Đề cương tuyên truyền kỷ niệm 20 năm tái lập tỉnh Vĩnh Long và 37 năm ngày giải phóng hòan toàn miền Nam thống nhất Tổ quốc ĐỀ CƯƠNG Tuyên truyền kỷ niệm 290 năm thành lập Long Hồ dinh, 190 năm thành[.]
Trang 1ĐỀ CƯƠNG
Tuyên truyền kỷ niệm 290 năm thành lập Long Hồ dinh,
190 năm thành lập tỉnh Vĩnh Long, 30 năm tái lập tỉnh Vĩnh Long
và 47 năm Ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước
-
1 Lịch sử hình thành và phát triển của Long Hồ dinh (dinh Long Hồ)
Dinh Long Hồ hay Long Hồ dinh (theo chữ Hán chính thể) là một địa danh ở miền Nam vào thời chúa Nguyễn vào Nam khai hoang, lập nghiệp
Trước khi trở thành lãnh thổ của nước ta, vùng đất Nam Bộ ngày nay
thuộc Vương quốc Phù Nam (từ thế kỷ thứ I đến thế kỷ thứ VII) và Vương quốc Chân Lạp (từ thế kỷ VII đến thế kỷ XVI)
Trong các giai đoạn lịch sử, giữa Vương triều Nguyễn của Việt Nam và triều đình Chân Lạp đã tồn tại mối quan hệ hữu nghị và hòa bình Vào đầu thế
kỷ XVI, do sự can thiệp của Xiêm (Thái Lan ngày nay), triều đình Chân Lạp bị chia rẽ sâu sắc và ngày càng suy yếu, không có điều kiện và đủ sức quản lý vùng đất Nam Bộ Nhiều cư dân Việt từ đất Thuận Quảng đã vào vùng Mô Xoài, Đồng Nai (miền Đông Nam Bộ) khai khẩn đất hoang, lập làng, sinh sống
Năm 1620, vua Chân Lạp là Chey Chetta II cưới công chúa Ngọc Vạn, con gái của chúa Nguyễn Phúc Nguyên làm vợ Quan hệ hữu hảo này đã tạo điều kiện thuận lợi hơn cho cư dân người Việt vốn đã có mặt từ trước và từ các nơi khác di cư đến khai khẩn đất hoang, làm ăn sinh sống trên vùng đất Nam Bộ Năm 1623, để quản lý và thu thuế trong cư dân Việt đã có mặt ở hầu khắp miền Đông Nam Bộ và Sài Gòn, chúa Nguyễn đã lập ở vùng Sài Gòn ngày nay một trạm thu thuế
Cùng thời kỳ này, chúa Nguyễn đã chấp nhận cho một số dân cư, quan lại của Trung Quốc đã vượt biển đến đây và xin phép được cư trú, tổ chức khai phá
và phát triển kinh tế Năm 1708, Mạc Cửu ở Hà Tiên xin quy phục chúa Nguyễn Với sự có mặt của các nhóm người Hoa cùng với người Kinh, người Khmer sinh cơ, lập nghiệp từ trước, đã hình thành nên các trung tâm kinh tế quan trọng với nhiều làng mạc, khu dân cư tập trung, chợ, bến thuyền… ở vùng đất Nam Bộ Nhiều thuyền buôn của Trung Quốc, Nhật Bản, Tây Dương (người châu Âu), Bồ Bà (Java) tới đây buôn bán… Trên cơ sở những tụ điểm dân cư đông đúc đã hình thành, năm 1698 chúa Nguyễn đã cử thống suất Nguyễn Hữu Cảnh vào kinh lý vùng đất Nam Bộ và cho lập ra ở đây một đơn vị hành chính lớn là phủ Gia Định Đó là sự xác lập quyền lực, khẳng định chủ quyền trên thực
tế của vương triều Việt Nam trên vùng đất Nam Bộ
Sau khi đặt phủ Gia Định, dựng dinh Trấn Biên và Phiên Trấn vào năm Mậu Dần (1698) Năm 1732 vị chúa thứ 7 của dòng họ Nguyễn là Ninh Vương - Nguyễn Phúc Trú (còn có tên gọi khác là Chú, Thụ, ở ngôi từ 1725 đến 1738) đã thành lập ở phía Nam của dinh Phiên Trấn một đơn vị hành chính mới là dinh Long Hồ Sự thành lập dinh Long Hồ đã trở thành dấu mốc quan trọng đối với tiến trình lịch sử của vùng đất phía Nam sông Tiền nói chung và lịch sử tỉnh
Trang 2Vĩnh Long nói riêng Có thể nói vùng đất Vĩnh Long cũng được khai sinh khi dinh Long Hồ được thành lập
Từ đó, dinh Long Hồ đã trở thành một dinh trấn quan trọng: buổi đầu, lỵ sở dinh Long Hồ đặt ở thôn An Bình Đông, huyện Kiến Đăng hay còn gọi là đình Cái
Bè (lỵ sở châu Định Viễn cũng đặt tại đây, nay thuộc huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang) Các chức vụ đầu dinh có Lưu Thủ, Cai Bạ và Ký Lục trông coi việc quân
sự, hành chính và thuế vụ cho cả một miền đất rộng lớn Cùng với quá trình khai thác những vùng đất còn hoang vu của cư dân vùng Nam Bộ, chính quyền các chúa Nguyễn đã liên tục thực hiện các chính sách quản lý lãnh thổ với tư cách là chủ nhân vùng đất này Từ thế kỷ XVII, các chúa Nguyễn bắt đầu lập ra các đơn vị hành chính, sắp đặt quan cai trị, lập sổ sách quản lý dân đinh, ruộng đất và định ra các loại thuế
Năm Mậu Ngọ (1738), chúa Nguyễn Phúc Khoát nối ngôi, thì năm sau (1739), Long Hồ dinh có thêm bốn huyện nữa do đô đốc Mạc Thiên Tứ đem dâng, đó là: Long Xuyên (vùng Cà Mau), Kiên Giang (vùng Rạch Giá), Trấn Giang (vùng Cần Thơ), Trấn Di (vùng phía Bắc tỉnh Bạc Liêu)
Sau năm 1744, chúa Nguyễn đem tất cả những miền đất phương Nam đã
mở mang đặt thành ba dinh và một trấn là: Trấn Biên dinh (vùng Biên Hòa), Phiên Trấn dinh (vùng Gia Định), Long Hồ dinh (vùng Vĩnh Long) và Hà Tiên trấn (vùng Hà Tiên) Trừ Hà Tiên lúc đầu còn là một vùng đất phụ thuộc, mỗi dinh còn lại quản hạt một phủ, dưới phủ có huyện, tổng hay xã
Năm Quý Dậu (1753) thời Nặc Nguyên làm vua Chân Lạp, người Côn Man (tức người Chiêm Thành sang làm ăn tại xứ ấy) bị hà hiếp Lại được tin ông vua này vừa thông sứ với chúa Trịnh để lập mưu đánh mình, lập tức chúa Nguyễn Phúc Khoát sai Nguyễn Cư Trinh sang đánh Nặc Nguyên, giải thoát được khoảng 5.000 người Côn Man
Bị truy nã, năm 1755, Nặc Nguyên chạy sang Hà Tiên nhờ Mạc Thiên Tứ tâu lên chúa Nguyễn xin dâng hai vùng đất là Tầm Bôn và Lôi Lạp (nay là Tân
Cũng trong năm này, theo đề nghị của ký lục dinh Long Hồ là Nguyễn Cư Trinh và thống suất Trương Phước Du, chúa Nguyễn thuận cho dời lỵ sở dinh Long Hồ và Châu Định Viễn về xứ Tầm Bào thuộc địa phận Long Hồ thôn (thuộc thành phố Vĩnh Long ngày nay) Cử Tống Phước Hiệp làm lưu thủ, đồng thời chúa Nguyễn còn cho lập ba đạo để hỗ trợ việc coi giữ đó là: Đông Khẩu (ở
Trang 3phía Nam Sa Đéc), Tân Châu (ở đầu Cù lao Giêng, không phải tại thị trấn Tân Châu ngày nay) và Châu Đốc Đến lúc ấy, Long Hồ dinh là một dinh trấn quan trọng ở phía Nam xứ Đàng Trong và là trung tâm đầu não có trách nhiệm cai quản cả một vùng đất rộng lớn
Đề cập đến vai trò này, nhà văn Sơn Nam viết: kiểm soát sông Tiền, sông Hậu là vấn đề mà các chúa Nguyễn luôn quan tâm, nhất là về mặt quân sự và về canh tác Muốn dùng binh lên Cao Miên, phải cho chiến thuyền đi ngược sông Tiền
để đến Nam Vang Và đây còn là vùng đất lý tưởng “sông sâu nước chảy” với những bờ đất phù sa cao ráo, rất thuận lợi cho việc trồng trọt dinh Long Hồ kiểm soát được hai con sông lớn ấy Đồng thời dinh này còn bao trùm luôn vùng biển vịnh Xiêm La với Long Xuyên đạo (Cà Mau), Kiên Giang đạo (Rạch Giá), chỉ trừ vùng Ba Thắc (Sóc Trăng) nơi người Miên sống quá tập trung thì việc cai trị vẫn thuộc về họ
Tháng 11 (âm lịch) năm Kỷ Hợi (1779), chúa Nguyễn Phúc Ánh sau khi chiếm lại đất Gia Định từ tay Tây Sơn, đã duyệt lại bản đồ các dinh trong Gia Định, quyết định đổi tên dinh Long Hồ thành dinh Hoằng Trấn, lỵ sở đặt ở bãi
Bà Lụa, thuộc huyện Tuân Nghĩa, phủ Lạc Hóa (nay là xã An Phú Tân, huyện
Cầu Kè, tỉnh Trà Vinh), lãnh việc coi châu Định Viễn và ba tổng là Bình An,
Bình Dương và Tân An
Kể từ năm 1779, trên giấy tờ, địa danh Long Hồ dinh xem như không còn tồn tại nữa Kể từ đó, Long Hồ dinh xưa lần lượt trải qua các tên gọi khác và địa phận cai quản của nó cũng bị thu hẹp dần:
- Năm 1779-1804: gọi là Hoằng Trấn dinh Tuy nhiên, vẫn có người gọi theo tên cũ là Long Hồ dinh
- Năm 1804-1808 gọi là Trấn Vĩnh dinh (hay Vĩnh Trấn dinh)
- Tháng giêng năm 1808 -1832 gọi là Vĩnh Thanh trấn
- Đến năm Minh Mạng thứ mười ba (năm 1832), vua Minh Mạng chia Nam
Kỳ thành lục tỉnh, trấn Vĩnh Thanh được đổi thành trấn Vĩnh Long, phân hạt gọi là
tỉnh Vĩnh Long, cai quản 4 phủ, 8 huyện, 47 tổng, 408 xã, thôn Tên gọi Vĩnh Long bắt đầu từ đây
2 Vĩnh Long dưới thời các vua triều Nguyễn (1802-1867)
Về địa giới hành chính, sau nhiều lần chia cắt địa giới hành chính, đến
trước khi thực dân Pháp xâm lược đánh chiếm Vĩnh Long lần thứ nhất (1862), tỉnh Vĩnh Long có 3 phủ và 8 huyện, gồm: phủ Định Viễn, có 2 huyện là Vĩnh Bình, Vĩnh Trị; phủ Hoằng Trị, có 4 huyện là Bảo Hựu, Bảo An, Tân Minh và Duy Minh; phủ Lạc Hóa, có 2 huyện là Tuân Nghĩa, Trà Vinh Tên gọi Vĩnh Long tồn tại đến năm 1950
Về kinh tế - văn hóa, trong thế kỷ XVIII, hoạt động kinh tế chủ yếu của cư
dân Long Hồ là sản xuất nông nghiệp và đánh bắt thủy sản Ở nửa cuối thế kỷ XVIII, các dải đất giồng ven sông rạch, các cù lao thuộc địa bàn Long Hồ dinh trở thành vùng trù phú nhất đồng bằng sông Cửu Long Sản lượng lúa thu hoạch
Trang 4được ở Long Hồ dinh không những đáp ứng đủ nhu cầu lương thực tại chỗ mà còn dư thừa cung cấp cho vùng Thuận - Quảng và bán cho cả thương nhân các nước trong khu vực
Sự phát triển sản xuất nông nghiệp dẫn đến sự hình thành nhiều bến cảng trên các sông, rạch Cổ Chiên, Hàm Luông, Long Hồ, Mân Thít (Măng Thít), Trà
Ôn, Trà Vinh làm nơi buôn bán lúa gạo và các sản vật khác của địa phương như: trái cây (nhất là cau, xoài, dưa hấu) và thủy sản (nhất là tôm, cá, khô) Lỵ
sở dinh Long Hồ dần dần trở thành trung tâm thương mại lớn của đồng bằng sông Cửu Long, có vị trí quan trọng trên trục giao thông - thương mại Gia Định
- Mỹ Tho - Hà Tiên
Cùng với sản xuất nông nghiệp và hoạt động thương mại, sản xuất tiểu thủ công nghiệp cũng ngày càng khởi sắc ở đất Long Hồ dinh Các ngành nghề thủ công xuất hiện sớm và mang tính phổ biến trong một bộ phận cư dân Long
Hồ dinh là cưa xẻ gỗ (để đóng xuồng ghe và vật dụng bằng gỗ); dệt chiếu, dệt vải, dệt lụa; đan lát tre, trúc, mây; ép dầu phộng, ép trái mù u; ép đường mía, nấu rượu, nghề rèn Mặt khác, trên nguồn nguyên liệu sẵn có từ sản phẩm nông nghiệp, hầu như thôn xóm nào cũng có các lò làm bánh tráng, bánh phồng, bún, tàu hủ ky, kẹo đậu phộng, kẹo mạch nha Về sau, có thêm các nghề làm cối xay
và xay xát lúa gạo, sản xuất gạch ngói
Trên nền tảng kinh tế ổn định, người dân Long Hồ dinh đã tạo dựng cho mình đời sống văn hóa - tinh thần phong phú, giàu ý nghĩa và giá trị Từ buổi đầu khai hoang lập ấp cho đến những năm cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX, sự giao thoa văn hóa Kinh - Khmer - Hoa trên đất Long Hồ - Vĩnh Trấn xưa và Vĩnh Long ngày nay kết tinh thành những tài sản văn hóa dân gian trên các lĩnh vực văn học, nghệ thuật mang đậm bản sắc của nền văn minh sông nước, văn minh miệt vườn, thực sự là nét son truyền thống văn hóa độc đáo của cư dân miền đất trung tâm đồng bằng sông Cửu Long Đó cũng chính là xuất phát điểm để Long
Hồ - Vĩnh Trấn (sau này là tỉnh Vĩnh Long) dưới triều Nguyễn trở thành một trong những địa phương khắc ghi được dấu ấn văn hóa - giáo dục sâu sắc và đậm nét nhất ở Nam Kỳ
3 Truyền thống yêu nước của các tầng lớp nhân dân ở Vĩnh Long
Vĩnh Long là vùng đất cộng cư của nhiều dân tộc: Kinh, Khmer, Hoa Mỗi dân tộc mang theo bản sắc văn hóa riêng của dân tộc mình nhưng không có
sự khác biệt trong đời sống tinh thần, mà trái lại, có sự hài hòa, bổ sung cho nhau, tạo nên nét văn hóa riêng của vùng đồng bằng, sông nước, làm cho đời sống tinh thần của cộng đồng dân cư ngày thêm phong phú, đa dạng, được quy định bởi tính cộng đồng đoàn kết, thương yêu, đùm bọc lẫn nhau thể hiện qua câu ca dao thắm đượm nghĩa tình: “Bầu ơi, thương lấy bí cùng/ Tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn”
Có được như vậy là vì trong mỗi tấc đất nơi đây đều thấm mồ hôi, nước mắt và cả máu xương của các dân tộc cùng sống chung, cùng khai phá và gìn
Trang 5giữ mảnh đất này Đó là nét văn hóa được lưu truyền từ đời này sang đời khác, được gìn giữ và trở thành truyền thống của nhân dân ta bao đời nay
Người dân Vĩnh Long cũng như những cư dân Nam Bộ là những người có công khai khẩn đất hoang, xây dựng cuộc sống trong điều kiện hết sức khó khăn, khắc nghiệt của buổi ban đầu khai cơ lập nghiệp Vì vậy, hơn ai hết, họ rất yêu quý mảnh vườn, thửa ruộng mà họ xây đắp bởi mồ hôi, nước mắt và cả máu xương của bao đời Họ không tiếc máu xương quyết tâm bảo vệ khi bị mọi kẻ thù cướp đoạt Là những con người cùng cảnh ngộ, vì nghèo khổ mà phải phiêu bạt tới vùng đất này nên trong các thôn, xóm (trừ số ít giàu có, bóc lột), họ đối
xử với nhau hết sức thân tình, bình đẳng Chính từ cuộc sống đầy gian lao, thử thách và từ trong mối quan hệ thâm tình, đùm bọc lẫn nhau ấy đã hình thành nên những đức tính cao đẹp như: giàu lòng thương yêu, trọng nghĩa khinh tài, sẵn sàng hy sinh vì nghĩa, chí cốt và chung thủy trong tình bè bạn, chan hòa, cởi mở trong quan hệ làng xóm, láng giềng; cương trực, thẳng thắn, rộng rãi, hiếu khách; coi trọng lẽ công bằng trong đối nhân, xử thế
Ngoài ra, con người sống trong vùng đất mới cũng là những con người giàu tính mạo hiểm, không sợ khó, sợ khổ; không ngại gian nguy khi gặp việc phải làm Theo thời gian, những đức tính quý báu ấy dần trở thành nét truyền thống cao đẹp của người nông dân Nam Bộ nói chung và người dân Vĩnh Long nói riêng Đã có nhiều phong trào tự phát của nông dân đấu tranh chống lại bọn cường hào, ác bá bóc lột và cướp đoạt ruộng đất đã diễn ra Bên cạnh đó, họ còn hưởng ứng và tham gia tích cực các phong trào chống thực dân Pháp mang tính nông dân và tiểu tư sản sau này Tuy các cuộc khởi nghĩa thất bại và bị khủng bố
dã man, đẫm máu nhưng để thể hiện được lòng yêu nước và tinh thần bất khuất của dân tộc ta
4 Những cuộc đấu tranh tiêu biểu ở Vĩnh Long từ năm 1867 đến Cách mạng tháng Tám năm 1945
Chủ nghĩa đế quốc đang trên đà phát triển và đẩy mạnh quá trình xâm chiếm thuộc địa Việt Nam trở thành đối tượng của các nước đế quốc, đặc biệt là thực dân Pháp, quốc gia chưa có thuộc địa nào ở khu vực Đông Nam Á Năm
1858, Pháp nổ súng tấn công Đà Nẵng bất thành, chúng chuyển hướng tấn công vào Gia Định Sau khi đánh chiếm xong các tỉnh miền Đông Nam kỳ, ngày 20 tháng 5 năm 1862, thực dân Pháp tấn công Vĩnh Long, Tổng đốc và binh lính Vĩnh Long ra sức chống trả quyết liệt nhưng trước sự uy hiếp dữ dội của quân đội Pháp đặc biệt là uy thế về vũ khí, Tổng đốc Trương Văn Uyển buộc phải rút quân, Vĩnh Long rơi vào tay thực dân Pháp
Trước tình hình trên triều đình Huế đã ký với thực dân Pháp hòa ước Nhâm Tuất với những điều khoản hết sức nặng nề nhường ba tỉnh miền Đông Nam kỳ cho Pháp, đồng thời cũng theo hòa ước này Pháp sẽ trả lại Vĩnh Long cho triều đình Huế Tuy được trao trả sau hòa ước Nhâm Tuất nhưng tinh thần chống Pháp của nhân dân Vĩnh Long dâng cao, tích cực tham gia hưởng ứng trong các cuộc khởi nghĩa trong vùng
Trang 6Không từ bỏ dã tâm chiếm trọn Nam kỳ và toàn cõi Việt Nam, ngày 20 tháng 6 năm 1867, thực dân Pháp tấn công Vĩnh Long lần 2, trước thế giặc mạnh Kinh lược đại thần Phan Thanh Giãn đã giao thành Vĩnh Long cho Pháp
Ngay khi thực dân Pháp đánh chiếm Vĩnh Long, hoạt động chống thực dân Pháp của nhân dân Vĩnh Long nổ ra liên tục, hưởng ứng các cuộc khởi nghĩa trong vùng Tiêu biểu như: cuộc khởi nghĩa do Phan Tôn, Phan Liêm (02 người con của Phan Thanh Giản) lãnh đạo, nổ ra ở vùng Hoằng Trị (Bến Tre ngày nay) vào tháng 8 năm 1867, lan rộng đến Định Tường, Vĩnh Long; cuộc khởi nghĩa của lãnh tụ Chương ở vùng Sóc Trăng vào tháng 8 năm 1867, lan rộng đến vùng
Ba Thắc, Trà Ôn; cuộc khởi nghĩa Long Điền - Cầu Ngang, Trà Vinh vào tháng 8 năm 1867; cuộc khởi nghĩa Hương Điền - Trà Ôn do Phó soái An chỉ huy vào tháng 10 năm 1867; cuộc khởi nghĩa Ba Động vào tháng 3 năm 1868, do Tám Lý,
Lê Tấn Kế, Đề đốc Triệu, Đốc binh Sang lãnh đạo; cuộc khởi nghĩa ở Rạch Giá vào tháng 6 năm 1868 do Nguyễn Trung Trực lãnh đạo; cuộc khởi nghĩa ở Vĩnh Long, An Giang vào mùa thu năm 1872 do Lê Công Thành, Lâm Lễ, Âu Dương Lân lãnh đạo Đặc biệt, cuộc khởi nghĩa Vĩnh Trị (Vũng Liêm) vào năm 1872 do Đốc binh Lê Cẩn, Nguyễn Giao và Phó Mai lãnh đạo diễn ra tại Cầu Vông, giết chết Chánh tham biện Alix Salicetti
Sang đầu thế kỷ XX, khi hàng loạt các phong trào yêu nước chống Pháp theo khuynh hướng phong kiến thất bại, vào trung tuần tháng giêng năm 1903, Phan Bội Châu bí mật đến Tam Bình, Trà Ôn để vận động đóng góp của cải vật chất và cho con em Vĩnh Long tham gia xuất dương cầu học Phong trào Đông
du được nhân dân Vĩnh Long tích cực hưởng ứng với hơn 30 du học sinh Vĩnh Long tham gia xuất dương sang Nhật du học1
đồng thời là nơi ủng hộ rất nhiều tiền của cho phong trào Đông du
Trước sự lớn mạnh của phong trào Đông du, thực dân Pháp cấu kết với Nhật tẩy chay, đàn áp phong trào, trục xuất lưu học sinh Việt Nam ra khỏi Nhật, nhiều người bị bắt lưu đày ở nhiều nơi, phong trào Đông du tan rã Phong trào tuy thất bại nhưng đã hình thành các cơ sở cách mạng ở Tam Bình, Trà Ôn là nền tảng để các phong trào cách mạng ở Vĩnh Long kế thừa và phát huy trong các giai đoạn cách mạng sau này
Ngoài ra, một số phong trào yêu nước mang màu sắc khác nhau cũng xuất hiện ở Vĩnh Long như: phong trào Thiên địa Hội, những hoạt động của Minh sư đạo; phong trào ủng hộ các hoạt động chống Pháp của nhà yêu nước Nguyễn An Ninh…
Trong những năm 1925-1926, hưởng ứng phong trào đấu tranh của nhân dân Nam Kỳ, nhân dân Vĩnh Long đã dấy lên phong trào đòi thả nhà yêu nước Phan Bội Châu (1925), để tang cụ Phan Châu Trinh (1926)
Sau khi hàng loạt các phong trào yêu nước chống Pháp theo con đường phong kiến và dân chủ tư sản lần lượt thất bại, các phong trào đấu tranh theo khuynh hướng vô sản đang dần hình thành và ngày càng phát triển Tháng 6 năm
1 Là tỉnh có số du học sinh nhiều thứ hai cả nước chỉ sau Nghệ An
Trang 71925 tại Quảng Châu (Trung Quốc) Hội Việt Nam cách mạng thanh niên (hay còn gọi là Tổ chức Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí Hội) được thành lập và nhanh chóng phát triển trong cả nước2
Đầu năm 1927, Kỳ bộ của Hội Việt Nam cách mạng Thanh niên ở Nam Kỳ được thành lập Đến tháng 6 năm 1927, Kỳ bộ cử đồng chí Nguyễn Văn Côn là Ủy viên Ban chấp hành về Vĩnh Long chọn và kết nạp các ông: Nguyễn Văn Thiệt, Nguyễn Văn Đại và Châu Văn Ký vào Hội, lễ kết nạp diễn
ra tại Vạn Huệ Đường3
Đầu năm 1928, Hội Việt Nam cách mạng Thanh niên tỉnh Vĩnh Long được thành lập tại Ngã Tư Long Hồ do đồng chí Nguyễn Văn Thiệt lãnh đạo Để
mở rộng địa bàn hoạt động, Hội đã cử các đồng chí đến nhiều nơi trong tỉnh để hoạt động, đồng thời Hội cũng đã xúc tiến tổ chức cơ quan ngôn luận và tuyên truyền cách mạng của mình bằng tờ báo Công - Nông - Binh nội dung tuyên truyền xoay quanh tác phẩm Đường kách mệnh của Nguyễn Ái Quốc, các báo Thanh niên, Nhân đạo… và các loại sách, báo tiến bộ khác
Tháng 7 năm 1929, Ban chấp hành Hội Việt Nam cách mạng Thanh niên Nam Kỳ chuyển thành Chi bộ An Nam Cộng Sản Đảng (ANCSĐ) Tháng 9 năm
1929, chi bộ An Nam Cộng sản Đảng tỉnh Vĩnh Long cũng được thành lập và cử đồng chí Nguyễn Văn Nhung làm bí thư Chi bộ An Nam Cộng sản Đảng đã tích cực hoạt động và tổ chức thêm những Chi bộ ở các quận Tam Bình, Vũng Liêm, Châu Thành và Trà Ôn
Tháng 3 năm 1930, đồng chí Châu Văn Liêm được cử về chỉ đạo tỉnh Vĩnh Long với nhiệm vụ xúc tiến các hoạt động và tổ chức hội nghị tại Ngã tư Long Hồ để chuyển chi bộ An Nam cộng sản Đảng Ngã tư Long Hồ thành chi
bộ Đảng cộng sản Việt Nam đầu tiên của tỉnh Vĩnh Long và các chi bộ An Nam cộng sản khác trong tỉnh cũng lần lượt được chuyển thành chi bộ Đảng cộng sản Việt Nam Từ đây, các chi bộ phân công cán bộ đi các nơi tích cực hoạt động và xây dựng thêm nhiều chi bộ Đảng khác
Dưới sự lãnh đạo của các chi bộ đảng Cộng sản của tỉnh Vĩnh Long, phong trào đấu tranh của quần chúng nhân dân trong tỉnh đòi các quyền lợi kinh
tế kết hợp với khẩu hiệu đấu tranh chính trị: chống đế quốc, phong kiến ngày một dâng cao Tiêu biểu như cuộc biểu tình của nhân dân hai làng Long Phước
và Phước Hậu tháng 3 năm 1930, cuộc mít tinh hưởng ứng ngày Quốc tế lao động 01 tháng 5 của đông đảo đồng bào các quận Châu Thành, Tam Bình, Vũng Liêm do ông Châu Văn Sanh (Công tử Lời) dẫn đầu, cuộc biểu tình đòi bỏ thuế đuôi chuột do chi bộ Vĩnh Xuân lãnh đạo… Trong quá trình lãnh đạo cách mạng nhiều chi bộ đã phát triển thêm nhiều đảng viên mới và thành lập thêm một số Chi bộ mới, đến đầu năm 1931 ở Vĩnh Long đã có 12 chi bộ được thành lập4
Trước sự lớn mạnh của các tổ chức Đảng, xứ ủy Nam Kỳ chỉ đạo cho Vĩnh
2 đây là tổ chức tiền thân của Đảng Cộng sản Việt Nam
3 còn gọi chùa Minh Sư thuộc phường 2, thành phố Vĩnh Long ngày nay
4 Vĩnh Long có tổng số 12 chi bộ, gồm: quận Châu Thành có 1 chi bộ, quận Tam Bình có 5 chi bộ, quận Vũng Liêm có 4 chi bộ, quận Trà Ôn có 1 chi bộ và quận Chợ Lách có 1 chi bộ
Trang 8Long thành lập Tỉnh ủy, tháng 2 năm 1931 Ban chấp hành Đảng bộ Đảng cộng sản Việt Nam tỉnh Vĩnh Long được thành lập tại Ba Chùa5, Xứ ủy phân công đồng chí Ngô Văn Chính làm Bí thư tỉnh ủy, đồng chí Nguyễn Văn Nhung làm Phó Bí thư6
Từ đây Đảng bộ tỉnh Vĩnh Long chính thức ra đời, đảm nhận vai trò và sứ mệnh lịch sử lãnh đạo cuộc đấu tranh cách mạng của nhân dân tỉnh Vĩnh Long Sau cao trào cách mạng 1930 - 1931, cách mạng tỉnh Vĩnh Long gặp nhiều khó khăn, nhiều đồng chí lãnh đạo bị bắt, tù đày, tỉnh ủy phải nhiều lần phân tán, chuyển vùng, để bảo tồn lực lượng cách mạng Giai đoạn 1936- 1939, thực hiện chủ trương chuyển hướng chỉ đạo chiến lược Tỉnh ủy chỉ đạo giương cao ngọc
cờ đấu tranh dân sinh, dân chủ chống thực dân Pháp xâm lược tiêu biểu là các phong trào dân nguyện: đón tiếp Gô-đa, đưa yêu sách đòi giảm thuế khóa, cải thiện đời sống…
Năm 1940, thực hiện chủ trương khởi nghĩa của Xứ ủy Nam Kỳ: tiến hành khởi nghĩa trên khắp miền Nam, Tỉnh ủy Vĩnh Long họp bàn kế hoạch khởi nghĩa thật chu đáo, phân công trách nhiệm cụ thể cho từng đồng chí, đánh giá tình hình công tác chuẩn bị về cơ sở Đảng, các tổ chức quần chúng cách mạng, phong trào luyện tập võ nghệ, chiến thuật du kích khắp các làng, thành lập Ban Lãnh đạo khởi nghĩa, Ban chỉ huy quân sự, đồng thời xác định mục tiêu khởi nghĩa là: đánh chiếm các cơ sở quan trọng của địch, phá khám giải thoát tù chính trị…
Theo lệnh: “Đúng 12 giờ đêm 22 tháng 11 năm 1940 khởi nghĩa giành chính quyền nhưng phải đợi lệnh giờ chót” Nhưng do kế hoạch khởi nghĩa chung của Nam Kỳ bị lộ trước giờ hành động nên cuộc khởi nghĩa ở Tỉnh lỵ gặp nhiều khó khăn Trước tình hình đó, ban lãnh đạo khởi nghĩa quyết định chuyển hướng tấn công các vùng ven tỉnh lỵ Đêm 22 tháng 11 năm 1940, ta tiến đánh quận lỵ Châu Thành (Long Hồ), phá cầu Ông Me, cầu Long Hồ, đốt hết giấy tờ làng Long Hồ, cắt dây điện thoại, cưa cây làm chướng ngại vật ngăn địch từ Vĩnh Long xuống Đêm 23 tháng 11 năm 1940, lực lượng đánh quận Châu Thành tiếp tục đánh chiếm nhà việc Chánh Hội (Cái Nhum), thiêu hủy toàn bộ sổ sách, súng lửa, phá hủy hai cầu sắt…
Tại quận Tam Bình, vào lúc 12 giờ đêm (tức 24 giờ) 22 tháng 11 năm
1940, quân khởi nghĩa chia thành 3 mũi, đánh vào quận lỵ, chiếm trại lính, bao vây dinh quận, đánh chiếm đồn Trà Luộc, chiếm trụ sở làng Mỹ Thạnh Trung, đánh đồn Cái Ngang, phá cầu Cái Sơn, Bằng Tăng, Ba Kè, cắt đường dây điện thoại thu 6 súng và làm chủ thị trấn suốt 17 giờ
Tại quận Vũng Liêm, quân khởi nghĩa, đánh chiếm dinh quận vào lúc 24 giờ đêm 22 tháng 11 năm 1940, phá trạm bưu điện, trại lính, thu 5 súng, thiêu hủy hồ sơ, làm chủ quận lỵ 8 giờ, treo cờ đỏ sao vàng trên nóc dinh quận, đánh chiếm đồn Trung Ngãi, ngăn chặn địch từ Trà Vinh lên, đánh phà Nước Xoáy,
5 tại nhà bà Lê Thị Giêng (Ba Chùa, thuộc xã Tường Lộc, huyện Tam Bình nay thuộc xã Nhơn Bình, huyện Trà Ôn)
6 Các đồng chí trong Ban chấp hành gồm có: đồng Nguyễn Văn Tiễn, Nguyễn Hữu Thế, Đặng Văn Quang
Trang 9ngăn địch từ Vĩnh Long xuống cứu viện Đúng 24 giờ đêm 22 tháng 11, quân khởi nghĩa vượt sông đánh chiếm đồn Nước Xoáy, diệt 5 tên địch, thu 3 súng, đục thủng 2 phà, cắt dây thép Lực lượng khởi nghĩa các làng Hiếu Thành, Quới Thiện, Ngã Tư Nhà Đài đã giải tán bộ máy tề ngụy, làm chủ xóm ấp
Tuy chưa giành được thắng lợi trọn vẹn, chưa thực hiện được mục tiêu thành lập chính quyền công - nông - binh nhưng Cuộc Khởi nghĩa Nam Kỳ tại tỉnh Vĩnh Long là một trong số rất ít cuộc khởi nghĩa thu được kết quả trong cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ, động viên, cổ vũ tinh thần chiến đấu cho toàn Đảng, toàn quân và toàn dân tỉnh nhà, để lại những bài học rất có giá trị cho tiến trình của lịch sử sau này
Sau Khởi nghĩa Nam kỳ 1940, thực dân Pháp tăng cường đàn áp, bắt bớ, tù đày giết hại những người tham gia hoặc chúng nghi ngờ tham gia khởi nghĩa, lực lượng cách mạng bị tổn thất nghiêm trọng nhưng Đảng bộ tỉnh Vĩnh Long không ngừng nỗ lực, linh hoạt, nắm chắc và vận dụng chủ trương, đường lối chung của Đảng vào hoàn cảnh cụ thể của địa phương một cách phù hợp, từng bước khôi phục lại các phong trào cách mạng, là bước chuẩn bị quan trọng cho tổng khởi nghĩa giành chính quyền khi thời cơ đến
Phát xít Nhật đầu hàng đồng minh vô điều kiện, mở ra cơ hội Tổng khởi nghĩa giành chính quyền trên toàn quốc, thực hiện sự chỉ đạo của Đảng, Xứ ủy Nam Kỳ sẽ lãnh đạo đồng loạt khởi nghĩa trên toàn miền Nam vào ngày 25 tháng 8 Để chuẩn bị khởi nghĩa, ngày 22 tháng 8 năm 1945, Thường vụ Tỉnh ủy lâm thời tỉnh Vĩnh Long họp tại Tam Bình bàn chủ trương, kế hoạch, thành lập
Ủy ban Khởi nghĩa, quyết định lấy quận Tam Bình làm trọng điểm Ngày 23 tháng 8 năm 1945, Mặt trận Việt Minh ra lời kêu gọi toàn dân đứng lên tổng khởi nghĩa, nhân dân làng Vĩnh Xuân, Trà Côn, Tích Thiện, Thuận Thới, Hữu Thành (Trà Ôn), nổi dậy giành chính quyền, bộ máy cai trị ở đây tan rã nhanh chóng, chính quyền về tay nhân dân
Trưa ngày 24 tháng 8 năm 1945, chỉ thị về tổng khởi nghĩa chính thức của
Xứ ủy đã về đến Vĩnh Long Tinh thần chỉ thị đã được truyền đi đến các địa phương trong tỉnh Chiều cùng ngày, Chi bộ Đặc biệt do đồng chí Nguyễn Văn Thiệt làm bí thư đã tổ chức họp khẩn cấp và đề ra kế hoạch khởi nghĩa tại tỉnh
lỵ
Lúc 7 giờ sáng ngày 25 tháng 8 năm 1945, cuộc khởi nghĩa đã nổ ra tại tỉnh lỵ Vĩnh Long Hàng nghìn quần chúng và Thanh niên tiền phong có vũ trang, cờ đỏ sao vàng, cờ búa liềm và cờ vàng sao đỏ với khẩu hiệu: “Việt Nam độc lập muôn năm”, “Việt Minh muôn năm” Đoàn biểu tình dừng lại tại Nhà việc Long Châu (trụ sở quận Châu Thành), Ủy ban Khởi nghĩa ra lời hiệu triệu
và công bố các chính sách của Mặt trận Việt Minh trước khí thế cách mạng của quần chúng, Tỉnh trưởng Vĩnh Long phải đầu hàng vào lúc 10 giờ trưa ngày 25 tháng 8 năm 1945
Cùng ngày (25 tháng 8 năm 1945), dưới sự lãnh đạo của Quận ủy Tam Bình, Ủy ban Khởi nghĩa đã lãnh đạo Thanh niên cứu quốc và hàng nghìn quần
Trang 10chúng bao vây dinh quận Chính quyền tay sai của quận Tam Bình đầu hàng, bàn giao cho Ủy ban Khởi nghĩa vào lúc 12 giờ trưa ngày 25 tháng 8 Sau đó, quân khởi nghĩa kéo sang Trà Ôn chi viện cho quận Trà Ôn giành chính quyền
Sáng ngày 26 tháng 8 năm 1945, Ủy ban Khởi nghĩa ở quận Vũng Liêm lãnh đạo lực lượng quần chúng, Thanh niên cứu quốc buộc chính quyền quận đầu hàng Ngày 27 tháng 8 năm 1945, tại các quận Chợ Lách, Trà Ôn, quân khởi nghĩa cướp chính quyền giành thắng lợi
Sáng ngày 28 tháng 8 năm 1945, việc giành chính quyền trong toàn tỉnh Vĩnh Long hoàn thành, Ủy ban Khởi nghĩa đã tổ chức cuộc mít tinh lớn tuyên bố xóa bỏ chính quyền cũ, lập chính quyền cách mạng của nhân dân
Trải qua 15 năm ra đời và lãnh đạo Nhân dân tiến hành cách mạng giải phóng dân tộc, Đảng Cộng sản Việt Nam mà trực tiếp là Đảng bộ tỉnh Vĩnh Long đã được trui rèn và ngày càng dày dạn kinh nghiệm, lãnh đạo Nhân dân tỉnh Vĩnh Long cùng Nhân dân cả nước làm nên cuộc tổng khởi nghĩa giành chính quyền trong Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công
5 Nhân dân Vĩnh Long trong cuộc kháng chiến chống thực dân pháp
và can thiệp mỹ (1946-1954)
Sau khi giành chính quyền trong cách mạng tháng Tám, Đảng bộ Vĩnh Long đã nhanh chóng thành lập và củng cố chính quyền cách mạng, bước đầu thực hiện các chính sách ổn định đời sống nhân dân Tuy nhiên thực dân Pháp không từ bỏ dã tâm xâm lược nước ta một lần nữa Tại Vĩnh Long, ngày 29/10/1945, Pháp nổ súng tái chiếm Vĩnh Long lần 3, ta tổ chức đánh trả quyết liệt, tiêu biểu là trận chiến đấu tại ngã tư Long Hồ Tuy nhiên do chênh lệch quá lớn về lực lượng và vũ khí, Vĩnh Long rơi vào tay thực dân Pháp sau hơn 01 tháng chiến đấu
Thực hiện lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến, dưới sự chỉ đạo của Khu ủy Khu 9, Đảng bộ Vĩnh Long vừa xây dựng vừa đẩy mạnh kháng chiến, đồng thời thực hiện chỉ thị về thi đua ái quốc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng bộ và chính quyền tỉnh Vĩnh Long đã phát động toàn quân, toàn dân đẩy mạnh phong trào thi đua, xây dựng vùng độc lập phát triển rộng, mạnh Phong trào thi đua ái quốc phát triển dưới nhiều hình thức phong phú như: nhà nhà đều có hũ gạo kháng chiến, nuôi gà, trồng cây kháng chiến, Các tổ chức như: Hội Mẹ chiến sĩ, Hội Chị chiến sĩ, Đội Thiếu niên… làm việc giúp đỡ kháng chiến Nhân dân thành thị hướng về kháng chiến, ủng hộ kháng chiến bằng những hoạt động thiết thực: nhiều trại cưa, lò gạch, hãng xưởng sẵn sàng gửi tiền, thuốc men ủng hộ kháng chiến
Trước diễn mới của tình hình, cần tập trung đẩy mạnh các hoạt động quận
sự chống Pháp Quán triệt Hội nghị quân sự và Hội nghị cán bộ đảng toàn xứ Nam bộ, tháng 9 năm 1949, Đảng bộ Vĩnh Long tập trung vào những nhiệm vụ trọng tâm là: gấp rút chỉnh đốn lại bộ máy chỉ huy quân sự các cấp; xây dựng ba thứ quân gồm chủ lực, địa phương quân và dân quân du kích; rèn cán chỉnh quân; tổ chức lại bộ máy quân giới, gia tăng công tác chính trị, địch ngụy vận;
Trang 11xây dựng căn cứ hậu phương Ta chủ động mở nhiều chiến dịch nhằm tiêu hao sinh lực, phá sự chiếm đóng, bình định của địch, giữ vững vùng độc lập của ta tiêu biểu là chiến dịch Cầu Kè diễn ra từ ngày 7 đến ngày 30/12/1949 Ta huy động gần 13.000 lượt dân công phục vụ, đã tiêu diệt 17 đồn, bắn chìm 2 tàu, diệt trên 500 tên địch, bắt sống 200 tên, thu 300 súng các loại, quét sạch hệ thống lô cốt, tháp canh, giải phóng cho trên 100.000 dân trong vùng, thực hiện tốt chính sách tù binh, hàng binh đối với 200 lính Âu - Phi
Sau chiến dịch này bộ đội địa phương chiến đấu và trưởng thành nhanh chóng, ta mở thêm các chiến dịch ở Trà Vinh, Sa Đéc, Cầu Ngang… điều đó đã chứng tỏ thế và lực của ta trong tương quan lực lượng với quân Pháp ngày càng lớn mạnh Trong 6 tháng đầu năm 1953, các lực lượng đã đánh 207 trận, san bằng một bán cứ điểm, 2 tháp canh, phá hủy 2 xe thiết giáp, 1 ca-nông 37, tiêu diệt và làm bị thương 547 tên địch, 3 tên quan ba, 3 tên quan hai, 1 tên quan một, bắt sống 40 tên, thu 55 súng Tiến hành địch ngụy vận, làm tan rã 930 người (trong đó lính com-măng-đô 165 người, khinh quân 400 người), tổ chức học cho 800 thanh niên, có 970 thanh niên bị bắt lính trốn trở về, đã giáo dục chính sách của Mặt trận cho 350 gia đình Ta hy sinh 138 đồng chí, mất 88 súng các loại, có 115 đồng chí bị địch bắt
Mặc dù bị căng kéo bởi chiến trường phía Bắc, nhưng trong đông xuân 1953-1954, trên chiến trường Vĩnh Trà, địch vẫn còn rất mạnh Chúng vẫn thực hiện kế hoạch chiếm đóng, những cuộc hành quân lớn vẫn liên tiếp diễn ra Trong tháng 6/1953, địch giao quyền chỉ huy quân sự cho tay sai, tăng cường bắt lính, đôn quân Trong tháng 12/1953, địch rút hai tiểu đoàn 17 BVN và 21 BVN ra chiến trường phía Bắc Lực lượng chính của địch ở Vĩnh Long là lính bảo hoàng Cờ “tam tài ba sọc” của Pháp đổi thành “cờ ba que” của quốc gia bù nhìn Địch giao chính quyền ở Vĩnh Trà cho Chính phủ Bảo Đại và tổ chức bầu
cử Hội đồng lương thay cho Hội tề và Hội đồng hàng tỉnh
Thực hiện sự chỉ đạo của Trung ương, Trung ương Cục và Khu ủy, Tỉnh
ủy Vĩnh Trà quán triệt và triển khai “thực hiện công tác trung tâm địch ngụy vận”, phát động Nhân dân du kích chiến tranh trong thời kỳ mới
Nhằm thực hiện có hiệu quả sự chỉ đạo của Trung ương, chớp thời cơ địch đang thất bại ở chiến trường phía Bắc, ngày 26/10/1953, Tỉnh ủy đề ra Chỉ thị về việc xúc tiến công tác địch ngụy vận đi đôi với tác chiến quân sự làm suy yếu địch toàn diện, tạo điều kiện và hưởng ứng Chiến dịch Đông Xuân 1953-1954 Nội dung chỉ thị nhấn mạnh: “Vận động chính trị là chính nhưng cũng phải biết kết hợp với quân sự, hướng dẫn ngụy binh làm nội ứng”
Để thực hiện thắng lợi mục tiêu, Tỉnh ủy giao Tỉnh đội, các ban ngành xây dựng kế hoạch triển khai nhanh chóng và có hiệu quả góp phần vào thắng lợi chung Tập trung đẩy mạnh vũ trang tuyên truyền trong vùng có đạo Hòa Hảo ở Cái Vồn, tranh thủ, tạo thuận lợi, cô lập tay sai, tề điệp, phân hóa hàng ngũ địch, nắm lấy quần chúng
Trang 12Trong đông xuân 1953-1954, quân dân Vĩnh Trà đã đánh 149 trận, phá hoại 15 vụ lớn, loại ra khỏi vòng chiến đấu 3.754 tên địch, trong đó tiêu diệt 330 tên, bị thương 219 tên, rã hàng 331 tên, rã ngũ 2.874 tên; giải phóng cho 1.575 thanh niên bị bắt lính, diệt 42 đồn bốt, bức rút 201 đồn, phá hủy 1 cầu, 2 chiếc phà, 1 kho xăng và 6.000 lít dầu mazut, thu 331 súng, 50.000 viên đạn, 1.500 lựu đạn 29 xã bị địch tạm chiếm đã trở thành căn cứ du kích, hàng chục ngàn dân được giải phóng
Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ bị tiêu diệt Thực dân Pháp phải ngồi vào bàn Hội nghị Giơ-ne-vơ Đảng bộ và Nhân dân Vĩnh Trà đã góp phần làm nên chiến thắng vang dội đó, ghi vào lịch sử tỉnh nhà như một trang chói lọi của thế kỷ XX
Trải qua 9 năm kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, dù tên gọi có khác nhau nhưng Đảng bộ Vĩnh Long (1945-1950) hay Đảng bộ Vĩnh Trà (1951-1954) đều có sự lãnh đạo thống nhất của Trung ương, của Xứ ủy, của Trung ương Cục miền Nam, của Khu ủy, Liên Tỉnh ủy Tính nhất quán đó tạo ra sức mạnh thống nhất giúp Đảng bộ vượt qua những thời kỳ cam go của cách mạng
6 Vĩnh Long anh dũng trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước
Sau khi hiệp định Giơ-ne-vơ được ký kết ta có điều kiện pháp lí để lập lại hòa bình và thống nhất đất nước Tuy nhiên, Mỹ đã nhanh chóng thay Pháp ở miền Nam Việt Nam và lập chính quyền tay sai Ngô Đình Diệm, ra sức trả thù, bắt bớ những cán bộ, chiến sĩ của ta từng tham gia kháng chiến chống Pháp Trên địa bàn tỉnh, địch cho xây dựng sân bay, căn cứ thủy quân, trường huấn luyện,
hệ thống đồn bót, căn cứ quân sự được xây dựng lại và mở rộng thêm… Chỉ trong vòng chưa đầy 2 năm, Mỹ - Ngụy đã tổ chức cảnh sát, tình báo, do thám, gián điệp và tổ chức bộ máy kìm kẹp từ tỉnh đến tận xóm, ấp
Trước tình hình và nhiệm vụ mới, tỉnh đã sắp xếp lại tổ chức, bộ máy hành chính, các cấp ủy, đảng viên và đề ra chủ trương đấu tranh cách mạng mới:
“tăng cường đoàn kết, tập hợp tổ chức mọi lực lượng, dựa vào pháp lý của Hiệp định Giơ-ne-vơ để đấu tranh chính trị, đòi dân sinh, dân chủ, đòi Hiệp thương tổng tuyển cử thống nhất đất nước, bảo vệ quyền lợi của nhân dân…”
Thực hiện chủ trương trên, Tỉnh ủy đã chỉ đạo cho các cấp ủy Đảng trong tỉnh tổ chức mít-tinh mừng hòa bình, biểu dương lực lượng quần chúng Nhân dân Tại nhiều nơi trong tỉnh có hàng trăm nghìn đồng bào với trống mõ, biểu ngữ biểu tình mừng thắng lợi của Hiệp định và hàng chục cuộc biểu tình qui mô lớn đấu tranh phản đối các vụ vi phạm Hiệp định giết chốc cán bộ, chiến sĩ và Nhân dân vô tội của bọn Mỹ ngụy, tạo được tinh thần đoàn kết và sức mạnh tổng hợp từ các tầng lớp Nhân dân
Năm 1955 Quân ngụy tổ chức tấn công lực lượng Hòa Hảo ở Cái Vồn - Bình Minh, lực lượng Hòa Hảo bị tan rã, một số đầu hàng giặc, một số chạy vào vùng kháng chiến cũ Nắm thời cơ, Tỉnh ủy chủ trương xây dựng lực lượng giáo phái chống Mỹ - Diệm Ta đưa một số cán bộ làm nồng cốt cùng lực lượng Hòa