See discussions, stats, and author profiles for this publication at https //www researchgate net/publication/352459689 Establishing a model of sustainable mariculture development for Thuyen Chai Reef[.]
Trang 1See discussions, stats, and author profiles for this publication at: https://www.researchgate.net/publication/352459689
Establishing a model of sustainable mariculture development for Thuyen Chai Reef (Barque Canada Reef), Truong Sa islands district, Khanh Hoa province
Article · June 2021
DOI: 10.15625/1859-3097/15815
CITATIONS
0
READS
53
1 author:
Some of the authors of this publication are also working on these related projects:
Assessing the status of Dugong (Dugong dugon) and seagrass habitat in Con Dao and proposing the management solution View project
Nghiên cứu giải pháp phục hồi hệ sinh thái đầm, hồ ven biển đã bị suy thoái ở khu vực miền Trung View project
Nguyen Quan Van
Institute of Marine Environment and Resource
113PUBLICATIONS 325CITATIONS
SEE PROFILE
Trang 2viÖn hµn l©m khoa häc vµ c«ng nghÖ viÖt nam
vietnam academy of science and technology
2020
(T.20)
4B
issn 1859-3097
T¹p chÝ
biÓn
khoa häc vµ c«ng nghÖ
vietnam journal of marine science and technology
Số đặc biệt trình bày các báo cáo khoa học tại Hội nghị khoa học nhân dịp 45 năm thành lập Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam, Tiểu ban Khoa học và Công nghệ biển
th
Special issue introducing scientific papers of the scientific conference for 45 anniversary establishment of VAST, Subcommittee of Marine Science and Technology
Trang 3Vietnam Journal of Marine Science and Technology; Vol 20, No 4B; 2020: 419–431
DOI: https://doi.org/10.15625/1859-3097/15815
http://www.vjs.ac.vn/index.php/jmst
Establishing a model of sustainable mariculture development
for Thuyen Chai Reef (Barque Canada Reef), Truong Sa islands district, Khanh Hoa province
1
Institute of Marine Environment and Resources, VAST, Vietnam
2 Bach Long Vy’s People Committee, Hai Phong, Vietnam
3
Quang Ninh Department of Agricultural and Rural Development, Quang Ninh, Vietnam
4
Hai Phong Department of Natural Resources and Environment, Hai Phong, Vietnam
5
Hanoi University of Natural Resources and Environment, Hanoi, Vietnam
*
E-mail: quannv@imer.vast.vn
Received: 3 September 2020; Accepted: 26 November 2020
©2020 Vietnam Academy of Science and Technology (VAST)
Abstract
This study aims to establish a model of econonomic developmen for Thuyen Chai Reef (Barque Canada Reef) based on the solid cross among national security - economy - environment and natural conservation perspectives The ininitial outcomes proposed several mariculture models toward the environmental friendliness following the multi-trophic levels, multi-species and integrated target species Thus, it will help
to mitigate the negative effects on the sensitive/featured marine ecosystems in the surrounding areas There were several high economic species proposed in this model including grouper, snapper, silver promfret, snubnose pompano, yellowfin tuna, pearl oysters, seaweeds, hawk-wing conch, sea cucumber, The proposed culture techniques have filled up with the strict requirements When the model is carried out, it can enhance the self-support in goods production of the district Furthermore, new labor sources that are promoted to settle in the islands from the inland area may contribute to the sustainabe economic development of the Thuyen Chai Reef in the near future
Keywords: Thuyen Chai, Barque Canada Reef, Truong Sa islands district, mariculture, sustainable
development.
Citation: Nguyen Van Quan, Dinh Van Nhan, Tran Dinh Lan, Vu Manh Hung, Dao Minh Dong, Nguyen Van Cong,
Tran Van Phuong, Nguyen Thi Huong Lien, 2020 Establishing a model of sustainable mariculture development for
Thuyen Chai Reef (Barque Canada Reef), Truong Sa islands district, Khanh Hoa province Vietnam Journal of Marine Science and Technology, 20(4B), 419–431.
Trang 4Tạp chí Khoa học và Công nghệ Biển, Tập 20, Số 4B; 2020: 419–431
DOI: https://doi.org/10.15625/1859-3097/15815
http://www.vjs.ac.vn/index.php/jmst
Xây dựng mô hình phát triển nuôi trồng thủy sản bền vững
cho bãi Thuyền Chài, huyện đảo Trường Sa, tỉnh Khánh Hòa
, Đào Minh Đông 2
,
1
Viện Tài nguyên và Môi trường biển, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam, Việt Nam
2
UBND huyện đảo Bạch Long Vỹ, Hải Phòng, Việt Nam
3
Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Quảng Ninh, Quảng Ninh, Việt Nam
4
Sở Tài nguyên và Môi trường Hải Phòng, Hải Phòng, Việt Nam
5 Đại học Tài nguyên và Môi trường Hà Nội, Hà Nội, Việt Nam
*
E-mail: quannv@imer.vast.vn
Nhận bài: 3-9-2020; Chấp nhận đăng: 26-11-2020
Tóm tắt
Nghiên cứu này tập trung vào việc xây dựng mô hình phát triển nuôi trồng thủy sản bền vững cho bãi Thuyền Chài dựa trên trục an ninh quốc phòng - kinh tế - môi trường và bảo tồn thiên nhiên làm nền tảng cho sự phát triển bền vững Bước đầu đã đề xuất một số mô hình nuôi trồng thủy sản theo hình thức đa bậc dinh dưỡng, đa đối tượng nuôi xen kẽ lẫn nhau nhằm giảm thiểu những tác động gây hại tới các hệ sinh thái đặc trưng của khu vực Các đối tượng nuôi được đề xuất trong mô hình bao gồm các loài có giá trị kinh tế cao: Cá mú, cá hồng, cá chim trắng, cá vây vàng, cá thu, tôm hùm, trai ngọc, rong câu, ốc nhảy, hải sâm, các hình thức nuôi được đề xuất đảm bảo tận dụng tối đa những lợi thế của điều kiện tự nhiên và tính toán khả năng thích ứng với vùng biển thường đối mặt với điều kiện bất thường của thời tiết Khi mô hình được triển khai sẽ góp phần làm tăng tính tự chủ trong sản xuất hàng hóa của huyện đảo cũng như thu hút lực lượng lao động mới từ đất liền ra xây dựng và phát triển kinh tế biển đảo
Từ khóa: Thuyền Chài, huyện đảo Trường Sa, nuôi trồng thủy sản, phát triển bền vững.
MỞ ĐẦU
Bãi Thuyền Chài nằm ở tọa độ 8009’13’’ vĩ
độ Bắc - 113016’59’’ kinh độ Đông thuộc
huyện đảo Trường Sa, tỉnh Khánh Hòa Bãi
Thuyền Chài cách đảo Trường Sa khoảng 87
hải lý về phía đông Nam và cách đảo An Bang
khoảng 20 hải lý về phía đông bắc Đây là đảo
san hô có một rạn san hô dạng vòng kích thước
lớn, diện tích 33,48 km2 với nguồn lợi hải sản
tự nhiên tương đối phong phú và là ngư trường
khai thác cá truyền thống của ngư dân Việt
Nam từ bao đời nay (hình 1) [1]
Để phát triển kinh tế cho bãi Thuyền Chài
nói riêng, huyện đảo Trường Sa nói riêng rất
cần thiết phải phát triển những mô hình phát triển kinh tế dựa vào việc khai thác và sử dụng
có hiệu quả những lợi thế tự nhiên sẵn có Các hoạt động đánh bắt thủy sản có tiến triển khá tốt, mang lại hiệu quả kinh tế cao trong các hoạt động kinh tế ven đảo Tuy nhiên, các dấu hiệu suy giảm về sản lượng trong những năm gần đây do sự gia tăng quá mức của cường lực khai thác tại ngư trường Trường Sa là các thách thức cho ngư dân bám biển, bám đảo, giữ vững chủ quyền an ninh quốc gia [2]
Trong nghiên cứu này, các mô hình phát triển nuôi trồng thủy sản nhằm khai thác diện tích mặt nước trong vụng biển tự nhiên tạo ra
Trang 5Establishing a model of sustainable mariculture
bởi các rạn san hô dạng vòng điển hình có thể
trở thành điểm đột phá trong chiến lược phát
triển bền vững cho huyện đảo Các hoạt động
của mô hình sẽ tạo ra công ăn việc làm cho
người dân (ngư dân, đân di cư trên đảo) và tạo
ra sự kết hợp chặt chẽ giữa dân và bộ đội đối
với phát triển kinh tế đảo Sản phẩm hàng hóa tạo ra từ mô hình sẽ đảm bảo cho nhu cầu tại chỗ, bù đắp sự thiếu hụt thực phẩm cho các đảo khác trong huyện cũng như từng bước phát triển sản phẩm hàng hóa mang thương hiệu riêng để đưa vào đất liền
Hình 1 Bản đồ phân bố bãi Thuyền Chài, huyện đảo Trường Sa, tỉnh Khánh Hòa
Trang 6Nguyen Van Quan et al.
NHU CẦU XÂY DỰNG MÔ HÌNH KINH
TẾ BỀN VỮNG CHO ĐẢO
Mục tiêu xây dựng mô hình kinh tế bền
vững cho bãi Thuyền Chài nhằm đáp ứng các
nhu cầu sau:
Củng cố vị thế địa chính trị: Việc phát triển
kinh tế bãi Thuyền Chài càng khẳng định về
chủ quyền lãnh thổ, chủ quyền biển đảo không
thể chối cãi được của Việt Nam đối với các
nước đang tranh chấp cũng như toàn thể các
quốc gia trên thế giới
Đảm bảo nhu cầu về thực phẩm tại chỗ: Đa
số các đảo thuộc huyện đảo Trường Sa là đảo
chìm, trong đó có bãi Thuyền Chài là đảo nửa
nổi nửa chìm Do thiếu đất trên đảo nên không
có điều kiện để mở rộng canh tác để trồng cây
lương thực, thực phẩm cung cấp cho cán bộ và
người dân trên đảo cũng như cung cấp cho các
đảo lân cận (ngoại trừ một số mô hình trồng rau
xanh trong thùng xốp) Hàng năm, công tác duy
trì các chuyến tàu tiếp tế lương thực thực phẩm
cho đảo gặp nhiều khó khăn nên cuộc sống của
các cán bộ cũng như người dân trên đảo cực kỳ
thiếu thốn và thường trong tình trạng thiếu thực
phẩm đặc biệt là rau xanh Cần có những giải
pháp khai thác và tạo nguồn thực phẩm tại chỗ
từ tài nguyên biển
Nhu cầu chuyển đổi nghề nghiệp: Đánh bắt
thủy sản là hoạt động kinh tế chính của ngư dân
huyện đảo Trường Sa và đây là ngư trường
khai thác truyền thống có từ rất lâu đời Nhưng
với tình trạng các trang thiết bị khai thác càng
ngày càng hiện đại, mật độ tàu thuyền cũng
như công suất tàu thuyền lớn đã dần dần dẫn
đến tình trạng nguồn hải sản vùng khơi càng
ngày càng ít và dần dần sẽ cạn kiệt nếu không
có cách thức thay đổi Để giải quyết các vấn đề
này cần phải có những biện pháp thay đổi cụ
thể để ngư dân có thể yên tâm bám biển và các
cán bộ trên đảo có thể yên tâm, đảm bảo hoàn
thành nhiệm vụ gìn giữ biển đảo Với khẩu hiệu
“Nhà nước và nhân dân cùng làm”, việc chung
tay xây dựng và phát triển các lợi thế đang có
(diện tích mặt nước, điều kiện môi trường,
nguồn nhân lực dồi dào, ), việc thúc đẩy
ngành nuôi trồng hải sản trong lòng các đảo
(các vụng biển kín) với sự tham gia chặt chẽ
của ngư dân cũng như các cán bộ trên đảo là
việc hết sức cấp bách Nó không những đa dạng nguồn thực phẩm cung cấp cho người dân trong huyện đảo, nó lại còn có giá trị là sản phẩm chính có thể cung ứng cho thị trường trong nước cũng như thị trường quốc tế góp phần phát triển kinh tế đảo và đặc biệt, với sự kết hợp chặt chẽ giữa quân và dân trong việc chung tay xây dựng phát triển kinh tế đảo nó càng khẳng định chặt chẽ về chủ quyền biển đảo của nước ta
THỰC TRẠNG VÀ KHẢ NĂNG THAM GIA CỦA CỘNG ĐỒNG VÀO HOẠT ĐỘNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ BIỂN Thực trạng tham gia của cộng đồng
Hiện tại cả bộ đội và ngư dân trên đảo mới chỉ tập trung vào khai thác hải sản Đối với ngư dân, họ khai thác hải sản sau đó vào đất liền bán còn đối với bộ đội trên đảo việc khai thác hải sản mới chỉ nhằm mục đích tăng gia nhằm thay đổi khẩu phần cũng như đa dạng nguồn thực phẩm cho cán bộ trên đảo Trong khi với lợi thế sẵn có, hầu như chưa có bất kỳ mô hình nuôi hải sản nào trên các đảo thuộc huyện đảo Trường Sa
Khả năng tham gia của cộng đồng
Với tiềm năng diện tích mặt nước tự nhiên lớn việc phát triển mô hình nuôi hải sản trên đảo là tương đối phù hợp Việc này cần có sự tham gia của không chỉ bộ đội trên đảo mà cần
có sự chung tay của ngư dân để biến những lợi thế sẵn có thành mũi nhọn phát triển trong tương lai Để giải quyết vấn đề này, việc thành lập các nghiệp đoàn nghề cá là tương đối cấp thiết Các nghiệp đoàn này nên được tổ chức thành hai hình thức: Một là khai thác hải sản và hình thức khác là nuôi trồng hải sản Tất nhiên, các nghiệp đoàn này phải đặt dưới sự quản lý của nhà nước cũng như chịu sự điều hành trực tiếp của đơn vị đóng quân trên đảo Bộ đội đồn trú trên đảo phải được xác định là một lực lượng lao động chủ chốt để tham gia vào phát triển các mô hình này vừa tăng nguồn thực phẩm tại chỗ cho đơn vị vừa có thể nâng cao nguồn thu nhập Với sự tham gia rộng rãi của cộng đồng vào việc phát triển của đảo sẽ càng khẳng định chặt chẽ chủ quyền của Việt Nam đối với bãi Thuyền Chài nói riêng và cả quần đảo Trường sa nói chung
Trang 7Establishing a model of sustainable mariculture
LỰA CHỌN CÁC THÀNH PHẦN MÔ
HÌNH PHÁT TRIỂN NUÔI THỦY SẢN
BỀN VỮNG VỚI SỰ THAM GIA CỦA
CỘNG ĐỒNG
Xác lập các nguyên tắc xây dựng mô hình
Một số nguyên tắc cần xác lập trong việc
xây dựng mô hình bao gồm:
Bảo vệ toàn vẹn chủ quyền biển đảo: Đây
không những là nguyên tắc mà còn là nhiệm vụ
hàng đầu của tất cả công dân Việt Nam, đặc
biệt là lực lượng vũ trang canh giữ đảo Bộ đội
cũng là lực lượng nòng cốt kiểm soát và triển
khai thực hiện các mô hình phát triển kinh tế
đảo bên cạnh có sự tham gia của người dân Sự
kết hợp giữa lực lượng bảo vệ đảo và người dân
trong vận hành mô hình sẽ đảm bảo sự thành
công trong thực tế triển khai, góp phần bảo vệ
an ninh, chủ quyền biển đảo của Việt Nam trên
Biển Đông
Giữ gìn cảnh quan thiên nhiên của đảo,
không làm mất cân bằng sinh thái của đảo:
Thuyền Chài có các hệ sinh thái đặc trưng như
rạn san hô, thảm cỏ biển cũng như rong biển
khá đặc thù, đa dạng và phong phú nhất trong
hệ thống đảo của huyện đảo Trường Sa Vì vậy,
việc triển khai và phát triển các mô hình nuôi
trồng hải sản tại đây phải được tính toán và quy
hoạch sao cho không có những tác động tiêu
cực, ảnh hưởng đến sự phát triển và sinh cảnh
của các hệ sinh thái đặc trưng này Giải pháp
lựa chọn các đối tượng nuôi phù hợp và kết hợp
nuôi theo bậc dinh dưỡng sẽ giúp các đối tượng
nuôi xen canh xử lý thức ăn dư thừa của nhau,
từ đó không làm ảnh hưởng đến chất lượng môi
trường nước khu vực đảo
Đảm bảo sinh kế bền vững cho người dân
và ngư dân: Đây cũng là nguyên tắc hết sức
quan trọng khi triển khai và thực hiện mô hình
Con người là yếu tố tiên quyết khi triển khai và
thực hiện mô hình Trước hết cần phải trang bị
kiến thức và kỹ thuật cho người dân cũng như
ngư dân Khi có sự chung tay của người dân và
lực lượng gìn giữ đảo sẽ tạo nên một thể thống
nhất vừa phát triển kinh tế đảo vừa đảm bảo
nhiệm vụ gìn giữ đảo, đảm bảo chủ quyền toàn
vẹn lãnh thổ của Việt Nam
Cung ứng thực phẩm cho cư dân trên đảo
và các đảo lân cận: Việc triển khai các mô hình
nuôi trồng hải sản trên đảo sẽ làm đa dạng
nguồn thực phẩm cung cấp cho người dân trên
đảo cũng như các vùng lân cận Đặc biệt, với nguồn rong biển tự nhiên sẵn có và từ nuôi trồng sẽ cung cấp nguồn rau xanh quan trọng không chỉ cho đảo và vùng lân cận mà nó còn
có thể có giá trị lớn cung cấp cho thị trường
Lựa chọn các nội dung thành phần của mô hình
Đặc điểm địa hình của bãi Thuyền Chài với diện tích chủ yếu là các vụng biển bên trong được bảo vệ rạn san hô dạng vòng với độ sâu trung bình 8 m cùng với các điều kiện sóng, dòng chảy tương đối thuận lợi Đây là địa điểm phù hợp để triển khai các mô hình nuôi một cách hợp lý và hiệu quả Hai nội dung chủ yếu mang tính chủ đạo là nuôi lồng bè và nuôi thả giàn các đối tượng hải sản có giá trị kinh tế cao, phù hợp với điều kiện môi trường của đảo, nhiều loài vốn là loài phân bố đặc trưng tại đảo [1]
Nuôi thả bãi: Mô hình này có thể áp dụng
cho các đối tượng như: Rong biển (rong sụn, rong câu, rong nho,…), điệp, sò, bào ngư, hải sâm, ốc hương, ốc nhảy,… Đây là những đối tượng có giá trị kinh tế cao, sống phù hợp trong điều kiện độ muối cao và ổn định (25–35‰), nhiệt độ (26–32oC)
Nuôi lồng bè: Mô hình này áp dụng cho các
loại cá kinh tế như: Cá mú, cá hồng đen, cá chim trắng, cá vây vàng,… hoặc tôm hùm, tôm
mũ ni,… hay các loài thân mềm: Trai ngọc, điệp quạt,…
Nuôi thả giàn: Môi hình này có thể áp dụng
cho các đối tượng như rong biển, điệp, vẹm xanh,…
Phân tích các nội dung thành phần của mô hình
Các nội dung trong mô hình cần đảm bảo liên kết hài hòa với nhau nhằm tận dụng tối đa nguồn thức ăn tự nhiên cũng như không làm thay đổi chất lượng môi trường nước cũng như cảnh quan hiện có của đảo, đặc biệt là san hô
và cỏ biển các nội dung của mô hình cần đảm bảo đủ 4 thành phần: Các đối tượng ăn tạp, các đối tượng sống đáy ăn rong tảo và mùn bã hữu
cơ, các đối tượng ăn lọc và các đối tượng hấp thu dinh dưỡng hòa tan (hình 1)
Các đối tượng có giá trị kinh tế cao phù hợp với các điều kiện môi trường nước tại đảo Thường những đối tượng này là những
Trang 8Nguyen Van Quan et al.
loài cá dữ sống trong rạn san hô hoặc biển
khơi: Cá mú, cá cam, cá thu ngừ, hay tôm
hùm, tôm mũ ni, các đối tượng này thích
hợp với điều kiện nuôi lồng bè ở khu vực đảo
Khi nuôi các đối tượng này thường luôn đối
mặt với nguồn thải của chúng trong quá trình
nuôi như các chất hữu cơ hòa tan, phân của
chúng hay thức ăn thừa trong quá trình nuôi Đây là những thành phần rất dễ gây ô nhiễm nguồn nước trong khu vực nuôi Để hạn chế
và giải quyết vấn đề này cần phải kết hợp với các đối tượng khác: Các đối tượng ăn mùn bã hữu cơ và các đối tượng hấp thụ các chất dinh dưỡng hòa tan
1
2 Hình 1 Mô phỏng mô hình nuôi thủy sản bền vững [3]
Vật chất hữu cơ
dạng lớn
Vật chất hữu cơ dạng nhỏ Dinh dưỡng hòa
tan
Vùng dinh dưỡng
Rong biển Sinh vật ăn lọc
Sinh vật đáy
Hình 1 Mô phỏng mô hình nuôi thủy sản bền vững [3]
Các đối tượng sống đáy ăn rong, tảo biển và
mùn bã hữu cơ: Các đối tượng này chủ yếu
thuộc ngành Thân mềm, lớp Chân bụng như:
Bào ngư, ốc nhảy, ốc hương, hải sâm, (Trần
Văn Quỳnh, 2006) Các đối tượng này sẽ ăn
mùn bã hữu cơ (vật chất hữu cơ dạng hạt) đây là
dạng phổ biến được thải ra trong quá trình nuôi
lồng bè Lượng mùn bã hữu cơ này nếu không
được hấp thụ chúng sẽ bị phân hủy trở thành
dạng các chất dinh dưỡng hòa tan gây phì dưỡng
khu vực nuôi Tất nhiên các đối tượng này cũng
thải ra môi trường các dạng vật chất dưới dạng
hòa tan và không hòa tan, dưới sự phân hủy của
vi khuẩn các vật chất không hòa tan sẽ thành các
chất dinh dưỡng hòa tan Nếu tích tụ nhiều cùng
với các sản phẩm từ quá trình nuôi lồng, bè sẽ
gây phì dưỡng cho môi trường nước và sễ thúc
đẩy quá trình nở hoa của thực vật phù du sẽ gây
tác động tiêu cực cho các đối tượng nuôi Để hạn chế các tác động tiêu cực này cần đến thành phần thứ 3 và thứ 4
Các đối tượng ăn lọc: Đây cũng là các đối tượng thuộc ngành thân mềm nhưng chủ yếu nằm ở lớp hai mảnh vỏ như: Điệp, trai, sò, Đây là các đối tượng ăn lọc thức ăn chủ yếu là thực vật phù du Trong quá trình nuôi việc dinh dưỡng tích tụ sẽ dẫn đến tình trạng phát triển bùng phát của thực vật phù du có thể sẽ làm cho thực vật phù du nở hoa Sự nở hoa của tảo cũng như lượng vật chất lơ lửng tăng sẽ làm giảm độ trong của nước, điều này ảnh hưởng trầm trọng đến sự phát triển của san hô, cỏ biển, rong biển Chính vì vậy cần kết hợp nuôi các đối tượng ăn lọc các chất lơ lửng cũng như thực vật phù du sẽ gải quyết những vấn đề nêu trên [3]
Trang 9Establishing a model of sustainable mariculture
Các đối tượng nuôi có khả năng hấp thụ các
chất dinh dưỡng hòa tan: Các đối tượng này
chủ yếu là rong biển như: Rong sụn, rong nho,
rong câu, Mặc dù cỏ biển cũng có khả năng
hấp thụ các chất dinh dưỡng nhưng chủ yếu
chúng hấp thụ dinh dưỡng từ nền đáy qua rễ
Trong khi rong biển thì thường không có rễ, có
thì nó là rễ giả dạng đĩa bám, bám vào giá thể
Cũng giống như thực vật phù du, rong biển
cũng hấp thụ dinh dưỡng hòa tan để sinh
trưởng và phát triển Đây là đối tượng rất phù
hợp để giải quyết vấn đề phì dưỡng của nước
bên cạnh thực vật phù du Ngoài ra, đây cũng là
nguồn rau xanh tự nhiên của biển cả ban cho
con người [4]
Các giải pháp để thực hiện mô hình
Nhân lực thực hiện
Nguồn nhân lực có số lượng lớn chỉ huy
động khi triển khai thiết lập mô hình do phải
chuẩn bị nguyên vật liệu và thiết kế bãi nuôi,
lồng nuôi,… Nhưng trong quá trình vận hành
thì chỉ cần khoảng tối đa 10 người để quản lý
và chăm sóc cả khu vực nuôi thả bãi lẫn nuôi
lồng bè
Quy hoạch vùng nuôi
Khu vực nuôi thả bãi: Được quy hoạch là
các vùng có độ sâu dao động từ 1–3 m khi thủy
triều xuống thấp nhất, bao gồm các bãi cạn và
viền ngoài bao quanh các vụng trong đảo Diện
tích xác định cho nuôi thả bãi khoảng 300 ha
Vùng nuôi bãi sẽ phân chia thành các khu vực
nhỏ với diện tích khoảng 3–5 ha sử dụng lưới
để phân lô để thuận tiện cho công tác quản lý
sau này Các lô phải đảm bảo cách nhau 100–
200 m để không cản trở sự lưu thông của nước giữa trong và ngoài đảo
Khu vực nuôi lồng bè và nuôi thả giàn: Được quy hoạch là các nơi nằm trong lòng vụng,
có độ sâu từ 5–10 m khi thủy triều thấp nhất, nền đáy bên dưới là đá hoặc thảm cỏ biển Diện tích dự kiến cho nuôi lồng bè và thả giàn khoảng 6.300 ha Khu vực này cũng sẽ chia mặt nước cho người dân quản lý và thực hiện mô hình Doanh nghiệp hoặc người dân khi nhận giao mặt nước này phải đảm bảo người dân thực hiện nuôi đầy đủ 4 đối tượng nuôi như ở trên nhằm
xử lý triệt để vấn đề về môi trường
Quy mô của mô hình
Tùy thuộc vào lượng người tham gia phát triển mô hình để xây dựng quy mô của mô hình Đối với mỗi thành viên tham gia mô hình
sẽ được nhận 3–5 ha bãi nuôi và tầm 5 ha diện tích mặt nước để nuôi lồng bè Đối với diện tích nuôi lồng bè và thả giàn, không được phát triển số lồng bè vượt quá 10% diện tích mặt nước để dảm bảo nước lưu thông và lượng phát thải ra môi trường ở mức kiểm soát được, mặc
dù có các đối tượng nuôi khác có thể xử lý được các vấn đề này
Kỹ thuật nuôi
Nuôi thả bãi
Bãi nuôi có thể được ngăn bằng lưới để chia nhỏ bãi ra các diện tích khác nhau, phù hợp với nuôi nhiều đối tượng riêng lẻ hoặc cũng có thể chọn cách nuôi ghép các đối tượng nuôi với nhau (hình 2)
1 với nuôi nhiều đối tượng riêng lẻ hoặc cũng có thể chọn cách nuôi ghép các đối tượng nuôi với nhau (hình 2)
Hình 2 Mô phỏng mô hình nuôi thả bãi các đối tượng hải sản (1 Nuôi rong; 2 Nuôi ghép điệp và
bào ngư; 3 Nuôi ghép ốc nhảy, ốc hương và hải sâm)
Trang 10Nguyen Van Quan et al.
Hiện nay có 2 phương pháp chính để nuôi
thả bãi với đối tượng rong biển đó là nuôi theo
phương pháp dây đơn và nuôi theo phương pháp mạng lưới (hình 3)
2
3
4
5
6
7
8
9
10
11
(a)
(b)
Hình 3 Các hình thức nuôi rong biển ở bãi (a Nuôi mạng lưới; b Nuôi dây đơn) [5]
Cả hai phương pháp nuôi kể trên đều có thể
áp dụng được ở bãi Thuyền Chài, nhưng để tối
ưu và tiết kiệm nhân công cũng như nguyên vật
liệu thì phương pháp nuôi dây đơn có tính ưu việt
hơn Vì vậy, nên chọn phương pháp nuôi dây
đơn ở bãi Thuyền Chài Phương pháp này áp
dụng cho các loài rong câu và rong sụn Đối với
rong nho, có thể được trồng trực tiếp trên nền
đáy Để giải quyết bài toán gió bão thường xảy ra
ở quần đảo Trường Sa từ tháng 7 trở đi đến tháng
12, việc nuôi theo dây và mạng lưới chỉ phù hợp
triển khai trong khoảng 6 tháng đầu năm
Nuôi lồng bè và thả giàn
Trong hệ thống này phải nuôi kết hợp các đối tượng để giải quyết vấn đề về nguồn thức
ăn dư thừa (hình 1) Chọn vùng nước đó độ sâu
từ 5 m nước trở lên lúc nước triều thấp nhất
Nuôi lồng: Chọn những đối tượng có giá trị
kinh tế cao và thích nghi với điều kiện môi
trường tại đảo như cá mú (Epinephelus spp.),
cá cam (Seriola spp.), cá giò (Rachycentron
canadum), cá hồng (Lutjanus spp.), tôm hùm
(Panulirus spp.),…
Hình 4 Mô phỏng hệ thống lồng nuôi [6]
Lồng nuôi có thể làm hình tròn hoặc hình
vuông, vật liệu làm khung lồng phải có độ bền
cao, dẻo dai và chịu được lực tác động do sóng gió (hình 4, 5) Hiện nay trên thế giới thường