UBND TỈNH BẮC GIANG SỞ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT Số /BC SNN CỘNG HÕA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập Tự do Hạnh phúc Bắc Giang, ngày tháng 6 năm 2021 BÁO CÁO Kết quả hoạt động và số liệu hiện trạng phát t[.]
Trang 1Số: /BC- SNN Bắc Giang, ngày tháng 6 năm 2021
BÁO CÁO Kết quả hoạt động và số liệu hiện trạng phát
triển làng nghề năm 2020
Thực hiện Công văn số 269/KTHT-NNNT ngày 12/5/2021 của Cục Kinh tề hợp tác và Phát triển nông thôn về việc báo cáo số liệu hiện trạng làng nghề năm 2020;
Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Bắc Giang tổng hợp báo cáo kết quả thực hiện như sau:
1 Số lượng làng nghề
Tỉnh Bắc Giang hiện có 34 làng nghề đạt tiêu chí (giảm 05 làng nghề so với năm 2020 do UBND tỉnh thu hồi giấy chứng nhận làng nghề tại QĐ số 508/QĐ-UBND ngày 17/5/2021 vì không đạt tiêu chí theo quy định tại Nghị định
số 52/2018/NĐ-CP ngày 12/4/2018 của Chính Phủ), trong đó có 12 làng nghề truyền thống và 22 làng nghề;
2 Tình hình hoạt động của các làng nghề:
Trong tổng số 34 làng nghề hiện nay có 26/34 làng nghề đang hoạt động Tuy nhiên về quy mô sản xuất có khác nhau, một số làng nghề vẫn duy trì phát triển mạnh như: làng nghề mỳ Chũ, xã Nam Dương, huyện Lục Ngạn; làng nghề sản xuất mỳ gạo Châu Sơn, xã Ngọc Châu, huyện Tân Yên; làng nghề sản xuất bún, bánh Đa Mai, Phường Đa Mai, TP Bắc Giang; làng nghề mộc Bãi Ổi, xã Dính Trì, TP Bắc Giang; làng nghề rượu Làng Vân, xã Vân Hà, huyện Việt Yên; Một số làng nghề hoạt động nhỏ, lẻ, cầm trừng như: làng nghề Gai Bún,
xã Đào Mỹ, huyện Lạng Giang; làng nghề Dệt thổ cẩm, làng nghề Giấy gió, xã Lục Sơn, huyện Lục Nam;….và 08 làng nghề thời điểm hiện nay không còn hoạt động (gồm: làng nghề vận tải đường sông Nguyệt Đức, xã Vân Hà, huyện Việt Yên; 07 làng nghề làm vôi cay sỉ thuộc xã Hương Vỹ, xã Đông Sơn, huyện Yên Thế);
- Về thu nhập: Tùy theo từng nhóm ngành nghề có mức thu nhập khác nhau, như nghề mây tre đan có mức thu nhập bình quân khoảng 1 triệu đến 3 triệu đồng/lao động/tháng; nghề sản xuất mỳ gạo có mức thu nhập bình quân khoảng 3,5 đến 5 triệu đồng/lao động/tháng; nghề mộc có mức thu nhập bình quân khoảng 4,5 triệu đến 8 triệu đồng/lao động/tháng (tùy theo trình độ tay nghề của lao động);
- Số làng nghề có sản phẩm tham gia Chương trình OCOP và được công
Trang 2nhận sản phẩm đạt 03 sao trở lên: Có 14 sản phẩm làng nghề được cấp giấy chứng nhận sản phẩm Chương trình mỗi xã một sản phẩm (OCOP); trong đó có
05 SP đạt 4 sao là: Mỳ chũ Green, Mỳ chũ Xuân Trường, Mỳ Ngũ Sắc, Mỳ gạo lứt, Mỳ gạo Chũ Thủ Dương (làng nghề Thủ Dương, huyện Lục Ngạn); 08 sản phẩm đạt 03 sao là: Bún khô Đa Mai, Bún tươi Đa Mai, Bún khô gạo lứt Đa Mai, Bún khô chùm gây Đa Mai (làng nghề Bún Đa Mai, TP Bắc Giang); Phở khô cao cấp, Bún khô cao cấp (làng nghề Châu Sơn, huyện Tân Yên); sản phẩm Rượu nếp cái hoa vàng (hộ sản xuất làng nghề Vân Hà, huyện Việt Yên) và Mỳ rau củ quả Thuận Hương (làng nghề Thủ Dương, huyện Lục Ngạn);
- Một số sản phẩm làng nghề đã xây dựng được thương hiệu, nhãn hiệu tập thể, chỉ dẫn địa lý như: sản phẩm Mỳ gạo của làng nghề Thủ Dương, xã Nam Dương, huyện Lục Ngạn; sản phẩm Rượu làng vân của làng nghề Yên Viên, xã Vân Hà, huyện Việt Yên; sản phẩm Bánh đa của làng nghề Sau, phường Dĩnh Kế, TP Bắc Giang; sản phẩm Mỳ gạo của làng nghề Châu Sơn, xã Ngọc Châu, huyện Tân Yên; sản phẩm Bánh đa nem của làng nghề Thổ Hà, xã Vân Hà, huyện Việt Yên;
- Xây dựng được nhà trưng bày, giới thiệu sản phẩm tại làng nghề như: nhà trưng bày, giới thiệu sản phẩm Mỳ gạo của làng nghề Thủ Dương, xã Nam Dương, huyện Lục Ngạn; nhà trưng bày, giới thiệu sản phẩm Rượu làng vân của làng nghề Yên Viên, xã Vân Hà, huyện Việt Yên;
- Để làng nghề phát triển bền vững, ổn định, một số làng nghề đã thành lập HTX, Hội sản xuất và tiêu thụ sản phẩm, như: HTX Mộc Bãi Ổi, thuộc làng nghề Bãi ỔI, xã Dình Trì, TP Bắc Giang; HTX SXKD Bún Đa Mai, HTX SXKD bún bánh sạch Thắng Thủy Đa Mai, HTX SXKD bún bánh nông sản sạch Đa Mai, thuộc làng nghề Đa Mai, phường Đa Mai, TP Bắc Giang; Hội sản xuất và tiêu thụ rượu làng vân thuộc làng nghề Yên Viên, xã Vân Hà, huyện Việt Yên;
- Thị trường tiêu thụ sản phẩm: chủ yếu thị trường trong nước, một số ít sản phẩm xuất khẩu (mỳ chũ, mây tre đan Tăng tiến, đồ gỗ) sang thị trường Châu âu, Nhật Bản, Trung Quốc
- Về thu nhập: Tùy theo từng nhóm ngành nghề có mức thu nhập khác nhau, như nghề mây tre đan có mức thu nhập bình quân khoảng 1 triệu đến 3 triệu đồng/lao động/tháng; nghề sản xuất mỳ gạo có mức thu nhập bình quân khoảng 3,5 đến 5 triệu đồng/lao động/tháng; nghề mộc có mức thu nhập bình quân khoảng 4,5 triệu đến 8 triệu đồng/lao động/tháng (tùy theo trình độ tay nghề của lao động);
- Tổng số lao động: Năm 2020 là: 5.935 lao động;
- Doanh thu từ các làng nghề: Năm 2020 là: 551.950,5 triệu đồng;
(Chi tiết theo phụ biểu số 1, 2 đính kèm)
Trang 33 Tồn tại, hạn chế:
- Quy mô: Các cơ sở sản xuất trong làng nghề chủ yếu có quy mô nhỏ
lẻ, theo hộ gia đình
- Thị trường tiêu thụ: chủ yếu tiêu thụ nội địa, chưa đầu tư quan tâm đến mẫu mã bao bì sản phẩm để xuất khẩu
- Sự ảnh hưởng của làng nghề đến môi trường: do năng lực tài chính của các hộ sản xuất trong các làng nghề còn hạn chế nên việc đầu tư đổi mới máy móc, thiết bị tiên tién áp dụng vào sản xuất để nâng cao giá trị sản phẩm và làm giảm ô nhiễm môi trường của các làng nghề còn thấp
- Công tác đào tạo tập huấn về ngành nghề nông thôn còn hạn chế nhất là các lớp tập huấn về bảo vệ môi trường, an toàn vệ sinh lao động,
4 Đề xuất một số giải pháp:
Để tạo điều kiện cho các làng nghề được công nhận tồn tại và phát triển, góp phần chuyển dịch cơ cấu lao động trong nông nghiệp, nông thôn; giải quyết công ăn, tạo việc làm cho những lao động cao tuổi sống ở khu vực nông thôn có nghề, nâng cao thu nhập, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đề xuất một
số giải pháp sau:
1 Tăng cường công tác quản lý nhà nước từ cơ sở về lĩnh vực làng nghề trên địa bàn, thực hiện nghiêm chế độ thông tin báo cáo
2 Chú trọng công tác tuyên truyền trên báo, đài phát thanh truyền hình
về các làng nghề trong hoạt động sản xuất nhằm quảng bá, giới thiệu sản phẩm làng nghề Tăng cường công tác tập huấn cho trưởng thôn (bản), Bí thư Chi bộ thôn và các cơ sở sản xuất tại các làng nghề về bảo vệ môi trường,
3 Định hướng công tác đào tạo nghề, chuyền nghề cho lao động nông thôn cho phù hợp (xác định nhu cầu, nghề cần đào tạo, thời gian, ) để nâng cao trình độ, kỹ năng tay nghề cho các lao động làm việc trong các làng nghề làm ra các sản phẩm chất lượng, đáp ứng yêu cầu thị trường để tồn tại và phát triển
4 Triển khai thực hiện có hiệu quả Đề án "Chương trình mỗi xã một sản phẩm" tỉnh Bắc Giang giai đoạn 2018- 2020, định hướng đến năm 2030 đã được Chủ tịch UBND tỉnh phê duyệt (Quyết định số 975/QĐ-UBND ngày 29/6/2018 của Chủ tịch UBND tỉnh Bắc Giang); Trong việc lựa chọn sản phẩm, ý tưởng sản phẩm mới, tư vấn, hướng dẫn đăng ký sản phẩm, đánh giá xếp loại, cần ưu tiên lựa chọn các sản phẩm làng nghề truyền thống để đầu tư phát triển
5 Thực hiện lồng ghép các chương trình, dự án (mô hình phát triển sản xuất, hỗ trợ khác, ) trong việc phát triển các làng nghề trên địa bàn
6 Ưu tiên giành quỹ đất để quy hoạch, xây dựng các cụm công nghiệp làng nghề tạo điều kiện giải quyết mặt bằng, địa điểm trưng bày giới thiệu sản phẩm, để di dời các cơ sở trong làng nghề có nhu cầu mở rộng sản xuất vào
Trang 4hoạt động trong cụm công nghiệp, tránh gây ô nhiễm môi trường trong khu dân
cư, ở một số lĩnh vực có nguy cơ gây ô nhiễm môi trường cao như: sản xuất mỳ gạo, làm mộc, nấu rượu;…
7 Đối với các làng nghề hiện nay không hoạt động do không còn phù hợp với thực tế phát triển của xã hội (gồm: làng nghề vận tải đường sông Nguyệt Đức, xã Vân Hà, huyện Việt Yên; 07 làng nghề làm vôi cay sỉ thuộc xã Hương
Vỹ, xã Đông Sơn, huyện Yên Thế); địa phương cần có định hướng tuyên truyền cho các làng nghề chuyển nghề, du nhập nghề mới hoặc giải thể thu hồi giấy chứng nhận;
5 Đề xuất, kiến nghị:
Để tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát triển làng nghề tạo công ăn việc làm, nâng cao thu nhập, góp phần chuyển dịch cơ cấu lao động trong nông nghiệp nông thôn trên đia bàn tỉnh Bắc giang nói riêng và cả nước nói chung, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Bắc Giang đề xuất với Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn sớm ban hành “Đề án bảo tồn và phát triển làng nghề Việt Nam giai đoạn 2021-2030” và tăng cường tổ chức các hội chợ các sản phẩm làng nghề tạo điều kiện cho các địa phương trong việc quảng bá sản phẩm của địa phương đến người tiêu dùng trong cả nước;
Nơi nhận:
- Cục Kinh tế hợp tác và Phát triển nông thôn (b/c);
- Giám đốc Sở (b/c);
- PGĐ Lê bá Thành;
- Chi cục Phát triển nông thôn;
- ngoccb80@gmail.com;
- Lưu: VT
KT GIÁM ĐỐC
KT GIÁM ĐỐC PHÓ GIÁM ĐỐC
Lê Bá Thành