoá cảnh điền viên ở nông thôn như một
số nhà văn lãng mạn thường làm mà định hướng bản thân trở thành người concủa chủ nghĩa hiện thực
* Nguyễn Công Hoan là người có tài quan sát và trí nhớ tốt
Đây là đặc điểm xuất phát từ bản năng của một đứa trẻ nghịch ngợm, hamthích khám phá hay là vì lựa chọn nghề viết văn, viết báo nên Nguyễn Công
Trang 29Hoan phải chịu khó quan sát, tìm tòi? Dù lí giải theo cách nào đi nữa, chúng taphải công nhận rằng các tác phẩm của ông thành công và còn nguyên giá trị chođến ngày hôm nay một phần không nhỏ là nhờ vào tài quan sát của ông Điểmđặc biệt là ngay từ khi trẻ tuổi, ông đã ý thức được mối quan hệ giữa thực tạikhách quan và yếu tố nội tại Ông viết trong hồi kí: “Trong quãng đời ấy, tôi đãbắt đầu biết nhìn, biết nghe, và biết hiểu dần dần Hiểu để biết nghĩ Nghĩ để lạithích nhìn và thích nghe một loại sự việc nào đó xảy ra trước mắt và bên tai” [3;23] Dù ông đã từng công tác ở rất nhiều nơi nhưng những miêu tả của CôngHoan về Hà Nội vẫn được đánh giá là tiểu tiết và thú vị nhất Nhiều mặt đời
sống Hà Nội những năm đầu thế kỉ XX còn được ghi lại trong các tập Đời viết văn của tôi, Nhớ và ghi Nào là vụ dịch tả ở Hà Nội hè 1914; nào cảnh người
ngoài phố giàu có bấy giờ còn đi xe ngựa song mã, độc mã, nào các tòa nhà caolớn và có phần choáng ngợp với cậu bé “nhà quê”, các thầy giáo ở trường Bưởicòn đội khăn, đi giày ta, bít tất trắng Nào những hiệu bán sách vở giấy bút, nàohiệu cho thuê xe đạp để tập, nào là cách đặt tên các trường học ở thời kì bấygiờ: “Các trường tiểu học ở Hà Nội đều lấy tên phố để làm tên: trường CửaĐông, trường Hàng Kèn, trường Hàng Bún, trường Hàng Vôi, trường Hàng Cót,trường Yên Phụ”, [3; 37]…; tất cả đều được ông ghi chép rất cẩn thận Đặc biệthơn, ông còn nhớ kĩ về những người bạn học thuở ấy của mình cũng như địa chỉ
và gia cảnh của họ Vì vậy, đọc tác phẩm của ông, dù không trực tiếp nhắc đến
từ Hà Nội nhưng qua lời trần thuật của ông, chất Hà Nội hiện lên rất rõ
* Nguyễn Công Hoan là người có khả năng ngôn ngữ (hoạt ngôn)
Bản tính hài hước, sự ham học hỏi quan sát và thời gian gắn bó lâu dàivới mảnh đất Hà thành đã giúp cho Nguyễn Công Hoan tích lũy được kho tàngngôn ngữ thị dân Ông đã vận dụng những từ ngữ ấy một cách thành thạo trongtác phẩm của mình, để lại cái cười sâu cay trong lòng độc giả Sự hoạt ngôn củaNguyễn Công Hoan đến với ông một cách vô cùng tự nhiên Đầu tiên phải kểđến những ngày thơ bé được tiếp xúc với văn chương bình dân và bác học từ bà
từ bác từ cha, cùng với trí tuệ thông minh nhanh nhẹn sẵn có đã hình thànhtrong ông “năng lực ngôn ngữ” khá vượt trội Dù vậy, Nguyễn Công Hoan vẫn
ưa chuộng lối nói giản dị, bình dân, không hoa mĩ kiểu cách Điều đó thể hiện
Trang 30khá sáng rõ trong sáng tác của ông Ông nói rằng: “Tôi cố ý đặt những câu bìnhthường, tự nhiên, giản dị, như tôi vẫn quen với bạn tôi, cho giọng nói đúng làcủa tôi, hay pha trò, hay ỡm ờ, hay chế giễu, hay chua chát Nếu tôi viết truyện
mà gò bó từng câu, nặn nọt từng chữ, cho ra văn chương thì lại là cái thư củangười ở xa gửi đến mất rồi” [3; 130]
* Nguyễn Công Hoan là người ưa thích sự nguyên bản, ghét việc bắt chước
Có rất nhiều giai thoại hài hước về tính cách này của Nguyễn Công Hoan.Ông được các nhà phê bình văn học cũng như là các nhà văn lúc bấy giờ ngợi
ca, thậm chí ông chủ bút Phạm Quỳnh còn ưu ái nhận xét về Nguyễn CôngHoan rằng “truyện viết hay như Tây” Nhưng sự thật là ông rất ít đọc các tácphẩm nước ngoài Chính ông đã kể lại trong cuốn hồi kí của mình là ngày còn
bé, được người thân cho ba đồng bạc để mua sách, ông góp thêm tiền vào mua
được bộ tiểu thuyết Bá tước Monte Cristo của Alexandre Dumas Sách mua về,
ông chỉ đọc có chương đầu tiên rồi bỏ, từ đấy cuốn sách chỉ để cho mượn Khiông được người bạn cho mượn một tập truyện ngắn của Guy de Maupassant thì
ông cũng chỉ đọc có truyện đầu là Lão ăn mày, rồi không xem thêm nữa Ông
luôn nhận rằng mình viết văn là do năng khiếu và người ta nói chung viết được
là do trời sinh ra, không có bài bản nào sẵn, không có trường sở nào dạy được.Chính quan điểm ấy khiến văn của Nguyễn Công Hoan luôn độc đáo, khônggiống ai Khác với lối tập cổ, sùng bái tiền nhân trong văn học trung đại, sự độcđáo chính là một phẩm chất quan trọng của nhà văn hiện đại trong bất cứ nềnvăn học nào
* Nguyễn Công Hoan là người có lòng yêu nước sâu sắc
Nguyễn Công Hoan luôn được nhắc đến với sự tếu táo, hài hước nhưngthẳm sâu bên trong ông là nhà văn có tình cảm yêu nước dạt dào Lòng yêunước của ông không được nói ra bằng lời Trước năm 1945, không có một tácphẩm nào của Nguyễn Công Hoan bộc lộ một cách trực tiếp tình cảm thiêngliêng này nhưng điều đó không đồng nghĩa với việc Nguyễn Công Hoan khôngyêu Tổ quốc, yêu đồng bào Qua những câu chuyện nhỏ từ hồi kí, ta vẫn cảm
Trang 31vô cùng bất bình trước chuyện “thằng bé con Tây dám bắt nạt ta”, “học tròtrường Bưởi đi chung với học trò Tây một chuyến xe điện, khi đi học và khi vềhọc Luôn xảy ra xích mích” [3; 82] Khi ấy ông cùng các bạn mình giải quyếtmâu thuẫn bằng cách “đồng lòng đánh cho bọn Tây con một trận” [3; 83] Dẫucho đó chỉ là cách giải quyết theo lối trẻ con, ngây thơ nhưng nó là minh chứngthể hiện cho tình cảm yêu nước, thù Tây ngay từ thuở nhỏ của Công Hoan “Saukhi bị đánh sái quai hàm, tôi ghi trong lòng mối thù với người Pháp Mối thù trởthành mối thù dân tộc, nó lan ra đối với ngoại kiều khác Cho nên năm 1920, tôicũng là một tay hoạt động hăng hái cho phong trào Đế chế Bắc hóa (Tẩy chayhàng Tàu)” [3; 83] Khi nhắc về những bồng bột và nông nổi của tuổi trẻ,Nguyễn Công Hoan cho rằng bản thân là một “nhà ái quốc ngốc nghếch” Cáchthể hiện có thể khác nhau nhưng từ nhỏ cho đến lớn, không khi nào Công Hoanquên rằng mình là một người con của Việt Nam, và phải có ý thức trách nhiệmvới dân tộc và đất nước Trong thời gian đi dạy học, Nguyễn Công Hoan ý thứcsâu sắc được rằng đây là “nghề cho thuê mồm” [3; 126], nhưng tấm lòng củamột người yêu nước không cho phép ông “nói hộ bọn thống trị khi chúng khoekhoang công ơn bảo hộ, khai hóa của chính, trong những bài cuối của môn Luân
lí và môn Sử kí Còn những bài chúng xuyên tạc lịch sử của ta hồi chúng mớisang cướp nước ta, thì bao giờ tôi cũng nói lại đúng sự thật” [3; 126] Châmbiếm, mỉa mai là thế mạnh của Nguyễn Công Hoan và trong một số tác phẩmcủa mình, ông cũng đã đề cập đến nhân vật thực dân nhưng sau đó thì bị kiểmduyệt rất gắt gao, một số đoạn phải xóa bỏ Khi đọc hồi kí của một thanh niên tatrốn nước đi du học, ông đã nói rằng: “Đọc xong, tôi rất buồn, cái buồn manmác, thấm thía của người mất nước” [3; 124] Từ ý thức sâu sắc về nỗi niềm củacon người “đứng giữa quê hương như không có quê hương”, ông đã tham giacách mạng và sau đó được giữ nhiều vị trí quan trọng trong nền văn học, vănhóa Việt Nam sau Cách mạng
Việc phác họa nét tính cách của một con người quả thực vô cùng khókhăn vì con người luôn là kho tàng của những điều bí mật, vi diệu Thông qua
cuốn hồi kí Đời viết văn của tôi, chúng tôi đã đúc kết ra một vài nét tính cách
tiêu biểu của nhà văn Những nét tính cách này được đánh giá là một trong
Trang 32những yếu tố quan trọng nhất để xác lập nên cá tính, phong cách sáng tác củaNguyễn Công Hoan, khiến ông trở thành một nhà văn lớn, giữ một vị trí khôngthể thay thế trên văn đàn nước nhà ở giai đoạn văn học nửa đầu thế kỉ XX.
lộ rất rõ trong các tác phẩm của ông sau này Một số tác phẩm Nguyễn CôngHoan viết về người nông dân dưới cái nhìn châm biếm, giếu nhại những thói hư,tật xấu của họ Có thể thấy rằng, những trải nghiệm trong tuổi thơ sẽ để lạinhững vết hằn rất sâu đậm trong tâm hồn nhà văn Về sau này, Nguyễn CôngHoan có cơ hội đi nhiều hơn, gặp nhiều mảnh đời hơn, thấu cảm hơn nhưng cáicười, cái hài hước vẫn luôn hiện hữu trong các sáng tác của ông, làm nên chấtriêng có của Nguyễn Công Hoan và không bao giờ có thể trộn lẫn với các nhàvăn khác
Đến khi trưởng thành, Nguyễn Công Hoan gia nhập giới trí thức tiểu tưsản, giới nhà văn nhà báo Cuộc đời ông như bước sang một trang mới Thời kìhọc ở trường Bưởi, tiếp xúc với luồng văn hóa phương Tây ít nhiều thay đổi suynghĩ của Nguyễn Công Hoan Việc thân quen với Tản Đà, một cây đại thụ tronglĩnh vực viết lách, đã tạo cơ hội cho Nguyễn Công Hoan tiếp xúc với rất nhiềungười trong giới như Mâu Châu Nguyễn Mạnh Bổng, Ngẫu Trì Trịnh Đình Rư
Trang 33và nhiều người khác Ông viết trong hồi kí của mình: “Tôi thích đến chơi vớicác nhà văn ấy Tôi coi họ như các anh Họ cũng coi tôi như em nhỏ Tôi đếnvới họ, chỉ để nghe chuyện hơn là để góp chuyện Nhiều lần trí tò mò của tôiđược thoả mãn Họ rất tinh quái Những buổi đến với họ, dù ngồi đến khuya, tôicũng không tiếc thì giờ, khi về còn lấy làm khoan khoái” [3; 71] Hơn thế nữa,cũng trong hồi kí của mình, Nguyễn Công Hoan không ít lần bảo mình viết văn
là do năng khiếu nhưng không thể phủ nhận việc tiếp xúc sớm với các nhà văn,nhà thơ trong giới trí thức đã thúc đẩy ông đến với nghề văn và sống được vớinghề
Về sau, dù đi dạy học ở xa, Nguyễn Công Hoan vẫn gắn bó với đời sốngvăn học Hà Nội Ông biết tường tận xu hướng, cách làm ăn của từng tờ báo Cókhi nghỉ hè, ông về Hà Nội để trông nom báo giúp bè bạn, như giúp Đỗ Văn
trông nom tờ Nhật Tân hoặc bàn với Tản Đà việc tái bản An Nam tạp chí Nơi
Nguyễn Công Hoan gắn bó nhiều hơn cả là nhà Tân Dân Vũ Đình Long là chỗ
quen biết với ông từ hồi đi học, khi bắt đầu ra Tiểu thuyết thứ bẩy, có bàn kỹ với
Nguyễn Công Hoan Nhiều tác phẩm của ông đã in ở đấy Như vậy, có thể thấy,Nguyễn Công Hoan tiếp xúc nhiều với các trí sĩ đương thời, hầu hết họ đều lànhững người tài năng, yêu nghề, có tâm với nghề Chính trong môi trường ấy,Nguyễn Công Hoan đã sáng tác, thành công và có một chỗ đứng vững chắctrong nền văn học nước nhà
Nhận xét về cuộc đời của chính mình, Nguyễn Công Hoan đã nói rằng:
“Tóm lại, cuộc đời của tôi, sống dưới chế độ phong kiến và đế quốc, với nhữngảnh hưởng giáo dục của gia đình, của nhà trường, của xã hội; với những điềumắt thấy tai nghe của tôi trong quá trình làm công chức của thực dân; với nhữngphen may mắn, lo âu; đã tạo cho tôi thành một con người bi quan với thời cục,hằn học với chế độ, hoài nghi đối với nhân tâm, sinh ra cho tôi cái tính nghịchngợm, ranh mãnh, khinh thế ngọa vật, làm cho tôi có thói quen hay đùa bỡn,hay chế nhạo, chua chát” [3, 110] Nhận xét của Nguyễn Công Hoan về bảnthân ông và những tính cách mà đề tài khảo sát đã cho độc giả một cái nhìn kháiquát và đầy đủ về một nhà văn tài năng trên văn đàn Việt Nam
Trang 34 Tiểu kết chương 1
Như vậy, trong chương 1, chúng tôi đã khái quát về lí thuyết tiểu sử học,phương pháp nghiên cứu tiểu sử và một số đặc trưng và lưu ý khi ứng dụng líthuyết này vào quá trình tìm tòi nghiên cứu Bên cạnh đó, chúng tôi cũng ứngdụng lí thuyết này để soi chiếu vào cuộc đời và con người của Nguyễn CôngHoan, từ đó hình thành cơ sở và nền tảng để tiếp tục đi vào tìm hiểu những đặctrưng về hệ thống nhân vật trong sáng tác của ông trước Cách mạng tháng Támnăm 1945 qua phương pháp nghiên cứu tiểu sử
Trang 35CHƯƠNG 2: NHỮNG KIỂU LOẠI VÀ ĐẶC ĐIỂM NHÂN VẬT TRONG TRUYỆN NGẮN NGUYỄN CÔNG HOAN TRƯỚC NĂM 1945
TỪ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU TIỂU SỬ
Nhân vật là con người được miêu tả trong văn học bằng phương tiện vănhọc Nhân vật là một hình thức cơ bản để qua đó văn học miêu tả thế giới conngười một cách hình tượng Đồng thời, văn học là “tấm gương” phản chiếu đờisống xã hội, vì thế, nghệ thuật nói chung và văn học nói riêng không đòi hỏingười ta thừa nhận các tác phẩm của nó như là một sự sao chép hiện thực, kể cảphương diện nhân vật Các nhân vật hiện lên thông qua tác phẩm “không phải lànhững con người bằng xương bằng thịt của cuộc sống” [10; 116] mà là hìnhtượng được nhào nặn lên để phục vụ cho nhu cầu truyển tải thông điệp tư tưởngcủa nhà văn
Trong chương 1, chúng tôi đã khẳng định quá trình hình thành tác phẩmvăn học trong đó có việc xây dựng thế giới nhân vật của các tác giả là kết quảcủa nhiều yếu tố khác nhau Bên cạnh cách nhìn hiện thực, tư tưởng về conngười và cuộc đời, sự sáng tạo có ý thức hay vô thức thì cần phải kể đến sự chiphối của tiểu sử nhà văn trong quá trình sáng tác Các nhân tố này có mối quan
hệ biện chứng với nhau, đặc biệt là yếu tố tiểu sử và cái nhìn hiện thực Cuộcđời qua con mắt Nguyễn Công Hoan như một tấn tuồng, đầy rẫy sự nhố nhăng,giả tạo Cuộc đời ấy hiện hữu tương đối rõ nét trong các tác phẩm của NguyễnCông Hoan thông qua hệ thống nhân vật đông đảo, thuộc mọi tầng lớp trong xãhội: từ công nhân, nông dân đến tiểu tư sản, các tầng lớp hạ lưu, trung lưu,thượng lưu, các tầng lớp quan lại, lính lệ, cường hào và địa chủ đa dạng Thếgiới nhân vật đa dạng này thuộc về hai môi trường sống quen thuộc của tác giảNguyễn Công Hoan: chốn nông thôn và nơi thành thị
Trang 362.1 Hệ thống nhân vật ở nông thôn
2.1.1 Nhân vật người nông dân
Qua quá trình khảo sát hệ thống nhân vật trong 102 truyện ngắn Nguyễn CôngHoan, chúng tôi đã tổng hợp được kết quả trong bảng thống kê sau:
Người nông dân với những
Nhân vật người nông dân xuất hiện 20 lần trên 102 tác phẩm của NguyễnCông Hoan Có thể nói, những trải nghiệm từ ngày thơ bé đã có ảnh hưởngmạnh mẽ lên tác giả để từ đó thôi thúc ông xoáy sâu vào những tình cảnh éo le,những số phận bất hạnh mà người nông dân trước Cách mạng phải gánh chịu
Đầu tiên, họ hiện lên qua số phận éo le và bất hạnh Họ chính là nạn nhân
của cái đói, cái nghèo Trong truyện Chiếc quan tài, ngay từ mở đầu tác phẩm,
cái nghèo đói của người nông dân đã được khắc họa rất cụ thể từ khuôn mặt,dáng vẻ: “Một người đàn bà, quần áo nâu bạc, ngồi phệt ở bên, úp mặt vào cánhtay khoang cạnh ván thiên, thỉnh thoảng hé vuông vải nhỏ mới, ghé ra ngoài xỉmũi xuống nước Gần đó, một thằng bé con, chỉ mặc một manh áo rách, thò cáigậy tre vừa đẵn, nghịch với những tăm bọt sủi trên mặt lượt bùn…” [6; 127].Những câu văn tưởng chừng như đã khắc họa đến tận cùng cuộc đời tăm tối, bếtắc của người nông dân trong xã hội cũ nhưng miêu tả ấy vẫn chưa thể so sánh
được với bức chân dung một người nông dân lâm vào cảnh đói trong truyện Hai cái bụng của Nguyễn Công Hoan: “Nó có một cái mặt – mẹ ơi! Không biết có
gọi được là mặt không đấy! Mặt gì mà mắt lại thế kia, và miệng lại vô dụng thếđược Phải, mắt đâu có thứ mắt xung quanh là một hình bầu dục, vẽ bằng vànhthịt trơ đỏ lầy nhầy, lúc nào cũng ứa ra một dòng nước vàng và giữa thì lờ đờmột hột nhãn, thứ hột nhãn non choèn, vàng ễnh Còn cái miệng nó thì dô ranhư miệng khỉ, hai hàm răng to tướng, lúc nào cũng cầm cập hục hặc với nhau
Trang 37ngoại hình này khiến tôi liên tưởng đến cây bút hiện thực Nam Cao Ông viết về
nhân vật Lang rận cũng không kém phần thê thảm: “Mặt gì mà nặng trình trịch
như mặt người phù, da như da con tằm bủng, lại lấm tấm đầy những tàn nhang,Cái trán ngắn ngủn, ngắn ngùn, lại gồ lên Đôi mắt thì híp lại như mắt lợn sề…Trời đất ơi! Cái mặt ấy dẫu cho mỗi ngày rửa ba lượt xà phòng, bà cựu trôngthấy vẫn còn muốn mửa” [1; 78] Cái đói, cái khổ làm họ trở nên thê thảm, làmbiến dạng con người lương thiện Những trang văn của Nguyễn Công Hoankhơi dậy lòng thương, sự trắc ẩn trong tâm hồn mỗi người đọc dẫu cho phần lớncác tác phẩm của ông được xây dựng theo lối châm biếm và trào phúng
Sau những năm tháng lăn lộn, Nguyễn Công Hoan lại hiểu hơn về nhữngbất hạnh mà người nông dân phải gánh chịu Cái đói, cái khổ khiến cho ngườinông dân phải đem bán đi đứa con thân yêu của mình rồi bị người ta mặc cả nhưmột món hàng: “Bác xin được cái thúng sứt cạp bện đôi quang và chẻ cái đòngánh Sáng sớm, gánh thằng bé con đi Một bên quang là một tảng gạch đểthăng bằng thúng hàng bên kia Một bên là một cái thúng đựng hàng Trên cáithúng, tùm hum manh chiếu rách che hàng cho đỡ nắng” Còn gì đau xót hơnviệc phải bán đi đứa con của mình nhưng cũng vì hoàn cảnh, vì “con mình đượcchỗ ấm no nương tựa, còn hơn bố con bêu rếch xó chợ đầu đường” [5; 86]
Không chỉ là nạn nhân của cái đói, họ còn là nạn nhân của sự chèn ép,
bóc lột Anh Mấu trong truyện Mua lợn cũng như vậy Giá tiền của con lợn thực
là sáu đồng như đến khi bị quan ông quan bà ép giá lợn chỉ còn “ba đồng”, nhânvật này cũng chỉ dám “ngây người, toan nói, nhưng cửa đã đóng ập lại” [6;302] Cánh cửa đóng lại hay cũng chính là lời nói, ý kiến của người nông dân bị
cự tuyệt xa hơn là đóng lại tương lai vốn dĩ đã ảm đảm và tăm tối của nhữngcon người này Dẫu cho oan ức, dẫu cho thiệt thòi nhưng người nông dân vẫnkhông có quyền lên tiếng, mãi mãi là tầng lớp chịu thua thiệt
Không chỉ khái quát lên hoàn cảnh éo le của những người nông dân,Nguyễn Công Hoan còn khắc họa tính cách của tầng lớp này Sáng tác củaNguyễn Công Hoan trước năm 1945 ít khi đi vào ngợi ca những phẩm chất tốtđẹp của người nông dân Thay vào đó, họ bao giờ cũng hiện lên qua dáng vẻ
Trang 38khúm núm, sợ sệt như đã thành thói quen, đã ăn sâu bám rễ trong con ngườiđược đánh giá là nạn nhân của xã hội cay nghiệt Ông đã miêu tả hành động quáđỗi ngập ngừng và rụt rè của con mẹ Nuôi trước cửa quan: “Nó đánh liều tiếnlên, vừa tiến vừa lo Nó bước chân lên thềm, trống ngực bắt đầu nổi mạnh Nó
đã trông thấy ông quan Nó lại sợ nữa Vì lo sợ quá, nên quên đứt rằng chính nó
đi trình việc mất trộm…” [6; 137] Cái sự sợ sệt của người nông dân này chính
là hệ quả tất yếu một xã hội mà quan lại thì lộng quyền còn người yếu thế thì bịhiếp đáp Hay là cảnh người nông dân khốn khổ vào mỗi dịp lễ, phải đi biếu xén
quan trên trong Gánh khoai lang: “Ông lí buồn rầu, vuốt mái tóc, hấp hánh bắt.
Ông nhăn nhó nhìn gánh khoai lang Ông lo lắm…” [6; 260]
Tính cách rụt rè cố hữu của những thân phận yếu thế được thể hiện qualời nói của con mẹ Nuôi Thông qua cách xưng hô, ta có thể nhận thấy mối quan
hệ trên dưới cũng như mức độ thân sơ của các nhân vật Con mẹ Nuôi trong
truyện Đồng hào có ma ban đầu có cách xưng hô là với tên lính gác “tôi” –
“cậu” nhưng vì cái lệ “éo le” của chốn cửa quan, vì ít tiền, vì muôn nỗi ngặtnghèo nên dần dần, lời nói của con mẹ Nuôi từ năn nỉ chuyển sang van lơn “Lạycậu, thương cháu, cho cháu được nhờ Cậu cứ vào bẩm quan hộ…” [6; 137] Sựnhỏ bé và thái độ sợ sệt tầng lớp trên đã khiến cho người nông dân có nhữngmotip nói chuyện quen thuộc, bắt đầu bằng “thưa”, “bẩm” và kết thúc bằng “ạ”.Phải là một con người có sự chứng kiến thực tế cũng như là óc quan sát nhạybén, ngôn từ linh hoạt sắc sảo linh hoạt Nguyễn Công Hoan mới có thể xâydựng được những nhân vật sinh động, đặc sắc như vậy
Không chỉ xây dựng những người nông dân với những đặc trưng của tầnglớp yếu thế trong xã hội, Nguyễn Công Hoan cũng nhắc đến những thói hư tật
xấu, sự nhỏ nhen, ấu trĩ của tầng lớp này Trong tác phẩm Trần Thiện, Lê Văn
Hà, Nguyễn Công Hoan đã xây dựng nhân vật nông dân với bản tính đố kị,
ganh đua Hai nhân vật muốn ứng cử dân biểu khóa nên không từ một thủ đoạnnào để bon chen, để “hất cẳng” đối phương Nguyễn Công Hoan lên án, chỉtrích thói đưa hối lộ, thói gian trá của người nông dân Bên cạnh đó, ông cònkhái quát về lối sống buông thả “thừa nước đục thả câu” của một bộ phận những
Trang 39thể đoán biết trước nhưng cái kết mà ông mang lại thì luôn luôn là một sự bấtngờ: “Bởi có việc gian lận này, cho nên hạt tôi có cuộc bầu lại nghị viên và tin
ấy rất đáng mừng cho các cử tri còn được dịp ăn uống, hát xướng, hút xách, bàibạc, tiêu tiền vô tội vạ” [6; 204]
Nguyễn Công Hoan cũng thường lên án thói “khôn lỏi”, đó không chỉ lànhững thói quen của những kẻ lạm quyền, những gã tham quan mà còn là tật
xấu của một bộ phận nông dân trước Cách mạng tháng Tám Trong truyện Mưu làng bẹp, anh chàng Việt đã tìm mọi cách để có thể mang thuốc phiện qua được
chốt của sở thương chính Dẫu cho đến cuối tác phẩm, anh chàng này đã trót lọt
đi qua được chốt kiểm soát chỗ nhà dây thép nhưng cái mà nhà văn NguyễnCông Hoan muốn thể hiện không phải là việc anh Việt hay người dân Việt Namnói chung thông minh, khôn ngoan hơn người Tây Điều mà ông muốn gửi gắmchính là sự châm biếm, đả kích thói khôn lỏi, tiểu xảo đã ăn vào trong máu một
số người dân, từ những người nông dân đến những người có học thức, có địa vịcao trong xã hội
Có thể nói, Nguyễn Công Hoan chưa từng sống như một người nông dânhoặc gần với đời sống nông dân ở nông thôn vì ông sống trong gia đình quan lại
từ nhỏ Từ những mẩu chuyện ông kể về ngày bé, khi trở về quê, ông lại chọcghẹo những người ông cho là “quê mùa”, kết hợp với cá tính mạnh và tư duysắc sảo, người đọc có thể cảm nhận được một điều: khác với các nhà văn nhưNgô Tất Tố, Nam Cao, mặc dù ghét tầng lớp thống trị nhưng Nguyễn CôngHoan cũng không đứng hẳn về phía người nông dân Thiếu vốn sống và sự thâmnhập trực tiếp vào đời sống dân quê, dường như, cái gốc nhân đạo của ông chưathực sự sâu bền Nguyễn Công Hoan được xếp vào nhóm tác giả trào phúng,châm biếm bởi lẽ trong các tác phẩm của ông, nhất là ở thời kì ông chưa thamgia hoạt động cách mạng, người ta nhận thấy cảm hứng trào lộng rõ hơn cảmhứng xót xa, thương cảm người nông dân Việt Nam trước Cách mạng thángTám
Tuy nhiên, trong không khí của thời kì Mặt trận Dân chủ 1936 – 1939 vàđặc biệt là sau Cách mạng tháng Tám, tư tưởng và tình cảm của nhà văn
Trang 40Nguyễn Công Hoan đã có sự thay đổi Người đọc nhìn thấy sự chuyển biếntương đối rõ nét trong tình cảm mà ông dành cho tầng lớp yếu thế Ông đã dànhcho người “thấp cổ bé họng” trong xã hội nhiều sự trân trọng, yêu thương, đồngcảm
2.1.2 Nhân vật quan lại
Bên cạnh nhân vật nông dân, truyện ngắn Nguyễn Công Hoan còn thànhcông trong việc khắc họa chân dung nhân vật quan lại Khảo sát 102 truyệnngắn trước Cách mạng tháng Tám của ông, chúng tôi thu được kết quả như sau:
2.1.2.1 Nhân vật quan ông
Nguyễn Công Hoan sinh trưởng trong một gia đình quan lại nhưng trớtrêu thay lại gặp cảnh khoa bảng thất thế, Nho học ngày càng lụi tàn ChaNguyễn Công Hoan thường kể cho ông nghe chuyện ở chốn quan trường bằng
“một nhiệt tình có lập trường của người lỗi thời, bị lép vế, muốn trút hết nỗi hằnhọc vào thời cục” [3; 22] Do đó, trong số những các sáng tác sau này trước