1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

tư tưởng chính trị ở trung quốc và hy lạp la mã thời cổ đại

20 206 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tư tưởng chính trị ở Trung Quốc và Hy Lạp La Mã thời cổ đại
Trường học Đại học Quốc gia Hà Nội
Chuyên ngành Tư tưởng Chính trị
Thể loại Bài luận
Năm xuất bản 2024
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 20
Dung lượng 44,04 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đề bài Câu 1 Trình bày khái quát tư tưởng chính trị ở Trung Quốc và Hy Lạp La Mã thời cổ đại Vì sao nói hình thức chính thể cộng hòa trong điểm của Aritxtốt vẫn là chính thể của thiểu số? (6 điểm) Câu 2 So sánh nét tương đồng và khác biệt giữa tư tưởng chính trị ở Trung Quốc cổ đại và tư tưởng chính trị Hy Lạp La Mã cổ đại? (3 điểm) Bài làm Câu 1 Trình bày khái quát tư tưởng chính trị ở Trung Quốc và Hy Lạp La Mã thời cổ đại Vì sao nói hình thức chính thể cộng hòa trong điểm của Aritxtốt vẫn là.

Trang 1

Đề bài:

Câu 1: Trình bày khái quát tư tưởng chính trị ở Trung Quốc và Hy Lạp

-La Mã thời cổ đại Vì sao nói hình thức chính thể cộng hòa trong điểm của

Aritxtốt vẫn là chính thể của thiểu số? (6 điểm)

Câu 2: So sánh nét tương đồng và khác biệt giữa tư tưởng chính trị ở Trung Quốc cổ đại và tư tưởng chính trị Hy Lạp - La Mã cổ đại? (3 điểm)

Bài làm

Câu 1: Trình bày khái quát tư tưởng chính trị ở Trung Quốc và Hy Lạp

-La Mã thời cổ đại Vì sao nói hình thức chính thể cộng hòa trong điểm của

Aritxtốt vẫn là chính thể của thiểu số? (6 điểm)

1 Tư tưởng chính trị ở Trung Quốc cổ đại

1.1 Tư tưởng chính trị của phái Nho gia

1.1.1 Khổng Tử

Tư tưởng Nho gia chiếm vị trí đặc biệt quan trọng trong lịch sử tư tưởng chính trị Trung Quốc Nó đã ảnh hưởng sâu sắc mọi mặt của đời sống xã hội Trung Quốc và các nước láng giềng trong suốt hơn 2000 năm lịch sử Hai nhân vật tiêu biểu của trường phái Nho gia là Khổng Tử và Mạnh Tử

Tư tưởng chính trị của Khổng Tử trước hết là vì sự bình ổn xã hội – một

xã hội “thái bình thịnh trị” Theo ông, chính trị là chính đạo, đạo của người làm chính trị phải ngay thẳng, phải lấy chính trị để dẫn dắt dân, nhà Nho phải tham chính… Từ nhận thức đó, Khổng Tử cho rằng, xã hội loạn lạc là do mỗi người không ở đúng vị trí của mình, Lễ bị xem nhẹ Để thiên hạ có “đạo”, quay về Lễ, phải củng cố điều Nhân, coi trọng Lễ nghĩa, mỗi người phải hành động trong khuôn khổ của mình, từ đó xã hội sẽ ổn định Để thực hiện lý tưởng chính trị của mình, ông đề ra học thuyết “Nhân – Lễ - Chính danh”

a) Nhân

Nhân là phạm trù trung tâm trong học thuyết chính trị của Khổng Tử Nó

là thước đo, là chuẩn mực quyết định thành hay bại, tốt hay xấu của chính trị

Trang 2

Nội dung điều Nhân rất rộng, bao hàm các vấn đề về đạo đức, lý luận xã hội Trong chính trị, điều Nhân thể hiện ở các nội dung:

Thương yêu con người, trong đó thương yêu người thân của mình hơn và yêu người nhân đức hơn Từ thương người đi đến hai nguyên tắc: “Điều mình không muốn thì đừng đối xử với người khác” và “Mình muốn thành đạt thì phải làm cho người khác thành đạt” Tu dưỡng bản thân, sử mình theo lễ Tôn trọng

và sử dụng người hiền

Nhân là trung thành, là vị tha Người có Nhân phải thực hiện 5 điều: Cung kính, khoan nhượng, giữ chữ tín, siêng năng, làm lợi cho người khác Hiều với cha mẹ và hữu ái là gốc của đức Nhân

Như vậy, nội dung Nhân là nhân đạo, yêu thương con người, coi người như mình, giúp đỡ lân nhau Khi điều Nhân đã bao trùm thì không còn mâu thuẫn, xung đột, lễ nhà Chu được phục tùng, xã hội sẽ tự ổn định Theo Khổng

Tử, đạo Nhân không phải để cho tất cả mọi người mà chỉ có ở người “quân tử” (quý tộc, trí thức thuộc giai cấp thống trị), còn kẻ “tiểu nhân” (người lao động, giai cấp bị trị) thì không bao giờ có Để đạt được điều Nhân, cần phải có Lễ

b) Lễ

Lễ vốn là những quy định, nghi thức trong cúng tế Khổng Tử đã lý luận

hóa, biến Lễ thành những quy định, trật tự phân chia thứ bậc trong xã hội, được thể hiện trong phong cách sinh hoạt: hành vi, ngôn ngữ, trang phục, nhà cửa…

Lễ là chuẩn mực đạo đức, là khuôn mẫu cho mọi hành động của cá nhân

và các tầng lớp trong xã hội Lúc này, Lễ mang tính pháp lý, có tác dụng khống chế các hoạt động thái quá Ai ở địa vị nào thì chỉ được dùng Lễ ấy, tùy vào tính chất công việc khác nhau Lễ là bộ phận của Nhân Lễ là ngọn, Nhân là gốc Người có đức Nhân là người “không nhìn cái không hợp Lễ, không nghe cái không hợp Lễ, không nói những điều không hợp Lễ, không làm những điều không hợp Lễ”…

Lễ tạo cho con người biết phân biệt trên dưới, biết thân phận, vai trò, địa

vị của mình trong xã hội, biết phục tùng làm theo điều lành và xa rời điều ác

Trang 3

Theo Khổng Tử, Lễ quy định chuẩn mực cho các đối tượng quan hệ cơ bản: vua – tôi, cha – con, chồng – vợ, anh – em, bạn bè Các quan hệ này đều có hai chiều, phụ thuộc vào nhau “Vua sai khiến bề tôi phải theo Lễ, bề tôi thờ vua theo đạo trung, cha đối với con phải nhân từ, con thờ cha phải hiếu thảo…” Khổng Tử xem Lễ như luật lệ “Một ngày sửa mình theo Lễ thì thiên hạ sẽ theo về” Lễ không phải dùng cho tất cả mọi người mà chỉ đem áp dụng cho người có Nhân Cung kính là gốc của Lễ Nhân có trước, Lễ có sau

c) Chính danh

Chính danh là danh phận đúng đắn, ngay thẳng Đây là phạm trù cơ bản

trong học thuyết chính trị của Khổng Tử Chính danh là xác định và phân biệt quan hệ danh phận, đẳng cấp giữa các giai cấp, thực chất là khẳng định tính hợp

lý của giai cấp quý tộc trong việc thực thi quyền lực của mình Nó vừa là điều kiện, vừa là mục đích của chính trị Chính danh thể hiện ở các nội dung:

Xác định danh phận, đẳng cấp và vị trí của từng cá nhân, tầng lớp trong

xã hội Ai ở vị trí nào thì làm tròn bổn phận ở vị trí ấy: vua phải giữ đúng đạo làm vua, tôi phải giữ đúng đạo làm tôi, cha phải giữ đúng đạo làm cha, con phải giữ đúng đạo làm con; không được làm quá chức năng, bổn phận của mình

“Danh” phải phù hợp với “thực”, nội dung phải phù hợp với hình thức Trong chính trị, lời nói phải đi đôi với việc làm Đặt con người vào đúng vị trí

và chức năng Phải xác định “danh” trước khi có “thực” vì “danh” là điều kiện thi hành “thực” Khi có danh thì thực mới có ý nghĩa “danh không chính thì ngôn không thuận, ngôn không thuận thì việc không thành”

Giữa Chính danh và Lễ có mối quan hệ chặt chẽ với nhau: muốn “danh” được “chính” (đúng đắn, phù hợp với thực) thì phải thực hiện Lễ Chính danh là điều kiện để thực hiện, trau dồi Lễ.Chính danh là một biện pháp quy định và giúp mọi người nhận rõ cương vị, quyền hạn và nghĩa vụ của mình trong quan

hệ với chức vụ và đẳng cấp tương ứng Có xác định được danh phận thì mới điều hòa được các mối quan hệ Đây là vấn đề cơ bản của cách ứng xử chính trị

Học thuyết chính trị của Khổng Tử được xây dựng trên ba phạm trù cơ bản: Nhân – Lễ - Chính danh Nhân là cốt lõi của vấn đề, vừa là điểm xuất phát

Trang 4

nhưng cũng là mục đích cuối cùng của hệ thống Do vậy, có thể gọi học thuyết của chính trị của Khổng Tử là “đức trị” vì lấy đạo đức làm gốc hay “nhân trị” Điều nhân được biểu hiện thông qua lễ, chính danh là con đường đạt đến điều nhân Ba yếu tố đó có quan hệ biện chứng với nhau, tạo nên tính chặt chẽ của học thuyết Về bản chất, học thuyết chính trị của Khổng Tử là duy tâm và phản động, vì nó không tính đến các yếu tố vật chất của xã hội mà chỉ khai thác yếu tố tinh thần – đạo đức Mục đích của học thuyết này là bảo vệ chế độ đẳng cấp, củng cố địa vị thống trị của giai cấp quý tộc đã lỗi thời, đưa xã hội trở về thời Tây Chu

1.1.2 Mạnh Tử

Mạnh Tử là người nước Trâu Ông đã kế thừa và phát triển sáng tạo những tư tưởng của Khổng Tử, xây dựng học thuyết “Nhân chính” (chính trị nhân nghĩa) của mình Tư tưởng chính trị của ông có những nội dung cơ bản sau:

Thuyết tính thiện: Theo Mạnh Tử, bản tính tự nhiên của con người là

thiện Con người có lòng trắc ẩn thì tự nhiên biết xấu hổ, nhường nhịn, biết phải trái Lòng trắc ẩn là nhân, biết xấu hổ là nghĩa, biết nhường nhịn là lễ, biết phải trái là trí Nhân, lễ, nghĩa, trí là bốn thứ vốn có ở tâm ta Con người trở thành ác

vì không biết tu tâm, dưỡng tính, để cho vật dục chi phối, chạy theo lợi ích cá nhân

Quan niệm về vua – tôi – dân: Mạnh Tử cho rằng, Thiên từ là do mệnh

trời trao cho thánh nhân và vận mệnh trời nhất trí với ý dân Trời ngấm ngầm trao quyền cho người có đức, hợp lòng dân Quan hệ vua – tôi là quan hệ hai chiều: “Vua coi bầy tôi như chân tay thì bầy tôi coi vua như ruột thịt, vua coi bầy tôi như chó ngựa thì bầy tôi coi vua như người dưng, vua coi bầy tôi như cỏ rác thì bầy tôi coi vua như cừu địch” Tiến thêm một bước, ông cho rằng: “Ta phải hiểu là giết thằng Trụ chứ không nên hiểu là giết vua vậy” Mạnh Tử đề xuất tư tưởng “nhường ngôi” Thiên tử có thể nhường ngôi cho vua chư hầu, căn

cứ vào đức hạnh và khăn năng thực hành nhân chính của ông ta

Trang 5

Mạnh Tử là người đầu tiên đưa ra luận điểm tôn trọng nhân dân: “Dân là quý nhất, quốc gia đứng thứ hai, vua là không đáng trọng” Như dân ở đây là chỉ thần dân, kẻ phụ thuộc, bị thống trị Coi trọng dân chỉ là thủ đoạn chính trị để thống trị tốt hơn mà thôi

Quan niệm về quân tử - tiểu nhân: Quân tử là hạng người lao tâm, cai trị

và được cung phụng Tiểu nhân là hạng người bạo lực, bị cai trị và phải cung phụng người Mạnh Tử đề xuất chủ trương dùng người hiền để thực hành chính trị nhân nghĩa Trị nước là nghề cao quý và quan trọng nhất, nên người cai trị phải được tuyển chọn công phu, chu đáo Nhưng bất đắc dĩ mới để cho có ngoại

lệ “kẻ hèn vượt người tôn quý”

Chủ trương vương đạo: Mạnh Tử kịch liệt phản đối chiến tranh, bạo lực,

nguồn gốc của mọi rối ren, loạn lạc Chính trị “vương đạo” là nhân chính, lấy dân làm gốc “Vương đạo” chỉ nhằm vào nhân nghĩa để mỗi người “tự nuôi lấy bản thân mà chờ số mệnh” thì thiên hạ sẽ bình yên vô sự Muốn cho tâm trí dân

ổn định không làm loạn, thì phải tạo điều kiện cho họ có một mức sống vật chất tối thiểu Thực chất của “vương đạo” là người cai trị phải giáo dục dân tuyệt đối phục tùng bề trên, thực hiện “tam cương, ngũ thường”, trói buộc ý thức và luân

lý Nho giáo để dễ bề cai trị họ

Học thuyết “chân chính” của Mạnh Tử có nhiều tiến bộ hơn so với Khổng

Tử Tuy vẫn đứng trên lập trường của giai cấp thống trị, nhưng ông đã nhìn thấy được sức mạnh của nhân dân, chủ trương thi hành nhân chính, vương đạo Đó là những yếu tố dân chủ, tiến bộ Điểm hạn chế của ông là còn tin vào mệnh trời và tính thần bí trong lý giải vấn đề quyền lực

1.2 Tư tưởng chính trị của phái Pháp gia

Vào cuối thời Chiến quốc, quá trình phát triển kinh tế - xã hội mạnh mẽ cùng với sự phân hóa giai cấp ngày càng sâu sắc đã cho ra đời một tầng lớp mới

là địa chủ mới và thương nhân Do áp dụng phương thức sản xuất tiến bộ và chính sách kinh tế phù hợp nên tầng lớp này đã nắm giữ, chi phối nền kinh tế đất nước Tuy vậy, tầng lớp quý tộc cũ nắm giữ quyền lực chính trị và đang trở thành vật cản của phát triển xã hội Yêu cầu bức xúc lúc này là tập phân trung

Trang 6

kinh tế và quyền lực để kết thúc tình trạng phân tranh, cát cứ, mở đường cho lực lượng sản xuất phát triển Pháp gia ra đời đã đáp ứng được yêu cầu trên Tư tưởng Pháp gia được áp dụng thành công và đưa vào thời Tần trở thành bá chủ, thống nhất Trung Quốc vào năm 221 trước Công Nguyên

Phái Pháp gia gồm nhiều nhà tư tưởng, nhiều trường phái khác nhau như phái trọng pháp, phái trọng thuật, phái trọng thế Hàn Phi Tử là người tổng kết

và phát triển tư tưởng của những nhà Pháp gia tiền bôi, hoàn chỉnh học thuyết này

Hàn Phi Tử (khoảng 280 – 233 TCN) là nhà tư tưởng cuối cùng của thời Tiên Tần, là con của công tử (con vua) nước Hàn Ông cùng với Lý Tư (Tể tưởng của Tần Thủy Hoàng) là học trò của Tuân Tử, nhà tư tưởng lớn nhất đương thời Ông muốn dùng học thuyết của mình để giúp vua làm cho đất nước phú cường, nhưng không được vua Hàn trọng dụng Đến nước Tần, ông bị Lý

Tư hãm hại buộc phải tự sát trong ngục Tác phẩm Hàn Phi Tử của ông là tác phẩm kinh điển của phái Pháp gia

Hàn Phi Tử cho rằng, xã hội loài người luôn biến đổi, phát triển theo hướng đi lên Bản tính con người là ham lợi Điều lợi ảnh hưởng và chi phối các mối quan hệ trong xã hội Chính trị đương thời không nên bàn chuyện nhân nghĩa cao xa mà cần có biện pháp cụ thể, cứng rắn, kiên quyết Từ nhận thức đó, học thuyết chính trị của ông được xây dựng trên cơ sở thống nhất pháp – thuật – thế:

Pháp luật là những quy ước, khuôn mẫu, chuẩn mực do vua ban ra, được

phổ biến rộng rãi để nhân dân thực hiện Pháp luật phải hợp thời, đáp ứng được những yêu cầu, không phát triển của xã hội, rõ ràng, dễ hiểu, phù hợp với trình

độ dân chúng Pháp luật phải công bằng, để kẻ mạnh không lấn át kẻ yếu, đám đông hiếp áp số yếu Quyền lực cần phải tập trung vào một người là vua Vua đề

ra pháp luật, quan lại theo dõi việc thực hiện, dân là người thi hành pháp luật

Thuật là thủ đoạn hay thuật cai trị của người làm vua, để kiểm tra, giám

sát, điều khiển bầy tôi Thuật là phương pháp tuyển chọn, sử dụng người đúng chức năng, tạo cho họ làm tròn bổn phận của mình Như vậy, thuật là yếu tố cần

Trang 7

thiết, bổ trợ và làm cho pháp luật được thi hành nghiêm chỉnh Thuật phải được giữ bí mật, kín đáo, không được tiết lộ với bất cứ ai Vua không được để lộ sự yêu ghét của mình, đề phòng quần thần lợi dụng Ông ta không phải làm gì mà bắt các quan phải làm việc cai trị dân chúng

Thế là uy thế, quyền lực của người cầm quyền Quần thần phục tùng nhà

vua không phải theo tình cốt nhục, mà chịu sự ràng buộc bởi quyền lực Yếu tố

để quẩn thần buộc phải tuân theo đó là thế Thế là quyền lực đảm bảo cho việc thi hành pháp luật Thế phải tuân thủ theo nguyên tắc tập trung, không được chia

sẻ, không được để rơi vào tay người khác Vua phải nắm chắc hai phương tiện cưỡng chế, đó là “nhị bính”: thưởng và phạt Thưởng, phạt phải căn cứ vào cơ

sở pháp luật chứ không thể tùy tiện, Vua cũng phải phục tùng pháp luật Khi có thể, quyền uy của vua cũng sẽ tăng lên, lời nói có thêm sức mạnh

Hàn Phi Tử cho rằng: “pháp”, “thuật”, “thế” cần phải kết hợp làm một, trong đó “pháp” là trung tâm, “thuật” và “thế” là những điều kiện tất yếu trong việc thi hành luật Pháp luật phải vì lẽ phải và phục vụ lợi ích chung, “việc phạt tội không trừ bậc đại thần, việc thưởng công không bỏ sót kẻ thất phu”

“Pháp trị” đối lập với “Nhân trị” của Nho gia Theo Hàn Phi Tử, nguồn gốc làm rối loạn pháp luật là do bọn du sĩ và các học thuyết chính trị đua nhau làm hỏng pháp độ, cho nên phải dùng pháp luật để ngăn cấm và không cho họ tham gia chính trị

Như vậy, đứng trên lập trường của giai cấp địa chủ mới, tư tưởng Pháp gia đã khai thông các bế tắc xã hội, tạo điều kiện cho lực lượng sản xuất phát triển Tư tưởng Pháp gia đã phục vụ đắc lực cho chế độ phong kiến trung ương tập quyền, góp phần không nhỏ trong việc củng cố chế độ phong kiến đời Tần Tuy nhiên, học thuyết Pháp trị bị giai cấp cầm quyền cực đoan hóa, dẫn đến sự thống trị hà khắc tàn bạo (như vụ án lịch sử Tần Thủy Hoàng ra lệnh đốt sách, chôn kẻ sỹ)

1.3 Tư tưởng đạo gia

Trang 8

Lão tử là người nước Sở từng làm quan giữ kho sách cho nhà Chu (về năm sinh, năm mất của ông chưa rõ nhưng các ý kiến đều khẳng định ông sống cùng thời với Khổng tử) Ông là một triết gia và tư tưởng của ông được phản ánh trong cuốn Đạo đức kinh

1.3.1 Lão tử chủ trương xây dựng một xã hội bình yên trong phạm vi một quốc gia bê nhỏ, ít dân, một xã hội lý tưởng gắn bó và hoà đồng với thiên nhiên

Xuất phát từ nhận thức như trên, ông chủ trương chia đất nước lớn ra thành nhiều nước nhỏ, dân ít (tiểu quốc, quả dân) – trong đó mỗi nước nhỏ được quyền sống theo phong tục tập quán của địa phương mình; mọi người sống thuần phát, hiền lành; không cần: học vấn, phương tiện đi lại, binh khí, bang giao: “Nước nhỏ dân ít, có dụng cụ gấp năm gấp mười cũng không dùng Tuy

có xe có thuyền mà không ai đi Tuy có khí giới mà không bày biện,

Từ đó, Lão tử ứng dụng nhận thức nói trên để giải thích thực tế: Ông đưa

ra một nguyên lý: “Người theo phép tắc của đất, đất theo phép tắc của trời, trời theo phép tắc của đạo” Bậc trị nước mà giữ được Đạo – tức là biết thi hành Đạo

“vô vi nhì vô bất vở” (không làm gì mà không gì không làm) thì “vạn vật sẽ tự

nó thay đổi, mà không hay có mình trị nước”

Lão tử chủ trương xây dựng một chế độ xã hội dựa trên sự bình đẳng của tất cả mọi người và không có áp bức, bóc lột giữa người với người Ông phê phán sự áp bức bóc lột của giai cấp địa chủ phong kiến đương thời, lên án sự lộng hành và tàn bạo của vua chúa đồng thời vạch trần những quan niệm về nguồn gốc thần thánh của quyền lực nhà vua

Lão tử chủ trương xây dựng một xã hội mà ở đó con người giữ được bản chất của mình – chất phác, tự nhiên, ban đầu Xã hội mà con người sống là xã hội hợp với vũ trụ tự nhiên – ông quan tâm đến con người tự nhiên, coi nó là một sinh vật tự nhiên, một bộ phận của tự nhiên; những quan hệ trong xã hội chỉ

là những cái có sau, không tất yếu

1.3.2 Để đạt tới một xã hội bình yên như trên thì người cầm quyền không cần dùng đến bạo lực, mà phải dùng “Đạo” – Vô vi nhi trị

Trang 9

“Đạo” là sự khái quát cao nhất trong từ tưởng của Lão tử: Đạo là bản nguyên của thế giới “có trước trời đất”; nó rất huyền diệu, khó nói rõ danh trạng, không thể dùng ngôn ngữ khái niệm để nói và nhận thức về nó Đạo chỉ quy luật chung của sự biến hoá sự vật, vừa có trước sự vật, vừa nằm trong sự vật Nếu đạo đức trong học thuyết Nho giáo là thuộc về phạm trù luân lý chính trị thì Đạo của Đạo gia lại là một phạm trù thuộc vũ trụ quan – nó chỉ cái nguyên lý tuyệt đối đã có trước trời đất; không sinh, không diệt, không tăng, không giảm Đạo là một nguyên lý “bình quân” (cân bằng) và “phản phục” (quay trở lại cái ban đầu) – không thái quá, bất cập Cũng như Đạo, Lão tử đưa ra khái niệm “Vô vi” với nghĩa là không làm gì cả cho ta thấy nhưng không có gì là không làm – vô vi mà vẫn làm việc, không nói mà vẫn dạy dỗ “Vô vi” theo nghĩa tích cực là trừ khử những gì thái quá, đồng thời nâng đỡ những gì hèn kém Vô vị không phải là không làm gì mà không cái gì không làm; đem cái tự nhiên mà giúp một cách tự nhiên, không tư tâm, không vị kỷ Bậc thánh nhân trị nước mà dùng đạo vô vi thì “vạn vật sẽ tự nó thay đổi” mà không hay có mình trị nước và dân không hay

là mình bị trị

Nó chỉ ra chiều sâu trong hoạt động nhận thức và thực tiễn của con người đặc biệt là trong lĩnh vực chính trị – yếu tố chiến lược được thể hiện sinh động trong mối quan hệ với yếu tố sách lược Mình là bậc dũng lực kinh có lúc phải biết làm như kẻ nhút nhát Trị nước lớn như nấu nướng cá nhỏ – nấu cá nhỏ mà lật lên lật xuống, động tới nó nhiều quá, nó sẽ nát; trị nước lớn mà chính lệnh phiền hà, pháp lệnh thay đổi nhiều quá, can thiệp vào việc dân nhiều quá, dân sẽ trá ngụy, chống đối

1.4 Tư tưởng chính trị Mặc gia

Mặc gia là một trường phái triết học Trung Quốc cổ đại do Mặc tử sáng lập Nó phát triển cùng thời với Nho gia, Đạo gia, Pháp gia và là một trong bốn trường phái triết học chính trong thời Xuân Thu và Chiến Quốc, là một trong bách gia chư tử , tại Trung Quốc cổ đại bị cho là một chi nhánh của Đạo Gia chịu ảnh hưởng từ tư tưởng Đạo gia

Trang 10

Mặc Gia từng có một thời kỳ huy hoàng, vào thời điểm đó Pháp Gia Hàn Phi xưng Mặc Gia cùng Nho Gia là "Thế chi hiển học" (thế gian nổi tiếng học thuyết), Nho Gia Mạnh Tử cũng từng nói "Thiên hạ chi ngôn, bất quy Dương tắc quy Mặc", chứng minh tư tưởng Mặc gia từng trải qua huy hoàng Cuối thời Chiến quốc, tầm ảnh hưởng của Mặc học thậm chí vượt qua Khổng học Tư tưởng chính trị của ông gồm những vấn đề sau:

*Lý thuyết thương yêu lẫn nhau và cùng có lợi ( Kiêm Ái):

Kiêm ái là yêu thương tất cả mọi người không phân biệt đẳng cấp, sang hèn Theo Mặc Tử con người phải kiêm ái, vì “trời muốn con người yêu thương nhau, làm lợi cho nhau chứ không muốn con người ghét nhau, làm hại nhau”

“Ái” là “nhân”, “kiêm” là “nghĩa”, “kiêm ái” là “nhân nghĩa” Cho nên khi thực hiện được cái đức căn bản ấy sẽ làm cho đạo đức luân lý xã hội trở nên tốt đẹp

và người ta có thể đạt được tất cả những phẩm chất đạo đức khác như huệ, trung, từ, hiếu, kính đễ…, người người no đủ, nhà nhà hạnh phúc, quốc gia yên lành, thiên hạ bình trị Tuy nhiên, “kiêm ái” đối với ông không chỉ là mọi người yêu thương những người thân với mình, gần với mình, mà nó còn có một bước phát triển cao hơn Do chỗ trong xã hội có sự khác nhau về thứ bậc sang hèn, giàu nghèo nên “kiêm ái” ở đây phải là “thương yêu rộng khắp, không kể thân

sơ, không phân biệt thứ bậc”, chỉ lấy tình yêu thương của con người để đối đãi với nhau

*Tôn trọng người hiền và học tập người trên:

Quan điểm của ông là tôn trọng người xứng đáng và trừng phạt những kẻ bất nhân, không phụ thuộc vào những quan hệ thân thuộc Ông cho rằng những người làm nghê nông, công, thương có khả năng thì phải được tiến cử, người có tài, đức thì được trọng thưởng Ông phản đối chế độ cha truyền con nối của xã hội đương thời Ông muốn lấy tài năng và đức hạnh làm tiêu chuẩn để thay thế chế độ cha truyền con nối của bọn lãnh chúa phong kiến, đây chính là mầm mống của những tư tưởng dân chủ

2 Tư tưởng chính trị Hy Lạp - La Mã cổ đại

Ngày đăng: 02/05/2022, 17:33

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w