1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

20210527_Lãng-phí-trong-nghiên-cứu-khoa-học-nhìn-từ-góc-độ-của-các-tầng-lớp-trong-xã-hộiHoang

8 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Lãng phí trong nghiên cứu khoa học nhìn từ góc độ của các tầng lớp trong xã hội
Tác giả Nguyễn Quang Trung
Trường học Sungkyunkwan University
Chuyên ngành Khoa học và Công nghệ
Thể loại Luận văn
Năm xuất bản 2021
Thành phố Suwon
Định dạng
Số trang 8
Dung lượng 93,52 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Lãng phí trong nghiên cứu khoa học nhìn từ góc độ của các tầng lớp trong xã hội Nguyễn Quang Trung Sungkyunkwan University Suwon 440746, Korea Quá trình đi lên của xã hội luôn luôn gắn liền với sự kha[.]

Trang 1

Lãng phí trong nghiên cứu khoa học nhìn từ góc độ của

các tầng lớp trong xã hội

Nguyễn Quang Trung Sungkyunkwan University Suwon 440746, Korea

Quá trình đi lên của xã hội luôn luôn gắn liền với sự khai phá về măt nhận thức, bao gồm cả sự tiến bộ về khoa học – kỹ thuật Thế giới vừa trải qua hai thế kỷ 19 – 20 với sự phát triển vượt bậc về mọi mặt với vô số các phát kiến, phát minh từ nhiều lĩnh vực khác nhau Chính các thành tựu đó đã và đang định hình thế giới hiện nay và vẫn còn tiếp diễn đến tương lai Vì lẽ

đó, khoa học – kỹ thuật đóng một vai trò then chốt trong sự phát triển của văn minh nhân loại, cũng như là nhân tố duy trì sự ổn định và thịnh vượng của các quốc gia Đặc biệt, đối với các quốc gia có nền kinh tế chuyển tiếp như Việt Nam, phát triển khoa học và giáo dục là hướng đi phù hợp để hiện đại hóa đất nước và nâng cao vị thế quốc gia trên trường quốc tế

Thực tế cho thấy, trong thời gian qua, Việt Nam đã có những khởi đầu khá suôn sẻ khi theo dữ liệu của quỹ đầu tư nghiên cứu khoa học và kỹ thuật quốc gia – NAFOSTED, hiệu suất nghiên cứu tăng ổn định hằng năm 20%

và đưa tổng sản phẩm quốc nội tăng từ 11,7% (2011) lên 28,7% (2013) và duy trì ở mức 35-40% trong giai đoạn 2014-2017 Song, dù đã có các bước chuyển biến rõ rệt trong các lĩnh vực khoa học – kỹ thuật, việc nghiên cứu khoa học ở Việt Nam lại đang dấy lên sự không đồng tình đến từ xã hội mà chủ yếu là do sự lãng phí trong nghiên cứu [1] Có nhiều nguyên nhân dẫn đến sự lãng phí như: i) yếu kém trong việc lên kế hoạch và quản lý nguồn lực, ii) thiếu thốn cơ sở vật chất cũng như vấn đề năng suất làm việc của người nghiên cứu, và iii) vấn đề về đào tạo nghiên cứu sinh Tuy nhiên, mọi người thường lờ đi hoặc không chú tâm đến một góc độ khác là định kiến của xã hội đối với việc nghiên cứu và do đó có cái nhìn chưa chính xác về nghiên cứu và cho đó là một sự lãng phí Vậy nên, bài viết này sẽ

đề cập đến quan điểm về sự lãng phí dưới góc nhìn của một vài tầng lớp trong xã hội hiện nay

(*Lưu ý: bài viết chủ yếu về khoa học – kỹ thuật và không lạm bàn về khoa học xã hội)

Trước hết, đối tượng thụ hưởng lợi ích về mặt kinh tế có thể nói đến là tầng lớp thương nhân cũng như các nhà đầu tư, mà cụ thể là các doanh nhân hay chủ doanh nghiệp trong khu vực sản xuất hàng hóa Bởi lẽ, họ là những người trực tiếp ứng dụng các thành tựu khoa học – kỹ thuật vào sản xuất và thương mại; vậy nên, họ sẽ là đối tượng có cái nhìn thiện cảm hơn đối với khoa học so với các tầng lớp còn lại Đồng thời, điều khiến họ có cái nhìn tích cực về khoa học chính là họ thấy được giá trị và lợi ích (đặc biệt là lợi ích kinh tế) mà khoa học mang lại cho doanh nghiệp họ Có một điều dễ dàng nhận thấy là các công ty công nghệ xuất hiện ngày một

Trang 2

nhiều và chiếm một vị trí quan trọng trong chuỗi cung ứng Điều đáng nói chính là bản chất của các công ty này đều dựa vào sự phát triển về khoa học – kỹ thuật Đặc biệt, các tập đoàn lớn luôn luôn chú trọng mảng R&D (nghiên cứu và phát triển), vì đó là cách mà họ duy trì sự phát triển không ngừng của tập đoàn mình

Một ví dụ điển hình ở Việt Nam cho các tập đoàn như trên chính là Vingroup với việc đầu tư xây dựng nhà máy sản xuất ô tô (Vinfast); hiện

đã hoàn thành và phân phối ra thị trường vào năm 2019 Ngoài ra, Vingroup cũng đang đầu tư nghiên cứu và phát triển xe ô tô chạy bằng điện [2] Ngoài ra, một ví dụ khác đó chính là BKAV, công ty này hoạt động chủ yếu ở mảng an ninh mạng và phần mềm Sau đó, công ty này đã lấn sân sang mảng sản xuất điện thoại vào 2015 Điều đáng chú ý là BKAV độc lập phát triển cả phần cứng lẫn phần mềm của điện thoại của mình và

đã ra mắt nhiều dòng điện thoại sau đó Dự kiến, BKAV sẽ cho ra mắt Bphone tích hợp mạng 5G trong thời gian tới [3] Mặc dù Bphone chưa đạt được nhiều kết quả khả quan, song lại là một minh chứng cho một khát vọng về ngành sản xuất điện thoại thông minh ở Việt Nam Quay lại câu chuyện ban đầu, chúng ta có thể thấy rằng khoa học luôn có một sức hút nhất định đối với doanh nhân vì đó là nơi họ có thể khai thác nguồn lợi, và vậy nên, chúng ta có thể nói rằng giới doanh nhân là một trong các tầng lớp có thiện cảm nhất đối với khoa học – kỹ thuật và do đó, không có gì là lãng phí cho nghiên cứu khoa học đối với tầng lớp này

Kế đến, tầng lớp trí thức là đối tượng trực tiếp làm việc với khoa học – kỹ thuật Tuy nhiên, đối với việc nghiên cứu khoa học thì lại có sự phân hóa trong nội bộ tầng lớp này Cụ thể, phần lớn đều ý thức được vai trò và tầm quan trọng của việc nghiên cứu và phát triển, song một bộ phận lại không quá nồng nhiệt với công việc này Điển hình là tư duy mua lại các công nghệ sẵn có ở nước ngoài Luận điệu chung của nhóm này chính là công nghệ nào đã có sẵn ở các quốc gia tiên tiến thì không cần nghiên cứu và phát triển, việc duy nhất cần làm chính là tiếp thu công nghệ đó và áp dụng ngay vào sản xuất, đỡ tốn chi phí R&D và phí tổn khác Việc làm này

ở góc độ kinh tế không hẳn là sai, bởi vì với vật lực hạn chế, việc đầu tư vào nghiên cứu là việc vô cùng tốn kém và mạo hiểm Đấy là chưa tính đến tốc độ nghiên cứu của các quốc gia khác là vượt trội so với Việt Nam

Do đó, việc chuyển giao công nghệ sẽ đáp ứng được các nhu cầu cấp thiết

về sản xuất nhưng về lâu dài, nó sẽ tỏ ra yếu điểm chết người đó chính là

sự lạc hậu và dễ bị đào thải, sau cùng lại phải tiếp tục mua công nghệ từ các nước tiên tiến

Tuy nhiên, nhìn vào mặt tích cực, việc chuyển giao công nghệ sẽ giúp Việt Nam bớt được một khoảng chi phí nghiên cứu và chí ít là không xuất phát điểm từ con số không Đặc biệt trong các lĩnh vực công nghệ cao như bán dẫn, thế giới đi trước Việt Nam một đoạn rất xa Thật vậy, hiện tại ngành chip bán dẫn hiện tại đã đạt đến trình độ tiệm cận với cực hạn Cụ thể, vào tháng 5 vừa qua, công ty sản xuất chip IBM (Mỹ) đã cho ra mắt chip

có kích thước kênh dẫn transistor vào khoảng 2 nm Điều này cho phép chip của IBM có thể tích hợp với mật độ transistor đáng kinh ngạc (xấp xỉ

333 MTr/mm2) [4] Không kém cạnh, sau đó không lâu, tập đoàn bán dẫn

Trang 3

TSMC (Đài Loan) cùng với đại học Quốc gia Đài Loan và Viện công nghệ Massachusetts công bố quy trình sản xuất chip dưới 1 nm [5] Với trình độ công nghệ áp đảo như thế, Việt Nam dù bỏ nhiều tài lực và vật lực hơn vẫn khó lòng bắt kịp Việc mua lại các công nghệ sẵn có sẽ mang lại cho Việt Nam nhiều ưu thế hơn, kèm theo đó là phải đẩy mạnh hơn nữa sau khi đầu tư vào chuyển giao công nghệ nước ngoài Do đó, lập luận của nhóm trí thức này không hẳn sai nhưng vô tình đẩy đất nước vào ngõ cụt trong việc phát triển khoa học và đó là một sự lãng phí nguồn vốn đầu tư cho công nghệ

Dẫu sao, phần đông tầng lớp trí thức vẫn luôn có cái nhìn tích cực đối với khoa học và nhiều người trong số đó đã và đang có nhiều đóng góp to lớn cho nền khoa học và kỹ thuật nước nhà cũng như tạo tiếng vang trên thế giới Nói đến đây, không thể không xướng danh giáo sư Đàm Thanh Sơn với hai giải thưởng danh giá lần lượt là huy chương Dirac – giải thưởng danh giá nhất của vật lý lý thuyết thế giới (2018) [6] và N.Bogoliubov của Viện Liên hiệp nghiên cứu hạt nhân Dubna – JINR (2020) [7] Vậy thì đối với phần lớn tầng lớp này, sự lãng phí có thể nói đến chính là việc phân bổ nguồn kinh phí không hợp lý Kinh phí bình quân mỗi năm trong giai đoạn 2011-2015 đầu tư cho sự nghiệp khoa học kỹ thuật rơi vào khoảng 30-50

tỷ cho 61 đơn vị trực thuộc bộ (xấp xỉ 800 triệu cho một đơn vị nghiên cứu) Một con số cực kỳ khiêm tốn cho các dự án nghiên cứu khoa học, chưa tính đến việc đầu tư vào các trang thiết bị tân tiến có thể lên đến hàng trăm ngàn đô thì việc duy trì hoạt động của cơ sở cũng đã tiêu tốn một lượng kha khá Ngoài ra, phần lớn số kinh phí dựa vào số cấp ban đầu

và chưa theo nguyên tắc gắn theo sản phẩm đầu ra và chưa phân bổ theo

số lượng cán bộ nghiên cứu đã dẫn đến việc khó đạt được mục tiêu đề ra ban đầu [8]

Tựu trung, dù mang khuynh hướng nào đi nữa, số đông giới trí thức luôn

có xu hướng chung chính là coi trọng khoa học – kỹ thuật Vậy nên, để nói

họ nghĩ như thế nào về sự lãng phí trong nghiên cứu thì chúng ta có thể tạm chia ra hai bộ phận: bộ phận thứ nhất cho rằng sự lãng phí trong nghiên cứu bắt nguồn từ việc không cần thiết và chuộng chuyển giao công nghệ từ nước ngoài, bộ phận thứ hai lại cho rằng đó là sự phân bổ nguồn quỹ không hợp lý

Kế đến, tầng lớp chính trị dù rằng không phải đối tượng trực tiếp tham gia vào nghiên cứu khoa học Đổi lại, họ là tầng lớp đóng vai trò quan trọng trong nghiên cứu khoa học Việc hoạch định chiến lượng cũng như ban hành các chính sách phù hợp đối với lĩnh vực nghiên cứu khoa học giúp ích rất nhiều trong việc tạo điều kiện tiền đề cho các ngành khoa học mới được hình thành cũng như đẩy nhanh tiến độ nghiên cứu và ứng dụng vào thực tế Như được đề cập ở phần mở đầu, dưới sự hỗ trợ của quỹ NAFOSTED, tốc độ nghiên cứu tăng lên 20% và nâng tổng sản phẩm quốc nội đạt 35-40% trong giai đoạn 2014 – 2017 Tuy nhiên, vẫn tồn tại một số

ít các chính trị gia, trong đó nguy hiểm nhất là những người theo chủ nghĩa dân túy hoặc mang hệ tư tưởng cực đoan, lại có hành vi chất vấn tính hiệu quả và giá trị ngắn hạng mà khoa học mang lại đối với nền kinh

tế Có một sự thực rằng, không phải nghiên cứu nào cũng cho ra một kết

Trang 4

quả trong một thời gian ngắn, đặc biệt là khối ngành cơ bản vốn cần sự đầu tư dài hạn và ổn định Điều này đánh vào sự bất mãn vốn có của phần lớn người dân vì chưa có cái nhìn tổng thể đối với bức tranh chung về nghiên cứu khoa học cũng như nỗi bức xúc về việc sử dụng nguồn thuế kém hiệu quả Truy ngược xa hơn về quá khứ, vào khoảng những năm 30 tới 60 của thế kỷ 20, tại Liên Xô, Stalin và sau đó là Khruschev đã tán dương và áp đặt học thuyết di truyền sai lầm của nhà sinh vật học và nông học Trofim Lysenko lên nền di truyền học Liên Xô rằng những phẩm chất có được do sự đào luyện hoàn toàn có thể được truyền lại cho các thế

hệ mai sau Trên cơ sở các thí nghiệm khá thô thiển và không có cơ sở, Lysenko hứa hẹn sẽ tăng năng suất cây trồng lớn hơn, nhanh hơn và ít tốn kém hơn so với các nhà sinh vật học khác Quan điểm này rất phù hợp với

ý thức hệ Soviet khi ấy, nhắm tới xây dựng một hình mẫu con người lý tưởng [9] Dưới sự bảo hộ của các lãnh tụ Soviet khi ấy, Lysenko đã làm lũng đoạn nền sinh học (trầm trọng nhất lĩnh vực di truyền học) của Liên

Xô trong thời điểm mà ngành di truyền học trên thế giới đang có những bước đột phá ngoài sức mong đợi Từ việc xem các nghiên cứu chân chính gây nên sự lãng phí, các lãnh tụ của Soviet đã mở ra hàng tá bi kịch nối tiếp nhau Cụ thể là nhiều nhà di truyền học Soviet bị giết hoặc đưa đi trại cải tạo cùng với 3.000 nhà sinh học bị bỏ tù hoặc sa thải hay thậm chí nhận lấy cái chết vì chống lại Lysenko cùng học thuyết của ông ta

Tuy nhiên, điều tệ hại nhất chính là nó đã mở ra những năm tháng đen tối của ngành sinh học Liên Xô, một thời kỳ mà môi trường học thuật bị vấy bẩn bởi sự nghi kỵ cùng với chính sách hạn chế tự do tư tưởng cực đoan,

mà kết quả là phần đông các nhà khoa học đã chọn giải pháp im lặng để bảo toàn cho bản thân và nạn chảy máu chất xám vô cùng nghiêm trọng trong giới trí thức Liên Xô Không có gì lãng phí hơn việc đầu tư vào các nghiên cứu ngụy khoa học và thất thoát nguồn chất xám, đây là một bài học vô cùng đắt giá không chỉ cho giới lãnh đạo mà kể cả giới trí thức về

sự khủng hoảng khoa học cũng như tác hại nó gây nên Vậy nên, tầng lớp chính trị hay lãnh đạo đóng vai trò cực kỳ quan trọng nếu không muốn nói

là then chốt trong nền khoa học dù rằng không trực tiếp tham gia vào quá trình nghiên cứu Qua đây thấy rõ, sự lãng phí trong nghiên cứu nhìn từ góc độ của các chính trị gia chính là việc các dự án nghiên cứu tiêu tốn quá nhiều nguồn kinh phí dù rằng đó là điều cần thiết Ngoài ra, cái giá phải trả cho việc xem nhẹ các nghiên cứu hoặc tiến hành các dự án ngụy/ phản khoa học thực tế lại đắt hơn rất nhiều so với việc đầu tư cho các nghiên cứu chính thống

Cuối cùng nhưng lại chiếm phần đông nhất chính là những người dân Phần lớn họ có ít cơ hội tiếp xúc với các tài liệu khoa học mà thay vào đó

là báo chí và các nguồn tin phi chính thống khác như mạng xã hội, tin đồn, , kèm theo đó là các định kiến sẵn có về nghiên cứu khoa học Phần đông mọi người cho rằng các nghiên cứu thường phải cho ra các kết quả mang tầm ảnh hưởng lớn lao và đáng được nhắc đến Dường như hình ảnh

về các nhà khoa học lỗi lạc như Issac Newton, Albert Einstein hay Stephen Hawking, đã được ca ngợi nhiều hơn họ vốn là Không phủ nhận tài năng cũng như những đóng góp to lớn của họ đối với nền khoa học hiện đại nhưng có một thực tế rằng hào quang của họ còn được tạo dựng nên từ

Trang 5

nhiều nhà khoa học khác với các nghiên cứu khác nhau Nhà khoa học thường được ca tụng và đưa hình ảnh nhiều nhất chính là Albert Einstein cùng phương trình mà ai cũng biết đến của ông (E=mc2) Tuy nhiên, thực

tế rằng sẽ không bao giờ có nổi thuyết tương đối nếu không có các nhà toán học như Isaac Newton, Gottfried Leibniz, Riemann, , đã xây dựng nền toán học giải thích bao gồm vi-tích phân vốn được ứng dụng rộng rãi trong ngành vật lý hiện đại

Cần nói thêm, hiện nay, người ta đang đặt nghi vấn về việc ai mới là người giải các phương trình toán học trong nghiên cứu của Einstein và người được cho là có khả năng nhất chính là người vợ đầu tiên của ông vì bản thân Einstein dù rất lỗi lạc nhưng lại không thực sự xuất sắc về Toán Bên cạnh đó, lịch sử của chất bán dẫn thực ra bắt nguồn từ các thí nghiệm khảo sát tính chất điện của vật liệu vào những năm đầu thế kỷ 19, vậy nên chúng ta cũng sẽ không bao giờ có transistor (linh kiện cấu thành nên con chip) nếu không có các nhà vật lý Thomas Johann Seebeck (người đầu tiên chú ý đến hiệu ứng trên chất bán dẫn), Michael Faraday (thí nghiệm quan sát sự thay đổi điện trở khi thay đổi nhiệt độ chất bán dẫn) cùng nhiều nhà khoa học khác [10] Và rõ ràng một điều rằng chúng ta thường biết đến kết quả cuối cùng hơn là quá trình đạt được nó! Điều này khiến đại bộ phần quần chúng chăm chăm vào các kết quả nổi trội hơn là sự đóng góp âm thầm từ các nghiên cứu khác nhau

Chính vì hiểu sai về bản chất của việc làm khoa học, cho nên phần lớn mọi người luôn thắc mắc tại sao Việt Nam có hàng ngàn thạc sĩ, tiến sĩ nhưng lại không có nhiều thành tựu vượt trội Kèm theo đó, có một nhóm người dân tung hô các sáng chế từ các nông dân Kỳ thực, sự sáng tạo của nhiều nông dân đáng được khích lệ, nhưng xét về mặt khoa học, giá trị nó mang lại cho nền khoa học là nhỏ bé nếu không muốn nói là các phát minh này không hề mới về mặt nguyên lý hay cách vận hành hay hiệu năng nó mang lại thật sự vượt trội hoàn toàn so với sản phẩm sẵn có.Tuy nhiên, chính vì điều này mà họ quay sang chất vấn rằng các nhà khoa học ở Việt Nam đã sử dụng nguồn quỹ hộ trợ như thế nào mà lại không hề có một sản phẩm cụ thể Ở đây phải nhắc đến phần lớn người dân chưa có cơ hội tiếp xúc với các ấn phẩm khoa học mà đặc biệt là các ấn phẩm do các thạc sĩ, tiến sĩ từ các trường Đại Học cũng như các viện và cơ sở nghiên cứu trong nước công bố Từ đó, họ có cái nhìn khá phiến diện về nghiên cứu khoa học ở Việt Nam và thường có xu hướng cho rằng nghiên cứu ở Việt Nam là một sự lãng phí nguồn thuế Vậy nên, đối với quần chúng, nghiên cứu khoa học ở Việt Nam thường ít được họ coi trọng hơn hẳn so với các tầng lớp còn lại Dù vậy, ở họ vẫn luôn có niềm hy vọng vào một tương lai nền khoa học tiến bộ ở Việt Nam

Nói chung, bản chất của khoa học chính là đi tìm cái mới và bao gồm cả việc đi tìm cái mới trong cái sẵn có Chúng ta có thể phân khoa học ra làm hai bộ phận chính là cơ bản và ứng dụng Khoa học cơ bản gắn liền với việc xây dựng các lý thuyết nền tảng, phát hiện các nguyên lý, cơ chế vận hành, định luật, trong khi khoa học ứng dụng đúng như tên gọi của nó chính là việc ứng dụng các thành tựu của khoa học cơ bản vào thực tế dưới dạng một vật thể hữu hình, hữu dụng Tuy nhiên, sự khác biệt giữa

Trang 6

khoa học cơ bản và khoa học ứng dụng ngày nay càng thu hẹp lại chứ không tách biệt như ngày trước mà đôi lúc, đó chỉ là sự khác biệt về góc nhìn hay cách tiếp cận Ví dụ như về linh kiện trở nhớ (Memristor hay Resistive switching random access memory – ReRAM), nếu nghiên cứu được tiến hành để phát hiện cơ chế thay đổi điện trở trong linh kiện thì đó

là khoa học cơ bản Cùng linh kiện đó, nếu nghiên cứu được tiến hành để biến nó trở thành một thanh ghi (Random Access Memory- RAM) thì đó lại

là khoa học ứng dụng

Ngoài ra, các ngành/lĩnh vực không còn đứng đơn lẻ như trước mà thay vào đó là sự giao thoa, kết hợp liên ngành Ví dụ như sinh học và vật lý lượng tử vốn dĩ là hai ngành tách biệt thì bây giờ lại xuất hiện thêm một phân cấp dưới của cả hai ngành chính là vật lý sinh học lượng tử (Quantum Biophysics) Nói đên đây để hiểu rõ khoa học ngày nay đang phát triển không chỉ theo chiều sâu mà còn cả chiều rộng Chiều sâu có thể nói đến tính chuyên môn hóa và chiều rộng ở đây có thể hiểu là sự xuất hiện nhiều nhánh nhỏ trong nội bộ ngành cũng như sự liên kết giữa các lĩnh vực với nhau Qua đó thấy rằng nền khoa học thế giới đang có nhiều chuyển biến mạnh mẽ trong khi đó những ngành/lĩnh vực mới này lại chưa xuất hiện hoặc còn rất mới mẻ ở Việt Nam, chẳng hạn như khoa học và kỹ thuật vật liệu (Materials Science and Engineering), vật lý sinh học lượng tử (Quantum biophysics), hóa học chất rắn (Solid-chemistry), Nói như vậy để nhắc nhở một lần nữa rằng Việt Nam đang dần bị thế giới

bỏ ngày càng xa và quan trọng là các thành tựu này vốn dĩ không phải có được trong ngày một ngày hai mà đó là cả một quá trình nỗ lực lâu dài Khó khăn ở Việt Nam chính là xuất phát điểm muộn hơn so với các quốc gia khác mà yếu tố khách quan chính là thời kỳ đau thương và mất mát của dân tộc ở thế kỷ trước Ngoài ra, khó khăn còn nằm ở việc nguồn quỹ đầu tư cho khoa học còn rất khiêm tốn và các định kiến tiêu cực sẵn có đối với nghiên cứu khoa học Dù vậy, Việt Nam vẫn có các ưu thế so với các nước khác chính là tiếp thu các công nghệ mới với xu hướng đi tắt đón đầu vốn dĩ đang rất thành công đối với Hàn Quốc, các chính sách mở cửa thu hút đầu tư từ nước ngoài, nguồn lao động dồi dào và lành nghề với tinh thần truyền thống hiếu học của người Việt Nam [11] Vậy nên, phát triển khoa học ở Việt Nam đòi hỏi nhiều phương diện, bao gồm: sự chủ động với tinh thần đạo đức cao của nhà nghiên cứu, môi trường nghiên cứu, nguồn quỹ đầu tư và cuối cùng nhưng quan trọng không kém chính là sự ủng hộ của công luận [12-14]

Môi trường nghiên cứu phụ thuộc chủ yếu vào các đường lối, chính sách của nhà nước ban hành cũng như sự định hướng chung về một tầm nhìn Việt Nam mới Trên thế giới, ngoài nguồn đầu tư trực tiếp của chính phủ thì còn có sự góp sức của các doanh nghiệp, tập đoàn tham gia vào quá trình nghiên cứu khoa học dưới nhiều hình thức như dự án liên kết, học bổng đào tạo, hỗ trợ trang thiết bị, Một ví dụ điển hình đối với Việt Nam chính là Hàn Quốc, ngoài nguồn quỹ quốc gia Brains Korea 21+ (BK21+) thì sau lưng các trường đại học chính là các tập đoàn lớn Ví dụ như Đại học Thành Quân Quán (Sungkyunkwan University) có sự hỗ trợ của tập đoàn Samsung, Postech (Pohang University of Science and Technology)

Trang 7

với tập đoàn Hyundae, và nhiều jaebol khác Sau cùng, sự ủng hộ của công luận chính là có tác động tinh thần lớn đối với những người tham gia vào công cuộc nghiên cứu khoa học Sự tin tưởng cũng như trân trọng của mọi người là thứ khiến các nhà nghiên cứu có nhiều đam mê, động lực và lòng nhiệt thành hơn đối với sự nghiệp nghiên cứu khoa học!

Reference

[1] Quan-Hoang Vuong (2018) The (ir)rational consideration of the cost

of science in transistion economies Nature Human Behavior, 2, 5

[2] Châu An (2021) BKAV sẽ sản xuất Bphone 5G vnexpress.net

Retrieved from https://vnexpress.net/bkav-se-san-xuat-bphone-5g-4262707.html

[3] Tập đoàn Vingroup (2021) Vinfast ra mắt 3 dòng ô tô điện tự lại – khẳng định tầm nhìn trở thành hãng xe điện thông minh toàn cầu

Vinfast Retrieved from https://vinfastauto.com/vi/vinfast-ra-mat-3- dong-o-dien-tu-lai-khang-dinh-tam-nhin-tro-thanh-hang-xe-dien-thong-minh-toan-cau

[4] Ian Cutress (2021) IBM creates first 2nm chip Anandtech Retrieved

from https://www.anandtech.com/show/16656/ibm-creates-first-2nm-chip#:~:text=IBM%20states%20that%20the

%20technology,the%20size%20of%20a%20fingernail

[5] Vn-Z.vn team (2021) TSMC tạo ra đột phá lớn trong quy trình dưới

1nm VN-Z news Retrieved from https://vn-z.vn/threads/tsmc-tao-ra-dot-pha-lon-trong-quy-trinh-duoi-1nm.40511/?

fbclid=IwAR2J5NGAE0p4UGdX0-en8C-bWKSsMewdqGY5-GGeSK6dRlBa35xal8_lcHU

[6] Duy Thanh & Nguyễn Phương Vân (2018) Giáo sư Đàm Thanh Sơn:

nhà khoa học tài năng và khiêm tốn Tuổi Trẻ Retrieved from

https://tuoitre.vn/gs-dam-thanh-son-nha-khoa-hoc-tai-nang-va-khiem-ton-20180810104517056.htm

[7] Quý Hiên (2020) Giáo sư Đàm Thanh Sơn nhận giải thưởng của Viện

Liên hiệp nghiên cứu hạt nhân Dubna Thanh Niên Retrieved from

https://thanhnien.vn/giao-duc/gs-dam-thanh-son-nhan-giai-thuong-cua-vien-lien-hiep-nghien-cuu-hat-nhan-dubna-1198008.html

[8] Lệ Thu (2017) Bất ngờ kinh phí nghiên cứu khoa học của các trường

Đại học ở Việt Nam Dân Trí Retrieved from

https://dantri.com.vn/giao-duc-huong-nghiep/bat-ngo-kinh-phi-

nghien-cuu-khoa-hoc-cua-cac-truong-dai-hoc-viet-nam-20170730094531275.htm

[9] Pierre Darriulat (Hải Đăng dịch) (2017) Bài học từ bi kịch Lysenko

Tia sáng Retrieved from https://tiasang.com.vn/-dien-dan/Bai-hoc-tu-bi-kich-Lysenko-10877

[10] Semiconductor (2021, May 28) In Wikipedia Retrieved from

https://en.wikipedia.org/wiki/Semiconductor

[11] Phạm Minh Chính, Vương Quân Hoàng (2009) Kinh tế Việt Nam:

Thăng trầm và đột phá Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.

Trang 8

[12] Quan-Hoang Vuong (2019) Breaking barriers in publishing

demands a proactive attitude Nature Human Behavior, 3, 1034

[13] Quan-Hoang Vuong (2020) Reform retractions to make them more

transparent Nature, 582, 149

[14] Quan-Hoang Vuong (2018) The harsh world of publishing in emerging regions and implications for editors and publishers: The

case of Vietnam Learned Publishing, 32(4), 314-324

Ngày đăng: 02/05/2022, 03:55

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w