1 hoav Theo số liệu thống kê của Hội đồng Vàng Thế giới năm 2017, Việt Nam xếp thứ 14 trên thế giới về lượng tiêu thụ vàng trên đầu người Người tiêu dùng Việt Nam thường có hai mục đích chính cho việc[.]
Trang 1hoav
T heo số liệu thống kê của Hội đồng Vàng
Thế giới năm 2017, Việt Nam xếp thứ 14 trên
thế giới về lượng tiêu thụ vàng trên đầu người
Người tiêu dùng Việt Nam thường có hai mục
đích chính cho việc mua vàng (i) Dùng vàng
làm tài sản để tiết kiệm, đầu tư; (ii) Dùng vào
cho nhu cầu trang sức Tâm lý xem vàng là
một loại tài sản có tính tiết kiệm, đầu tư vẫn
còn phổ biến tại Việt Nam Tính về số lượng,
vàng miếng và tiền vàng vẫn chiếm tới 70%
tổng tiêu thụ vàng tại Việt Nam Tuy nhiên, con
số đã này bắt đầu giảm mạnh từ sau giai đoạn
2010-2013 khi Chính phủ ban hành các quy
định nhằm kiểm soát thị trường vàng và chấm
dứt tình trạng “vàng hóa” trong hệ thống NH
Tin nổi bật
Chính sách tiền tệ thận trọng hơn liệu có
‘kìm chân’ được lạm phát?
Ngân hàng lại thừa tiền?
Nhiều ngân hàng vẫn chật vật xử lý nợ xấu
VN đứng thứ 14 thế giới về tiêu thụ vàng Quản lý rủi ro đối với nợ công
Ấn Độ vượt Pháp trở thành nền kinh tế lớn thứ 6 thế giới
Trung Quốc đổi chiến thuật trong đối đầu thương mại với Mỹ
BẢNG CHỈ SỐ
Chứng khoán (ngày 12/07)
D.JONES CK Mỹ 24.924,89 0,91%
Vàng (SJC cập nhật 08h30 ngày 13/07)
SJC Ng.đ/L 36.980 0,03% Quốc tế USD/Oz 1.245,00 0,18%
Tỷ giá
Dầu
WTI USD/th 69,29 1,80%
Thứ Sáu, ngày 13/07/2018
BP.NGHIÊN CỨU & PHÁT TRIỂN – PHÒNG KẾ HOẠCH
Trang 2Cục Quản lý cạnh tranh yêu cầu
các ngân hàng báo cáo việc
đồng loạt tăng phí rút tiền qua
ATM
Ngày 11/07/2018, Cục Cạnh tranh và Bảo vệ người tiêu dùng đã có văn bản đề nghị bốn "ông lớn" bao gồm Vietcombank, Agribank, VietinBank
và BIDV cung cấp thông tin, tài liệu liên quan bao gồm thông tin về việc triển khai DV ATM của từng NH, thông tin về mức phí, các lần tăng phí rút tiền qua ATM (cả nội mạng và ngoại mạng) trong thời gian 2 năm (từ 01/07/2016 đến nay) Trong những ngày qua, nhiều phương tiện thông tin đại chúng phản ánh 4 NH lớn gồm Vietcombank-VCB, Agribank, VietinBank-CTG và BIDV-BID đã đồng loạt thông báo tăng phí rút tiền nội mạng qua ATM từ mức 1.000 đồng lên 1.650 đồng (đã bao gồm VAT)
bắt đầu từ ngày 15/07/2018 Theo quy định tại Điều 9, Luật Cạnh tranh hiện hành, thỏa thuận ấn định giá hàng hóa, DV một cách trực tiếp hoặc gián tiếp bị cấm khi các bên tham gia thỏa thuận có thị phần kết hợp trên thị trường liên quan từ 30% trở lên Hành vi vi phạm quy định
về kiểm soát hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh có thể bị phạt tiền đến 10% tổng doanh thu trong năm tài chính trước năm thực hiện hành
vi vi phạm theo Điều 8, Nghị Định số 71/2014/NĐ-CP ngày 21/07/2014 quy định chi tiết Luật Cạnh tranh về xử lý vi phạm luật trong lĩnh vực cạnh tranh hoặc bị xem xét xử lý hình sự theo Điều 217, Bộ Luật hình
sự năm 2015 tùy thuộc vào tính chất nghiêm trọng của vụ việc Để phục
vụ công tác giám sát và quản lý cạnh tranh, đảm bảo môi trường cạnh tranh lành mạnh, ngày 11/07/2018, Cục Cạnh tranh và Bảo vệ người tiêu dùng đã có văn bản đề nghị các NH nêu trên cung cấp thông tin, tài liệu liên quan bao gồm thông tin về việc triển khai DV ATM của từng
NH, thông tin về mức phí, các lần tăng phí rút tiền qua ATM (cả nội mạng
và ngoại mạng) trong thời gian 2 năm (từ ngày 01/07/2016 đến nay) Cục Cạnh tranh và Bảo vệ người tiêu dùng cho biết sẽ giám sát chặt chẽ để kịp thời có các biện pháp cần thiết nhằm bảo đảm sự tuân thủ Luật Cạnh tranh của mọi DN trên các lĩnh vực nền KT, trong đó lĩnh vực NH
Chính sách tiền tệ thận trọng hơn
liệu có ‘kìm chân’ được lạm
phát?
Mặc dù CSTT đã thận trọng hơn trong năm 2018 giúp giới hạn lại ‘kỳ vọng tăng’ của lạm phát, nhưng việc tăng trưởng tổng phương tiện thanh toán M2 đã liên tục ở mức khá cao 16-18% trong giai đoạn
2013-2017 có thể đã tích tụ đủ những rủi ro và hiện là thời điểm bắt đầu tác
Tài chính – Ngân hàng
Trang 3động rõ nét lên lạm phát BVSC (Công ty CK Bảo Việt) cho rằng, rủi ro lớn nhất đối với chỉ số CPI trong 6th cuối năm vẫn là diễn biến khó lường của 2 nhóm hàng: hàng ăn, DV ăn uống và giao thông Ở trong nước, Chính phủ dự kiến tăng thuế bảo vệ môi trường lên kịch khung (từ 3.000 đồng lên 4.000 đồng) ngay từ 01/07/2018 Theo đó, giá mỗi lít xăng sẽ
1.000 đồng, dầu diezen 500 đồng và dầu hỏa 1.100 đồng/lít
Theo tính toán, việc tăng thuế này sẽ khiến giá nhóm hàng giao thông
5% và tác động làm chỉ số CPI chung 0,2% riêng trong tháng 7
Mức tăng này cũng chưa tính đến những tác động lan toả vòng 2 lên các nhóm hàng khác do xăng dầu gần như là đầu vào của mọi hoạt động trong nền KT Về lạm phát cả năm 2018, BVSC cho rằng rủi ro lạm phát trong thời điểm hiện tại chưa đến mức tạo ra nguy cơ quá lớn hay có thể tăng mạnh như năm 2008 và 2011 Lý do là TTTD giai đoạn 2011-2017 chỉ ở mức 14,3%, thấp hơn hẳn giai đoạn 2003-2010 (trung bình ở mức 34%) Thêm vào đó, NHNN cũng đã có nhiều kinh nghiệm điều hành hơn nên đã chủ động giới hạn lại tăng trưởng tín dụng ngay
từ thời điểm đầu năm nay (chỉ còn ở mức 16% thay cho mức 18% hồi đầu năm) Ở kịch bản trung bình (kịch bản BVSC đánh giá xác suất xảy ra cao nhất), CPI vào cuối năm 2018 sẽ ở mức 4,8% và lạm phát trung bình cho cả năm 2018 sẽ ở mức 3,9% Ở kịch bản tiêu cực, các mức lạm phát này lần lượt sẽ ở mức 5,6% và 4,07% Ở kịch bản tích cực, các mức lạm phát này sẽ lần lượt ở mức 4,07% và 3,77%
vay vốn được nhận định là cao nhất (51,1% TCTD lựa chọn mức "cao"),
tiếp đến là nhu cầu tiền gửi (36,9% TCTD lựa chọn mức "cao") và nhu cầu thanh toán và thẻ (35,4% TCTD lựa chọn mức "cao") Nghịch lý là dù tiền gửi chảy vào NH dồi dào, nhu cầu vay vốn cao nhưng cho vay đầu ra lại tăng chậm Nguyên nhân một phần có thể do các NH siết chặt hơn trong cho vay vào các lĩnh vực rủi ro như BĐS và giao thông trong thời gian vừa qua Ngoài ra, khả năng "sức khỏe" của các DN chưa được cải thiện, các NH cũng ngày càng cẩn trọng hơn trong việc thẩm định, giải ngân khiến số lượng DN tiếp cận được vốn từ nhà băng không nhiều dù nhu cầu vẫn cao TTTD chậm lại trong khi huy động vốn tăng nhanh, cộng thêm việc NHNN mua được lượng lớn ngoại tệ và cung ứng tiền ròng khoảng gần 210.000 tỷ đồng từ đầu năm nên thanh khoản của hệ thống TCTD tương đối dồi dào trong ½ đầu năm nay
Trang 4Trên thực tế, không nhìn vào con số thống kê, cảm quan cũng nhận ra được các NH đang khá "thừa tiền" khi từ đầu tháng 3 đến nay không đua nhau dùng "chiêu" để thu hút người gửi tiền bằng các chương trình cộng LS hay khuyến mãi rầm rộ; thay vào đó hàng loạt NH điều chỉnh giảm lãi suất ở các kỳ hạn ngắn Mặc dù thanh khoản đang rất dồi dào,
LS trên thị trường LNH cũng đã xuống mức rất thấp, BVSC cho rằng khả năng giảm LS cho vay trên thị trường 1 cũng vẫn khó BVSC cho rằng trong 1/2 cuối năm, tăng trưởng tổng phương tiện thanh toán M2
có thể sẽ chậm lại trong khi TTTD có thể sẽ nhanh hơn nhưng về cơ bản, mức tăng trưởng của cả M2 và tín dụng cho cả năm 2018 sẽ thấp hơn 1-2% so với năm 2017 Theo đó, LS VND (huy động và cho vay) sẽ khó có điều kiện giảm, nhất là khi kiểm soát lạm phát, đảm bảo giá trị VND, ổn định tỷ giá vẫn đang là trọng tâm điều hành của Chính phủ trong giai đoạn hiện tại Thanh khoản dư thừa sẽ tạo thuận lợi cho nhà băng trong việc chủ động điều tiết nguồn tiền Tuy nhiên, điều này cũng
có thể ảnh hưởng tới lợi nhuận NH khi chi phí đầu vào cao nhưng thu nhập lãi từ cho vay thấp Tình trạng NH dư thừa vốn có thể chỉ mang tính chất ngắn hạn, nhất là trong thời gian đầu năm, tín dụng thường chưa bứt phá nhanh Khảo sát của Vụ thống kê dự báo NHNN cũng cho biết các TCTD kỳ vọng trong Q.III tới đây, dư nợ tín dụng của hệ thống
NH sẽ 5,99% (cao gấp 2 lần mức tăng thực tế của cùng kỳ 2017) Nhiều
NH cho biết sắp sử dụng hết "room" tín dụng và đang xin NHNN cho phép nới thêm Tuy nhiên, cũng phải lưu ý rằng, lạm phát tháng 6 tăng nhanh nhất trong 7 năm trở lại đây, việc đẩy tín dụng tăng quá mạnh trong thời gian ½ cuối năm có thể ảnh hưởng không tốt tới chỉ số CPI
Hơn nữa, năm 2018 NHNN cho biết sẽ duy trì tốc độ TTTD một cách hợp lý, dự kiến chỉ 17%, thấp hơn mức đạt được năm 2017 là 18,2%
Nhiều ngân hàng vẫn chật vật xử
lý nợ xấu
Theo số liệu của NHNN, từ năm 2012 đến hết tháng 3/2018, toàn hệ thống TCTD đã xử lý được hơn 753.000 tỷ đồng nợ xấu Đáng chú ý, số
nợ xấu xử lý theo Nghị quyết 42 đạt tổng cộng 100.500 tỷ đồng Chủ tịch HĐTV VAMC - ông Nguyễn Tiến Đông cho rằng, từ khi Nghị quyết
42 có hiệu lực, hiệu quả xử lý nợ xấu cao 1,5 lần so với các thời kỳ trước Đã có những biểu hiệu tích cực hơn trong xử lý nợ trong thời gian qua khi các NH tự tin và chủ động hơn để tự xử lý, ý thức trả nợ của khách hàng cũng tốt lên nhiều Thêm vào đó, chính bản thân VAMC cũng có những bước chuyển Trước đây, VAMC mua nợ xấu chủ yếu
Trang 5bằng trái phiếu đặc biệt và phân tích các khoản nợ xấu từ 30 tỷ trở lên
Tuy nhiên, từ 2018, VAMC hạn chế việc mua nợ xấu và phát hành trái hiếu đặc biệt, tiến hành phân tích, phân loại các khoản nợ xấu từ 10 tỷ trở lên và thực hiện mua bán đứt đoạn (mua theo cơ chế thị trường) Không thể phủ nhận những tín hiệu tốt trong quá trình xử lý nợ xấu của toàn ngành Thế nhưng, nhìn nhận một cách toàn diện, Nghị quyết 42 cũng không phải là đũa thần giúp giải quyết được hết tất cả vướng mắc, quan sát cho thấy nhiều nhà băng thời gian qua vẫn còn đang rất khó khăn, chật vật với các khoản nợ xấu lớn, đặc biệt trong việc đấu giá TSĐB Một số ý kiến cho rằng, việc liên tục điều chỉnh giá chào bán, hoãn phiên đấu giá nhiều lần cho thấy định giá tài sản của các NH vẫn còn chưa chuẩn, khiến việc xử lý nợ xấu kéo dài, mất thời gian và công sức Một số khác thì thêm rằng, không chỉ vấn đề xác định giá TSĐB,
NH hiện còn vướng mắc không ít ở tình trạng ách tắc khâu kê khai thuế, nộp thuế; hay các khoản vay có liên quan đến các vụ án và đang trong quá trình điều tra, xét xử khiến việc xử lý tài sản bảo đảm kéo dài,…
Việt Nam đứng thứ 14 thế giới về
tiêu thụ vàng
Theo số liệu thống kê của Hội đồng Vàng TG năm 2017, VN xếp thứ 14
thường có 2 mục đích chính cho việc mua vàng (i) Dùng vàng làm tài sản để tiết kiệm, đầu tư; (ii) Dùng vào cho nhu cầu trang sức Tâm lý xem vàng là một loại tài sản có tính tiết kiệm, đầu tư vẫn còn phổ biến tại VN Tính về số lượng, vàng miếng và tiền vàng vẫn chiếm tới 70%
tổng tiêu thụ vàng tại VN Tuy nhiên, con số đã này bắt đầu giảm mạnh
từ sau giai đoạn 2010-2013 khi Chính phủ ban hành các quy định nhằm kiểm soát thị trường vàng và chấm dứt tình trạng “vàng hóa” trong hệ thống NH Sự đi xuống của nhu cầu vàng miếng cũng đánh dấu một giai đoạn phát triển mới của vàng trang sức tại VN Trong giai đoạn 2012-2017 khi quy mô thị trường vàng miếng sụt giảm với tỷ lệ tăng trưởng kép giảm 13% thì thị trường trang sức vàng tăng trưởng kép 10%
mỗi năm Tuy nhiên, tỷ lệ tiêu thụ vàng trang sức/tổng tiêu thụ vàng tại
VN mới chỉ là 31%, trong khi con số này của các nước có cùng đặc điểm dân số/văn hóa trong khu vực là trên 50% (ngoại trừ Thái Lan), cho thấy dư địa tăng trưởng vẫn còn lớn Các cửa hàng truyền thống vẫn đang thống trị thị trường trang sức với 80% thị phần bán lẻ Ngoài độ bao phủ rộng khắp, các cửa hàng này còn có lợi thế lớn về niềm tin và mối quan hệ với khách hàng Do đặc tính về giá trị lớn cũng như vòng
Trang 6đời dài của mặt hàng trang sức, khách hàng thường lựa chọn gắn bó với những cửa hàng quen Mặt khác, các chuỗi bán lẻ hiện đại có lợi thế về giá bán và chất lượng đồng nhất, sản phẩm đa dạng về mẫu mã, chất lượng phục vụ tốt hơn, thế mạnh về quảng cáo và thương hiệu Với xu hướng chuyển dịch thói quen mua sắm sang kênh bán lẻ hiện đại của người tiêu dùng và yêu cầu ngày càng cao hơn về DV cũng như tính thời trang đối với các mặt hàng trang sức, miếng bánh thị phần sẽ được chia lại với sự mở rộng của các chuỗi bán lẻ
Trang 7Quản lý rủi ro đối với nợ công Chính phủ vừa ban hành Nghị định số 94/2018/NĐ-CP về nghiệp vụ
quản lý nợ công, trong đó, quy định về quản lý rủi ro đối với nợ công Cụ thể, mục tiêu quản lý rủi ro nhằm đảm bảo cơ cấu nợ công hợp lý, phù hợp với mục tiêu, định hướng đặt ra trong kế hoạch vay, trả nợ công 5 năm đã được Quốc hội quyết định; đảm bảo khả năng trả nợ trong trung hạn và nâng cao hiệu quả công tác quản lý nợ công; giảm thiểu những thiệt hại có thể xảy ra trong tình huống xấu nhất với chi phí phát sinh hợp lý Về nguyên tắc xử lý rủi ro, việc xem xét xử lý rủi ro được thực hiện cho từng trường hợp cụ thể căn cứ vào mức độ tổn thất có thể xảy
ra và nguyên nhân dẫn đến rủi ro; việc phòng ngừa và xử lý rủi ro phải căn cứ vào thoả thuận vay hoặc công cụ nợ gốc trong danh mục nợ công hiện hành, nguyên nhân phát sinh rủi ro, phù hợp với quy định pháp luật VN và thông lệ quốc tế Việc phòng ngừa rủi ro đối với danh mục nợ công phải thực hiện phù hợp với kế hoạch vay, trả nợ công 5 năm, chương trình quản lý nợ công 3 năm và kế hoạch vay, trả nợ hằng năm; tổ chức, cá nhân sử dụng vốn vay sai mục đích, cố ý làm trái quy định làm phát sinh rủi ro nợ công phải chịu trách nhiệm xử lý và bồi thường theo quy định của pháp luật Rủi ro đối với nợ công bao gồm:
Rủi ro về LS, tỷ giá ngoại tệ do biến động trên thị trường tài chính; rủi ro thanh khoản do thiếu các tài sản tài chính có tính thanh khoản để thực hiện đầy đủ, kịp thời các nghĩa vụ nợ đến hạn theo cam kết, bao gồm khả năng trả nợ của ngân sách trung ương và ngân sách địa phương;
rủi ro do biến động thị trường tài chính ảnh hưởng đến việc huy động vốn dẫn đến phải đảo nợ với chi phí cao hoặc mất khả năng đảo nợ; rủi
ro tín dụng do đối tượng được vay lại, đối tượng được bảo lãnh không trả được nợ đầy đủ, đúng hạn; các loại rủi ro khác có thể ảnh hưởng đến an toàn nợ công…
Không tăng giá điện: Giải pháp
tạm thời đảm bảo lạm phát dưới
4%
Nghị quyết phiên họp Chính phủ với các địa phương và phiên họp thường kỳ tháng 6/2018, một lần nữa nhấn mạnh nội dung “kiểm soát lạm phát” để hỗ trợ tăng trưởng Nghị quyết yêu cầu Bộ KH&ĐT cập nhật các kịch bản tăng trưởng 6th cuối 2018 và Kế hoạch phát triển
KT-Kinh tế Việt Nam
Trang 8XH năm 2019, có tính đến các diễn biến mới trên thị trường quốc tế về giá cả hàng hóa, chu chuyển thương mại, đầu tư, tài chính “Lạm phát tiếp tục gia tăng trong Q.II, nối tiếp xu hướng của Q.I năm nay”, Báo cáo KT Q.II của Viện Nghiên cứu KT và Chính sách (VEPR) nhận đinh
Lạm phát toàn phần tăng dần từ 2,66% trong tháng 3 lên 4,67% vào tháng 6 Tính chung 6th/2018, CPI BQ 3,29% so với cùng kỳ 2017
Đồng thời, CPI tính đến cuối 6/2018 2,22% so với cuối 12/2017 “Việc phục hồi giá của nhóm hàng ăn và DV ăn uống, đặc biệt là thực phẩm, dẫn tới việc lạm phát gia tăng”, Viện trưởng VEPR, TS.Nguyễn Đức Thành, nhận xét Ông cho rằng, nhóm này có quyền số lớn trong rổ hàng hóa CPI (36,12%) và đã tăng giá tới 5,1% so với cùng kỳ 2017, mức tăng cao nhất kể từ năm 2014 Thậm chí, tới đây, đóng góp vào CPI của nhóm hàng ăn uống dự kiến sẽ còn lớn hơn, nếu giá thực phẩm, đặc biệt là thịt lợn, hồi phục về mức trước khủng hoảng dư cung thịt lợn năm ngoái Các DV công tiếp tục là nhân tố đóng góp quan trọng cho sự gia tăng CPI trong Q.II Việc tất cả các địa phương đã hoàn thành tăng giá DV y tế với các đối tượng không có thẻ BHYT khiến giá nhóm hàng thuốc và DV y tế tháng 6 12,96% so với cùng kỳ 2017, riêng DV y tế 16,73% Bên cạnh đó, CPI nhóm hàng giáo dục cũng
6,12% tại thời điểm cuối Q.II/2018 so với cùng kỳ 2017, trong đó DV giáo dục 6,81% Trong bối cảnh giá nhiên liệu trên thị trường TG không ngừng tăng từ đầu năm 2018, giá xăng dầu trong nước cũng liên tục được điều chỉnh tăng theo Tính BQ 6th/2018, giá xăng dầu đã
13,95% so với cùng kỳ 2017, đóng góp 0,59% vào CPI tổng
TS.Thành cho rằng, tới đây khi giá nhiên liệu TG không có dấu hiệu hạ nhiệt cùng với việc thuế môi trường đánh trên xăng dầu tăng kịch trần lên 4.000 đồng/lít, nhóm hàng giao thông, đặc biệt là xăng dầu, sẽ tiếp tục đóng góp lớn cho mức tăng CPI chung Trước nguy cơ lạm phát tăng cao trong những tháng còn lại của năm 2018, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đã ra chỉ đạo không tăng giá điện trong năm nay “Chúng tôi đánh giá, đây chỉ là giải pháp tạm thời để đạt mục tiêu lạm phát bình
điều chỉnh vào cuối tháng 11/2017, với mức giá mới là 1.720,65 đồng/kWh (chưa bao gồm VAT), 6,08% so với giá bán điện BQ hiện hành (1.622,01 đồng/kWh) Thời điểm điểu chỉnh là 01/12/2017
Trang 9Nợ toàn cầu chạm kỷ lục mới:
247.000 tỷ USD
Theo báo cáo của Viện Tài chính Quốc tế (IIF), khoản nợ toàn cầu đã chạm mức kỷ lục mới với 247.000 tỷ USD trong Q.I/2018 Theo đó, lĩnh vực phi tài chính đã chiếm tới 186.000 tỷ USD Tỷ lệ Nợ/GDP đã vượt mức 318%, đánh dấu quý tăng đầu tiên trong 2 năm qua Trong đó, nợ của DN và hộ gia đình đã lên kỷ lục mới ở nhiều thị trường bão hòa
Mức nợ cao chưa từng thấy này là một trong những nỗi lo của NĐT, bên cạnh mối quan ngại về lộ trình thắt chặt CSTT của FED và tác động của chiến tranh thương mại… Trưởng Bộ phận KT Mỹ tại Natixis nhận định, NĐT nên lo ngại về khoản nợ DN “KV DN đang có đòn bẩy cao
và có thể rất dễ bị tác động trước đà tăng của LS Các công ty đã tận dụng mức LS thấp để đi vay trên thị trường vốn và chỉ mua lại cổ phiếu trên TTCK Với Sự bất ổn vốn có của việc tài trợ bằng nợ thay vì vốn cổ phần, cuộc suy thoái kế tiếp có thể tác động nặng nề tới chi tiêu đầu tư”
… Tình trạng biến động trên thị trường và áp lực lạm phát từ cuộc chiến thương mại có thể tác động mạnh tới các tài sản Những người vay nợ bên ngoài nước Mỹ và các thị trường mới nổi cũng đang xem xét tới các rủi ro cụ thể, nhất là trong bối cảnh lợi suất và LS đều gia tăng - điều này khiến việc tái tài trợ và trả nợ bằng USD trở nên đắt đỏ hơn
Ấn Độ vượt Pháp trở thành nền
kinh tế lớn thứ 6 thế giới
Dữ liệu mới nhất World Bank cho thấy, Ấn Độ đã vượt qua Pháp trở thành nền KT lớn thứ 6 trên thế giới GDP 2017 của Ấn Độ đạt 2.597 tỷ USD, vượt qua quy mô 2.582 tỷ USD của Pháp Trong 10 năm qua, GDP của Ấn Độ đã tăng gấp đôi nhưng nước này có tới 1,34 tỷ dân, nhiều hơn khoảng 20 lần so với Pháp Với dự báo tăng trưởng khoảng 7,3% trong vòng 2 năm tới, Ấn Độ đang là một trong những nền KT mới nổi tăng trưởng nhanh nhất thế giới Dự báo tốc độ tăng trưởng của nước này sẽ đạt khoảng 7,5% trong 2019-2020 "KT Ấn Độ hiện đang tăng trưởng mạnh mẽ, linh hoạt và có tiềm năng tăng trưởng bền
vào 2022 HSBC cho rằng, nước này có thể vượt qua Nhật và Đức để trở thành nền KT thứ 3 thế giới trong thập kỷ tới Dự báo này cũng nhận được đồng tình của PricewaterhouseCoopers (PwC) Năm ngoái, PwC
Kinh tế Quốc tế
Trang 10dự báo trong vòng 3 thập kỷ tới, KT toàn cầu sẽ bị thống trị bởi TQ và
Mỹ sẽ mất vị thế và tụt xuống sau Ấn Độ Nga sẽ trở thành nền KT dẫn đầu tại châu Âu, vượt qua Đức, Anh và Italy với GDP #7.000 tỷ USD
Trung Quốc đổi chiến thuật trong
đối đầu thương mại với Mỹ
Do tầm ảnh hưởng sâu rộng của Mỹ, TQ đang chọn chiến thuật mềm mỏng hơn, tìm kiếm các đồng minh tiềm năng từ châu Á, châu Âu và ngay trong chính nước Mỹ để đối phó chính sách thuế quan của Tổng thống Trump Cụ thể, khi Mỹ áp thuế lên 34 tỷ USD hàng hóa TQ và đe dọa đánh thuế tiếp với 200 tỷ USD hàng hóa trong vòng 2th nữa, do tầm quan trọng của các khoản đầu tư từ Mỹ và quan hệ song phương Mỹ - Trung, TQ chọn cách tiếp cận bình tĩnh hơn bằng việc cố gắng thu hút đầu tư Thặng dư thương mại khổng lồ với Mỹ khiến TQ không thể đáp trả Mỹ thẳng tay Các nhà đàm phán thương mại TQ tập trung tìm kiếm các đồng minh tiềm năng TQ đưa ra các nhượng bộ đầu tư nhằm thu hút sự ủng hộ từ các quan chức Washington chủ trương hỗ trợ DN
Thay vì đánh trực tiếp vào các công ty Mỹ, TQ giúp đối thủ của các DN
Mỹ tiếp cận thị trường tốt hơn TQ thực hiện một loạt cải cách, hỗ trợ các tập đoàn châu Âu và Nhật phát triển Động thái này nhằm nhắc nhở các tập đoàn Mỹ về sức mạnh chia rẽ thị trường của TQ TQ không muốn xua đuổi các NĐTNN hay mất những khoản đầu tư và khoản vay
mà họ đang rất cần Các công ty Nhật và Hàn Quốc đã tránh xa TQ sau khi bị Bắc Kinh đè bẹp do tranh chấp thương mại Ngay cả việc đáp trả thuế quan cũng có thể khiến lạm phát tăng vọt, gây thiệt hại cho TQ