1 Giải quyết việc làm cho người lao động hồi hương từ các tỉnh thành trong thời buổi dịch Covid 19 Phan Thị Mai Anh , Phạm Vân Anh , Kiều Thị Ngọc Ánh Nguyễn Thanh Bình, Vũ Hoàng Mai Anh, Lê Vinh Khán[.]
Trang 11
Giải quyết việc làm cho người lao động hồi hương từ các tỉnh thành
trong thời buổi dịch Covid -19
Phan Thị Mai Anh , Phạm Vân Anh , Kiều Thị Ngọc Ánh Nguyễn Thanh Bình, Vũ Hoàng Mai Anh, Lê Vinh Khánh
Đại học Quốc gia Hà Nội Ngày 13 tháng 03 năm 2022
Preprint DOI: https://osf.io/g5qas
Tóm tắt:
Vấn đề giải quyết việc làm từ trước đến nay luôn là một vấn đề được quan tâm, không chỉ đối với những người tham gia lao động mà còn đối với cả Nhà nước, Chính phủ, các cấp chính quyền Với mục đích giúp người lao động có được nguồn thu nhập cũng như góp phần vào việc phát triển kinh tế Việt Nam, hạn chế các tệ nạn xã hội hướng đến một xã hội văn minh, tốt đẹp hơn Đặc biệt hiện nay, trong bối cảnh dịch bệnh Covid – 19 bùng phát trên thế giới và đang diễn
ra hết sức phức tạp tại Việt Nam, người lao động không thể tiếp tục bám trụ tại các thành phố lớn
và lựa chọn hồi hương Sau quá trình tìm hiểu và phân tích, nhóm tác giả muốn đưa đến một cái nhìn toàn diện hơn về việc giải quyết việc làm cho người lao động hồi hương từ các tỉnh thành trong thời buổi dịch Covid – 19
Từ khóa: giải quyết việc làm, lao động hồi hương, tỉnh thành, covid – 1
Trang 21
1 Đặt vấn đề:
Người lao động là cá nhân trực tiếp tham gia vào quá trình lao động, có thể là làm việc bằng sức lao động chân tay hoặc là làm việc bằng sức lao động trí óc Và thông qua hành vi lao động, việc làm thực tế mà được trả lương phù hợp với năng lực mà bản thân mình có Hồi hương từ các tỉnh thành trở về quê là những người lao động trở về quê nhà sau thời gian làm việc tại các thành phố lớn, nơi đất khách quê người Đặc biệt trong bối cảnh hiện nay, một sự kiện vô tiền khoáng hậu đã xảy ra đó chính là đại dịch Covid -19 (La, 2020) Đối với những người lao động từ nước ngoài hồi hương, họ cũng gặp rất nhiều khó khăn trong việc tìm kiếm việc làm tại quê nhà Đối với những người lao động hồi hương từ các thành phố, tỉnh thành khác về quê nhà, mặc dù nhà nước, chính phủ đã hỗ trợ người lao động bằng rất nhiều chính sách, gói hỗ trợ an sinh nhưng người lao động thật sự khó có thể bám trụ lâu dài tại các thành phố lớn, tỉnh thành đó Thêm vào
đó, thời gian thực hiện giãn cách để chống dịch lại càng khiến cho cuộc sống của họ trở nên khó khăn hơn khi không thể đi làm để có thu nhập Nhận thấy tình hình này đang là một vấn đề nan giải, nhóm tác giả mong muốn qua bài viết của mình phần nào cung cấp được cho mọi người một cái nhìn toàn diện, sâu sắc hơn cho vấn đề Và cũng có thể đề xuất một số giải pháp nhằm kịp thời tháo gỡ khó khăn cho người lao động trong thời buổi dịch bệnh Covid – 19 đang diễn ra hết sức phức tạp hiện nay
2 Thực trạng người lao động hồi hương trong thời buổi dịch Covid -19:
Để hiểu rõ về thực trạng của làn sóng “di cư ngược”, ta có thể đi sâu vào vấn đề từ việc nhìn nhận thực trạng qua những con số Tại Thanh Hóa, với số lượng lao động làm việc ở tỉnh ngoài trên 330.000 người, độ tuổi chủ yếu từ 15 - 35 chiếm 65%, lao động nữ chiếm trên 50% Phần lớn
là người lao động hành nghề tự do hoặc làm việc trong các khu công nghiệp, khu chế xuất tại các tỉnh, thành phố lớn, như tại Hà Nội là 77.500 người, Bình Dương 48.000 người, TP Hồ Chí Minh 43.200 người, Bắc Ninh 25.000 người, Đồng Nai 12.500 người Theo số liệu báo cáo đã được cập nhật tại các huyện, thị xã, thành phố, số người Thanh Hóa trở về từ vùng dịch từ ngày 27/4/2021 đến nay là trên 200.000 người Trong đó, lao động có nhu cầu giải quyết việc làm, đào tạo nghề là 42.566 người (trong đó: 1.101 người có nhu cầu đào tạo nghề, chủ yếu là nghề lái xe ô
tô, dệt may, giày da, xây dựng, điện dân dụng, điện lạnh, cơ khí, hàn, điện tử, điện nước ; 2.119 người có nhu cầu vay vốn giải quyết việc làm, với tổng số vốn đề nghị vay là trên 169 tỷ đồng) [1](Giải “Bài Toán” Việc Làm Cho Lao Động Hồi Hương, 2021)
Hay đỉnh điểm trong đại dịch lần thứ ba tại thành phố Hồ Chí Minh năm 2021, theo ước tính
có khoảng ¾ lao động của thành phố đến từ các tỉnh, và các địa phương khác, mà chủ yếu là từ các tỉnh miền Tây Trong khoảng thời gian đỉnh điểm của lần dịch, người lao động bị mắc kẹt vào thế khó khăn chồng chất khó khăn, vào thế vừa có tâm lý lo sợ nhiễm bệnh, vừa lo sinh kế vì mất việc làm cũng như không có thu nhập hay thu nhập không ổn định khi các hàng quán, xưởng quầy, doanh nghiệp đều phải đóng cửa để bảo đảm cho việc phòng chống dịch theo chỉ thị của Chính phủ Điều đó dẫn đến việc thiếu hụt nhân công trầm trọng đang diễn ra trong các doanh nghiệp da giày, dệt may, lắp ráp linh kiện điện tử khi số lao động mà các doanh nghiệp cố gắng có được cũng chỉ đáp ứng được khoảng 65-70% nhu cầu [2](Kết Nối Cung - Cầu Để Người Lao Động Hồi Hương, 2021) Trong tình thế “thắt lưng buộc bụng” đó, phần lớn người lao động tha hương chọn phương án về quê để “kiếm kế sinh nhai”, cố gắng duy trì sự ổn định của thu nhập ở thời buổi khó khăn Theo con số thống kê, đến hết tháng 10, các tỉnh miền Tây đã tiếp nhận khoảng 500.000
Trang 32
người lao động về quê từ những vùng tâm dịch kể trên, trong đó có không ít người ở độ tuổi lao
động có nhu cầu tìm việc làm ổn định tại quê nhà
Dịch COVID-19 đã khiến thị trường lao động ở nước ta có nhiều biến động, nguy cơ đứt gãy chuỗi cung ứng nhân lực Trong ba năm qua kể từ năm 2019 đến năm 2021, con số 1,3 triệu lao động rời quê đã nổi lên như một mối lo về sinh kế ở các tỉnh, thành phố vùng Đồng bằng sông Cửu Long nói riêng cũng như là tình hình trên cả nước nói chung Khắp tỉnh cũng như các địa phương trong các vùng trải khắp cả nước phải đối mặt với làn sóng “di cư ngược” Trong chín tháng đầu năm 2021, ước tính cả nước có trên 15 triệu lao động bị mất việc làm, phải nghỉ giãn việc, nghỉ luân phiên, giảm giờ làm, giảm thu nhập bởi dịch COVID-19 Tính riêng 21 tỉnh, thành phố phía nam phải thực hiện giãn cách xã hội theo Chỉ thị 16/CT-TTg đã có gần 20% doanh nghiệp hiện dừng hoạt động, sản xuất kinh doanh, số lao động tạm ngừng việc gần bốn triệu người
Theo Tổng cục Thống kê, dịch Covid-19 kéo dài đã làm tăng tỷ lệ và số người thiếu việc làm trong độ tuổi trong quý 3/2021 lên mức cao nhất trong vòng 10 năm qua
Số người thiếu hụt việc làm ( triệu người )
Thống kê số người thất nghiệp trong 2 năm gần đây
Như vậy có thể thấy, tỷ lệ thiếu việc làm của lao động trong độ tuổi trong quý là 4,46%, tăng 1,86 điểm phần trăm so với quý trước và tăng 1,74 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước
Sự đóng cửa các doanh nghiệp, xưởng quầy, tỷ lệ việc làm của những người lao động trong các ngành công nghiệp – xây dựng, dịch vụ giảm mạnh Theo Tổng cục Thống kê, quý III/2021, tác động tiêu cực của dịch COVID-19 đã làm ảnh hưởng không chỉ doanh nghiệp mà người lao động cũng thiệt hại kép Chỉ riêng quý III, lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên (49,1 triệu người) giảm 2 triệu người so với quý II, giảm 2,2 triệu người so với cùng kỳ năm 2020 Thu nhập bình quân của lao động trong quý III là 5,2 triệu đồng/ người/ tháng, giảm 877.000 đồng so với quý II, giảm 603.000 đồng so cùng kỳ năm trước Người làm việc trong khu vực dịch vụ, công nghiệp, xây dựng chịu ảnh hưởng nặng nề nhất Theo đó, lao động có việc làm trong ngành công nghiệp
và xây dựng là 15,7 triệu người, giảm 952,5 nghìn người so với quý trước và giảm 960,1 nghìn người so với cùng kỳ năm trước; ngành dịch vụ là 17,1 triệu người giảm 2,3 triệu người so với quý trước và cùng kỳ năm trước Ngược lại, lao động trong ngành nông nghiệp lại có xu hướng tăng, trái ngược với những xu hướng thường thấy trước đây, chủ yếu là do số lao động mất việc tại các tỉnh thành phía Nam quay trở về địa phương và làm việc trong ngành nông nghiệp Cụ thể, lao động có việc làm trong ngành nông, lâm nghiệp và thủy sản đạt 14,5 triệu người, tăng 673,1 nghìn người so với quý trước và tăng 479,0 nghìn người so với cùng kỳ năm trước [3] (Tỷ Lệ Thất Nghiệp Quý 3/2021 Tăng Cao Chưa Từng Thấy, 2021)
Ta có biểu đồ như sau:
Trang 43
Theo ông Nam – Tổng cục thống kê cho biết: “Diễn biến phức tạp của dịch Covid-19 lần thứ tư và thời gian giãn cách xã hội kéo dài ở nhiều địa phương đã đẩy tỷ lệ thất nghiệp vượt xa con số 2% như thường thấy” Dựa trên sự tính toán, ước tính số người thất nghiệp trong độ tuổi lao động là hơn 1,7 triệu người, tăng 532,2 nghìn người so với quý trước và tăng 449,6 nghìn người
so với cùng kỳ năm trước Như vậy, tỷ lệ thất nghiệp trong độ tuổi lao động quý 3/2021 là 3,98%, tăng 1,36 điểm phần trăm so với quý trước và tăng 1,25 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước [3](Tỷ Lệ Thất Nghiệp Quý 3/2021 Tăng Cao Chưa Từng Thấy, 2021)
Từ đó, ta có thể thấy được biểu đồ tỷ lệ thất nghiệp gia tăng của nước ta trong các quý của hai năm gần đây như sau:
Trang 54
Dịch Covid-19 không chỉ ảnh hưởng đến khu vực chính thức làm số lao động trong khu vực này giảm mà còn lan rộng sang cả khu vực phi chính thức Theo Tổng cục Thống kê, cả nước hiện có hơn 20 triệu lao động làm việc trong khu vực kinh tế phi chính thức, chiếm đến 57% số người tham gia lao động xã hội trên cả nước, cao nhất trong vòng ba năm trở lại đây [4] (Thông Cáo Báo Chí Tình Hình Lao Động Việc Làm Quý III và 9 Tháng Năm 2021, 2021)
Lao động có việc làm chính thức ( triệu người )
Thống kê số người lao động có việc làm chính thức trong 2 năm gần đây
Như vậy, có thể thấy Trong quý III năm 2021, số lao động có việc làm chính thức là 15,1 triệu người, giảm 468,9 nghìn người so với quý trước và giảm 657,0 nghìn người so với cùng kỳ năm trước
Trong tình thế “thắt lưng buộc bụng” đó, buộc người lao động phải tìm công việc khác để làm, hoặc rời các khu công nghiệp về quê Việc lao động ồ ạt trở về quê thời gian qua tạo thêm áp lực cho thị trường lao động, tạo nên nghịch lý về cung - cầu lao động Mặt khác, khi việc làm tại
Trang 65
các đơn vị, doanh nghiệp giảm, người lao động phải tìm kiếm việc làm ở khu vực phi chính thức, dẫn đến số người làm công việc tự do tăng lên
Tuy nhiên, trên thực tế, người lao động làm việc ở các khu kinh tế phi chính thức luôn phải chịu nhiều thiệt thòi trong khi họ là nhóm đối tượng dễ bị tổn thương Bởi người lao động, họ không được làm việc trong môi trường được bảo đảm về tính an toàn cũng như không được hưởng đầy đủ các chính sách an sinh xã hội như bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thân thể, bảo hiểm thất nghiệp hay chế độ thai sản…
Và cũng theo Chủ tịch Hiệp hội Dệt may Việt Nam - Vũ Đức Giang cho biết, hiện nay, có gần 30 - 35% lực lượng lao động đã dịch chuyển về các địa phương [5](Bài 4: Chủ Động Ổn Định Chuỗi Cung Ứng Nhân Lực, 2021) Thiếu nhân lực khi mở cửa kinh tế trở lại đang là vấn đề hiện hữu đối với các doanh nghiệp Đó chính là mối lo ngại tạo lên thách thức lớn đối với cộng đồng doanh nghiệp khi mở cửa kinh tế trở lại khi chưa có phương án thật sự tối ưu để tuyển lao động trong điều kiện mới
3 Nguyên nhân khiến những người lao động hồi hương trong thời buổi dịch covid -19:
*Nguyên nhân khách quan từ phía doanh nghiệp:
Đại dịch Covid 19 là nguyên nhân khách quan lớn nhất khiến người lao động hồi hương Hoạt động kinh tế sụt giảm mạnh do giãn cách xã hội tạo nên một tác động tiêu cực chưa từng có đối với các doanh nghiệp bất kể lớn nhỏ tại Việt Nam Các doanh nghiệp đã thay đổi cách thức sắp xếp công việc để bảo vệ sức khỏe của người lao động, vì thế có thể sẽ tác động tới sản lượng Các biện pháp kiểm soát dịch bệnh mà Chính phủ Việt Nam đang áp dụng tác động trực tiếp tới hàng triệu người lao động Chính phủ đã ra chỉ thị áp dụng chính sách cách ly xã hội trên toàn quốc, theo đó nhiều cơ sở kinh doanh dịch vụ hoặc một số hoạt động kinh doanh dịch vụ thuộc mọi quy mô và lĩnh vực phải tạm dừng hoạt động trong 14 ngày Biện pháp giãn cách xã hội áp dụng trong tháng 3 và cách ly xã hội áp dụng trong tháng 3 và tháng 4 đang gây nên sự sụt giảm nghiêm trọng trong doanh thu, và nơi làm việc của người lao động thuộc các dịch vụ kinh doanh không thiết yếu bị đóng cửa Các nhà máy phục vụ thị trường nội địa đang phải cắt giảm thời giờ làm việc của người lao động, đề nghị giảm mức lương hay tạm dừng mọi hoạt động sản xuất và cho người lao động nghỉ việc Lao động làm việc trong các doanh nghiệp xuất khẩu cũng đối mặt với sự sụt giảm nghiêm trọng về số giờ làm việc, tạm dừng hợp đồng, cắt giảm lương và sa thải Một đánh giá mới đây do Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam thực hiện trên 46 tỉnh thành cho thấy 76% doanh nghiệp được khảo sát đã giảm số giờ làm của người lao động theo nhiều cách khác nhau, từ việc áp dụng thời giờ làm việc linh hoạt cho tới biện pháp cuối cùng là sa thải lao động
Lao động di cư dù có vai trò quan trọng trong lực lượng lao động của cả nước cũng như phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, nhưng vẫn là nhóm dễ bị tổn thương bậc nhất khi đại dịch xảy
ra và khó tiếp cận được với các chính sách về an sinh xã hội, đặc biệt trong đó có chính sách về bảo trợ xã hội và bảo hiểm y tế Lao động di cư có thể xoay sở cải thiện được thu nhập trong môi trường sống mới, nhất là ở khu vực thành thị nhưng điều kiện sống và khả năng tiếp cận các dịch
vụ xã hội của họ còn rất kém so với người dân tại địa phương đó Dù có tham gia vào lực lượng lao động chính thức hoặc phi chính thức, nhiều lao động di cư vẫn không được hưởng những quyền lợi từ các chính sách an sinh xã hội trong mùa dịch như: Lao động, việc làm, giảm nghèo, bảo hiểm xã hội, bảo trợ xã hội, các dịch vụ xã hội cơ bản như: Y tế, giáo dục, nhà ở, nước sạch, tiếp
Trang 76
cận thông tin… Đa số người lao động di cư không biết nơi cung cấp thông tin và tư vấn về bảo hiểm xã hội, y tế cho mình Vấn đề lớn nhất đối với lao động di cư đó là tình trạng việc làm bấp bênh, không ổn định, tiền công lao động bị cắt giảm do doanh nghiệp lao đao, khủng hoảng vì dịch bệnh
Nhà nước đã ban hành nhiều Nghị quyết về các biện pháp hỗ trợ người dân gặp khó khăn do đại dịch COVID-19 như Nghị quyết số 42/NQ-CP (09/04/2021), Nghị quyết số 68/NQ-CP (01/07/2021) và một số chính sách hỗ trợ Gặp phải những hạn chế bởi lẽ các gói hỗ trợ an sinh còn nhỏ, chưa đáp ứng được với nhu cầu của xã hội; nguồn lực hỗ trợ của Nhà nước cho an sinh
xã hội còn hạn chế; các địa phương chưa chủ động trong việc hỗ trợ kinh phí hỗ trợ; đối tượng cần
được hỗ trợ rộng thuộc đủ mọi thành phần kinh tế; …
*Nguyên nhân chủ quan:
Trên thực tế, nhiều người dân rời quê hương đi làm ăn xa, chịu vất vả nhưng số tiền dành dụm không được nhiều bởi đời sống nơi thành phố khá đắt đỏ Do đó, họ là những đối tượng dễ bị tổn thương khi có những biến động bất ngờ Làm chưa được bao lâu, thì dịch bệnh bùng phát khiến các doanh nghiệp bất kể lớn nhỏ lần lượt tạm dừng hoạt động, đẩy hàng ngàn người lao động vào cảnh mất việc làm Mất đi chiếc cần câu cơm duy nhất, họ ở lại cũng không thể trang trải thêm được gì Gánh nặng chi phí sinh hoạt ở thành phố cộng thêm gia đình ở quê nhà đã đẩy họ đến quyết định cuối cùng là hồi hương Với họ, mọi sự hỗ trợ đều sẽ không đủ cho chi phí sinh hoạt,
họ rơi vào cảnh thiếu hụt tài chính do thời gian giãn cách quá dài, hoặc họ có những tính toán mới cho tương lai Một nguyên nhân khác nữa đó là người lao động hồi hương một phần vì tâm lý sợ hãi trước đại dịch đang ngày càng diễn biến phức tạp và sản sinh ra những biến thể mới, họ sợ rằng mình sẽ bị nhiễm và không có đủ kinh tế để khám nổi chi phí chữa bệnh Vì vậy, họ di dời về quê dần như một biện pháp phòng ngừa dịch bệnh
4 Khó khăn và hạn chế của việc người lao động hồi hương trong thời buổi dịch covid-19
Xã hội: Đại dịch covid-19 tạo ra làn sóng di cư lớn, ồ ạt khiến nhiều tỉnh thành không kiểm soát được lượng cung-cầu lao động Do số lao động hồi hương quá đông nên việc giải bài toán việc làm ở các địa phương này không hề đơn giản Nơi thiếu lao động là các thành phố lớn mà lao động nhập cư vừa rời bỏ, khiến các trung tâm công nghiệp có nguy cơ đình trệ sản xuất Nơi thừa
là những địa phương có dòng người hồi hương lớn, gây ra tình trạng thất nghiệp và các vấn đề xã hội
Các làn sóng di cư mang nguy cơ lây nhiễm dịch bệnh cao khiến cho lao động sản xuất bị đình trệ Ngoài ra, nhiều tỉnh thành có chủ trương kiểm soát chặt chẽ lao động ngoại tỉnh, dẫn tới người lao động khó tìm kiếm việc làm Bên cạnh đó, nhiều lao động chưa tìm được việc làm là do chưa tiêm đủ 2 mũi vắc xin theo quy định dẫn tới doanh nghiệp từ chối ký hợp đồng tiếp nhận Điều này đang hàng ngày, hàng giờ gia tăng áp lực lên các cấp chính quyền sở tại
Rất nhiều tỉnh thành đang gặp khó khăn trong việc thu hút lao động về quê do số doanh nghiệp ít, nhu cầu tuyển dụng không lớn và ngành nghề không đa dạng Nhiều lao động sau nhiều năm đi làm đã quá quen với cuộc sống ở các đô thị [6](Giải Bài Toán Lao Động Trong Chương Trình Phục Hồi Kinh Tế, 2021)
Trang 87
An sinh xã hội: Quá trình công nghiệp hóa của các thành phố lớn đã không quan tâm xây dựng các khu đô thị giá rẻ và dịch vụ xã hội cho người lao động, thành quả của quá trình đô thị hóa đã không được tái phân bổ hợp lý khiến đội ngũ lao động trở thành những lao động yếu thế, chịu nhiều thiệt thòi nên không giữ chân được người lao động.[6](Giải Bài Toán Lao Động Trong Chương Trình Phục Hồi Kinh Tế, 2021)
Cở sở hạ tầng kết nối cung – cầu: Thông tin thị trường lao động hiện nay vẫn chỉ được thu thập và phổ biến cục bộ theo địa phương, chưa có sự liên thông, đồng bộ và thống nhất trên toàn quốc Cơ sở dữ liệu quốc gia lao động - việc làm hiện nay chưa được triển khai, ứng dụng công nghệ thông tin trong việc kết nối cung - cầu lao động còn rất hạn chế Điều này gây khó khăn không chỉ cho người lao động và doanh nghiệp, mà còn cho chính hệ thống Trung tâm Dịch vụ việc làm các tỉnh, thành phố trên toàn quốc, vốn dĩ có trách nhiệm nặng nề trong việc tư vấn, giới thiệu và kết nối việc làm với người lao động trong phạm vi cả nước [7](Thực Trạng Thị Trường Lao Động và Giải Pháp Trong Kết Nối Thông Tin Cung Cầu Lao Động Trên Địa Bàn Huyện Núi Thành, 2021)
Doanh nghiệp và người lao động: Đại dịch diễn biến phức tạp khiến các doanh nghiệp buộc phải sa thải hoặc để người lao động tạm dừng việc, một lượng lớn những người lao động này đã
di chuyển ra khỏi khu vực thành thị, khu công nghiệp, khu chế xuất do sức ép về chi phí sinh hoạt, cũng như nhằm tránh các khu vực có đông dân cư với nguy cơ lây nhiễm bệnh cao
Phần đông những người trở về không có tích lũy để tự đầu tư phát triển kinh tế, trình độ tay nghề cũng không đáp ứng được yêu cầu tuyển dụng của các doanh nghiệp địa phương Số lượng lớn lao động còn lại chưa biết sẽ kiếm sống thế nào vì chủ yếu là lao động phổ thông, hành nghề
tự do, trình độ chuyên môn, tay nghề thấp, chưa có tác phong công nghiệp nên chưa được tuyển dụng do không đáp ứng yêu cầu của doanh nghiệp
Về phía người lao động cũng chưa sẵn sàng tham gia thị trường lao động để tìm kiếm việc làm mới vì còn bị ảnh hưởng nặng nề về tâm lý, lo sợ dịch bệnh, rút khỏi hoạt động sản xuất kinh doanh, rời bỏ nơi cư trú làm phá vỡ/đứt gãy các liên hệ và thiếu thông tin trên thị trường lao động
Di chuyển lao động gặp khó khăn do việc thực hiện kiểm soát dịch, các quy định về phòng chống dịch của các địa phương cũng như tâm lý e ngại của người lao động về dịch bệnh Hơn nữa, sự kiệt quệ về tài chính cũng là rào cản để người lao động tiếp cận thị trường [7](Thực Trạng Thị Trường Lao Động và Giải Pháp Trong Kết Nối Thông Tin Cung Cầu Lao Động Trên Địa Bàn Huyện Núi Thành, 2021)
5 Biện pháp giải quyết việc làm cho người lao động hồi hương trong thời buổi dịch
Covid-19
Trước thực trạng hàng trăm nghìn lao động trở về, để giải quyết bài toán việc làm, thu nhập, cuộc sống của người lao động hồi hương, các tỉnh, thành phố trên cả nước đã đưa ra nhiều giải
pháp cụ thể
Nhà nước:
Trong hai năm vừa qua, Nhà nước đã ban hành loạt những chính sách khuyến khích, hỗ trợ các doanh nghiệp và các chính sách hỗ trợ an sinh, hỗ trợ việc làm cho người lao động thông qua các nghị quyết của Chính Phủ [8](Dịch COVID-19: Loạt Chính Sách Hỗ Trợ Doanh Nghiệp và Người Lao Động Nổi Bật Tuần Qua, 2021)
Trang 98
● Nghị quyết số 68/NQ-CP của Chính phủ về một số chính sách hỗ trợ người lao động và người
sử dụng lao động gặp khó khăn trong đại dịch covid 19 [9](Nghị Quyết 68/NQ-CP 2021 Chính Sách Hỗ Trợ Người Lao Động, Sử Dụng Lao Động Gặp Khó Khăn Dịch COVID-19, n.d.) Theo
đó, chính phủ quyết nghị thực hiện 12 chính sách, trong đó có các chính sách nổi bật như:
+ Chính sách tạm dừng đóng vào quỹ hưu trí và tử tuất
+ Chính sách hỗ trợ đào tạo duy trì việc làm cho người lao động
+ Chính sách hỗ trợ người lao động tạm hoãn hợp đồng lao động, nghỉ việc không hưởng lương + Chính sách hỗ trợ người lao động ngừng việc
+ Chính sách hỗ trợ kinh doanh
+ Chính sách cho vay trả lương ngừng việc, trả lương phục hồi sản xuất
● Nghị quyết số 42/ NQ-CP ngày 9/4/2020 của Chính Phủ về các biện pháp hỗ trợ người dân gặp khó khăn do đại dịch Covid-19 [10](Nghị Quyết 42/NQ-CP 2020 Biện Pháp Hỗ Trợ Người Dân Gặp Khó Khăn Do COVID-19, 2020)
● Nghị quyết số 116/ NQ-CP ngày 24/9/2021 của Chính phủ về chính sách hỗ trợ lao động và người sử dụng lao động bị ảnh hưởng bởi đại dịch covid-19 từ quỹ Bảo hiểm thất nghiệp [11](Nghị Quyết 116/NQ-CP 2021 Chính Sách Hỗ Trợ Người Lao Động Bị Ảnh Hưởng Bởi Đại
COVID-19, 2021)
● Nghị quyết số 105/ NQ-CP ngày 9/9/2021 của Chính Phủ về hỗ trợ doanh nghiệp, hợp tác xã,
hộ kinh doanh trong bối cảnh đại dịch covid-19 [12](Nghị Quyết 105/NQ-CP 2021 Hỗ Trợ Doanh Nghiệp Hợp Tác Xã Hội Kinh Doanh Dịch COVID-19, 2021)
Các tỉnh thành, địa phương:
● Thứ nhất, các tỉnh thành, địa phương trên cả nước đã ưu tiên tiêm đủ 2 mũi vaccine cho người lao động
Thực hiện chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ và Bộ trưởng Bộ Y tế, từ ngày 9/8, tỉnh Phú Thọ đã triển khai tiêm vắc xin phòng COVID-19 cho trên 8.000 công nhân lao động trong và ngoài các khu, cụm công nghiệp trên địa bàn tỉnh [13](Triển Khai Tiêm Vắc Xin Phòng COVID-19 Cho Người Lao Động Trong Các Khu, Cụm Công Nghiệp Trên Địa Bàn Tỉnh, 2021)
● Thứ hai, các tỉnh thành, địa phương “chú trọng các thông tin về thị trường lao động” bằng cách: tổ chức rà soát, triển khai công tác thu nhập việc làm trống, cập nhật thông tin tuyển dụng của các doanh nghiệp và nhu cầu tìm kiếm việc làm của người lao động vào cơ sở dữ liệu cung- cầu, tổng hợp phân tích dữ liệu cung cấp thị trường lao động và tăng cường tư vấn, giới thiệu, kết nối online cho doanh nghiệp và người lao động qua các trang mạng xã hội
Bà Nguyễn Thị Bích Vân, Phó Trung tâm DVVL TP Cần Thơ cho biết: “Để thu hút người lao động diễn ra suôn sẻ và phù hợp với tình hình hiện tại, Trung Tâm đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, thường xuyên thực hiện chương trình tư vấn làm thủ tục, hồ sơ dự tuyển bằng hình thức online, hướng dẫn cách phỏng vấn trực tuyến qua zoom [14](Các Tỉnh Tây Nam Bộ Hỗ Trợ Người Lao Động Tìm Việc Thời Điểm Cuối Năm, 2021)
Trang 109
Tại tỉnh Trà Vinh, để người lao động được tiếp cận với các thông tin việc làm, Trung Tâm DVVL tỉnh Trà Vinh đã triển khai mô hình chuyến xe lưu động, mở loa tuyên truyền, phát tờ rơi tại các vùng sâu, vùng xa, thôn đặc biệt khó khăn [14](Các Tỉnh Tây Nam Bộ Hỗ Trợ Người Lao Động Tìm Việc Thời Điểm Cuối Năm, 2021)
● Thứ ba, các tỉnh thành, địa phương tiến hành khảo sát, nắm rõ tâm tư, nguyện vọng và cả trình độ chuyên môn nghề nghiệp của các đối tượng lao động, sau đó chia thành nhóm nhỏ để phỏng vấn rồi mời các doanh nghiệp để tuyển dụng
● Thứ tư, các tỉnh thành, địa phương tổ chức các Trung tâm Dịch vụ việc làm, các phiên giao dịch tại sàn và lưu động
Cần Thơ là tỉnh có số lượng lao động về quê rất lớn Trước tình hình đó, các phiên giao dịch việc làm khu vực ĐBSCL (đợt 1) đã được tổ chức với sự góp mặt của 101 doanh nghiệp, đơn vị có nhu cầu tuyển dụng Thông qua phiên giao dịch, các nhà tuyển dụng đã tiếp cận và tuyển dụng được nhân lực theo yêu cầu [2](Kết Nối Cung - Cầu Để Người Lao Động Hồi Hương, 2021)
Cũng giống như Cần Thơ, Sóc Trăng cũng là địa phương có người lao động về quê đông nhất từ trước đến nay, với con số 50.000 người ở khắp các huyện, thị xã Từ đầu năm 2021 đến nay, trung tâm đã tổ chức thành công 7 phiên giao dịch việc làm (gồm 3 phiên lưu động, 4 phiên tại sàn) với
sự tham gia của 752 lao động [2](Kết Nối Cung - Cầu Để Người Lao Động Hồi Hương, 2021)
Nhà tuyển dụng tham gia phỏng vấn tuyển dụng trực tiếp tại Phiên giao dịch việc làm trực tuyến của Trung Tâm dịch vụ việc làm tại Cần Thơ
● Thứ năm, các tỉnh thành, địa phương tạo điều kiện và kêu gọi doanh nghiệp hoạt động trên địa bàn
● Thứ sáu, các tỉnh thành, địa phương đã có những chính sách hỗ trợ an sinh cụ thể để hỗ trợ người lao động
Tây Nam Bộ đã tiến hành giải ngân kinh phí hỗ trợ cho người lao động từ gói hỗ trợ an sinh 62 nghìn tỷ đồng theo Nghị quyết 42/NQ-CP của Chính phủ [15](Các Chính Sách Hỗ Trợ Đã Giúp Cho Người Lao Động và Doanh Nghiệp Hồi Phục, 2022)