1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Bài của PGS.TS Lê Thị Diệu Huyền, TS.Lê Thị Minh Ngọc

10 9 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 10
Dung lượng 525,4 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

1 © Học viện Ngân hàng ISSN 1859 011X Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng Số 204 Tháng 5 2019 Tăng cường kiểm soát an toàn nợ công Việt Nam CHÍNH SÁCH & THỊ TRƯỜNG TÀI CHÍNH TIỀN TỆ Lê Thị Diệu Huyền[.]

Trang 1

Tăng cường kiểm soát an toàn nợ công Việt Nam

Lê Thị Diệu Huyền

Lê Thị Minh Ngọc

Ngày nhận: 21/02/2019 Ngày nhận bản sửa: 11/03/2019 Ngày duyệt đăng: 25/03/2019

Nợ công Việt Nam thời gian gần đây được đánh giá vẫn trong ngưỡng

an toàn, chưa tiềm ẩn nguy cơ mất kiểm soát rủi ro dẫn đến khủng

hoảng nợ Tuy nhiên, trong điều kiện nợ công có xu hướng tăng

nhanh, còn phụ thuộc nhiều vào các khoản vay nước ngoài, trong khi

đó chi ngân sách tiếp tục tăng cao, nhu cầu đầu tư phát triển kinh

tế lớn cùng với nguồn thu trong nước còn hạn chế, nghĩa vụ trả nợ

tiếp tục tăng lên đã đặt ra nhiều thách thức về gánh nặng nợ công

của Việt Nam Kinh nghiệm từ các cuộc khủng hoảng nợ công tại

nhiều quốc gia cho thấy, thực hiện những biện pháp kiểm soát rủi ro

nợ công sớm sẽ phòng tránh được nguy cơ vỡ nợ, đảm bảo an toàn

tài chính quốc gia Bài viết nhằm mục tiêu phân tích thực trạng an

toàn nợ công Việt Nam, trên cơ sở đó đánh giá và đề xuất một số giải

pháp trọng yếu nhằm tăng cường kiểm soát rủi ro nợ công, đảm bảo

sự an toàn và hướng đến tính bền vững của nợ công Việt Nam trong

tương lai

Từ khóa: Nợ công, ngân sách, rủi ro nợ công, bền vững nợ công.

1 Tình hình nợ công tại

Việt Nam thời gian qua

hứ nhất, về quy

mô nợ công,

theo số liệu công bố của

Bộ Tài chính, quy mô nợ công Việt Nam

có xu hướng ngày càng tăng

nhanh cả về qui mô và tốc độ

tăng trong thời gian 10 năm

trở lại đây Từ năm 2010, nợ công Việt Nam bắt đầu vượt trên 50% GDP, năm 2011 ở mức 52,6% GDP và đạt ở mức 61,4% GDP năm 2017, gần giới hạn cho phép là 65% (con

số được Quốc hội thông qua)

Tốc độ tăng nợ trung bình

cả giai đoạn khoảng 18%

Dư nợ Chính phủ năm 2017

ở mức 51,8% GDP và dư nợ nước ngoài của quốc gia tăng

nhanh, lên khoảng 49% GDP nhưng vẫn trong giới hạn được Quốc hội cho phép

Mặc dù nợ công Việt Nam vẫn nằm trong giới hạn được Quốc hội cho phép (<65% GDP) nhưng tốc độ tăng bình quân vẫn ở mức cao Theo đồng hồ nợ công toàn cầu The Global Debt Clock, tỷ lệ nợ công trên đầu người tại Việt Nam đang có xu hướng gia

Trang 2

tăng liên tiếp, từ mức khoảng

15 triệu đồng/người năm 2011

lên 18,55 triệu đồng/người

năm 2012, ở mức khoảng 33

triệu đồng/người năm 2017 và

đang có xu hướng ngày càng

tăng trong thời gian tiếp theo

Thứ hai, về cơ cấu nợ công,

cơ cấu nợ công của Việt Nam hiện đang từng bước được điều chỉnh theo hướng bền vững hơn trong những năm qua, trong đó tỷ lệ nợ Chính phủ chiếm tỷ trọng lớn nhất tổng quy mô nợ, nợ trong nước có xu hướng tăng và kỳ

hạn nợ ngày càng dài hơn Giai đoạn 2011- 2017, tỷ trọng nợ Chính phủ vẫn duy trì ở mức lớn nhất, chiếm trên 80% tổng nợ công, trong khi

đó nợ Chính phủ bảo lãnh khoảng 18% và 2% là nợ chính quyền địa phương Nợ

Hình 1 Tình hình nợ công Việt Nam giai đoạn 2011-2017

Đơn vị: %

Nguồn: Bộ Tài chính.

Nguồn: Bộ Tài chính

Hình 2 Cơ cấu nợ công Việt Nam giai đoạn 2011- 2017

Đơn vị: %

Trang 3

Chính phủ bảo lãnh có

xu hướng giảm (từ chiếm

20,2% trong tổng nợ

công năm 2010 xuống

còn 14,66% năm 2017)

do có sự dịch chuyển từ

phương thức bảo lãnh

của Chính phủ sang hình

thức tự vay, tự trả của

doanh nghiệp nhà nước

(DNNN) Nợ của Chính

quyền địa phương gồm

các khoản tạm ứng tồn

ngân từ Kho bạc, vay

Ngân hàng Phát triển

Việt Nam, phát hành trái

phiếu chính quyền địa

phương Những khoản

nợ này bắt đầu phát sinh từ

năm 2004 và chiếm tỷ lệ nhỏ

nhưng đang có xu hướng tăng

lên từ mức 0,6% năm 2010 lên

0,97% năm 2017 Cấu trúc nợ

công Việt Nam có sự thay đổi

theo hướng tỷ trọng nợ trong

nước tăng dần, từ mức 44,3%

năm 2011 lên 60% năm 2017,

tương ứng với các khoản nợ

nước ngoài giảm dần từ 55,7%

năm 2011 còn 40% năm 2017

trong cơ cấu nợ công

Mặc dù đã có những chuyển

biến tích cực trong quá trình

cơ cấu lại danh mục nợ công

theo hướng an toàn hơn nhưng

nợ nước ngoài vẫn chiếm tỷ

trọng đáng kể, trong đó vay

ODA và các khoản vay ưu đãi

chiếm trên 90% Trường hợp

các đồng tiền ngoại tệ (USD,

JPY, EUR) biến động bất lợi

trong tương lai cùng việc điều

chỉnh tỷ giá của Ngân hàng

Nhà nước Việt Nam có thể

làm tăng chi phí trả nợ và giá

trị danh nghĩa các khoản nợ

nước ngoài theo VNĐ Ngoài

ra, các khoản vốn ưu đãi sẽ

ngày càng hạn chế, chính phủ phải dựa nhiều vào nguồn vay trong nước, các khoản vay thương mại có xu hướng tăng lên trong thời gian tới

Về kỳ hạn nợ, kỳ hạn phát hành trái phiếu chính phủ (TPCP) đã có sự kéo dài từ năm 2011, kỳ hạn nợ bình quân tăng tương ứng năm

2011 và năm 2017 là 3,9 năm

và 12,74 năm, qua đó tăng kỳ hạn nợ bình quân danh mục trái phiếu chính phủ (năm

2011 là 1,84 năm; 2017 là 6,7 năm) Lãi suất huy động cũng giảm mạnh qua các năm (năm

2011 bình quân 12,01%; năm

2017 là 5,98%) Như vậy, một trong những thành công trong điều hành của Chính phủ thời gian qua đó là đã kéo dài kỳ hạn phát hành TPCP và giảm

tỷ trọng vay nước ngoài trong

cơ cấu nợ công

Cơ cấu kỳ hạn TPCP phát hành đã có sự chuyển dịch từ

3 đến 5 năm trước đây sang

kỳ hạn dài hơn (từ 10 đến 30 năm chiếm tỷ trọng gần 80%)

Cơ cấu này không gây áp lực trả nợ trong ngắn hạn nhưng sẽ làm tăng gánh nặng nợ trong tương lai khi tính đến biến động tỷ giá làm tăng cả nợ gốc

và lãi, nghĩa vụ nợ cũng tăng lên do lãi suất vay dài hạn cao hơn đáng kể

so với lãi suất vay ngắn hạn

Các đối tác song phương tài trợ cho các khoản nợ công của Việt Nam bao gồm chính phủ các nước như: Nhật Bản, Trung Quốc, Pháp, Hàn Quốc, Nga, Đức…; các đối tác

đa phương bao gồm WB-IDA, ADB, WB-IBRD, EIB… trong

đó chủ nợ lớn nhất của Việt Nam là Nhật (34,5% tổng nợ), WB (28,8%) và ADB (15,5%) Về cơ cấu đồng tiền, danh mục nợ của Chính phủ tập trung vào một số đồng tiền chính bao gồm VNĐ với

tỷ trọng 55%; USD chiếm tỷ trọng 16%; Yên Nhật chiếm

tỷ trọng 13% và EUR chiếm

tỷ trọng khoảng 7%, còn lại là các đồng tiền khác

Trong điều kiện thị trường tài chính- tiền tệ có nhiều biến động phức tạp, tiềm ẩn nhiều rủi ro dẫn đến danh mục nợ công có thể chịu nhiều tác động về tỷ giá hơn giai đoạn trước Như vậy, cấu trúc nợ công Việt Nam mặc dù đã có nhiều thay đổi theo hướng bền vững hơn so với trước đây, tuy nhiên vẫn tiềm ẩn nhiều rủi ro, gây ảnh hưởng đến uy tín và khả năng trả nợ khi đến hạn

Thứ ba, về tình hình sử dụng

nợ công, nguồn vốn từ các

Hình 3 Cơ cấu kỳ hạn phát hành trái phiếu chính phủ năm 2017

Nguồn: Báo cáo Chính phủ 2018

Trang 4

khoản nợ công góp phần thực

hiện các chương trình đầu tư

công nhằm tạo động lực quan

trọng cho sự tăng trưởng, phát

triển kinh tế- xã hội và hỗ trợ

hoạt động cho các thành phần

kinh tế

Về hiệu quả sử dụng vốn đầu

tư, theo Tổng cục Thống kê,

giai đoạn 2011- 2017, ICOR

của Việt Nam là 6,1, kết quả

này luôn vượt quá khuyến cáo

của WB đối với các nước đang

phát triển (dưới 3), chủ yếu do

sự kém hiệu quả của khu vực

kinh tế Nhà nước Trong thực

tế, hiệu quả sử dụng nợ công ở

Việt Nam chưa cao, một số dự

án vay lại từ nguồn vốn vay

nước ngoài của Chính phủ,

dự án được Chính phủ bảo

lãnh khó khăn trong trả nợ

Tình trạng số dự án được phê

duyệt nhiều, điều chỉnh tăng

tổng mức đầu tư so với phê

duyệt ban đầu, tiến trình giải

ngân vốn vẫn còn chậm trễ,

các dự án, công trình thi công

dở dang, chuyển tiếp, kéo dài,

chậm tiến độ vẫn chậm được

khắc phục Điều này cùng với sự thiếu kỷ luật tài chính trong đầu tư công, trong hoạt động của các DNNN và các tập đoàn lớn, dẫn đến đầu tư dàn trải, lãng phí, thất thoát vốn đầu tư ở tất cả các khâu của quá trình quản lý dự án đầu tư Một số dự án đầu tư không trả được nợ, phải tái cơ cấu hoặc chuyển sang cơ chế Nhà nước đầu tư, làm tăng nghĩa vụ trả nợ trực tiếp của Chính phủ Những khoản nợ xấu của DNNN không những tác động trực tiếp đến nợ công

mà còn ảnh hưởng đến sự lành mạnh của hệ thống ngân hàng thương mại và hệ thống tài chính quốc gia

Thứ tư, về tình hình trả nợ công, theo báo cáo của Bộ

Tài chính, từ năm 2011- 2016 nghĩa vụ trả nợ của Chính phủ so với thu ngân sách nhìn chung không có sự biến động quá lớn và vẫn ở trong phạm

vi kiểm soát và giới hạn được duyệt là 25% theo quy định của Quốc hội Việc trả nợ

của Chính phủ được đảm bảo đúng hạn, bao gồm cả nghĩa

vụ nợ trực tiếp của Chính phủ

và trả nợ vay về cho vay lại, không để xảy ra tình trạng

nợ quá hạn Tuy nhiên, năm

2017 nghĩa vụ trả nợ của Chính phủ tăng cao, khoảng 260.150 tỷ đồng, gồm trả

nợ trong nước là 214.878 tỷ đồng, trả nợ nước ngoài trực tiếp là 28.022 tỷ đồng; trả nợ của các dự án vay lại nguồn vốn vay nước ngoài của Chính phủ trong năm 2017 ở mức khoảng 17.250 tỷ đồng, chiếm gần 20% so với tổng thu ngân sách Nghĩa vụ trả nợ của Chính phủ có xu hướng ngày càng tăng cả về con số tuyệt đối lẫn tương đối, điều này gây áp lực đối với việc sắp xếp nguồn để trả nợ của ngân sách, khả năng cân đối nguồn

bố trí chi trả nợ hàng năm chưa tương xứng với nghĩa

vụ trả nợ đến hạn, vay đảo nợ tăng nhanh với khối lượng lớn trong nhiều năm, tiềm ẩn nguy

cơ vỡ nợ nếu không được

Hình 4 Cơ cấu nguồn vốn đầu tư của khu vực Nhà nước

Đơn vị: %

Nguồn: Tổng cục Thống kê

Trang 5

kiểm soát tốt và cơ cấu lại

danh mục trả nợ công

Dư nợ Chính phủ ngày càng

tăng, trong khi khả năng trả

nợ mỗi năm còn nhiều hạn

chế Trước năm 2010, thời

gian trả nợ trung bình đối với

các khoản vay ODA (bao gồm

giai đoạn gia hạn) của Việt

Nam là 30 - 40 năm với mức

lãi suất khoảng 0,7- 0,8%/

năm Đến giai đoạn sau 2010,

thời gian trả nợ giảm xuống

còn 10 - 20 năm và mức lãi

suất tối thiểu là 2%/năm

Nguồn trả nợ chủ yếu từ vay

trong nước thông qua phát

hành TPCP, vay ODA và các

nguồn ưu đãi từ nước ngoài

Tuy nhiên, từ tháng 7/2017,

Việt Nam không còn là nước

có thu nhập thấp nên không

còn được vay theo điều kiện

ODA mà tiến tới vay theo điều

kiện thị trường, điều này dẫn

đến áp lực trả nợ, hơn nữa,

vốn đầu tư cơ sở hạ tầng ngày

càng trở nên cấp bách Giai

đoạn từ nay đến năm 2020,

nhu cầu vốn vay rất lớn sẽ khó

khăn trong việc huy động Do

vậy, Chính phủ cần giám sát chặt chẽ quá trình huy động,

sử dụng vốn vay và quản lý nợ công, quản lý việc huy động vốn cho ngân sách nhà nước

và cho đầu tư phát triển, việc vay về cho vay lại và bảo lãnh Chính phủ… nhằm đảm bảo khả năng trả nợ đúng hạn, đầy

đủ theo đúng các cam kết của Chính phủ với nhà tài trợ

2 Mức độ an toàn nợ công Việt Nam

Tình hình nợ công Việt Nam đang được quản lý theo hướng bền vững hơn thông qua việc điều chỉnh lại quy mô và cơ cấu lại danh mục nợ, tỷ lệ nợ công/GDP có xu hướng giảm dần trong các năm gần đây,

cụ thể năm 2017, nợ công

là 62,6% GDP; năm 2018 là 61,4% GDP và dự kiến năm

2019 là 61,3% GDP Tuy nhiên, nợ Chính phủ và nợ nước ngoài của quốc gia lại

xu hướng tăng lên, đặc biệt

nợ nước ngoài của quốc gia

đã dần tới trần cho phép (50%

GDP) năm 2017 Nguyên nhân chủ yếu do hoạt động rút vốn và trả nợ gốc các khoản vay nước ngoài ngắn hạn của doanh nghiệp và tổ chức tín dụng trong năm 2017 tăng mạnh

Nhìn chung, phần lớn các chỉ tiêu về nợ công của Việt Nam vẫn đảm bảo trong giới hạn theo Quyết định số 958/QĐ-TTg ngày 27/07/2012 của Thủ tướng Chính phủ về Chiến lược nợ công và nợ nước ngoài của quốc gia giai đoạn 2011- 2020 và tầm nhìn 2030 Tuy nhiên, trong thực tế cách tính nợ công Việt Nam vẫn chưa đồng bộ với chuẩn mực quốc tế, chưa phản ánh đầy

đủ gánh nặng và nghĩa vụ trả

nợ công nên các số liệu được công bố vẫn còn có sự khác biệt khá lớn Ngoài ra, xét về tình hình quản lý nợ công và nhu cầu vốn trong thời gian tới, với điều kiện diễn biến kinh tế vĩ mô có nhiều biến động và ngân sách vẫn thâm hụt ở mức cao, kéo dài khiến

nợ công Việt Nam vẫn còn

Hình 5 Nghĩa vụ trả nợ của Chính phủ so với thu ngân sách giai đoạn 2011-2017

Đơn vị: %

Nguồn: Bộ Tài chính và tính toán của tác giả

Trang 6

tiềm ẩn nhiều rủi ro Mức

độ an toàn nợ công không

chỉ dừng lại chỉ số tỷ lệ nợ/

GDP mà còn phải đề cập đến

các nghĩa vụ trả nợ khác như

nghĩa vụ trả nợ/thu ngân sách

(được qui định dưới 25%,

Việt Nam đang ở mức khoảng

14-16%); nợ nước ngoài/

xuất khẩu (được qui định dưới

25%); dự trữ ngoại hối/dư

nợ nước ngoài ngắn hạn trên

200% để nhằm đảm bảo khả

năng thanh toán các khoản nợ

nước ngoài khi đến hạn, tránh

mất khả năng trả nợ

Theo đề án phát hành TPCP

ra thị trường quốc tế đến năm

2020 của Bộ Tài chính, nghĩa

vụ trả nợ Chính phủ sẽ dự

kiến liên tục tăng mạnh giai

đoạn 2017- 2020, trung bình

12% trong toàn giai đoạn

Nguồn để trả nợ chủ yếu lấy

từ ngân sách và Quỹ tích luỹ,

trong điều kiện ngân sách liên

tục thâm hụt ở mức cao, nhu cầu vay lớn, tình hình sử dụng vốn vay kém hiệu quả, cùng với những rủi ro tiềm ẩn về lãi suất, kỳ hạn, tỷ giá, các khoản

nợ tiềm ẩn và sự biến động các yếu tố kinh tế- xã hội khác sẽ de đoạ đến tính bền vững và khả năng trả nợ trong tương lai Do vậy, Chính phủ Việt Nam cần có sự kiểm soát chặt chẽ và áp dụng các chính sách phù hợp, kịp thời nhằm đảm bảo sự an toàn và nâng cao tính bền vững của nợ công Việt Nam thời gian tới

3 Tăng cường kiểm soát

an toàn nợ công Việt Nam trong thời gian tới

Mặc dù vẫn trong giới hạn cho phép của Quốc hội nhưng quy

mô nợ công của Việt Nam vẫn

có xu hướng tăng dần đều, mỗi năm khoảng 360.000-

380.000 tỷ đồng Để giảm thiểu các nguy cơ mất kiểm soát nợ công, giảm thiểu các rủi ro, đảm bảo tính bền vững

và an toàn nợ công, bài viết đề xuất một số vấn đề cần được chú trọng thực hiện trong thời gian tới như sau:

Thứ nhất, xây dựng cơ cấu

nợ hợp lý nhằm giảm thiểu rủi ro đối với danh mục nợ công

Xây dựng cơ cấu đồng tiền vay đa dạng hơn nhằm tránh ảnh hưởng đến dự trữ ngoại hối Đối với đồng tiền vay nợ nước ngoài chiếm tỷ trọng lớn nhất vẫn là đồng Yên Nhật do chủ yếu vay nước ngoài là vay ODA từ Nhật, sau đó là đồng SDR, các khoản vay bằng USD và EUR cũng chiếm tỷ lệ đáng kể Tuy nhiên, trong thời gian gần đây với xu hướng biến động trên thị trường, đòi

Bảng 1 Các chỉ tiêu giới hạn nợ của Việt Nam

5 Kỳ hạn bình quân phát hành TPCP trong nước 2011 - 2015 4-6 năm

2016 - 2020 6-8 năm

6 Vay trong và ngoài nước để bù đắp bội chi ngân sách (tính cả TPCP)/GDP Đến 2015 ≤ 4,5%

2016 - 2020 ≤ 4%

7 Nghĩa vụ trả nợ Chính phủ trực tiếp (không kể cho vay lại)/thu ngân sách Hàng năm ≤ 25%

9 Dự trữ ngoại hối/tổng dư nợ nước ngoài ngắn hạn Hàng năm ≥ 200%

10 Chương trình đầu tư TPCP (tỷ đồng) 2011 - 2015 ≤ 225.000

2016 - 2020 ≤ 350.000

Nguồn: Phụ lục kèm công văn số 126/BC-BTC ngày 25/11/2015

Trang 7

hỏi phải đa dạng đồng tiền

vay nợ để giảm thiểu rủi ro về

tỷ giá Hơn nữa, xây dựng cơ

cấu đồng tiền vay nợ ổn định

tập trung vào đồng tiền mạnh

hay đồng tiền ít có sự biến

động sẽ là điều kiện tránh ảnh

hưởng đến dự trữ ngoại hối

Do đó, đa dạng hóa đồng tiền

vay nợ sẽ giảm thiểu mức độ

rủi ro tỷ giá, đồng thời tránh

được sự biến động về trữ

lượng ngoại hối quốc gia

Một là, chuyển cơ cấu vay

nợ ngắn hạn sang vay nợ dài

hạn Hiện nay, về cơ cấu nợ

công, khoảng gần 50% là nợ

nước ngoài với điều kiện vay

cơ bản là ưu đãi và thời gian

đáo hạn còn lại khoảng 15

năm, phần còn lại là khoản

vay trong nước thông qua

phát hành trái phiếu chính phủ TPCP với kỳ hạn nằm trong khoảng từ 2- 5 năm Trong đó,

tỷ lệ các khoản nợ vay ngắn hạn khá lớn nhưng đang có xu hướng giảm dần Do đó, cân nhắc đối với những khoản vay ngắn hạn, hạn chế sử dụng vay mới để đảo nợ cũ, bảo đảm an toàn nợ công trong dài hạn

Điều này sẽ tránh được cơ cấu

nợ công nguy hiểm, đảm bảo thanh toán nợ đúng hạn, có nguồn kịp thời để trả nợ

Hai là, điều chỉnh cơ cấu nợ công theo xu hướng giảm nợ công nước ngoài trong tổng vay nợ Trong những năm gần

đây, khi thị trường tài chính trong nước đã có nhiều bước phát triển, cơ cấu nợ này đang được cố gắng cải thiện nhưng

trong tương lai, cần tiếp tục điều chỉnh cơ cấu nợ theo

xu hướng tăng tỷ trọng vay

nợ trong nước, giảm tỷ trọng vay nợ nước ngoài Việc điều chỉnh đem lại một số lợi ích nhất định như: (i) tránh được

sự phụ thuộc đối với khoản vay từ bên ngoài kèm điều kiện nhất định; (ii) giảm bớt rủi ro về tỷ giá và gây áp lực lên dự trữ ngoại hối; (iii) chủ động hơn với khoản vay trong nước nhằm kết hợp với chính sách tiền tệ để điều hành thị trường tài chính trong nước

Ba là, tăng cường kiểm soát

và quản lý nợ công Quản lý

chặt chẽ các khoản vay mới,

nợ công chỉ sử dụng cho đầu

tư phát triển, xây dựng các công trình kinh tế- xã hội quan trọng, thiết yếu theo quy hoạch, thực hiện rà soát, thẩm định, đánh giá tác động lên nợ công của các chương trình, dự

án sử dụng vốn vay của Chính phủ, vốn vay được Chính phủ bảo lãnh và vốn vay của chính quyền địa phương Phải tăng cường minh bạch hóa trong

công tác quản lý, thống kê và

công bố thông tin về nợ công

đồng thời tăng cường vai trò

giám sát của Quốc hội, Kiểm toán Nhà nước với tư cách là

cơ quan độc lập về kiểm tra tài chính Nhà nước có vai trò giúp Chính phủ có số liệu xác thực và thực trạng trung thực

để đảm bảo bền vững nợ

Thứ hai, cân đối thu- chi ngân sách, đảm bảo ngân sách bền vững

Vay nợ để bù đắp thiếu hụt ngân sách cũng là một trong những nguyên nhân trực tiếp

Bảng 2 Nghĩa vụ trả nợ của Chính phủ và cân đối nguồn giai

đoạn 2017- 2020

Đơn vị: nghìn tỷ đồng

Chỉ tiêu 2017 2018 2019 2020

1 Nghĩa vụ trả nợ 342,10 370,50 424,30 501,10

1.1 NSNN 312,60 333,50 376,10 419,60

a Trong nước 266,30 275,40 302,60 329,10

1.2 Cho vay lại 29,50 37,00 48,20 81,50

2 Cân đối nguồn 342,10 370,50 424,30 501,10

b Quỹ tích lũy 29,50 37,00 45,10 78,20

Nguồn: Đề án phát hành TPCP ra thị trường quốc tế đến năm 2020

Trang 8

dẫn đến nợ công tăng cao

Chính vì vậy, để giảm thiểu

những áp lực đối với tình

trạng nợ công, ngân sách cần

phải được điều chỉnh đảm bảo

sự cân đối thu - chi, hướng

đến tính bền vững trong dài

hạn

Với cơ cấu thu ngân sách còn

những bất cân đối phụ thuộc

nhiều vào thu từ dầu thô,

hoạt động xuất nhập khẩu và

đất đai Do đó, cần đảm bảo

nuôi dưỡng nguồn thu, trong

đó chú trọng các khoản thu

từ thuế thu nhập và thuế tiêu

dùng Đồng thời, xem xét

mở rộng cơ sở tính thuế, đặc

biệt với các hàng hóa chịu

thuế tiêu thụ đặc biệt phù hợp

với sự dịch chuyển về đặc

tính tiêu dùng cũng như định

hướng sản xuất, tiêu dùng của

Nhà nước

Ngoài ra, để đảm bảo tính bền

vững của chi ngân sách, yêu

cầu đặt ra là phải xác định

được quy mô chi ngân sách

phù hợp Trước mắt, tiết giảm

chi thường xuyên cần tiếp tục

được đẩy mạnh và triển khai

quyết liệt hơn, thông qua tinh

giảm biên chế, tăng cường tự

chủ tài chính đối với các đơn

vị sự nghiệp công lập nhằm

giảm gánh nặng tiền lương từ

ngân sách Bên cạnh đó, chi

đầu tư cần được chú trọng,

trong đó đầu tư công đúng

trọng tâm trọng điểm để tăng

hiệu quả chi tiêu ngân sách

Việc cắt giảm chi tiêu công

trong lĩnh vực đầu tư thông

qua việc đánh giá sàng lọc

những dự án chi tiêu kém hiệu

quả, có thứ tự ưu tiên thấp

Để thực hiện được điều này,

Chính phủ cần sớm hoàn thiện

hệ thống định mức phân bổ ngân sách theo hướng gắn phân bổ chi đầu tư với kế hoạch đầu tư công trong dài hạn được xây dựng trên cơ sở trình độ phát triển, mức độ thiếu hụt cơ sở hạ tầng, nâng cao tính tự chủ cho các địa phương

Thứ ba, phát triển thị trường

nợ, đặc biệt là thị trường trái phiếu chính phủ

Thị trường TPCP có vai trò hết sức quan trọng trong việc

hỗ trợ cho nhu cầu phát hành, giao dịch và quản lý rủi ro danh mục nợ trái phiếu của Chính phủ, đồng thời, giảm

áp lực nắm giữ TPCP của

hệ thống ngân hàng Khi thị trường này phát triển và có tính thanh khoản cao hơn, Chính phủ có thể huy động vốn với chi phí thấp Sự phát triển của thị trường TPCP

sẽ giúp Chính phủ huy động được vốn với kỳ hạn dài, lãi suất ổn định Do vậy, các rủi

ro liên quan đến kỳ hạn, lãi suất, tỷ giá và đảo nợ sẽ được giảm thiểu

Mặc dù tại Việt Nam đã có thị trường TPCP chuyên biệt, tuy nhiên, các công cụ cũng như hoạt động của thị trường còn yếu ớt, chưa hỗ trợ cho việc vay nợ trong nước Để thúc đẩy sự phát triển của thị trường nợ trong nước, hạn chế những tác động của tỷ giá tới an toàn nợ công, trước hết Chính phủ cần tiếp tục hoàn thiện khung khổ pháp lý để phát triển thị trường TPCP

ổn định, bền vững theo xu hướng và thông lệ quốc tế, tạo

sự liên thông giữa thị trường

vốn với thị trường tiền tệ, tín dụng đồng thời, tăng cường tính công khai, minh bạch trên thị trường, cải tiến cơ chế huy động vốn của Chính phủ trên

cả thị trường sơ cấp và thứ cấp, thành lập hệ thống các nhà tạo lập thị trường trên thị trường trái phiếu với đầy đủ nghĩa vụ và quyền hạn theo thông lệ quốc tế Bên cạnh

đó, cần tiếp tục thực hiện đa dạng hóa các kỳ hạn phát hành TPCP, trong đó chú trọng phát hành TPCP kỳ hạn dài để đáp ứng nhu cầu đầu tư TPCP của các công ty bảo hiểm, bảo hiểm xã hội, các quỹ đầu tư

Về công tác điều hành thị trường, cần tổ chức tham vấn thường xuyên với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và các thành viên thị trường để điều hành thị trường TPCP về khối lượng, về kỳ hạn, về lãi suất một cách phù hợp, thực hiện công bố kế hoạch phát hành và lịch biểu chi tiết để các thành viên thị trường chủ động tham gia đầu tư trên thị trường TPCP Tăng cường đối thoại chính sách với các thành viên thị trường để kịp thời nắm bắt những khó khăn, vướng mắc và có biện pháp

xử lý kịp thời, qua đó tạo thị trường ổn định cho việc vay

nợ trong nước của Chính phủ, đồng thời, nâng cao hiệu lực trong điều hành chính sách

Thứ tư, tăng cường quản lý

nợ nước ngoài của quốc gia,

quản lý vay nợ nước ngoài, nhất là việc vay ngắn hạn của các doanh nghiệp, tổ chức tín dụng, để đảm bảo các tiêu chí

nợ nước ngoài của quốc gia

Trang 9

trong giới hạn cho phép Hiện

nay, vay nợ nước ngoài của

khu vực tư nhân cũng đang

chiếm tỷ trọng lớn trong cơ

cấu nợ nước ngoài quốc gia

Do vậy, trong tổng thể nợ

nước ngoài của quốc gia cũng

cần kiểm soát chặt chẽ, giảm

áp lực về thanh khoản của các

khoản nợ, tránh những biến

động quá lớn về nhu cầu ngoại

tệ trong thời điểm nhất định,

ảnh hưởng đến khả năng thanh

toán khoản nợ đến hạn Điều kiện tài chính toàn cầu thắt chặt sẽ khiến chi phí trả nợ nước ngoài của quốc gia trở nên đắt đỏ hơn Khi đó, tăng cường chặt chẽ khoản vay

nợ nước ngoài sẽ tránh được những rủi ro từ khoản vay này đến nợ công nước ngoài

Thứ năm, tái cấu trúc nền kinh tế cùng với hoàn thiện thể chế, quy định quản lý nợ

công hiện vẫn không đủ và không thể loại bỏ hết được các nguyên nhân hình thành

nợ công vốn có nguồn gốc sâu xa ở phương diện thượng tầng thể chế kinh tế Chính

vì vậy, các nỗ lực kiểm soát

để không làm cho quy mô nợ công tăng lên và tăng nhanh

là điều quan trọng, nhưng vấn

đề quan trọng hơn là phải thúc đẩy được tăng trưởng kinh tế

Tài liệu tham khảo

1 Bộ Tài chính (2013), Đề án tổng kết về vay- trả nợ công giai đoạn 2006- 2012 và kế hoạch vay- trả nợ công đến năm 2020.

2 Bộ Tài chính (2018), Bản tin nợ nước ngoài, Bản tin nợ công số 1-7.

3 Chính phủ (2018), Báo cáo số 195/BC-CP về sử dụng và quản lý nợ công 2017 và kế hoạch 2018.

4 Chính phủ (2012), Quyết định số 958/QĐ-TTg ngày 27/7/2012 của Thủ tướng Chính phủ về Chiến lược nợ công và nợ nước ngoài của quốc gia giai đoạn 2011- 2020 và tầm nhìn 2030.

5 Chính phủ (2017), Quyết định số 544/QĐ-TTg ngày 20/4/2017 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình quản lý nợ trung hạn giai đoạn 2016- 2018.

6 Chính phủ (2018), Báo cáo về sử dụng vốn vay và quản lý nợ công năm 2017 và kế hoạch năm 2018

7 Phạm Thế Anh (2014), “Thâm hụt ngân sách, nợ công và rủi ro vĩ mô ở Việt Nam”, Tạp chí Kinh tế & Phát triển, số 199.

8 Lê Thị Diệu Huyền (2018), “Ảnh hưởng của tỷ giá đến an toàn nợ công tại Việt Nam và một số khuyến nghị chính sách”, đề tài nghiên cứu khoa học cấp cơ sở, mã số DTHV.10/2017.

9 Tô Huy Vũ (2016), “Nợ công- Từ lý thuyết tới thực tiễn tại Việt Nam”, sách tham khảo, Vụ Dự báo thống kê, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.

Thông tin tác giả

Lê Thị Diệu Huyền, Phó giáo sư, Tiến sĩ

Email:huyenltd@hvnh.edu.vn

Lê Thị Minh Ngọc, Tiến sĩ

Email:ngocltm@hvnh.edu.vn

Khoa Tài chính, Học viện Ngân hàng

Summary

Enhance the control of public debt sustainability

Vietnam’s public debt has recently been assessed to remain in safety, can control of risks, not leading to debt crisis However, public debt has been increasing rapidly, especially, external public debt, while budget spending continues to rise, tax revenue decreases, the demand for investment in economic development increases The debt payment obligation continues to increase, pressuring many challenges to Vietnam’s public debt burden Experience from public debt crises in many countries shows that implementing measures to control public debt risk early will prevent the risk of insolvency and ensure national financial security The article aims to analyze Vietnam’s public debt safety to evaluate and propose solutions to enhance the control of public debt risks, ensure safety and sustainability of Vietnam’s public debt in the future.

Key-words: Public debt, budget, public debt risks, public debt sustainability

Huyen Thi Dieu Le, Assoc.Prof PhD.

Ngoc Thi Minh Le, PhD.

Organization of all: Finance faculty, Banking Academy of Vietnam

xem tiếp trang 33

Trang 10

vững ■

Thanh Kim Huệ, Thạc sĩ

Học viện Ngân hàng, Phân viện Bắc Ninh

Email: huetk@hvnh.edu.vn

Vương Thị Minh Đức, Tiến sĩ

Học viện Ngân hàng, Phân viện Bắc Ninh

Email: ducvtm@hvnh.edu.vn

Summary

Factors affecting the level of access to credit by individuals doing commercial activities in rural areas of Bac Ninh province

Bac Ninh is a northern gateway province of Hanoi capital and is one of eight provinces in the Northern key economic region From a purely agricultural province, Bac Ninh economy has developed in the direction of reducing the proportion of agriculture, increasing the proportion of industry-handicraft and trade villages, and developing agricultural production towards high-tech applications in order to improve added value and sustainable development Contributing to that change has an important role of credit capital However, in Bac Ninh, there is still a part of individual commercial customers in rural areas who have not yet access to formal credit, which is one of the major challenges in rural economic development Therefore, the research team had a questionnaire survey for 250 individuals with commercial activities in rural areas in the districts of Bac Ninh province to assess the factors affecting the level of access to credit of these customers, on that basis, propose solutions to enhance access to finance, contributing to promoting sustainable rural economic development.

Key words: individuals doing commercial activities, access to credit, Bac Ninh

Hue Kim Thanh, MEc.

Duc Thi Minh Vuong, PhD.

Organization of all: Banking Academy of Vietnam, Bacninh Campus

trong toàn hệ thống pháp luật

4 Kết luận

Không thể phủ nhận sự cần

thiết của sự ra đời Luật Quản

lý, sử dụng vốn Nhà nước

đầu tư vào sản xuất, kinh

doanh tại doanh nghiệp 2014

và một số văn bản hướng

dẫn thi hành như Nghị định

số 87/2015 NĐ-CP về giám

sát đầu tư vốn Nhà nước vào

doanh nghiệp; giám sát tài

chính, đánh giá hiệu quả hoạt

động và công khai thông tin

tài chính của doanh nghiệp

Nhà nước và doanh nghiệp có

vốn Nhà nước; Nghị định số

10/2019/NĐ-CP về thực hiện

quyền, trách nhiệm của đại

diện chủ sở hữu Nhà nước đã

góp phần tạo nên một hành

tiếp theo trang 23

lang pháp lý tương đối chuẩn mực, đảm bảo những điều kiện cần thiết cho hoạt động kiểm soát vốn Nhà nước đầu

tư vào các doanh nghiệp ở Việt Nam Tuy nhiên, qua quá trình áp dụng trên thực

tế, những qui định điều chỉnh hoạt động kiểm soát vốn Nhà nước trong các doanh nghiệp cho thấy vẫn còn những điểm chưa hợp lý và không phù hợp với điều kiện hiện nay

Do đó những qui định này cần phải được tiếp tục hoàn thiện

Bài viết này dừng lại ở việc nêu một vài những bất cập

đó (theo quan điểm cá nhân của tác giả) nhằm giúp các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền

có cái nhìn toàn diện hơn về khung pháp luật điều chỉnh hoạt động kiểm soát vốn Nhà nước đầu tư vào các doanh

nghiệp ở Việt Nam hiện nay, đồng thời đề xuất những kiến nghị để giải quyết những bất cập này ■

nhanh và bền vững Do đó, các nỗ lực tái cấu trúc kinh tế hiện nay, đặt trọng tâm vào cải cách thể chế, phải được tiến hành một cách mạnh mẽ

và dứt khoát hơn nếu muốn thoát khỏi mối lo đổ vỡ của bong bóng nợ công và cả mối nguy của bẫy thu nhập trung bình mà Việt Nam có thể sẽ mắc phải ■

tiếp theo trang 9

Ngày đăng: 02/05/2022, 01:29

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1. Tình hình nợ công Việt Nam giai đoạn 2011-2017 - Bài của PGS.TS Lê Thị Diệu Huyền, TS.Lê Thị Minh Ngọc
Hình 1. Tình hình nợ công Việt Nam giai đoạn 2011-2017 (Trang 2)
Hình 2. Cơ cấu nợ công Việt Nam giai đoạn 2011-2017 - Bài của PGS.TS Lê Thị Diệu Huyền, TS.Lê Thị Minh Ngọc
Hình 2. Cơ cấu nợ công Việt Nam giai đoạn 2011-2017 (Trang 2)
Thứ ba, về tình hình sử dụng nợ công, nguồn vốn từ các  - Bài của PGS.TS Lê Thị Diệu Huyền, TS.Lê Thị Minh Ngọc
h ứ ba, về tình hình sử dụng nợ công, nguồn vốn từ các (Trang 3)
Thứ tư, về tình hình trả nợ công, theo báo cáo của Bộ  Tài chính, từ năm 2011- 2016  nghĩa vụ trả nợ của Chính  phủ so với thu ngân sách nhìn  chung không có sự biến động  quá lớn và vẫn ở trong phạm  vi kiểm soát và giới hạn được  duyệt là 25% theo quy đ - Bài của PGS.TS Lê Thị Diệu Huyền, TS.Lê Thị Minh Ngọc
h ứ tư, về tình hình trả nợ công, theo báo cáo của Bộ Tài chính, từ năm 2011- 2016 nghĩa vụ trả nợ của Chính phủ so với thu ngân sách nhìn chung không có sự biến động quá lớn và vẫn ở trong phạm vi kiểm soát và giới hạn được duyệt là 25% theo quy đ (Trang 4)
Tình hình nợ công Việt Nam đang được quản lý theo hướng  bền vững hơn thông qua việc  điều chỉnh lại quy mô và cơ  cấu lại danh mục nợ, tỷ lệ nợ  công/GDP có xu hướng giảm  dần trong các năm gần đây,  cụ thể năm 2017, nợ công  là 62,6% GDP; năm 2018 là  6 - Bài của PGS.TS Lê Thị Diệu Huyền, TS.Lê Thị Minh Ngọc
nh hình nợ công Việt Nam đang được quản lý theo hướng bền vững hơn thông qua việc điều chỉnh lại quy mô và cơ cấu lại danh mục nợ, tỷ lệ nợ công/GDP có xu hướng giảm dần trong các năm gần đây, cụ thể năm 2017, nợ công là 62,6% GDP; năm 2018 là 6 (Trang 5)
Bảng 1. Các chỉ tiêu giới hạn nợ của Việt Nam - Bài của PGS.TS Lê Thị Diệu Huyền, TS.Lê Thị Minh Ngọc
Bảng 1. Các chỉ tiêu giới hạn nợ của Việt Nam (Trang 6)
Bảng 2. Nghĩa vụ trả nợ của Chính phủ và cân đối nguồn giai đoạn 2017- 2020 - Bài của PGS.TS Lê Thị Diệu Huyền, TS.Lê Thị Minh Ngọc
Bảng 2. Nghĩa vụ trả nợ của Chính phủ và cân đối nguồn giai đoạn 2017- 2020 (Trang 7)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w