1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Establishing-a-model-of-sustainable-mariculture-development-for-Thuyen-Chai-Reef-Barque-Canada-Reef-Truong-Sa-islands-district-Khanh-Hoa-province

15 5 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Establishing a Model of Sustainable Mariculture Development for Thuyen Chai Reef (Barque Canada Reef), Truong Sa Islands District, Khanh Hoa Province
Tác giả Nguyen Van Quan, Dinh Van Nhan, Tran Dinh Lan, Vu Manh Hung, Dao Minh Dong, Nguyen Van Cong, Tran Van Phuong, Nguyen Thi Huong Lien
Trường học Vietnam Academy of Science and Technology
Chuyên ngành Marine Science and Technology
Thể loại Research article
Năm xuất bản 2020
Thành phố Hanoi
Định dạng
Số trang 15
Dung lượng 2,52 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

See discussions, stats, and author profiles for this publication at https //www researchgate net/publication/352459689 Establishing a model of sustainable mariculture development for Thuyen Chai Reef[.]

Trang 1

See discussions, stats, and author profiles for this publication at: https://www.researchgate.net/publication/352459689

Establishing a model of sustainable mariculture development for Thuyen Chai Reef (Barque Canada Reef), Truong Sa islands district, Khanh Hoa province

Article · June 2021

DOI: 10.15625/1859-3097/15815

CITATIONS

0

READS

53

1 author:

Some of the authors of this publication are also working on these related projects:

Assessing the status of Dugong (Dugong dugon) and seagrass habitat in Con Dao and proposing the management solution View project

Nghiên cứu giải pháp phục hồi hệ sinh thái đầm, hồ ven biển đã bị suy thoái ở khu vực miền Trung View project

Nguyen Quan Van

Institute of Marine Environment and Resource

113PUBLICATIONS    325CITATIONS    

SEE PROFILE

Trang 2

viÖn hµn l©m khoa häc vµ c«ng nghÖ viÖt nam

vietnam academy of science and technology

2020

(T.20)

4B

issn 1859-3097

T¹p chÝ

biÓn

khoa häc vµ c«ng nghÖ

vietnam journal of marine science and technology

Số đặc biệt trình bày các báo cáo khoa học tại Hội nghị khoa học nhân dịp 45 năm thành lập Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam, Tiểu ban Khoa học và Công nghệ biển

th

Special issue introducing scientific papers of the scientific conference for 45 anniversary establishment of VAST, Subcommittee of Marine Science and Technology

Trang 3

Vietnam Journal of Marine Science and Technology; Vol 20, No 4B; 2020: 419–431

DOI: https://doi.org/10.15625/1859-3097/15815

http://www.vjs.ac.vn/index.php/jmst

Establishing a model of sustainable mariculture development

for Thuyen Chai Reef (Barque Canada Reef), Truong Sa islands district, Khanh Hoa province

1

Institute of Marine Environment and Resources, VAST, Vietnam

2 Bach Long Vy’s People Committee, Hai Phong, Vietnam

3

Quang Ninh Department of Agricultural and Rural Development, Quang Ninh, Vietnam

4

Hai Phong Department of Natural Resources and Environment, Hai Phong, Vietnam

5

Hanoi University of Natural Resources and Environment, Hanoi, Vietnam

*

E-mail: quannv@imer.vast.vn

Received: 3 September 2020; Accepted: 26 November 2020

©2020 Vietnam Academy of Science and Technology (VAST)

Abstract

This study aims to establish a model of econonomic developmen for Thuyen Chai Reef (Barque Canada Reef) based on the solid cross among national security - economy - environment and natural conservation perspectives The ininitial outcomes proposed several mariculture models toward the environmental friendliness following the multi-trophic levels, multi-species and integrated target species Thus, it will help

to mitigate the negative effects on the sensitive/featured marine ecosystems in the surrounding areas There were several high economic species proposed in this model including grouper, snapper, silver promfret, snubnose pompano, yellowfin tuna, pearl oysters, seaweeds, hawk-wing conch, sea cucumber, The proposed culture techniques have filled up with the strict requirements When the model is carried out, it can enhance the self-support in goods production of the district Furthermore, new labor sources that are promoted to settle in the islands from the inland area may contribute to the sustainabe economic development of the Thuyen Chai Reef in the near future

Keywords: Thuyen Chai, Barque Canada Reef, Truong Sa islands district, mariculture, sustainable

development.

Citation: Nguyen Van Quan, Dinh Van Nhan, Tran Dinh Lan, Vu Manh Hung, Dao Minh Dong, Nguyen Van Cong,

Tran Van Phuong, Nguyen Thi Huong Lien, 2020 Establishing a model of sustainable mariculture development for

Thuyen Chai Reef (Barque Canada Reef), Truong Sa islands district, Khanh Hoa province Vietnam Journal of Marine Science and Technology, 20(4B), 419–431.

Trang 4

Tạp chí Khoa học và Công nghệ Biển, Tập 20, Số 4B; 2020: 419–431

DOI: https://doi.org/10.15625/1859-3097/15815

http://www.vjs.ac.vn/index.php/jmst

Xây dựng mô hình phát triển nuôi trồng thủy sản bền vững

cho bãi Thuyền Chài, huyện đảo Trường Sa, tỉnh Khánh Hòa

, Đào Minh Đông 2

,

1

Viện Tài nguyên và Môi trường biển, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam, Việt Nam

2

UBND huyện đảo Bạch Long Vỹ, Hải Phòng, Việt Nam

3

Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Quảng Ninh, Quảng Ninh, Việt Nam

4

Sở Tài nguyên và Môi trường Hải Phòng, Hải Phòng, Việt Nam

5 Đại học Tài nguyên và Môi trường Hà Nội, Hà Nội, Việt Nam

*

E-mail: quannv@imer.vast.vn

Nhận bài: 3-9-2020; Chấp nhận đăng: 26-11-2020

Tóm tắt

Nghiên cứu này tập trung vào việc xây dựng mô hình phát triển nuôi trồng thủy sản bền vững cho bãi Thuyền Chài dựa trên trục an ninh quốc phòng - kinh tế - môi trường và bảo tồn thiên nhiên làm nền tảng cho sự phát triển bền vững Bước đầu đã đề xuất một số mô hình nuôi trồng thủy sản theo hình thức đa bậc dinh dưỡng, đa đối tượng nuôi xen kẽ lẫn nhau nhằm giảm thiểu những tác động gây hại tới các hệ sinh thái đặc trưng của khu vực Các đối tượng nuôi được đề xuất trong mô hình bao gồm các loài có giá trị kinh tế cao: Cá mú, cá hồng, cá chim trắng, cá vây vàng, cá thu, tôm hùm, trai ngọc, rong câu, ốc nhảy, hải sâm, các hình thức nuôi được đề xuất đảm bảo tận dụng tối đa những lợi thế của điều kiện tự nhiên và tính toán khả năng thích ứng với vùng biển thường đối mặt với điều kiện bất thường của thời tiết Khi mô hình được triển khai sẽ góp phần làm tăng tính tự chủ trong sản xuất hàng hóa của huyện đảo cũng như thu hút lực lượng lao động mới từ đất liền ra xây dựng và phát triển kinh tế biển đảo

Từ khóa: Thuyền Chài, huyện đảo Trường Sa, nuôi trồng thủy sản, phát triển bền vững.

MỞ ĐẦU

Bãi Thuyền Chài nằm ở tọa độ 8009’13’’ vĩ

độ Bắc - 113016’59’’ kinh độ Đông thuộc

huyện đảo Trường Sa, tỉnh Khánh Hòa Bãi

Thuyền Chài cách đảo Trường Sa khoảng 87

hải lý về phía đông Nam và cách đảo An Bang

khoảng 20 hải lý về phía đông bắc Đây là đảo

san hô có một rạn san hô dạng vòng kích thước

lớn, diện tích 33,48 km2 với nguồn lợi hải sản

tự nhiên tương đối phong phú và là ngư trường

khai thác cá truyền thống của ngư dân Việt

Nam từ bao đời nay (hình 1) [1]

Để phát triển kinh tế cho bãi Thuyền Chài

nói riêng, huyện đảo Trường Sa nói riêng rất

cần thiết phải phát triển những mô hình phát triển kinh tế dựa vào việc khai thác và sử dụng

có hiệu quả những lợi thế tự nhiên sẵn có Các hoạt động đánh bắt thủy sản có tiến triển khá tốt, mang lại hiệu quả kinh tế cao trong các hoạt động kinh tế ven đảo Tuy nhiên, các dấu hiệu suy giảm về sản lượng trong những năm gần đây do sự gia tăng quá mức của cường lực khai thác tại ngư trường Trường Sa là các thách thức cho ngư dân bám biển, bám đảo, giữ vững chủ quyền an ninh quốc gia [2]

Trong nghiên cứu này, các mô hình phát triển nuôi trồng thủy sản nhằm khai thác diện tích mặt nước trong vụng biển tự nhiên tạo ra

Trang 5

Establishing a model of sustainable mariculture

bởi các rạn san hô dạng vòng điển hình có thể

trở thành điểm đột phá trong chiến lược phát

triển bền vững cho huyện đảo Các hoạt động

của mô hình sẽ tạo ra công ăn việc làm cho

người dân (ngư dân, đân di cư trên đảo) và tạo

ra sự kết hợp chặt chẽ giữa dân và bộ đội đối

với phát triển kinh tế đảo Sản phẩm hàng hóa tạo ra từ mô hình sẽ đảm bảo cho nhu cầu tại chỗ, bù đắp sự thiếu hụt thực phẩm cho các đảo khác trong huyện cũng như từng bước phát triển sản phẩm hàng hóa mang thương hiệu riêng để đưa vào đất liền

Hình 1 Bản đồ phân bố bãi Thuyền Chài, huyện đảo Trường Sa, tỉnh Khánh Hòa

Trang 6

Nguyen Van Quan et al.

NHU CẦU XÂY DỰNG MÔ HÌNH KINH

TẾ BỀN VỮNG CHO ĐẢO

Mục tiêu xây dựng mô hình kinh tế bền

vững cho bãi Thuyền Chài nhằm đáp ứng các

nhu cầu sau:

Củng cố vị thế địa chính trị: Việc phát triển

kinh tế bãi Thuyền Chài càng khẳng định về

chủ quyền lãnh thổ, chủ quyền biển đảo không

thể chối cãi được của Việt Nam đối với các

nước đang tranh chấp cũng như toàn thể các

quốc gia trên thế giới

Đảm bảo nhu cầu về thực phẩm tại chỗ: Đa

số các đảo thuộc huyện đảo Trường Sa là đảo

chìm, trong đó có bãi Thuyền Chài là đảo nửa

nổi nửa chìm Do thiếu đất trên đảo nên không

có điều kiện để mở rộng canh tác để trồng cây

lương thực, thực phẩm cung cấp cho cán bộ và

người dân trên đảo cũng như cung cấp cho các

đảo lân cận (ngoại trừ một số mô hình trồng rau

xanh trong thùng xốp) Hàng năm, công tác duy

trì các chuyến tàu tiếp tế lương thực thực phẩm

cho đảo gặp nhiều khó khăn nên cuộc sống của

các cán bộ cũng như người dân trên đảo cực kỳ

thiếu thốn và thường trong tình trạng thiếu thực

phẩm đặc biệt là rau xanh Cần có những giải

pháp khai thác và tạo nguồn thực phẩm tại chỗ

từ tài nguyên biển

Nhu cầu chuyển đổi nghề nghiệp: Đánh bắt

thủy sản là hoạt động kinh tế chính của ngư dân

huyện đảo Trường Sa và đây là ngư trường

khai thác truyền thống có từ rất lâu đời Nhưng

với tình trạng các trang thiết bị khai thác càng

ngày càng hiện đại, mật độ tàu thuyền cũng

như công suất tàu thuyền lớn đã dần dần dẫn

đến tình trạng nguồn hải sản vùng khơi càng

ngày càng ít và dần dần sẽ cạn kiệt nếu không

có cách thức thay đổi Để giải quyết các vấn đề

này cần phải có những biện pháp thay đổi cụ

thể để ngư dân có thể yên tâm bám biển và các

cán bộ trên đảo có thể yên tâm, đảm bảo hoàn

thành nhiệm vụ gìn giữ biển đảo Với khẩu hiệu

“Nhà nước và nhân dân cùng làm”, việc chung

tay xây dựng và phát triển các lợi thế đang có

(diện tích mặt nước, điều kiện môi trường,

nguồn nhân lực dồi dào, ), việc thúc đẩy

ngành nuôi trồng hải sản trong lòng các đảo

(các vụng biển kín) với sự tham gia chặt chẽ

của ngư dân cũng như các cán bộ trên đảo là

việc hết sức cấp bách Nó không những đa dạng nguồn thực phẩm cung cấp cho người dân trong huyện đảo, nó lại còn có giá trị là sản phẩm chính có thể cung ứng cho thị trường trong nước cũng như thị trường quốc tế góp phần phát triển kinh tế đảo và đặc biệt, với sự kết hợp chặt chẽ giữa quân và dân trong việc chung tay xây dựng phát triển kinh tế đảo nó càng khẳng định chặt chẽ về chủ quyền biển đảo của nước ta

THỰC TRẠNG VÀ KHẢ NĂNG THAM GIA CỦA CỘNG ĐỒNG VÀO HOẠT ĐỘNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ BIỂN Thực trạng tham gia của cộng đồng

Hiện tại cả bộ đội và ngư dân trên đảo mới chỉ tập trung vào khai thác hải sản Đối với ngư dân, họ khai thác hải sản sau đó vào đất liền bán còn đối với bộ đội trên đảo việc khai thác hải sản mới chỉ nhằm mục đích tăng gia nhằm thay đổi khẩu phần cũng như đa dạng nguồn thực phẩm cho cán bộ trên đảo Trong khi với lợi thế sẵn có, hầu như chưa có bất kỳ mô hình nuôi hải sản nào trên các đảo thuộc huyện đảo Trường Sa

Khả năng tham gia của cộng đồng

Với tiềm năng diện tích mặt nước tự nhiên lớn việc phát triển mô hình nuôi hải sản trên đảo là tương đối phù hợp Việc này cần có sự tham gia của không chỉ bộ đội trên đảo mà cần

có sự chung tay của ngư dân để biến những lợi thế sẵn có thành mũi nhọn phát triển trong tương lai Để giải quyết vấn đề này, việc thành lập các nghiệp đoàn nghề cá là tương đối cấp thiết Các nghiệp đoàn này nên được tổ chức thành hai hình thức: Một là khai thác hải sản và hình thức khác là nuôi trồng hải sản Tất nhiên, các nghiệp đoàn này phải đặt dưới sự quản lý của nhà nước cũng như chịu sự điều hành trực tiếp của đơn vị đóng quân trên đảo Bộ đội đồn trú trên đảo phải được xác định là một lực lượng lao động chủ chốt để tham gia vào phát triển các mô hình này vừa tăng nguồn thực phẩm tại chỗ cho đơn vị vừa có thể nâng cao nguồn thu nhập Với sự tham gia rộng rãi của cộng đồng vào việc phát triển của đảo sẽ càng khẳng định chặt chẽ chủ quyền của Việt Nam đối với bãi Thuyền Chài nói riêng và cả quần đảo Trường sa nói chung

Trang 7

Establishing a model of sustainable mariculture

LỰA CHỌN CÁC THÀNH PHẦN MÔ

HÌNH PHÁT TRIỂN NUÔI THỦY SẢN

BỀN VỮNG VỚI SỰ THAM GIA CỦA

CỘNG ĐỒNG

Xác lập các nguyên tắc xây dựng mô hình

Một số nguyên tắc cần xác lập trong việc

xây dựng mô hình bao gồm:

Bảo vệ toàn vẹn chủ quyền biển đảo: Đây

không những là nguyên tắc mà còn là nhiệm vụ

hàng đầu của tất cả công dân Việt Nam, đặc

biệt là lực lượng vũ trang canh giữ đảo Bộ đội

cũng là lực lượng nòng cốt kiểm soát và triển

khai thực hiện các mô hình phát triển kinh tế

đảo bên cạnh có sự tham gia của người dân Sự

kết hợp giữa lực lượng bảo vệ đảo và người dân

trong vận hành mô hình sẽ đảm bảo sự thành

công trong thực tế triển khai, góp phần bảo vệ

an ninh, chủ quyền biển đảo của Việt Nam trên

Biển Đông

Giữ gìn cảnh quan thiên nhiên của đảo,

không làm mất cân bằng sinh thái của đảo:

Thuyền Chài có các hệ sinh thái đặc trưng như

rạn san hô, thảm cỏ biển cũng như rong biển

khá đặc thù, đa dạng và phong phú nhất trong

hệ thống đảo của huyện đảo Trường Sa Vì vậy,

việc triển khai và phát triển các mô hình nuôi

trồng hải sản tại đây phải được tính toán và quy

hoạch sao cho không có những tác động tiêu

cực, ảnh hưởng đến sự phát triển và sinh cảnh

của các hệ sinh thái đặc trưng này Giải pháp

lựa chọn các đối tượng nuôi phù hợp và kết hợp

nuôi theo bậc dinh dưỡng sẽ giúp các đối tượng

nuôi xen canh xử lý thức ăn dư thừa của nhau,

từ đó không làm ảnh hưởng đến chất lượng môi

trường nước khu vực đảo

Đảm bảo sinh kế bền vững cho người dân

và ngư dân: Đây cũng là nguyên tắc hết sức

quan trọng khi triển khai và thực hiện mô hình

Con người là yếu tố tiên quyết khi triển khai và

thực hiện mô hình Trước hết cần phải trang bị

kiến thức và kỹ thuật cho người dân cũng như

ngư dân Khi có sự chung tay của người dân và

lực lượng gìn giữ đảo sẽ tạo nên một thể thống

nhất vừa phát triển kinh tế đảo vừa đảm bảo

nhiệm vụ gìn giữ đảo, đảm bảo chủ quyền toàn

vẹn lãnh thổ của Việt Nam

Cung ứng thực phẩm cho cư dân trên đảo

và các đảo lân cận: Việc triển khai các mô hình

nuôi trồng hải sản trên đảo sẽ làm đa dạng

nguồn thực phẩm cung cấp cho người dân trên

đảo cũng như các vùng lân cận Đặc biệt, với nguồn rong biển tự nhiên sẵn có và từ nuôi trồng sẽ cung cấp nguồn rau xanh quan trọng không chỉ cho đảo và vùng lân cận mà nó còn

có thể có giá trị lớn cung cấp cho thị trường

Lựa chọn các nội dung thành phần của mô hình

Đặc điểm địa hình của bãi Thuyền Chài với diện tích chủ yếu là các vụng biển bên trong được bảo vệ rạn san hô dạng vòng với độ sâu trung bình 8 m cùng với các điều kiện sóng, dòng chảy tương đối thuận lợi Đây là địa điểm phù hợp để triển khai các mô hình nuôi một cách hợp lý và hiệu quả Hai nội dung chủ yếu mang tính chủ đạo là nuôi lồng bè và nuôi thả giàn các đối tượng hải sản có giá trị kinh tế cao, phù hợp với điều kiện môi trường của đảo, nhiều loài vốn là loài phân bố đặc trưng tại đảo [1]

Nuôi thả bãi: Mô hình này có thể áp dụng

cho các đối tượng như: Rong biển (rong sụn, rong câu, rong nho,…), điệp, sò, bào ngư, hải sâm, ốc hương, ốc nhảy,… Đây là những đối tượng có giá trị kinh tế cao, sống phù hợp trong điều kiện độ muối cao và ổn định (25–35‰), nhiệt độ (26–32oC)

Nuôi lồng bè: Mô hình này áp dụng cho các

loại cá kinh tế như: Cá mú, cá hồng đen, cá chim trắng, cá vây vàng,… hoặc tôm hùm, tôm

mũ ni,… hay các loài thân mềm: Trai ngọc, điệp quạt,…

Nuôi thả giàn: Môi hình này có thể áp dụng

cho các đối tượng như rong biển, điệp, vẹm xanh,…

Phân tích các nội dung thành phần của mô hình

Các nội dung trong mô hình cần đảm bảo liên kết hài hòa với nhau nhằm tận dụng tối đa nguồn thức ăn tự nhiên cũng như không làm thay đổi chất lượng môi trường nước cũng như cảnh quan hiện có của đảo, đặc biệt là san hô

và cỏ biển các nội dung của mô hình cần đảm bảo đủ 4 thành phần: Các đối tượng ăn tạp, các đối tượng sống đáy ăn rong tảo và mùn bã hữu

cơ, các đối tượng ăn lọc và các đối tượng hấp thu dinh dưỡng hòa tan (hình 1)

Các đối tượng có giá trị kinh tế cao phù hợp với các điều kiện môi trường nước tại đảo Thường những đối tượng này là những

Trang 8

Nguyen Van Quan et al.

loài cá dữ sống trong rạn san hô hoặc biển

khơi: Cá mú, cá cam, cá thu ngừ, hay tôm

hùm, tôm mũ ni, các đối tượng này thích

hợp với điều kiện nuôi lồng bè ở khu vực đảo

Khi nuôi các đối tượng này thường luôn đối

mặt với nguồn thải của chúng trong quá trình

nuôi như các chất hữu cơ hòa tan, phân của

chúng hay thức ăn thừa trong quá trình nuôi Đây là những thành phần rất dễ gây ô nhiễm nguồn nước trong khu vực nuôi Để hạn chế

và giải quyết vấn đề này cần phải kết hợp với các đối tượng khác: Các đối tượng ăn mùn bã hữu cơ và các đối tượng hấp thụ các chất dinh dưỡng hòa tan

1

2 Hình 1 Mô phỏng mô hình nuôi thủy sản bền vững [3]

Vật chất hữu cơ

dạng lớn

Vật chất hữu cơ dạng nhỏ Dinh dưỡng hòa

tan

Vùng dinh dưỡng

Rong biển Sinh vật ăn lọc

Sinh vật đáy

Hình 1 Mô phỏng mô hình nuôi thủy sản bền vững [3]

Các đối tượng sống đáy ăn rong, tảo biển và

mùn bã hữu cơ: Các đối tượng này chủ yếu

thuộc ngành Thân mềm, lớp Chân bụng như:

Bào ngư, ốc nhảy, ốc hương, hải sâm, (Trần

Văn Quỳnh, 2006) Các đối tượng này sẽ ăn

mùn bã hữu cơ (vật chất hữu cơ dạng hạt) đây là

dạng phổ biến được thải ra trong quá trình nuôi

lồng bè Lượng mùn bã hữu cơ này nếu không

được hấp thụ chúng sẽ bị phân hủy trở thành

dạng các chất dinh dưỡng hòa tan gây phì dưỡng

khu vực nuôi Tất nhiên các đối tượng này cũng

thải ra môi trường các dạng vật chất dưới dạng

hòa tan và không hòa tan, dưới sự phân hủy của

vi khuẩn các vật chất không hòa tan sẽ thành các

chất dinh dưỡng hòa tan Nếu tích tụ nhiều cùng

với các sản phẩm từ quá trình nuôi lồng, bè sẽ

gây phì dưỡng cho môi trường nước và sễ thúc

đẩy quá trình nở hoa của thực vật phù du sẽ gây

tác động tiêu cực cho các đối tượng nuôi Để hạn chế các tác động tiêu cực này cần đến thành phần thứ 3 và thứ 4

Các đối tượng ăn lọc: Đây cũng là các đối tượng thuộc ngành thân mềm nhưng chủ yếu nằm ở lớp hai mảnh vỏ như: Điệp, trai, sò, Đây là các đối tượng ăn lọc thức ăn chủ yếu là thực vật phù du Trong quá trình nuôi việc dinh dưỡng tích tụ sẽ dẫn đến tình trạng phát triển bùng phát của thực vật phù du có thể sẽ làm cho thực vật phù du nở hoa Sự nở hoa của tảo cũng như lượng vật chất lơ lửng tăng sẽ làm giảm độ trong của nước, điều này ảnh hưởng trầm trọng đến sự phát triển của san hô, cỏ biển, rong biển Chính vì vậy cần kết hợp nuôi các đối tượng ăn lọc các chất lơ lửng cũng như thực vật phù du sẽ gải quyết những vấn đề nêu trên [3]

Trang 9

Establishing a model of sustainable mariculture

Các đối tượng nuôi có khả năng hấp thụ các

chất dinh dưỡng hòa tan: Các đối tượng này

chủ yếu là rong biển như: Rong sụn, rong nho,

rong câu, Mặc dù cỏ biển cũng có khả năng

hấp thụ các chất dinh dưỡng nhưng chủ yếu

chúng hấp thụ dinh dưỡng từ nền đáy qua rễ

Trong khi rong biển thì thường không có rễ, có

thì nó là rễ giả dạng đĩa bám, bám vào giá thể

Cũng giống như thực vật phù du, rong biển

cũng hấp thụ dinh dưỡng hòa tan để sinh

trưởng và phát triển Đây là đối tượng rất phù

hợp để giải quyết vấn đề phì dưỡng của nước

bên cạnh thực vật phù du Ngoài ra, đây cũng là

nguồn rau xanh tự nhiên của biển cả ban cho

con người [4]

Các giải pháp để thực hiện mô hình

Nhân lực thực hiện

Nguồn nhân lực có số lượng lớn chỉ huy

động khi triển khai thiết lập mô hình do phải

chuẩn bị nguyên vật liệu và thiết kế bãi nuôi,

lồng nuôi,… Nhưng trong quá trình vận hành

thì chỉ cần khoảng tối đa 10 người để quản lý

và chăm sóc cả khu vực nuôi thả bãi lẫn nuôi

lồng bè

Quy hoạch vùng nuôi

Khu vực nuôi thả bãi: Được quy hoạch là

các vùng có độ sâu dao động từ 1–3 m khi thủy

triều xuống thấp nhất, bao gồm các bãi cạn và

viền ngoài bao quanh các vụng trong đảo Diện

tích xác định cho nuôi thả bãi khoảng 300 ha

Vùng nuôi bãi sẽ phân chia thành các khu vực

nhỏ với diện tích khoảng 3–5 ha sử dụng lưới

để phân lô để thuận tiện cho công tác quản lý

sau này Các lô phải đảm bảo cách nhau 100–

200 m để không cản trở sự lưu thông của nước giữa trong và ngoài đảo

Khu vực nuôi lồng bè và nuôi thả giàn: Được quy hoạch là các nơi nằm trong lòng vụng,

có độ sâu từ 5–10 m khi thủy triều thấp nhất, nền đáy bên dưới là đá hoặc thảm cỏ biển Diện tích dự kiến cho nuôi lồng bè và thả giàn khoảng 6.300 ha Khu vực này cũng sẽ chia mặt nước cho người dân quản lý và thực hiện mô hình Doanh nghiệp hoặc người dân khi nhận giao mặt nước này phải đảm bảo người dân thực hiện nuôi đầy đủ 4 đối tượng nuôi như ở trên nhằm

xử lý triệt để vấn đề về môi trường

Quy mô của mô hình

Tùy thuộc vào lượng người tham gia phát triển mô hình để xây dựng quy mô của mô hình Đối với mỗi thành viên tham gia mô hình

sẽ được nhận 3–5 ha bãi nuôi và tầm 5 ha diện tích mặt nước để nuôi lồng bè Đối với diện tích nuôi lồng bè và thả giàn, không được phát triển số lồng bè vượt quá 10% diện tích mặt nước để dảm bảo nước lưu thông và lượng phát thải ra môi trường ở mức kiểm soát được, mặc

dù có các đối tượng nuôi khác có thể xử lý được các vấn đề này

Kỹ thuật nuôi

Nuôi thả bãi

Bãi nuôi có thể được ngăn bằng lưới để chia nhỏ bãi ra các diện tích khác nhau, phù hợp với nuôi nhiều đối tượng riêng lẻ hoặc cũng có thể chọn cách nuôi ghép các đối tượng nuôi với nhau (hình 2)

1 với nuôi nhiều đối tượng riêng lẻ hoặc cũng có thể chọn cách nuôi ghép các đối tượng nuôi với nhau (hình 2)

Hình 2 Mô phỏng mô hình nuôi thả bãi các đối tượng hải sản (1 Nuôi rong; 2 Nuôi ghép điệp và

bào ngư; 3 Nuôi ghép ốc nhảy, ốc hương và hải sâm)

Trang 10

Nguyen Van Quan et al.

Hiện nay có 2 phương pháp chính để nuôi

thả bãi với đối tượng rong biển đó là nuôi theo

phương pháp dây đơn và nuôi theo phương pháp mạng lưới (hình 3)

2

3

4

5

6

7

8

9

10

11

(a)

(b)

Hình 3 Các hình thức nuôi rong biển ở bãi (a Nuôi mạng lưới; b Nuôi dây đơn) [5]

Cả hai phương pháp nuôi kể trên đều có thể

áp dụng được ở bãi Thuyền Chài, nhưng để tối

ưu và tiết kiệm nhân công cũng như nguyên vật

liệu thì phương pháp nuôi dây đơn có tính ưu việt

hơn Vì vậy, nên chọn phương pháp nuôi dây

đơn ở bãi Thuyền Chài Phương pháp này áp

dụng cho các loài rong câu và rong sụn Đối với

rong nho, có thể được trồng trực tiếp trên nền

đáy Để giải quyết bài toán gió bão thường xảy ra

ở quần đảo Trường Sa từ tháng 7 trở đi đến tháng

12, việc nuôi theo dây và mạng lưới chỉ phù hợp

triển khai trong khoảng 6 tháng đầu năm

Nuôi lồng bè và thả giàn

Trong hệ thống này phải nuôi kết hợp các đối tượng để giải quyết vấn đề về nguồn thức

ăn dư thừa (hình 1) Chọn vùng nước đó độ sâu

từ 5 m nước trở lên lúc nước triều thấp nhất

Nuôi lồng: Chọn những đối tượng có giá trị

kinh tế cao và thích nghi với điều kiện môi

trường tại đảo như cá mú (Epinephelus spp.),

cá cam (Seriola spp.), cá giò (Rachycentron

canadum), cá hồng (Lutjanus spp.), tôm hùm

(Panulirus spp.),…

Hình 4 Mô phỏng hệ thống lồng nuôi [6]

Lồng nuôi có thể làm hình tròn hoặc hình

vuông, vật liệu làm khung lồng phải có độ bền

cao, dẻo dai và chịu được lực tác động do sóng gió (hình 4, 5) Hiện nay trên thế giới thường

Ngày đăng: 01/05/2022, 21:41

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

bởi các rạn san hô dạng vòng điển hình có thể trở  thành  điểm  đột  phá  trong  chiến  lược  phát  triển  bền  vững  cho  huyện  đảo - Establishing-a-model-of-sustainable-mariculture-development-for-Thuyen-Chai-Reef-Barque-Canada-Reef-Truong-Sa-islands-district-Khanh-Hoa-province
b ởi các rạn san hô dạng vòng điển hình có thể trở thành điểm đột phá trong chiến lược phát triển bền vững cho huyện đảo (Trang 5)
2. Hình1. Môphỏng mô hình nuôi thủysản bềnvững [3] - Establishing-a-model-of-sustainable-mariculture-development-for-Thuyen-Chai-Reef-Barque-Canada-Reef-Truong-Sa-islands-district-Khanh-Hoa-province
2. Hình1. Môphỏng mô hình nuôi thủysản bềnvững [3] (Trang 8)
Các giải pháp để thực hiện mô hình - Establishing-a-model-of-sustainable-mariculture-development-for-Thuyen-Chai-Reef-Barque-Canada-Reef-Truong-Sa-islands-district-Khanh-Hoa-province
c giải pháp để thực hiện mô hình (Trang 9)
Hình 3. Các hình thức nuôi rong biể nở bãi (a. Nuôi mạng lưới; b. Nuôi dây đơn) [5] Cả hai phương pháp nuôi kể trên đều có thể  - Establishing-a-model-of-sustainable-mariculture-development-for-Thuyen-Chai-Reef-Barque-Canada-Reef-Truong-Sa-islands-district-Khanh-Hoa-province
Hình 3. Các hình thức nuôi rong biể nở bãi (a. Nuôi mạng lưới; b. Nuôi dây đơn) [5] Cả hai phương pháp nuôi kể trên đều có thể (Trang 10)
1. phương pháp dây đơn và nuôi theo phương pháp mạng lưới (hình 3). - Establishing-a-model-of-sustainable-mariculture-development-for-Thuyen-Chai-Reef-Barque-Canada-Reef-Truong-Sa-islands-district-Khanh-Hoa-province
1. phương pháp dây đơn và nuôi theo phương pháp mạng lưới (hình 3) (Trang 10)
thể thích nước từ 500– 1000m3 (hình 5). - Establishing-a-model-of-sustainable-mariculture-development-for-Thuyen-Chai-Reef-Barque-Canada-Reef-Truong-Sa-islands-district-Khanh-Hoa-province
th ể thích nước từ 500– 1000m3 (hình 5) (Trang 11)
Hình 5. Một số dạng lồng nuôi phổ biến [6] Kích thước lồng nuôi được mô phỏng theo  - Establishing-a-model-of-sustainable-mariculture-development-for-Thuyen-Chai-Reef-Barque-Canada-Reef-Truong-Sa-islands-district-Khanh-Hoa-province
Hình 5. Một số dạng lồng nuôi phổ biến [6] Kích thước lồng nuôi được mô phỏng theo (Trang 11)
Hình 7. Môphỏng phương pháp nuôi giàn treo [3], 1. Chuỗi túi lưới; 2. Nuôi xâu tai điệp; 3 - Establishing-a-model-of-sustainable-mariculture-development-for-Thuyen-Chai-Reef-Barque-Canada-Reef-Truong-Sa-islands-district-Khanh-Hoa-province
Hình 7. Môphỏng phương pháp nuôi giàn treo [3], 1. Chuỗi túi lưới; 2. Nuôi xâu tai điệp; 3 (Trang 12)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w