Khoa hồc & Công Nghá»⁄ pdf
Trang 1KHOA HOC VA CONG NGHE 43
PHUONG PHAP DAI HUU HAN TRONG PHAN TICH KET CẤU
Cuộc thi Quả táo vàng của Khoa KT & CN
1 Tổng quan về phương pháp dải hữu hạn
Để giải quyết một bài toán cơ học vật
rắn biến dạng tổng quát cần thiết phải tìm được
15 ẩn hàm (gồm 3 phương trình vi phân cân
bằng nội, 6 phương trình liên tục - phương trình
Cauchy, 6 phương trình quan hệ giữa ứng suất
- biến dạng), đồng thời các ẩn hàm này phải
thỏa mãn các điều kiện biên động học và tĩnh
học Điều này rõ ràng không thực hiện được đối
với những bài toán tổng quát do khó khăn về
mặt toán học Vì thế có nhiều phương pháp tính
ra đời nhằm giải quyết vấn đề trên Hiện nay
phương pháp số được ứng dụng nhiều nhất
trong phân tích kết cấu là phương pháp phần tử
hữu hạn (finite element method - FEM)
(*) Thac si, GVCH Khoa Ky Thuat & Cong
Nghệ Đại học Mở Bán công TP.HCM
LE VAN BINH(*)
FEM là một công cụ rất mạnh mẽ và linh hoạt trong việc phân tích kết cấu đã được
phát triển nhanh chóng và ứng dụng giải quyết
rất nhiều những bài toán cơ học Tuy nhiên đối
với những kết cấu có đặc tính hình học thông thường và điều kiện biên đơn giản, nếu phân tích bằng FEM một cách đầy đủ là không cần
thiết và thường dẫn đến việc phân tích một bài
toán bậc cao để có thể thu được nghiệm tốt
Chính vì vậy bài toán chính xác đòi hỏi nhiều
công cụ máy móc hỗ trợ cho người thiết kế, bài
toán được giải quyết một cách cứng nhắc hoặc phải thực hiện nhiều bước tính toán trung gian dài dòng và tốn thời gian Điều này thể hiện rõ
trong các bài toán phân tích kết cấu ở trạng thái
tĩnh (static analysis) của vật rắn 3 chiều hay những bài toán phân tích dao động và ổn định của các kết cấu không gian Do đó chúng ta
cần lựa chọn một phương pháp tính có thể giảm
bớt khối lượng tính toán bằng cách sử dụng linh
hoạt phương pháp phần tử hữu hạn để phân
tich các loại kết cấu mong muốn
Từ những vấn đề nêu trên, gần đây đã
phát triển một phương pháp phan tich két cau
có thể thỏa mãn những yêu cầu của bài toán đó
là phương pháp dải hữu hạn (finite strip method
- FSM) Trong phương pháp này, kết cấu được
chia thành những dải (strip) hoặc những miền
con (subdomain) 3 chiều như lăng trụ (prism)
hoặc lớp (layer) mà các dải đó có một cặp cạnh
(2-D) hay nhiều mặt đối diện (3-D) trùng lặp với
nhau ở các biên của kết cấu Do đặc tính của phương pháp, các kết cấu thường có dạng hình
học không thay đổi dọc theo một hoặc hai trục
tọa độ để kích thước mặt cắt ngang của các dải
Trang 244 TẬP SAN KHOA HỌC SỐ 4(5)-2005
(hoặc của lăng trụ hay lớp) không thay đổi từ
đầu đến cuối Vì vậy các kết cấu như dầm cầu
dạng hộp (box girder bridge) hoặc các loại tấm
mỏng (voided slab) rất dễ dàng chia thành các
dải hoặc lăng trụ, hay các loại kết cấu tấm và
(œ) tấm phẳng
(Plate Strips)
KZ
Lb
$5 79
(c) Céu ddm hSp cong
(Shell Strips)
2 Lựa chọn hàm chuyển vi
FSM có thể xem là trường hợp đặc biệt
của FEM bằng cách sử dụng hàm gần đúng
của chuyển vị (displacement approach) theo
mô hình tương thích Tuy nhiên, FEM sử dụng
một hàm xấp xỉ chuyển vị dạng đa thức trong
tất cả các chiều, trong khi FSM sử dụng các đa
wed f,00Y,
m=l
vỏ dày nhiều lớp đẳng hướng rất thuận tiện khi
chia thành các layer để nghiên cứu Các dạng
kết cấu sau đây sẽ minh họa cách chia phần tử
theo dải và áp dụng phương pháp tính toán FSM
(Œ) Tếm rỗng khoét lỗ †ròn
(Quadrilateral Finite Prisrrs)
) Tdm dèy nhiều lớp
(Finite Layers) thức đơn giản kết hợp với chuỗi hàm lượng giác
và các chuỗi đạo hàm riêng liên tục với điều kiện các chuỗi phải thỏa mãn một điều kiện tiên
quyết (priori) về điều kiện biên tại biên của các
dai (lang trụ, lớp) Công thức tổng quát của
hàm chuyển vị được cho bởi tích của các đa
thức và chuỗi Vì vậy, đối với các dải trong bài toán 2 chiều được giảm xuống bài toán một
chiều Hàm chuyển vị được viết như sau :
(2.1a)
Tương tự cho trường hợp “dải pri sm”, bài toán ba chiều được giảm xuống
thành bài toán 2 chiều :
=Š /(x,2)Y,
m=]
(2.1b)
Đối với “dải layer” bài toán ba chiều được phân tích như bài toán 1 chiều :
r t
w= » >» ấp (ZX AY,
m=l n=l
(2.1c)
Trong biểu thức trên, các chu ỗi đã được cắt bớt ở bậc thứ r và số hạng thứ
t; /„(x), /„(x,z), /„(z) là các biểu thức đa thức với các hằng số không xác định
cho số hạng thứ m và n của chuỗi XY, m2?" m tương ứng là các chuỗi thỏa mãn các
điều kiện biên theo phương x và y và chỉ rõ hàm độ võng trong các phương này
Chính vì thế bậc tự do của hệ thống giảm nên số ẩn số cần tìm giảm Bài toán
trở nên đơn giản hơn
Trang 3KHOA HOC VA CONG NGHE 45
Thí dụ: Hàm độ võng của dải chịu uốn được xác định như sau:
(1) phần chuỗi của hàm chuyển vị này được dẫn từ phương trình vi phân chủ
đạo của bài toán dầm chịu uốn (đương nhiên, một “dải” có thể xem như một kết
cấu dạng thanh là bài toán 1 chiều của cơ học vật rắn), cụ thể:
4
Y= iY (2.2)
a
Trong d6 a 1A chiéu dai cia dam (dai) va u 1a thong sé
Dạng tổng quát nghiệm của phương trình cơ bản (2.2) là:
TŒ)=Ẳ si 2) +C, cos 2) CG snh| #2] +C, cost{ | (2.3)
vGi cdc hé s6 Cj Cp dude x4c dinh tir diéu kién bién
(1) Phân äa thức của hàm chuyển vị hay ham dang (shape function) 14 mét
đa thức liên kết với thông số chuyển vị nút, và nó mô tả trường chuyển vị tương
ứng bên trong mặt cắt ngang của dải khi thông số chuye ”n vị nút được cho bằng
đơn vị Hàm dạng phụ thuộc vào hình dạng mặt cắt ngang của strip và số đường
nút bên trong strip
(a) (b) (c)
L b/2 + bj? Ăd L b/2 iL: b/2 4
(d) (e)
(g)
Hình 2 - Mặt cắt ngang dạng dải và dạng lăng trụ
Kíihiều -©@/;LIcj =i N= £ =,
Hàm dạng đối với phần tử dải chịu uốn trên hình 2b, ta có hàm dạng:
(c.Eš -z> }x€ -x]
Hàm chuyển vị sẽ la w= INlB}= >4 lic, Ic, Is},
m=l
Trong đó, các thông số của đường nút là: § Ì, = „9,„ w,„9,„
w„; và Є là chuyển vị và góc xoay cho số hạng thứ zm của chuỗi Y„ và xem như là các ẩn số cần tìm theo ESM
Trang 4Tư tưởng chủ yếu của phương pháp FSM cũng tương tự như FEM là tìm
dạng gần đúng của ẩn hàm trong các miễn con Vẹ (hay còn gọi là phần tử
element) thuộc miễn V của nó Tuy nhiên dang V, của phương pháp FSM có tính
chất không thay đổi trong toàn miễn V do đó chỉ áp dụng trong các bài toán như
đã nêu ở trên Các miễn con V„ này liên kết với nhau trên biên gọi là đường nút
(nodal line) Các thông số của đường nút có thể gọi là bậc tự do của phần tử và
xem là các ẩn số cần tìm Sau khi tính toán được các thông số chuyển vị của
đường nút {Š},, các thành phần chuyển vị, ứng suất, biến dạng của phần tử sẽ
được “ nội suy ” bằng ma trận các hàm dạng thông qua các phép nội suy của
Lagrange hay Hermitian Để rõ hơn về phương phap nay, ta xem bang so sánh
sự khác nhau của phương pháp phần tử hữu hạn và phương pháp dải hữu han
Phương pháp phần tử hữu hạn
(FEM)
Phương pháp dải hữu hạn
(“SM)
Có thể áp dụng phân tích kết cấu với
mọi dạng hình học, mọi điều kiện biên
và vật liệu khác nhau Là công cụ rất
mạnh và linh hoạt
Trong bài toán tĩnh, thường được áp
dụng cho các kết cấu với gối tựa đơn giản, có hoặc không có gối tựa đàn
hồi trung gian, đặc biệt là ca Âu Trong
bài toán động, thường sử dụng cho kết cấu với mọi điều kiện biên nhưng không có øối tựa rời rạc
Thường có số lượng phương trình
nhiều và ma trận độ cứng có dải rộng
(bandwith) tương đối lớn Có thể
không tìm được lời giải vì giới hạn của
các công cụ tính toán
Số lượng phương trình ít hơn và ma
trận độ cứng có dải hẹp, đặc biệt đúng
cho bài toán gối tựa đơn giản Do đó
thời gian tính toán ít hơn nhiều để tìm
ra lời giải chính xác
Số lượng dữ kiện đưa vào rất lớn và dễ
gây ra các lỗi lầm, đòi hỏi sự tự động
hoá việc phủ lưới và phát sinh tải
trọng
Số lượng dữ kiện đưa vào rất ít vì các đường lưới ít do việc giảm kích thước
bài toán phân tích
Số lượng dữ liệu xuất ra lớn bao gồm
tất cả các chuyển vị nút và ứng suất
phần tử Các phần tử bậc thấp hơn sẽ
không có được ứng suất chính xác tại
các nút và ứng suất trung bình được
nỘI suy
Dễ dàng chỉ r õ các chuyển vị và ứng
suất cần tìm và xuất ra kết quả một
cách chính xác
Đồi hồi một số lượng lớn các yếu tố
cốt lõi và rất khó khăn để lập trình
Thông thường cần có những kỹ thuật
tính toán cao phải dùng đến như
phương pháp thu gọn khối lượng hay
phương pháp lặp để giảm các yêu cầu
chính Cần một số nhỏ các yếu tố cốt lõi và
dễ lập trình hơn Bởi vì chỉ cần một vài trị riêng thấp nhất nên từ 2 đến 3
số hạng đầu tiên của chuo Fi cũng cho
kết quả khá chính xác, có thể giải các
ma trận bằng các ma trận con trị riêng
chuẩn
Trang 5
3 Một số kết quả tính toán Khảo sát bài toán ứng suất phẳng của
lý thuyết đàn hồi, được giải theo 3 phương pháp
khác nhau:
1 Sử dụng phương pháp giải tích của lý
thuyết đàn hồi
2 Sử dụng FEM (phần mềm SAP2000
- hãng CSI, Mỹ)
3 Sử dụng FSM với 2 loại phần tử bậc thấp (LO2) và bậc cao (HO2) (chương trình
FSMISA - Lê Văn Bình - ĐH Mở BC TpHCM)
0.E+00 1.E-03 2.E-03
3.E-03 4.E-03 5.E-03
6.E-03
7.E-03 8.E-03
BIỂU ĐỒ CHUYỂN VỊ
(a=8, b=4; a/b=2)
—mM—@G}
== FEM
—— LO2
—&— HO2
9.E-03 + T T T T T T T
0 05 1
T T T T T T T T 1 (m)
Nhận xét: Kết quả tính toán cho thấy,
mặc dù dùng SAP2000 với lưới phần tử là
8x8=64 phần tử, nhưng lời giải của FEM cho kết
quả không chính xác so với FSM chỉ với lưới 4
strip (lời giải của lý thuyết đàn hồi xem như
chính xác) Điều này có thể dễ dàng lý giải
được, do FEM chỉ tính toán và quy đổi toàn bộ
tải trọng và độ cứng của kết cấu về nút, do vậy
kết cấu bị "cứng hóa", do vậy lời giải chuyển vị
đương nhiên sẽ nhỏ hơn so với FSM và lý
thuyết đàn hồi
Tương tự như FEM, khả năng tự động hóa của FSM rất cao, do vậy chỉ cần sử dụng một
chương trình với thư viện phần tử được lập sẵn thì có thể giải quyết hầu hết các bài toán kết
cấu như đã nêu ở phần 1 Sơ đồ giải thuật thực
hiện theo chương trình FSMISA như sau:
Trang 6BAT BAU |
(Start)
Ị
ĐỌC DỮ LIỆU NHẬP (Read Data Input)
LAP TREN TAT CA CAC SO HANG CUA CHUO!
(Loop on Number of Terms)
Y
NHAP CAC HE SOT ẢI TRỌNG CHUỒI
(Read Fourier Load Coefficient)
Y
LAP TREN TAT CA CAC PHAN TU DAI
1
TÍNH TOÁN MA TRAN BO CUNG VA TAI TRONG PHAN TU
Ị
| LẮP GHÉP VÀO MA TRẬN ĐỘ CỨNG VÀ TẢI TRỌNG TỔNG THỂ
(Assemblage of Stiffness and Load Matrix)
(Form Siffness and Load Matrix for Strip)
ee,
GIẢI HỆ PHƯƠNG TRÌNH ĐẠI SỐ TÌM THÔNG SO DUGNG NUT
— Y
| XUẤT CÁC THÔNG SỐ CHUYỂN VỊ ĐƯỜNG NÚT
Y
TINH TOAN CAC THANH PHAN UNG SUAT, CHUYEN VI
(Output Internal Forces)
yo
KET THUC
(Stop)
4 Két luan
FSM đặc biệt có hiệu quả khi giải các
kết cấu thỏa mãn các điều kiện như đã nêu ở
phần 1 Trong thực tế có rất nhiều các kết cấu
như cầu dầm hộp (box girder bridge), cầu dây
văng (cable-stayed bridge), kết cấu tấm vỏ
bằng các vật liệu phức tạp có thế áp dụng
FSM để tính toán Ngoài ra, trong bài toán phân
tích kết cấu chịu tải di động thì FSM khẳng định
ưu thế vượt trội so với FEM Các phần mềm
phần tử hữu hạn hiện nay chỉ có khả năng phân tích kết cấu chịu tải di động trên phần tử 1 chiều (1-D element) (chẳng hạn như SAP2000), do
đó vẫn hạn chế về khả năng tính toán Với
FSM, hoàn toàn có thể phân tích bài toán trên
các "dải layer" với phương pháp tính đơn giản, khả năng tự động hóa tính toán và độ:chính xác cao,
Trang 7KHOA HOC VA CONG NGHE 49
TOM TAT
Phương pháp dải hữu hạn (FSM) là một công cụ mạnh mẽ trong phân tích các kết cấu có dạng hình học thông thường và điều kiện biên đơn giản, chẳng hạn như cầu dầm hộp, cầu dây văng, các kết cấu tấm vỏ Ngoài ra, phương pháp này rất tiện lợi để phân tích các kết cấu chịu
tải trọng di động, phân tích dao động và ổn định của kết cấu Bài báo này trình bày những ứng dụng cơ bản của phương pháp, từ đó có thể phát triển thành một phần mềm chuyên dùng để tính toán cho các công trình cầu chịu tải trọng di động
SUMMARY
Finite strip method (FSM) is a powerful tool for analyzing structures having regular geo- metric plans and simple boundary conditions, such as box girder bridges, cable-stayed bridges, plate and shell structures, etc Furthermore, this method is very convenient to analyze structures having moving load, and the vibration and stability of structures This article shows some basic applications of the FSM, thereon, specific software for FSM can be developed to compute for proj- ects with bridges under moving load.