3KHOA HỌC CÔNG NGHỆ VÀ DOANH NGHIỆP LÂM ĐỒNG TIN TỨC SỰ KIỆN Trong Cuộc cách mạng công nghiệp 4 0, chuyển đổi số được xem là xu hướng không thể đảo ngược để doanh nghiệp thích ứng và vượt qua khó khăn[.]
Trang 3Trong Cuộc cách mạng công nghiệp
4.0, chuyển đổi số được xem là xu hướng
không thể đảo ngược để doanh nghiệp
thích ứng và vượt qua khó khăn của đại
dịch Điều này hoàn toàn phù hợp với tinh
thần Quyết định số 749/QĐ-TTg ngày
03/6/2020 của Thủ tướng Chính phủ phê
duyệt Chương trình Chuyển đổi số quốc
gia đến năm 2025, định hướng đến năm
2030; trong đó chuyển đổi số cho doanh
nghiệp có vai trò vô cùng quan trọng
Theo cách hiểu phổ biến nhất, chuyển
đổi số trong tổ chức, doanh nghiệp là quá
trình thay đổi từ mô hình truyền thống
sang doanh nghiệp số bằng cách áp dụng
công nghệ mới như dữ liệu lớn (big data),
internet vạn vật (IoT), điện toán đám mây
(cloud) ; qua đó, thay đổi phương thức
điều hành, lãnh đạo, quy trình làm việc,
văn hóa lao động trong doanh nghiệp
Lợi ích của việc chuyển đổi số đối với doanh nghiệp
Đến nay, chuyển đổi số không còn là tầm nhìn, mục tiêu dài hạn, mà đã trở thành một thực tế bắt buộc các doanh nghiệp phải tham gia để có thể phát triển và tránh tụt hậu Điều này có thể thấy, thông qua thực tế, ngày càng có nhiều doanh nghiệp bắt tay vào thực hiện chuyển đổi
số và ngày càng coi trọng giá trị của dữ liệu doanh nghiệp
Chuyển đổi số đang dần tác động vào cuộc sống khi người dân có thể trải nghiệm các dịch vụ công hay dịch vụ được cung cấp từ doanh nghiệp một cách thuận tiện, nhanh chóng như: ngân hàng điện tử, mua sắm online… Bên cạnh đó, dịch bệnh Covid-19 diễn biến phức tạp
đã giúp nâng cao nhận thức của doanh nghiệp, người dân về tầm quan trọng của
CHUYỂN ĐỔI SỐ TRONG DOANH NGHIỆP
Trang 4chuyển đổi số, do trong thời gian giãn
cách xã hội, quá trình xử lý công việc đa
phần được thực hiện thông qua điện thoại
thông minh, máy tính
Có thể nhận thấy những lợi ích từ việc
áp dụng chuyển đổi số đối với doanh
nghiệp gồm:
Gia tăng tính minh bạch và hiệu quả
trong quản trị doanh nghiệp
Khi tham gia chuyển đổi số, mọi hoạt
động của doanh nghiệp cũng như thông
tin, sản phẩm gửi đến khách hàng sẽ
được cập nhật liên tục và thường xuyên
trên phần mềm (doanh số, nhân sự,
phản hồi của khách hàng, quá trình chăm
sóc khách hàng…); qua đó, sẽ giúp nhà
quản lý nắm bắt tình hình hoạt động của
doanh nghiệp nhanh chóng, hiệu quả và
minh bạch hơn Mặt khác, chuyển đổi
số giúp doanh nghiệp giải quyết kịp thời
các vấn đề phát sinh, bảo đảm sự vận
hành trong doanh nghiệp không bị chậm
trễ, tắc nghẽn, gây những tác động xấu
đến doanh nghiệp Chuyển đổi số còn
làm giảm thiểu rủi ro về chi phí ẩn, quỹ
đen, giúp doanh nghiệp quản lý và tối ưu
doanh thu
Tiết kiệm chi phí và nâng cao năng
lực làm việc của nhân viên
Chuyển đổi số hỗ trợ doanh nghiệp trong
việc tự động hóa những công việc tạo ra
giá trị thấp, để từ đó nhân lực chủ chốt sẽ
tập trung phát triển và tham dự vào công
việc tạo ra giá trị cao hơn Chuyển đổi số
cho phép doanh nghiệp cộng hưởng và
tối ưu năng suất làm việc của nhân viên
nhằm tạo ra giá trị cao hơn hiện tại Bên
cạnh đó, chuyển đổi số còn cải thiện khả
năng hợp tác từ xa của nhân viên; giúp
doanh nghiệp đánh giá chất lượng công
việc của từng nhân viên qua số liệu báo cáo hàng ngày/tuần/tháng
Nâng cao tính cạnh tranh
Chuyển đổi số giúp doanh nghiệp có những quyết định chính xác trong kinh doanh qua các giải pháp quản trị và vận hành số hóa; nâng cao khả năng cạnh tranh với các doanh nghiệp khác trong việc tương tác nhanh chóng với khách hàng, khả năng kiểm soát chất lượng sản phẩm, chính sách chăm sóc và phục vụ khách hàng… nhằm tạo ra các mô hình kinh doanh mới, phương thức quản lý mới, mang lại giá trị mới cho con người
và xã hội
Tạo trải nghiệm tốt cho khách hàng
Với chuyển đổi số, doanh nghiệp tạo
ra vô số sự lựa chọn cho khách hàng,
đi kèm với đó là giá cả và dịch vụ cạnh tranh, từ đó, tạo ra những trải nghiệm hấp dẫn Việc cung cấp dịch vụ tốt thông qua các công nghệ số giúp doanh nghiệp có nguồn khách hàng tiềm năng, đây chính
là lợi ích của chuyển đổi số mang lại cho doanh nghiệp
Tăng doanh thu
Các doanh nghiệp chuyển đổi số thành công đều cho thấy sự cải thiện đáng kể
về hiệu quả quản trị, năng suất lao động, nâng cao chất lượng dịch vụ… qua đó tăng hiệu quả kinh doanh Lợi ích của chuyển đổi số là rất lớn đối với doanh nghiệp; khi được triển khai đúng cách, chuyển đổi số sẽ giúp tăng doanh thu, tạo
ra nguồn lợi nhuận lớn
Thách thức trong quá trình chuyển đổi số của doanh nghiệp
Từ công nghệ
Chuyển đổi số chính là mọi hoạt động của doanh nghiệp được ứng dụng công
Trang 5nghệ trong thời đại bùng nổ về công nghệ
trên nền tảng của hệ thống internet mạnh
mẽ, vì vậy, đòi hỏi trình độ rất cao về kỹ
thuật cũng như nhân lực Trong khi đó,
Việt Nam vẫn còn đi sau thế giới về mặt
công nghệ, chưa làm chủ các công nghệ
lõi của chuyển đổi số, hệ thống platform
cơ bản Do đó, chuyển đổi số tại Việt Nam
hiện vẫn cơ bản sử dụng các công nghệ
sẵn có trên thế giới
Để các doanh nghiệp thực hiện chuyển
đổi số thành công, cần có cơ sở hạ tầng
công nghệ thông tin phù hợp - cả phần
cứng và phần mềm Vì vậy, việc sở hữu
cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin phù
hợp đóng vai trò rất quan trọng trong việc
đáp ứng nhu cầu ngày càng mạnh mẽ của
các doanh nghiệp Việt Nam trong ngắn
hạn cũng như về lâu dài
Tại Việt Nam, các doanh nghiệp nhỏ và
vừa vẫn chiếm 95-96% nhưng là nhóm
gặp khó khăn lớn nhất trong việc chuyển
đổi số Mặc dù đã có những nhận thức về
sự cần thiết của chuyển đổi số, tuy nhiên,
do khả năng sản xuất còn hạn chế, mức
độ tự động hóa còn chưa cao nên doanh
nghiệp nhỏ và vừa khó áp dụng chuyển
đổi số
Đồng thời, chuyển đổi số còn cần nguồn
nhân lực chất lượng cao để có thể làm
chủ công nghệ mới, phục vụ việc triển
khai chuyển đổi số; đó cũng là điều mà
các doanh nghiệp nhỏ và vừa đang gặp
khó khăn
Từ vốn đầu tư
Đầu tư cho chuyển đổi số là đầu tư để
thay đổi từ nhận thức, chiến lược, nhân
lực, cơ sở hạ tầng đến giải pháp công
nghệ chính; vì vậy, đây là công cuộc đòi
hỏi nguồn vốn đầu tư lớn Tuy nhiên, việc
sẽ phải đầu tư lớn về tài chính và nhân lực, trong khi chưa chắc chắn về hiệu quả cũng như phải đối mặt với nguy cơ thất bại đã tạo ra rào cản lớn với các doanh nghiệp Việt Nam
Đặc biệt, các doanh nghiệp nhỏ và vừa
có ngân sách hạn chế, điều này làm chậm quá trình ra quyết định và buộc các nhà lãnh đạo phải lùi bước Theo báo cáo của Tổng cục Thống kê, Việt Nam có hơn 98% doanh nghiệp nhỏ và vừa và 99% doanh nghiệp này đang gặp khó khăn về vốn Chính vì thiếu vốn nên các doanh nghiệp này sẽ ưu tiên đầu tư vào các hình thức tăng trưởng ngắn hạn
Các doanh nghiệp lớn tuy không chịu
áp lực lớn về tài chính cho hoạt động chuyển đổi số, tuy nhiên, cuộc đua chuyển đổi số giữa các doanh nghiệp lớn theo kiểu mạnh ai nấy làm đã gây ra sự lãng phí lớn
Từ nhận thức của doanh nghiệp
Chuyển đổi số sẽ tác động lớn đến chiến lược kinh doanh, hình thức hoạt động của doanh nghiệp; đó sẽ là một sự thay đổi lớn, gây áp lực cho các nhà quản trị Về nhận thức tầm quan trọng của chuyển đổi
số đối với sự phát triển doanh nghiệp Quá trình này đòi hỏi nguồn tài chính lớn,
sự tham gia của toàn bộ doanh nghiệp nhưng đồng thời sẽ đối mặt với vấn đề về tính hiệu quả
Theo nghiên cứu của VINASA (Hiệp hội Phần mềm và Dịch vụ Công nghệ thông tin Việt Nam), tại các doanh nghiệp Việt Nam, hiện có 4 quan niệm hiểu chưa chính xác về chuyển đổi số gồm: chỉ dành cho doanh nghiệp lớn; tốn nhiều tiền; triển khai càng nhiều, càng nhanh càng tốt; chiếc đũa thần giúp doanh nghiệp cất
Trang 6cánh Điều này trái ngược với bản chất
của chuyển đổi số, quá trình này tuy tạo
điều kiện, mở rộng thời cơ cho phát triển
nhưng không thể là giải pháp toàn năng
giải quyết mọi vấn đề cho doanh nghiệp
Bên cạnh đó, tuỳ thuộc vào đặc điểm
riêng, mỗi doanh nghiệp cần có cách tiếp
cận khác nhau dựa trên sự nghiên cứu và
khảo sát cụ thể mà không thể sao chép
một hình mẫu chung nào về chuyển đổi
số
Việc chuyển đổi số như thế nào, phải
bắt đầu từ đâu vẫn là câu hỏi nhiều doanh
nghiệp chưa có lời giải Tuy nhiên, chuyển
đổi số phải bắt đầu từ tư duy người lãnh
đạo, đến xây dựng hạ tầng, đào tạo nhân
sự và cuối cùng là yếu tố công nghệ
Trong bối cảnh hiện nay, chiến lược
tư duy truyền thống không còn phù hợp
với mỗi doanh nghiệp Lãnh đạo doanh
nghiệp cần thay đổi suy nghĩ để có một
chiến lược kinh doanh công nghệ số hiệu
quả, tạo ra các trải nghiệm ban đầu và
lồng ghép những trải nghiệm đó vào quy
trình chiến lược phát triển doanh nghiệp
Nghị quyết số 52-NQ/TW ngày
27/9/2019 của Bộ Chính trị về một số chủ
trương, chính sách chủ động tham gia
Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư
đã nêu rõ “Quá trình chuyển đổi số quốc
gia còn chậm, thiếu chủ động do hạ tầng
phục vụ quá trình chuyển đổi số còn nhiều
hạn chế và thể chế, chính sách còn nhiều
bất cập” Thể chế và quy định pháp luật
cho chuyển đổi số và các hoạt động kinh
tế số của Việt Nam đến nay được đánh giá là chậm hoàn thiện Việt Nam cũng chưa ban hành chiến lược tổng thể của quốc gia về phát triển kinh tế số và xã hội số; chưa có hành lang pháp lý cho thí điểm triển khai áp dụng các mô hình kinh doanh, dịch vụ mới Hệ thống văn bản pháp luật ban hành thiếu đồng bộ, chồng chéo, chưa phù hợp với yêu cầu chuyển đổi số, phát triển kinh tế số Còn thiếu các quy định về giao dịch dữ liệu, bảo vệ
cơ sở dữ liệu, dữ liệu cá nhân, thông tin riêng tư, cũng như tạo lập niềm tin trên không gian số; thiếu quy định về quyền cá nhân, đạo đức khi ứng dụng trí tuệ nhân tạo; các quy định về danh tính số, định danh và xác thực điện tử cho người dân còn chậm được ban hành
Để xây dựng Chính phủ số và chuyển đổi số thành công, cần xây dựng hạ tầng
số với cơ sở dữ liệu quốc gia, gồm hạ tầng thiết bị, truyền thông, hạ tầng dữ liệu, ứng dụng và hạ tầng nghiên cứu phát triển Trong đó, kết nối cơ sở dữ liệu của các
bộ, ngành, địa phương là việc quan trọng hàng đầu
Ở cấp độ quốc gia, chuyển đổi số là chuyển đổi Chính phủ số, kinh tế số và
xã hội số quốc gia Chuyển đổi số cần sự đồng hành của doanh nghiệp, Chính phủ
và cả xã hội Đại dịch Covid-19 được xem như một cú hích để hành trình đó diễn ra nhanh hơn
Ban biên tập
Trang 7Như chúng ta đã biết, thương hiệu là
những dấu ấn, hình tượng tích cực và
uy tín của sản phẩm, doanh nghiệp đọng
lại trong tâm trí của khách hàng; là tiền
đề quan trọng cho hành động mua sắm
và tiêu dùng tiếp theo của khách hàng
Thương hiệu trực tuyến thường được
thể hiện trên các phương tiện như: tên
miền, landing page, apps, website, blogs,
forum, mạng xã hội, hình ảnh, video,…
Cùng với sự phát triển của công nghệ
thông tin và thương mại điện tử, các giao
dịch liên quan đến hoạt động kinh doanh
từ marketing, bán hàng, thanh toán và
phân phối đều được tiến hành tự động
một phần hoặc toàn bộ thông qua các
phương tiện điện tử Mối quan hệ và lòng
tin của khách hàng hình thành thông qua
các giao dịch, sự trải nghiệm và sự an toàn
đã tạo dựng nên những hình ảnh đẹp cho các doanh nghiệp kinh doanh một cách bài bản Thương hiệu của doanh nghiệp thông qua đó cũng được hình thành và phát triển, đó chính là “thương hiệu trực tuyến”
Do đó, có thể thấy, các phương tiện điện
tử có vai trò quan trọng và quyết định đến
sự hình thành và phát triển thương hiệu trực tuyến của doanh nghiệp, vì thông qua
đó, thương hiệu được thiết kế cấu trúc với tính chính xác, thẩm mỹ cao hơn rất nhiều
so với trước đây, việc sử dụng các phầm mềm ứng dụng để xây dựng một bộ nhận diện thương hiệu đang trở nên phổ biến
và ngày càng chuyên nghiệp Các công cụ xúc tiến điện tử được nhiều doanh nghiệp
sử dụng hiện nay như website, mạng xã hội, công cụ tìm kiếm, quảng cáo trên
HỖ TRỢ DOANH NGHIỆP NÂNG CAO
NĂNG LỰC XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN
THƯƠNG HIỆU TRÊN MÔI TRƯỜNG TRỰC TUYẾN
TRỊNH THỊ THANH
Sở Công Thương tỉnh Lâm Đồng
Trang 8website, email, diễn đàn,… Ngoài ý nghĩa
là một tài sản vô hình, thương hiệu trực
tuyến còn có nhiều lợi ích trong suốt quá
trình tồn tại của mỗi doanh nghiệp như
tạo ra các hàng rào phòng thủ để chống
chọi lại sự tấn công của các thương hiệu
mới gia nhập thị trường trong môi trường
trực tuyến ngày càng cạnh tranh gay gắt;
tính liên kết và tương tác của các thương
hiệu trên môi trường trực tuyến là rất cao
như Ebay.com mua lại giải pháp thanh
toán Paypal nhằm tạo giá trị gia tăng cho
khách hàng mua sắm trên Ebay nhưng
thương hiệu Paypal không bị mất đi mà
vẫn được đầu tư đúng mức để vẫn có
thể tồn tại như một thương hiệu độc lập
Thương hiệu trên môi trường trực tuyến
có khả năng ảnh hưởng đến người tiêu
dùng về khía cạnh đạo đức, ý thức trách
nhiệm về một số mặt trong cuộc sống xã
hội, tạo sự liên kết với cộng đồng cho
khách hàng,…
Với xu hướng và tính năng vượt trội
của công nghệ số, việc xây dựng, quảng
cáo, truyền thông và bảo hộ thương hiệu
trên môi trường trực tuyến đang được
nhiều doanh nghiệp xúc tiến triển khai
và các cấp, ngành cũng quan tâm hỗ trợ
nhằm giúp doanh nghiệp nâng cao năng
lực xây dựng, phát triển thương hiệu trực
tuyến Trên cơ sở đó, ngành công thương
tỉnh Lâm Đồng đã triển khai hỗ trợ doanh
nghiệp xây dựng và phát triển bộ thương
hiệu trực tuyến cho các sản phẩm chủ lực
của tỉnh, trong đó, hỗ trợ doanh nghiệp
xây dựng website và landing page - giúp
doanh nghiệp tối đa hóa chuyển đổi cho
quảng cáo, thu hút nhiều khách hàng
hơn, hệ thống tính năng được cập nhật
liên tục và tập trung giải quyết các vấn
đề thực tế của thị trường; đồng thời, hỗ trợ doanh nghiệp tham gia các sàn giao dịch thương mại điện tử lớn trong nước
và quốc tế như Alibaba, Lazada, Sendo, Tiki Qua đó, thương hiệu của sản phẩm, doanh nghiệp sẽ được cập nhật liên tục
và truyền tải nhanh chóng, lan tỏa rộng rãi đến khách hàng
Ngày 09/3/2021, UBND tỉnh Lâm Đồng
đã ban hành Kế hoạch số 1386/KH-UBND
về phát triển và quảng bá thương hiệu
“Đà Lạt - Kết tinh kỳ diệu từ đất lành” giai
đoạn 2021-2025, với mục tiêu phát triển
thương hiệu “Đà Lạt - Kết tinh kỳ diệu từ đất lành” trở thành thương hiệu mạnh tại
Việt Nam; bảo hộ và tập trung quảng bá, phát triển thương hiệu ra nước ngoài Để góp phần áp dụng công nghệ 4.0, công nghệ chuyển đổi số hiệu quả cho công tác truyền thông, quảng bá thương hiệu
“Đà Lạt - Kết tinh kỳ diệu từ đất lành”
từ các cấp, ngành triển khai như truyền thông một chiều, truyền thông tương tác, xây dựng video clip, phóng sự, ấn phẩm, cổng chào, hội nghị, hội thảo, truyền thông hợp tác,… thì một trong những hoạt động
hỗ trợ doanh nghiệp được cấp quyền
sử dụng nhãn hiệu “Đà Lạt - Kết tinh kỳ diệu từ đất lành” đối với các sản phẩm
rau, hoa, cà phê arabica và du lịch canh nông là cần được xúc tiến việc phát triển, quảng bá thương hiệu trên môi trường trực tuyến một cách mạnh mẽ, trong đó, cần quan tâm hỗ trợ doanh nghiệp phát
triển và quảng bá thương hiệu “Đà Lạt - Kết tinh kỳ diệu từ đất lành” gắn lên sản
phẩm của doanh nghiệp trên môi trường trực tuyến thông qua kênh truyền thông
Trang 9trực tuyến của doanh nghiệp, cụ thể:
- Hướng dẫn và khuyến khích doanh
nghiệp gắn thương hiệu như logo, hình
ảnh nhãn hiệu “Đà Lạt - Kết tinh kỳ diệu
từ đất lành” lên sản phẩm và thực hiện
quảng bá sản phẩm có gắn thương hiệu
thông qua việc sử dụng các phương tiện
điện tử như máy tính, điện thoại, các thiết
bị điện tử kết nối internet, qua đó thương
hiệu trực tuyến được lưu trữ và hiển thị
dưới hình thức là hình ảnh, video, banner,
catalogue điện tử,…; sử dụng các công
cụ xúc tiến điện tử để phát triển thương
hiệu như website, mạng xã hội, công cụ
tìm kiếm, email, diễn đàn,…
- Tổ chức các lớp tập huấn cho doanh
nghiệp được cấp quyền sử dụng nhãn
hiệu chứng nhận “Đà Lạt - Kết tinh kỳ diệu
từ đất lành” về bí quyết xây dựng thương
hiệu trực tuyến: thực hiện các chiến dịch
quảng bá thương hiệu thông qua các
nền tảng mạng xã hội như Facebook,
Instagram, Zalo, Twitter, từ đó giúp doanh
nghiệp có thể duy trì lượng tương tác trên
mạng xã hội, thu hút sự quan tâm của
khách hàng đến các sản phẩm, dịch vụ
của doanh nghiệp; kiên trì trong việc xây
dựng thương hiệu trực tuyến; xây dựng
hoặc tham gia các diễn đàn giúp doanh
nghiệp dễ dàng tìm kiếm khách hàng và
quảng bá thương hiệu, gia tăng tương tác,
tạo dựng mối quan hệ với khách hàng; kỹ
năng sử dụng các công cụ quảng cáo trực
tuyến như Google Ads, Google AdSense,
quảng cáo Facebook,… để quảng bá
thương hiệu sẽ giúp việc kinh doanh có
lợi thế và hiệu quả hơn; kỹ năng tổ chức
các chương trình tri ân khách hàng mang
lại hiệu quả cao cho quá trình xây dựng thương hiệu trực tuyến của doanh nghiệp
- Hỗ trợ doanh nghiệp được cấp quyền
sử dụng nhãn hiệu chứng nhận “Đà Lạt -
Kết tinh kỳ diệu từ đất lành” trong việc xây
dựng, nâng cấp website và ứng dụng các phần mềm tiện ích, phục vụ phát triển, quảng bá thương hiệu
- Hỗ trợ tư vấn cho doanh nghiệp để xây dựng, duy trì thương hiệu doanh nghiệp gắn với thương hiệu “Đà Lạt - Kết
tinh kỳ diệu từ đất lành” trên môi trường
trực tuyến thành công với các bước xây dựng quy trình phù hợp với đặc điểm sản phẩm và doanh nghiệp
- Hỗ trợ doanh nghiệp có sản phẩm gắn thương hiệu “Đà Lạt - Kết tinh kỳ diệu từ đất lành” liên kết với các website uy tín để
quảng bá thương hiệu
Hy vọng rằng, với sự cộng hưởng trong công tác phát triển, quảng bá thương hiệu
“Đà Lạt - Kết tinh kỳ diệu từ đất lành” triển
khai dưới các hình thức truyền thông, quảng bá thương hiệu trên môi trường trực tuyến từ các sở, ngành, địa phương; cùng với sự chủ động, tích cực, trách nhiệm của doanh nghiệp trong hoạt động
phát triển, quảng bá thương hiệu “Đà Lạt
- Kết tinh kỳ diệu từ đất lành” gắn với sản
phẩm của doanh nghiệp trên hệ thống kênh truyền thông trực tuyến sẽ tạo sức lan tỏa nhanh chóng, mạnh mẽ về thương hiệu đến khách hàng; thương hiệu trực tuyến sẽ trở thành tài sản mang lại giá trị gia tăng ngày càng lớn cho doanh nghiệp
và cộng đồng
Trang 10Sở Công Thương tỉnh Lâm Đồng đã
triển khai đến doanh nghiệp trong ngành
nhiều văn bản hướng dẫn thực hiện công
tác phòng, chống dịch bệnh Covid-19
như tiếp tục tăng cường thực hiện các
biện pháp phòng, chống dịch Covid-19 tại
doanh nghiệp ngành công thương, đẩy
mạnh phát triển kinh tế - xã hội; hạn chế
hoạt động tập trung đông người tại các
doanh nghiệp bán hàng đa cấp; rà soát,
chủ động phương án đảm bảo an toàn
phòng, chống thiên tai trong điều kiện
dịch bệnh Covid-19 diễn biến phức tạp;
khai báo y tế điện tử phục vụ công tác
phòng, chống dịch bệnh Covid-19; dừng
tổ chức hội chợ, triển lãm thương mại để phòng, chống Covid-19; đôn đốc thực hiện công tác phòng, chống dịch Covid-19 tại doanh nghiệp; hướng dẫn các phương
án phòng, chống dịch khi có trường hợp mắc Covid-19 tại cơ sở sản xuất - kinh doanh, khu công nghiệp; cung cấp thông tin tài khoản đăng nhập ứng dụng Bản đồ chung sống an toàn với Covid-19; đảm bảo an toàn phòng, chống dịch Covid-19 trong các khu công nghiệp, cụm công nghiệp, cơ sở sản xuất công nghiệp; đôn đốc xây dựng kế hoạch/kịch bản thực
CÔNG TÁC KIỂM TRA, GIÁM SÁT
HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT, KINH DOANH
CỦA DOANH NGHIỆP NGÀNH CÔNG THƯƠNG
TRONG BỐI CẢNH DỊCH BỆNH COVID-19 TẠI LÂM ĐỒNG
Sở Công Thương tỉnh Lâm Đồng
Trang 11hiện những biện pháp phòng, chống dịch
Covid-19 tại các cụm công nghiệp; chủ
động triển khai các giải pháp nhằm ổn
định sản xuất công nghiệp trong bối cảnh
dịch bệnh có thể bùng phát; hướng dẫn
triển khai quét mã QR để quản lý thông tin
người ra/vào doanh nghiệp; đề nghị xây
dựng kế hoạch và cam kết phòng, chống
dịch Covid-19 theo mẫu; ký xác nhận kế
hoạch phòng, chống dịch Covid-19 cho
các cơ sở sản xuất - kinh doanh; kích
hoạt, thực hiện ngay phương án 3 tại chỗ;
khẩn trương tổ chức test nhanh kháng
nguyên SARS-CoV-2 cho người lao động
tại doanh nghiệp; thực hiện phương án
3 tại chỗ trong sản xuất và công tác phòng,
chống dịch Covid-19 tại các doanh nghiệp
ngành công thương; đăng ký thực hiện
phương án 3 tại chỗ; thông báo kết quả
cuộc họp tháo gỡ một số khó khăn cho
các công ty hoạt động tại thành phố Đà
Lạt; hướng dẫn triển khai công tác phòng,
chống dịch bệnh Covid-19 tại các cơ sở
sản xuất - kinh doanh; thông báo đường
dây nóng giải đáp kiến nghị, thắc mắc về
giá cả thị trường, hàng hóa thiết yếu trên
địa bàn tỉnh Lâm Đồng…
Từ đầu năm 2021 đến nay, Sở Công
Thương đã tổ chức 6 đợt kiểm tra theo kế
hoạch tại 82 cơ sở sản xuất - kinh doanh
Covid-19, đảm bảo đáp ứng hoạt động
cung ứng hàng hóa, dịch vụ trước những
diễn biến phức tạp của dịch bệnh và kịp
thời phát hiện, đôn đốc, nhắc nhở các quy định nguy cơ mất an toàn về phòng, chống dịch Covid-19
Kiểm tra tình hình sản xuất hàng hóa
và công tác phòng, chống dịch Covid-19 tại 11 doanh nghiệp công nghiệp sản xuất trên địa bàn; đa số các cơ sở sản xuất hàng hóa chấp hành tốt quy định về phòng, chống dịch Covid-19 theo Kế hoạch số 933/KH-SCT ngày 01/6/2021, Kế hoạch
số 1299/KH-SCT ngày 12/7/2020 của Sở Công Thương
Kiểm tra việc chấp hành quy định của pháp luật trong việc kinh doanh các mặt hàng thiết yếu, mặt hàng phục vụ chống dịch theo Kế hoạch số 173/KH-TTr
ngày 22/7/2021 của Thanh tra Sở Công
Thương Qua kiểm tra cho thấy, hầu hết các chợ truyền thống, đơn vị, cửa hàng kinh doanh được kiểm tra đã nghiêm túc chấp hành các quy định về chống găm hàng, tăng giá bất hợp lý; chấp hành tốt quy định về phòng, chống dịch Covid-19 Tuy nhiên, đa số các địa điểm được kiểm tra chưa thực hiện nghiêm việc giữ khoảng cách tối thiểu 2 m giữa người với người; chưa bố trí đầy đủ “tấm kính chắn giọt bắn” cho nhân viên trực tiếp bán hàng; chưa thực hiện đăng ký tài khoản và cập nhật đánh giá an toàn Covid-19 lên Bản
đồ chung sống an toàn với Covid-19 tại địa chỉ http://antoancovid.vn Đáng chú
ý là phần lớn các chợ truyền thống trên địa bàn Bảo Lộc, Di Linh, Lâm Hà được kiểm tra đều thực hiện chưa tốt công tác phòng, chống dịch Covid-19
Xác định công tác phòng, chống dịch Covid-19 tại các chợ, trung tâm thương mại, cơ sở mua sắm,… là nhiệm vụ cấp
Trang 12bách, hàng đầu Do vậy, Sở Công Thương
kiến nghị Chủ tịch UBND tỉnh - Trưởng
Ban Chỉ đạo phòng, chống dịch Covid-19
có văn bản yêu cầu Chủ tịch UBND các
huyện, thành phố, Trưởng Ban Chỉ đạo
phòng, chống dịch Covid-19 tại các
huyện, thành phố thường xuyên rà soát,
nắm bắt kịp thời thông tin về công tác
phòng, chống dịch Covid-19 tại các chợ,
trung tâm thương mại, cửa hàng, cơ sở
kinh doanh; kiên quyết kiểm điểm, xử lý
nghiêm người đứng đầu địa phương còn
lơ là, coi nhẹ công tác phòng, chống dịch
Covid-19 với mục đích nêu gương; tăng
cường công tác thị sát, nắm tình hình để
chỉ đạo quyết liệt công tác phòng, chống
dịch Covid-19 theo chỉ đạo của Chính
phủ, Thủ tướng Chính phủ, Ban Chỉ đạo
phòng, chống dịch Covid-19 các cấp
Căn cứ nội dung chỉ đạo của UBND
tỉnh Lâm Đồng tại Kế hoạch số
5488/KH-UBND ngày 04/8/2021 về yêu cầu rà soát,
kiểm tra phương án “3 tại chỗ” của các
doanh nghiệp, kiên quyết yêu cầu dừng
sản xuất đối với doanh nghiệp không đáp
ứng các yêu cầu phòng, chống dịch, đoàn
công tác đề xuất Sở Công Thương báo
cáo UBND tỉnh xem xét, tạm dừng hoạt
động sản xuất đối với 9 đơn vị do tại thời
điểm kiểm tra, đơn vị chưa tổ chức thực
hiện được phương án “3 tại chỗ” Đoàn
công tác đã yêu cầu các công ty tạm dừng
hoạt động; đồng thời, đề nghị UBND giao
phòng Kinh tế/Kinh tế và Hạ tầng các
huyện, thành phố, UBND xã, phường, thị
trấn thực hiện giám sát việc doanh nghiệp
được kiểm tra hoạt động trên địa bàn,
Kiểm tra các đơn vị về việc thực hiện
quy định về phòng, chống dịch Covid-19;
thẩm định điều kiện kinh doanh gas, xăng
- dầu của các doanh nghiệp trên địa bàn theo Kế hoạch số 1713/KH-SCT ngày 07/9/2021; thực hiện ký Bản cam kết đảm bảo thực hiện các biện pháp an toàn phòng, chống dịch Covid-19; ban hành kế hoạch phòng, chống Covid-19, phương
án xử lý khi có các trường hợp mắc Covid-19 Qua kiểm tra, các đơn vị thực hiện tốt công tác phòng, chống Covid-19 Thông qua công tác kiểm tra, giám sát
và hướng dẫn triển khai phòng, chống dịch, UBND các huyện, thành phố và các cơ quan chuyên môn triển khai kịp thời, đầy đủ nội dung tại Văn bản số 5764/UBND-VX3 ngày 12/8/2021 của UBND tỉnh Lâm Đồng về việc hướng dẫn phòng, chống dịch Covid-19 tại các cơ sở sản xuất, kinh doanh đến UBND các xã, phường, thị trấn; các cơ sở sản xuất - kinh doanh trên địa bàn Triển khai đến các cơ
sở sản xuất - kinh doanh tập trung đông người xây dựng kế hoạch phòng, chống dịch Covid-19 và các phương án xử trí khi có các trường hợp mắc Covid-19 và phương án phòng, chống dịch Covid-19 phù hợp, hiệu quả đảm bảo vừa an toàn phòng, chống dịch vừa duy trì sản xuất - kinh doanh phù hợp với tình hình thực tế của đơn vị
Sở Công Thương đã phối hợp chặt chẽ với Sở Y tế, các ngành, đoàn thể, địa phương có liên quan trong việc thực hiện các chỉ đạo của Chính phủ, Ban Chỉ đạo Trung ương, UBND tỉnh, Ban Chỉ đạo phòng, chống dịch Covid-19 tỉnh, nhờ đó, đến nay, dịch bệnh Covid-19 trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng cơ bản được kiểm soát
Trang 13Sau 20 năm thực hiện Nghị quyết số
13-NQTTW ngày 18/3/2002 của Ban Chấp
hành Trung ương Đảng khóa IX về tiếp tục
đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả
kinh tế tập thể, Sở Khoa học và Công nghệ
(KH&CN) đã tham mưu UBND tỉnh Lâm
Đồng ban hành các chương trình hỗ trợ
doanh nghiệp, hợp tác xã; nhờ đó, công
tác ứng dụng, chuyển giao tiến bộ KH&CN
trên địa bàn tỉnh đã có những chuyển biến
tích cực Các hợp tác xã đã từng bước
củng cố, đổi mới và nâng cao chất lượng
hoạt động; đồng thời, tập trung đổi mới
phương thức quản lý, tiết kiệm triệt để
chi phí, đảm bảo ổn định giá thành sản
phẩm, tăng cường công tác phân tích nhu
cầu của thị trường, tích cực liên doanh,
liên kết với các hợp tác xã, doanh nghiệp
trong và ngoài tỉnh được cung cấp dịch vụ
đầu vào và bao tiêu sản phẩm đầu ra cho
nông dân
Một số kết quả đạt được
Hỗ trợ ứng dụng tiến bộ KH&CN, đổi
mới công nghệ
Tổ chức đoàn công tác và hỗ trợ trên
136 lượt đơn vị, hợp tác xã, doanh nghiệp
và nhà quản lý tham gia chợ công nghệ
và thiết bị (techmart) của địa phương, khu
vực và quốc gia; qua đó, tạo điều kiện xúc tiến, đẩy mạnh việc gắn kết nghiên cứu, đào tạo với sản xuất - kinh doanh, phát triển thị trường công nghệ, thúc đẩy chuyển giao công nghệ tiên tiến nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh, năng suất lao động, chất lượng hàng hóa Chào bán trên 400 công nghệ, thiết bị tập trung vào các lĩnh vực công nghệ sinh học, nông nghiệp, công nghệ chế biến, xử lý và bảo
vệ môi trường, công nghệ thông tin, y học hạt nhân… Trên 200 bản ghi nhớ, thỏa thuận đã được ký kết giữa các đối tác
Nâng cao năng lực dịch vụ kỹ thuật
Xây dựng 138 điểm thông tin KH&CN phục vụ nông nghiệp, nông thôn đặt tại
12 phòng Kinh tế/Kinh tế và Hạ tầng các huyện, thành phố và 126 xã, phường, thị trấn với hệ thống thiết bị và thư viện điện
tử với khoảng 170.000 bản ghi, nhằm phục vụ công tác nghiên cứu, ứng dụng khoa học kỹ thuật của hợp tác xã, tổ hợp tác, doanh nghiệp trong tỉnh
Hỗ trợ về tiêu chuẩn, đo lường, chất lượng
Tổ chức 61 lớp đào tạo, tập huấn về các
hệ thống quản lý, công cụ cải tiến năng suất chất lượng nhằm nâng cao năng
KẾT QUẢ 20 NĂM THỰC HIỆN NGHỊ QUYẾT
SỐ 13-NQ/TW VỀ TIẾP TỤC ĐỔI MỚI, PHÁT TRIỂN,
NÂNG CAO HIỆU QUẢ KINH TẾ TẬP THỂ
Phòng Quản lý công nghệ và chuyên ngành
Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Lâm Đồng
Trang 14suất, chất lượng sản phẩm, hàng hóa; thu
hút hơn 1.400 lượt người của hơn 520
doanh nghiệp, hợp tác xã sản xuất, kinh
doanh trên toàn tỉnh tham dự Thông qua
các lớp đào tạo, tập huấn đã giúp nâng
cao nhận thức cho các học viên về năng
suất, chất lượng sản phẩm, hàng hóa, từ
đó có thể tự triển khai áp dụng tại đơn vị
Hỗ trợ 3 hợp tác xã về năng suất, chất
lượng với tổng kinh phí 180 triệu đồng
Hỗ trợ Hợp tác xã Dịch vụ Nông nghiệp
Tổng hợp Thủy canh Việt xây dựng hệ
thống thực hành nông nghiệp tốt toàn cầu
(GlobalGAP)
Cập nhật 162 tin cảnh báo liên quan
đến các sản phẩm chủ lực của tỉnh Dịch
32 tin cảnh báo và đăng lên trang thông
tin điện tử của Chi cục Tiêu chuẩn Đo
lường Chất lượng tỉnh Lâm Đồng Hướng
dẫn Sở Công Thương tỉnh về trình tự, thủ
tục ban hành 7 quy chuẩn kỹ thuật đối với
các sản phẩm chè, cà phê và rau, quả
chế biến
Hỗ trợ về phát triển thương hiệu
Tham mưu UBND tỉnh đăng ký thành
công bảo hộ nhãn hiệu chứng nhận “Đà
Lạt - Kết tinh kỳ diệu từ đất lành” được cấp
cho các doanh nghiệp, hợp tác xã, tổ hợp
tác, cá nhân sản xuất - kinh doanh rau,
hoa, cà phê Arabica, du lịch canh nông
trên địa bàn Để triển khai Kế hoạch thực
hiện hành động quảng bá thương hiệu
“Đà Lạt - Kết tinh kỳ diệu từ đất lành”, Sở
KH&CN đã tổ chức lớp tập huấn Quản lý,
khai thác và phát triển nhãn hiệu chứng
nhận “Đà Lạt - Kết tinh kỳ diệu từ đất
lành”; hướng dẫn và áp dụng nhãn hiệu
chứng nhận “Đà Lạt - Kết tinh kỳ diệu từ
đất lành” cho các doanh nghiệp.
Phối hợp với Cục Sở hữu trí tuệ (Bộ KH&CN) tổ chức tập huấn “Quản trị tài sản trí tuệ trong doanh nghiệp” nhằm nâng cao nhận thức cho doanh nghiệp về
hệ thống pháp luật sở hữu trí tuệ, công tác quản trị tài sản trí tuệ và điều kiện thực hiện việc quản trị; khai thác và biện pháp bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ
Hỗ trợ các địa phương (chủ nhãn hiệu) thực hiện các hoạt động quản lý và phát triển nhãn hiệu sở hữu cộng đồng (nhãn hiệu chứng nhận, nhãn hiệu tập thể).Hướng dẫn, tư vấn cho 50 lượt hợp tác
xã, tổ hợp tác đăng ký xác lập quyền sở hữu công nghiệp
Tham mưu UBND tỉnh Lâm Đồng cho
phép sử dụng tên địa danh “Đất Làng Cầu Đất” trong việc đăng ký nhãn hiệu tập
thể của Hợp tác xã Dịch vụ Nông nghiệp Tổng hợp Đất Làng Cầu Đất
Quỹ Phát triển KH&CN
Trong thời gian qua, Quỹ đã hỗ trợ cho nhiều dự án mang lại hiệu quả cao, trong
đó hợp tác xã cũng là đối tượng được quan tâm đầu tư Dự án Đầu tư máy móc, thiết bị công nghệ cao phục vụ việc trồng chuối Laba xuất khẩu, phát triển các sản phẩm chuối Laba của Hợp tác xã Laba Banana Đạ K’Nàng (HTX) là minh chứng cho công tác hỗ trợ kinh tế tập thể; dù mới thành lập năm 2018 nhưng HTX đã mạnh dạn thực hiện dự án bằng nguồn vốn tự có và nguồn vốn vay từ Quỹ Phát triển KH&CN để đầu tư 100.000 chip thẻ Micro RFID, máy bay nông nghiệp không người lái PGxp 2020, kho lạnh, cùng hệ thống máy móc dây chuyền sơ chế, đóng
Trang 15gói, vận chuyển đúng tiêu chuẩn phục vụ
cho việc xuất khẩu, đặc biệt là xuất khẩu
sang thị trường Nhật Bản - một trong số
những thị trường khó tính Việc đầu tư
các thiết bị hiện đại đã giúp HTX tiết kiệm
chi phí sản xuất, nâng cao thu nhập cho
nông dân, nhất là các hộ đồng bào dân
tộc thiểu số tại huyện Đam Rông
Dự án ứng dụng KH&CN để chế biến
Lúa - Gạo Cát Tiên tại Hợp tác xã Nông
nghiệp và Dịch vụ Tổng hợp Tư Nghĩa
đã đầu tư máy móc thiết bị, hoàn thiện
quy trình sản xuất nhằm nâng cao giá trị
thương phẩm của sản phẩm lúa, gạo Cát
Tiên trên thị trường với tổng mức đầu tư
cho dự án là hơn 2 tỷ đồng, trong đó nguồn
vay ưu đãi từ Quỹ là 600 triệu đồng
Đánh giá chung
Trong giai đoạn 2006-2020, hoạt động
hỗ trợ hợp tác xã, tổ hợp tác, doanh
nghiệp ứng dụng các kết quả nghiên cứu
vào sản xuất đã có chuyển hướng tích
cực phục vụ sản xuất tốt hơn so với trước
đây, đặc biệt là sản xuất nông nghiệp,
đổi mới công nghệ nhằm sản xuất ra sản
phẩm có giá trị gia tăng cao, sử dụng hợp
lý nguyên, vật liệu; hợp lý hóa sản xuất,
nâng cao năng suất, chất lượng; tăng khả
năng cạnh tranh của sản phẩm hàng hóa
và dịch vụ trên thị trường, hạn chế đến
mức thấp nhất về ô nhiễm môi trường,
phù hợp với tiêu chuẩn quốc tế
Việc hỗ trợ các đơn vị, doanh nghiệp,
tổ chức tham gia các Hội chợ công nghệ
và thiết bị quốc gia và khu vực đã tạo điều
kiện xúc tiến và đẩy mạnh việc gắn kết
nghiên cứu, đào tạo với sản xuất - kinh
doanh, phát triển thị trường công nghệ, thúc đẩy chuyển giao công nghệ tiên tiến nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh, năng suất lao động và chất lượng hàng hóa, dịch vụ, góp phần phát triển kinh tế -
xã hội nhanh và bền vững
Hoạt động hỗ trợ về tiêu chuẩn, đo lường, chất lượng: các doanh nghiệp triển khai xây dựng và áp dụng hệ thống quản lý chất lượng tiên tiến tại đơn vị đã góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động, khả năng cạnh tranh trên thị trường nhờ việc chuẩn hóa bộ máy tổ chức và các quá trình nghiệp vụ, quản lý, qua đó, giúp các đơn vị quan tâm nâng cao chất lượng, hiệu quả trong công tác tổ chức, quản lý, điều hành
Công tác hỗ trợ phát triển tài sản trí tuệ
và thương hiệu: đã xây dựng các nhãn hiệu đối với một số sản phẩm đặc trưng, thế mạnh của tỉnh và tạo điều kiện cho các chủ nhãn hiệu chứng nhận tạo lập, quản lý và phát triển nhãn hiệu chứng nhận, từ đó góp phần nâng cao khả năng cạnh tranh, giá trị kinh tế của các sản phẩm trên thị trường
Hoạt động xây dựng cơ sở dữ liệu thông tin KH&CN và tổ chức mạng lưới cung cấp điểm thông tin KH&CN cấp huyện, xã
đã tạo điều kiện cho cán bộ, hợp tác xã và Nhân dân các xã, phường tiếp cận thông tin về khoa học kỹ thuật, kinh tế, chính trị, góp phần định hướng chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi, nâng cao nhận thức cho Nhân dân về ứng dụng các tiến
bộ KH&CN vào sản xuất và đời sống, đẩy nhanh quá trình xây dựng nông thôn mới.Tuy nhiên, trong quá trình triển khai các
Trang 16chương trình, vẫn còn một số khó khăn,
hạn chế, như:
- Mặc dù đã có các hình thức thông tin,
tuyên truyền khác nhau nhưng số lượng
hợp tác xã đăng ký tham gia chương
trình hỗ trợ doanh nghiệp về KH&CN còn
ít Hợp tác xã vẫn chưa tiếp cận được
các chương trình hỗ trợ doanh nghiệp về
KH&CN; các nguồn quỹ hỗ trợ của Trung
ương và địa phương
- Nhiều hợp tác xã chưa quan tâm đến
việc nâng cao năng suất, chất lượng Việc
vận động các hợp tác xã tham gia dự án
rất khó khăn, số lượng tham gia dự án
còn thấp
Giải pháp hỗ trợ phát triển kinh tế
tập thể trong thời gian tới
- Tiếp tục nâng cao công tác thông
tin, tuyên truyền cho các hợp tác xã về
chương trình hỗ trợ doanh nghiệp về
KH&CN; nâng cao nhận thức, kiến thức
về chất lượng cho các cấp, ngành, hợp tác xã tạo nên phong trào nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm, hàng hóa và dịch vụ
- Hỗ trợ tiếp cận và sử dụng hiệu quả nguồn vốn từ Quỹ Phát triển KH&CN tỉnh Lâm Đồng để thực hiện các dự án ứng dụng KH&CN vào sản xuất
- Xây dựng kế hoạch và bố trí kinh phí thực hiện các hoạt động xúc tiến mở rộng thị trường cho doanh nghiệp: tổ chức hợp tác quốc tế; tổ chức và tham gia các chợ công nghệ thiết bị (techmart) để doanh nghiệp, hợp tác xã trao đổi thông tin và mua bán công nghệ
- Tiếp tục hỗ trợ việc xây dựng, tiếp thị
và xúc tiến quảng bá thương hiệu sản phẩm đặc trưng, thế mạnh của tỉnh ra thị trường trong nước và thế giới
Trang 17Hiện nay, trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng,
tổng nhu cầu về giống hoa để sản xuất
hàng năm từ 2,3-2,5 tỷ cây giống; trong
đó, 1-1,1 tỷ cây giống hoa được nhân từ
47 cơ sở nuôi cấy mô và 1,2-1,4 tỷ cây
giống hoa truyền thống như hoa cúc,
lay ơn, hoa hồng được nhân tại 50 cơ
sở vườn ươm của tỉnh (tương đương
97,1-98,4% lượng giống được sản xuất
tại địa phương) Cây giống nhập khẩu
mới chỉ đạt từ 62,44-76,82 triệu cây/năm
(đáp ứng 2,7-3% nhu cầu của tỉnh) chủ
yếu từ các nước Hà Lan, Bỉ, Nhật Bản,
Trung Quốc, Pháp Nhu cầu nhập khẩu
giống hoa mới, giống có bản quyền ngày
càng tăng do nguồn giống sử dụng từ
lâu tại địa phương bị thoái hóa, kém chất
lượng, nhiễm sâu, bệnh, ; do đó, giá trị
sản phẩm thấp Để nâng cao giá trị sản
phẩm hoa, cần phải có giống mới được
thị trường tiêu thụ ưa chuộng nhưng hiện
trạng cho thấy tỉnh Lâm Đồng thiếu nguồn
giống hoa mới, chưa đáp ứng yêu cầu về
tiêu chuẩn, chất lượng và hình thức cho
các thị trường lớn; đặc biệt, xuất khẩu
sang thị trường khó tính như Nhật Bản,
châu Âu gặp rất nhiều khó khăn, do không
có bảo hộ bản quyền giống hoa
Năm 2018-2019, Chi cục Trồng trọt và BVTV tỉnh Lâm Đồng đã xây dựng Dự án Nhập khẩu và mua bản quyền giống rau, hoa và làm việc với Cục Bảo vệ thực vật (Bộ Nông nghiệp và PTNT) xin cấp Giấy phép kiểm dịch thực vật nhập khẩu trực tiếp
mà không phải thực hiện phân tích nguy cơ dịch hại (PRA) Cụ thể:
Năm 2018, hỗ trợ 2 doanh nghiệp nhập khẩu 109.903 cây, củ, ngọn, hạt/
8 giống hoa (ngọc hân, oải hương, loa kèn, Astilbe, Mandevilla, lan Nam Phi, hạnh phúc, thược dược)
Qua quá trình khảo nghiệm đã lựa chọn được những giống phù hợp với điều kiện sinh thái tại Lâm Đồng và có triển vọng
để nhân rộng sản xuất, đáp ứng thị hiếu của thị trường Việt Nam, gồm loa kèn, lan Nam Phi, hạnh phúc, thược dược
Năm 2019, có 8 doanh nghiệp và Trung tâm Nghiên cứu Khoai tây, Rau và Hoa tham gia Dự án đã nhập khẩu 457 triệu cây, củ, chậu, hạt giống hoa và 70 kg hạt
KẾT QUẢ THỰC HIỆN DỰ ÁN NHẬP KHẨU
VÀ MUA BẢN QUYỀN GIỐNG RAU, HOA NĂM 2018-2020
VÀ XÂY DỰNG ĐỀ ÁN “NHẬP KHẨU GIỐNG HOA
CÓ BẢN QUYỀN PHỤC VỤ PHÁT TRIỂN
NGÀNH SẢN XUẤT HOA GIAI ĐOẠN 2021-2025”
LÊ THỊ THANH NGA
Chi cục Trồng trọt và BVTV tỉnh Lâm Đồng
Trang 18giống rau/39 giống rau, hoa (ngọc hân, oải
hương, Trachelium, loa kèn, Myrmecidia,
cây bắt mồi, Hydnophytum, diên vĩ,
Allium, thiên Sứ, khoai nưa, Paintball,
Emeraid, Amaryllis, mẫu đơn, dâu tây, phi
yến, Drosera, Syngonanthus, đỗ quyên,
Bidens, ngàn sao, Ostica, dạ yến thảo,
Verbena, Calibrachoa, hoa baby, thược
dược, mao lương, tulip, lily, Alium, thủy
tiên, Hyacinthus, xà lách, cải kale, súp lơ
xanh, súp lơ trắng)
Sau khi nhập khẩu giống, các doanh
nghiệp đã tiến hành trồng khảo nghiệm
để đánh giá khả năng thích nghi với điều
kiện sinh thái tại tỉnh Lâm Đồng, thị hiếu
của người tiêu dùng trong tỉnh nói riêng
và cả nước nói chung Trong đó, có một
số giống mang lại hiệu quả kinh tế cao,
đáp ứng thị hiếu của người tiêu dùng như
Amaryllis, Ornithogalum, Calla lily
Ngoài ra, Sở Nông nghiệp và PTNT
Lâm Đồng đã phê duyệt Kế hoạch số
1457/SNN-KH ngày 24/9/2020 về việc
nhập khẩu, khảo nghiệm giống hoa có
bản quyền năm 2020 Trong đó, hỗ trợ
3 doanh nghiệp nhập nội 8 giống hoa từ
các nước Hà Lan, Israel, Nhật Bản với
362.700 cây, củ, hạt giống hoa các loại
Cụ thể:
+ 4 giống từ vùng sản xuất và nguồn
nhập khẩu của Hà Lan: 100.000 củ loa
kèn Calla Lily (Zantedeschia hybrid);
10.000 củ Amaryllis (Hippeastrum spp.);
10.000 củ Gloriosa (Gloriosa spp.);
1.000 củ Scilla peruviana (Scilla spp.)
+ 1 giống từ vùng sản xuất của Hoa
Kỳ và nguồn nhập khẩu của Hà Lan:
10.000 hạt Fatsia Japonica (Fatsia spp.).
+ 1 giống từ vùng sản xuất và nguồn nhập khẩu của Nhật Bản: 200.000 hạt hoa
chuông Campanula (Campanula spp).
+ 2 giống từ vùng sản xuất và nguồn nhập khẩu của Israel: 31.500 củ giống
hoa Thiên sứ (Orinithogalum dubium);
200 cây Craspedia (Craspedia spp.).
Hiện nay, các công ty đã nhập khẩu được trên 70% lượng giống so với giấy phép Sau khi nhập khẩu, các doanh nghiệp đã tiến hành trồng khảo nghiệm để đánh giá khả năng thích nghi với điều kiện sinh thái tại tỉnh Lâm Đồng, thị hiếu của người tiêu dùng
Trong giai đoạn 2021-2025, trên cơ sở thực tiễn và định hướng phát triển ngành sản xuất hoa của tỉnh trong thời gian tới,
Sở Nông nghiệp và PTNT tỉnh Lâm Đồng
đã phê duyệt Đề án “Nhập khẩu giống hoa
có bản quyền phục vụ phát triển ngành sản xuất hoa giai đoạn 2021-2025” Theo
đó, hỗ trợ các đơn vị thuộc Hiệp hội Hoa
Đà Lạt nhập nội 55 giống hoa từ 7 quốc gia với tổng số 2.012.000 hạt, ngọn, cây,
lá, củ giống hoa các loại Đồng thời, Đề
án đề xuất nhập khẩu một số giống hoa mới không thực hiện phân tích nguy cơ dịch hại (PRA) để kịp thời phục vụ sản xuất hoa công nghệ cao, nhằm đẩy mạnh phát triển sản xuất hoa của tỉnh, phát huy lợi thế trong thời gian tới, góp phần nâng cao giá trị gia tăng đáp ứng yêu cầu của thị trường trong nước và phục vụ xuất
khẩu, phát triển thương hiệu “Đà Lạt - Kết tinh kỳ diệu từ đất lành”