Phân tích, đánh giá quy định pháp luật hiện hành về biện pháp cầm giữ tài sản đề xuất hướng hoàn thiện quy định pháp luật
Trang 1Phần phụ lục:
A Phần Mở Đầu 2
B Phần Nội Dung 2
I Phân tích quy định của BLDS 2015 về biện pháp cầm giữ tài sản 2
1 Khái quát chung về biện pháp cầm giữ tài sản 2
1.1 Khái niệm 2
1.2 Đặc điểm 3
2 Quy định của pháp luật về cầm giữ tài sản 4
II Đánh giá quy định của BLDS 2015 về biện pháp cầm giữ tài sản 7
1 Ưu điểm 7
2 Hạn chế 8
III Một số kiến nghị hoàn thiện quy định của BLDS 2015 về biện pháp cầm giữ tài sản 9
C Phần Kết Luận 11
Từ viết tắt: 12
Tài liệu tham khảo: 12
Trang 2A Phần Mở Đầu
Bộ luật dân sự (BLDS) năm 2015 có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2017
đã đánh dấu bước phát triển to lớn đối với các quan hệ dân sự, quan hệ kinh tế
trong môi trường kinh doanh đa ngành, đa nghề tại Việt Nam Để hạn chế rủi ro,
bảo đảm quyền và lợi ích chính đáng của các chủ thể trong quan hệ nghĩa vụ, các
biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự đã được quy định cụ thể, rõ ràng
trong BLDS 2015 Trong đó, biện pháp cầm giữ tài sản là một biện pháp có vai
trò quan trọng trên thực tế, góp phần tích cực trong việc đảm bảo quyền lợi cho
các chủ thể trong quan hệ nghĩa vụ Chính vì lí do đó, em xin phép được lựa chọn
đề bài “phân tích, đánh giá quy định pháp luật hiện hành về biện pháp cầm giữ tài
sản Đề xuất hướng hoàn thiện quy định pháp luật” để làm bài tập học kì của mình
B Phần Nội Dung
I Phân tích quy định của BLDS 2015 về biện pháp cầm giữ tài sản
1 Khái quát chung về biện pháp cầm giữ tài sản
1.1 Khái niệm
Theo quy định tại Điều 346 BLDS 2015, “cầm giữ tài sản là việc bên có
quyền (bên cầm giữ) đang nắm giữ hợp pháp tài sản là đối tượng của hợp đồng
song vụ được chiếm giữ tài sản trong trường hợp bên có nghĩa vụ không thực hiện
hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ”
Để xác định là biện pháp bảo đảm cầm giữ tài sản, cần phải có các yếu tố:
Thứ nhất, việc cầm giữ tài sản phải xuất phát từ một hợp đồng song vụ Hợp đồng
song vụ là hợp đồng mà các bên chủ thể đều có các quyền và nghĩa vụ đối với
nhau Trong hợp đồng song vụ, bên cầm giữ đã thực hiện nghĩa vụ nhưng bên kia
lại không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ đối với bên có quyền
Thứ hai, đối tượng của hợp đồng song vụ phải là tài sản Với cách phân loại dựa
theo đối tượng của hợp đồng, hợp đồng có hai loại, một loại có đối tượng là tài
Trang 3sản như hợp đồng mua bán, tặng cho tài sản, hợp đồng gia công… một loại có đối
tượng là công việc như hợp đồng gửi giữ, hợp đồng vận chuyển… Chỉ các hợp
đồng có đối tượng là tài sản thì bên có quyền mới có quyền nắm giữ tài sản
Thứ ba, bên có quyền chiếm giữ tài sản một cách hợp pháp Thông thường, việc
chiếm giữ tài sản là do được bên có nghĩa vụ chuyển giao hoặc là kết quả của việc
thực hiện nghĩa vụ của bên cầm giữ
Thứ tư, bên có nghĩa vụ có sự vi phạm hợp đồng Khi bên có nghĩa vụ không thực
hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ thì bên có quyền hay bên cầm giữ có
quyền cầm giữ tài sản Cầm giữ tài sản phát sinh ngay khi có sự vi phạm nghĩa vụ
mà không cần có sự thỏa thuận của các bên
1.2 Đặc điểm
Ngoài những đặc điểm chung của biện pháp bảo đảm, cầm giữ tài sản còn
có hai đặc điểm quan trọng đó là:
Thứ nhất, cầm giữ tài sản phát sinh không dựa trên cơ sở sự thỏa thuận của
các bên bảo đảm Đây là một biện pháp tự vệ trong quan hệ dân sự nhằm bảo vệ
quyền và lợi ích chính đáng của bên có quyền Đối với biện pháp này, pháp luật
cho phép bên có quyền cầm giữ tài sản của bên có nghĩa vụ mà không cần xem
xét nguyên nhân khiến cho bên có nghĩa vụ vi phạm nghĩa vụ thỏa thuận
Ví dụ: A thuê chiếc xe ô tô của B, hai bên đã thỏa thuận mọi hư hỏng về xe trong
quá trình thuê xe sẽ do A khắc phục và B sẽ có trách nhiệm thanh toán chi phí
khắc phục sau khi trả xe Trên đường đi, xe của B bị hỏng A đã xe cho B nhưng
lúc giao xe B không chịu thanh toán tiền sửa, lúc này A có quyền cầm giữ tài sản
mà không cần thỏa thuận với B
Thứ hai, cầm giữ tài sản không có thời hạn Khoản 4 Điều 349 BLDS 2015 quy
định bên cầm giữ chỉ phải giao lại tài sản cầm giữ khi bên có nghĩa vụ đã thực
Trang 4hiện xong nghĩa vụ với mình Nói cách khác, cầm giữ tài sản không quy định thời
hạn cụ thể mà kéo dài cho đến khi bên vi phạm nghĩa vụ thực hiện nghĩa vụ
2 Quy định của pháp luật về cầm giữ tài sản
Cầm giữ tài sản được quy định trong BLDS 2015 từ Điều 346 đến Điều 350
Về xác lập cầm giữ tài sản, Khoản 1 Điều 347 quy định “Cầm giữ tài sản
phát sinh từ thời điểm đến hạn thực hiện nghĩa vụ mà bên có nghĩa vụ không thực
hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ” Khi có hành vi vi phạm nghĩa vụ của
bên có nghĩa vụ, cầm giữ tài sản ngay lập tức phát sinh Quyền cầm giữ tài sản
chỉ được thực hiện khi có các điều kiện như đã phân tích ở trên
Hiệu lực đối kháng với người thứ ba phát sinh từ thời điểm bên cầm giữ
chiếm giữ tài sản Khi cầm giữ tài sản được xác lập một cách hợp pháp, bên cầm
giữ có quyền truy đòi tài sản và được ưu tiên thanh toán theo quy định tại điều
308 BLDS 2015 Hiệu lực đối kháng với người thứ ba của biện pháp cầm giữ tài
sản có khả năng đối kháng rất lớn, vì khi bên cầm giữ đã chiếm giữ tài sản thì chỉ
phải trả lại tài sản khi bên có nghĩa vụ đã thực hiện xong nghĩa vụ với mình và
không có bất kì một ngoại lệ nào
Ví dụ: Trong trường hợp tài sản cầm giữ đã được thế chấp trước đó và biện pháp
thế chấp đã đăng kí Khi bên nhận thế chấp muốn xử lý tài sản thế chấp đang bị
cầm giữ, bên nhận thế chấp phải tự mình thực hiện nghĩa vụ đối với bên cầm giữ
hoặc yêu cầu bên thế chấp thực hiện nghĩa vụ mới có thể thu hồi tài sản để xử lý
được
Quyền và nghĩa vụ của bên cầm giữ tài sản được quy định như sau:
“Điều 348 Quyền của bên cầm giữ
Trang 51 Yêu cầu bên có nghĩa vụ phải thực hiện đầy đủ nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng
song vụ
2 Yêu cầu bên có nghĩa vụ phải thanh toán chi phí cần thiết cho việc bảo quản,
giữ gìn tài sản cầm giữ
3 Được khai thác tài sản cầm giữ để thu hoa lợi, lợi tức nếu được bên có nghĩa
vụ đồng ý
Giá trị của việc khai thác tài sản cầm giữ được bù trừ vào giá trị nghĩa vụ của
bên có nghĩa vụ
Điều 349 Nghĩa vụ của bên cầm giữ
1 Giữ gìn, bảo quản tài sản cầm giữ
2 Không được thay đổi tình trạng của tài sản cầm giữ
3 Không được chuyển giao, sử dụng tài sản cầm giữ nếu không có sự đồng ý của
bên có nghĩa vụ
4 Giao lại tài sản cầm giữ khi nghĩa vụ đã được thực hiện
5 Bồi thường thiệt hại nếu làm mất hoặc hư hỏng tài sản cầm giữ.”
Bên cầm giữ có quyền:
+ Yêu cầu bên có nghĩa vụ thực hiện nghĩa vụ đối với mình Tuy nhiên ngay cả
khi không có biện pháp bảo đảm cầm giữ tài sản, bên có quyền cũng có thể yêu
cầu bên vi phạm nghĩa vụ thực hiện nghĩa vụ Việc cầm giữ tài sản nhằm nâng
cao trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ của bên có nghĩa vụ
+ Khai thác tài sản cầm giữ để thu hoa lợi, lợi tức nếu bên có nghĩa vụ đồng ý
Bên cầm giữ không phải là chủ sở hữu của tài sản cầm giữ Do vậy nếu muốn khai
Trang 6thác tài sản cầm giữ cần có sự đồng ý của bên có nghĩa vụ Quy định này nhằm
giúp bên có nghĩa vụ tăng khả năng thực hiện nghĩa vụ và giúp bên cầm giữ bù
đắp những chi phí phát sinh trong quá trình cầm giữ tài sản, nhất là trong trường
hợp bên có nghĩa vụ không thực hiện nghĩa vụ trong thời gian dài
+ Yêu cầu bên có nghĩa vụ thanh toán chi phí cần thiết để bảo quản, giữ gìn tài
sản cầm giữ Những tài sản cầm giữ có yêu cầu về bảo quản khác nhau Có những
tài sản chỉ phải bảo quản ở điều kiện thường, có nhưng tài sản phải bảo quản ở
điều kiện đặc biệt và khi bên cầm giữ thực hiện việc bảo quản đó thì bên có nghĩa
vụ phải thanh toán chi phí cho việc bảo dưỡng Thực chất việc bên cầm giữ bảo
quản, giữ gìn tài sản của bên cầm giữ là thực hiện thay cho bên có nghĩa vụ do
vậy bên có nghĩa vụ phải thanh toán những chi phí này cho bên cầm giữ tài sản
Bên cầm giữ có các nghĩa vụ:
+ Bảo quản, giữ gìn, không được thay đổi tình trạng tài sản cầm giữ, không được
chuyển giao, sử dụng tài sản cầm giữ nếu không được bên có nghĩa vụ đồng ý
Các nghĩa vụ này tương ứng với các quyền của bên cầm giữ
+ Giao lại tài sản cầm giữ khi nghĩa vụ đã được thực hiện bên có quyền cầm giữ
tài sản để nhằm mục đích bảo đảm thực hiện nghĩa vụ của bên có nghĩa vụ Khi
nghĩa vụ đã được thực hiện, bên cầm giữ phải trả lại tài sản cho bên có nghĩa vụ
+ Bồi thường thiệt hại nếu làm mất, hư hỏng tài sản Bên cầm giữ tài sản có nghĩa
vụ bảo quản tài sản Do vậy, nếu làm hư hỏng, giảm sút giá trị của tài sản thì bên
cầm giữ phải bồi thường thiệt hại
Theo quy định tại điều 350 BLDS 2015, cầm giữ tài sản chấm dứt khi có một
trong các trường hợp sau:
Thứ nhất, bên cầm giữ không còn chiếm giữ tài sản trên thực tế Việc này có thể
do bên thứ ba chiếm giữ tài sản trái pháp luật hoặc bên cầm giữ không thực hiện
Trang 7quyền cầm giữ nữa Tuy nhiên khi tài sản bị chiếm giữ trái pháp luật, bên cầm giữ
có quyền truy đòi tài sản Do vậy khi bên cầm giữ không thực hiện quyền chiếm
giữ thì chiếm giữ tài sản chấm dứt
Thứ hai, các bên thỏa thuận thay thế cầm cố bằng biện pháp bảo đảm khác Vấn
đề này nằm trong phạm vi quyền tự định đoạt của các bên trong quan hệ hợp đồng
Các chủ thể có thể thỏa bất cứ biện pháp bảo đảm nào mà pháp luật quy định để
thay thế biện pháp cầm giữ
Thứ ba, nghĩa vụ đã được thực hiện xong Khi thực hiện xong nghĩa vụ thì mục
đích bảo đảm thực hiện nghĩa vụ đã đạt được Do vậy cầm giữ tài sản chấm dứt
Thứ tư, tài sản cầm giữ không còn Cầm giữ tài sản là việc bên có quyền chiếm
giữ tài sản của bên có nghĩa vụ Khi tài sản không còn thì cầm giữ đương nhiên
chấm dứt
Thứ năm, theo thỏa thuận của các bên Bản chất của giao kết hợp đồng dân sự là
sự thỏa thuận Tất cả các hợp đồng có hiệu lực pháp luật đều là hệ quả sự thỏa
thuận cho dù sự thỏa thuận đó được thể hiện ở hình thức nào Do đó, biện pháp
cầm giữ tài sản cũng có thể chấm dứt theo thỏa thuận giữa bên có quyền và bên
có nghĩa vụ
II Đánh giá quy định của BLDS 2015 về biện pháp cầm giữ tài sản
1 Ưu điểm
Có thể thấy, cầm giữ tài sản không phải là nội dung mới trong pháp luật
dân sự, nhưng khi BLDS 2015 được ban hành thì biện pháp cầm giữ tài sản mới
chính thức được bổ sung vào quy định của các biện pháp bảo đảm, cũng như công
nhận cầm giữ tài sản là biện pháp bảo đảm
Về khái niệm cầm giữ tài sản, so với BLDS trước đó, BLDS 2015 đã có sự
thay đổi về cách sử dụng từ BLDS 2015 đã dùng cụm từ “thực hiện không đúng
Trang 8nghĩa vụ” thay cho cụm từ “thực hiện không đúng nghĩa vụ theo thoả thuận” Tức
là cụm từ “theo thoả thuận” đã được xóa bỏ bởi vì nghĩa vụ và các yêu cầu thực
hiện nghĩa vụ không được phát sinh từ thoả thuận giữa các bên mà phát sinh do
luật định Việc thay thế này cho phép áp dụng cầm giữ tài sản trong cả trường hợp
thực hiện không đúng nghĩa vụ theo quy định của pháp luật Điều này giúp cho
quyền lợi của bên cầm giữ được bảo đảm
Các quy định của BLDS 2015 về biện pháp cầm giữ tài sản đã tạo ra cơ sở
pháp lí để bảo vệ quyền lợi cho bên cầm giữ trong trường hợp bên có nghĩa vụ
chưa thực hiện nghĩa vụ, tránh những thiệt thòi và rủi ro, đồng thời là cơ sở để
thúc đẩy bên có nghĩa vụ phải thực hiện nghĩa vụ cho bên cầm giữ
2 Hạn chế
Có thể nhận thấy một số hạn chế của các quy định về biện pháp bảo đảm
này như sau:
Về căn cứ phát sinh cầm giữ tài sản: Hiện nay BLDS 2015 quy định bên có
quyền cầm giữ tài sản khi có sự vi phạm nghĩa vụ mà không quan tâm đến việc vi
phạm nghĩa vụ là do nguyên nhân chủ quan hay khách quan Trong trường hợp vi
phạm nghĩa vụ do sự kiện bất khả kháng hay hoàn toàn do lỗi của bên có quyền
thì việc quy định như vậy là chưa phù hợp
Về thời hạn cầm giữ tài sản: BLDS 2015 không quy định cụ thể về thời hạn
cầm giữ tài sản như hiện nay sẽ gây rất nhiều khó khăn khi các chủ thể áp dụng
trên thực tế Việc không đặt ra thời hạn cầm giữ sẽ gây khó khăn, bất lợi cho bên
có quyền bởi không biết sẽ phải cầm giữ trong bao lâu thì bên vi phạm nghĩa vụ
mới hoàn thành nghĩa vụ Thời hạn cầm giữ có tầm quan trọng đặc biệt đối với
trường hợp tài sản cầm giữ cần phải được bảo quản trong điều kiện đặc biệt, cần
có chi phí cao Thông thường, chi phí bảo quản tài sản sẽ do bên cầm giữ thanh
toán trước, sau đó yêu cầu bên có nghĩa vụ thanh toán lại cho mình Việc không
quy định thời hạn cầm giữ sẽ gây khó khăn cho bên cầm giữ khi bên có nghĩa vụ
Trang 9không tự giác thanh toán nghĩa vụ chính Mặt khác, bên có nghĩa vụ bị vi phạm
lại phải gánh chịu chi phí bảo quản cho chính tài sản bảo đảm
Về xử lý tài sản cầm giữ: Hiện nay, BLDS 2015 không quy định về cơ chế
xử lý tài sản cầm giữ Điều này gây ảnh hưởng rất lớn đối với quyền của cho bên
cầm giữ Vì bên cầm giữ không tự định đoạt được tài sản cầm giữ Chính “lỗ
hổng” này tạo điều kiện cho bên có nghĩa vụ kéo dài thời gian vi phạm bởi họ biết
chắc rằng, tài sản của mình vẫn được bên cầm giữ bảo quản mà không được định
đoạt (theo nghĩa vụ của bên cầm giữ được quy định tại Điều 349 BLDS năm
2015) Dựa vào điểm này, bên có nghĩa vụ khi phải thực hiện nghĩa vụ với chủ
thể khác sẽ đưa tài sản trở thành đối tượng của cần giữ tài sản nhằm trốn tránh
việc thực hiện nghĩa vụ với bên kia Như vậy, trong một số trường hợp, bên có
quyền từ thế “chủ động” lại rơi vào thế “bị động” nếu bên có nghĩa vụ không thực
hiện nghĩa vụ để lấy lại tài sản Do đó, bên có quyền sẽ không lựa chọn biện pháp
này để gây sức ép đối với bên có nghĩa vụ bởi không có hiệu quả
III Một số kiến nghị hoàn thiện quy định của BLDS 2015 về biện pháp
cầm giữ tài sản
Từ những ưu điểm, hạn chế trên có thể đề xuất một số kiến nghị như sau:
Thứ nhất, quy định về các trường hợp bên có nghĩa vụ vi phạm nghĩa vụ do
sự kiện bất khả kháng hay hoàn toàn do lỗi của bên có quyền Khoản 2 Điều 351
BLDS 2015 quy định: “Trường hợp bên có nghĩa vụ không thực hiện đúng nghĩa
vụ do sự kiện bất khả kháng thì không phải chịu trách nhiệm dân sự, trừ trường
hợp có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác” Như vậy, trường hợp
hai bên không có thỏa thuận, khi bên vi phạm nghĩa vụ chứng minh được nghĩa
vụ đã thỏa thuận không được thực hiện hoặc thực hiện không đúng là do sự kiện
xảy ra một cách khách quan không thể lường trước được và không thể khắc phục
được mặc dù đã áp dụng mọi biện pháp cần thiết và khả năng cho phép thì không
phải chịu trách nhiệm dân sự Đối với biện pháp cầm giữ tài sản, việc cầm giữ tài
Trang 10sản phát sinh khi bên có nghĩa vụ vi phạm nghĩa vụ Tuy nhiên đối với các trường
hợp do sự kiện bất khả kháng hay hoàn toàn do lỗi của bên có quyền thì việc cho
phép bên có quyền có quyền cầm giữ tài sản là chưa hợp lý Do vậy cần quy định
các trường hợp loại trừ quyền cầm giữ tài sản của bên có quyền khi bên có nghĩa
vụ vi phạm nghĩa vụ
Thứ hai, cần quy định cụ thể về thời hạn cầm giữ tài sản Như đã phân tích
ở trên, việc không quy định thời hạn cầm giữ tài sản gây bất lợi cho bên cầm giữ
Việc quy định thời hạn cầm giữ giúp bảo đảm tốt hơn lợi ích hợp pháp của bên
cầm giữ đồng thời tăng cường trách nhiệm của bên có nghĩa vụ Khi có 1 thời hạn
cầm giữ tài sản, trong thời hạn này bên có nghĩa vụ phải thực hiện nghĩa vụ Nếu
hết thời hạn mà bên có nghĩa vụ tiếp tục vi phạm nghĩa vụ thì bên cầm giữ tài sản
được tác động vào tài sản cầm giữ để bảo vệ quyền lợi của mình Khi có quy định
như vậy, bên có nghĩa vụ không thể chây lỳ không thực hiện nghĩa vụ trong thời
gian dài vì khi quá hạn cầm giữ, bên cầm giữ sẽ có biện pháp tác động vào tài sản
Thứ ba, quy định về biện pháp xử lý tài sản cầm giữ Trên thực tế, không
phải bao giờ giá trị tài sản cầm giữ cũng lớn hơn giá trị nghĩa vụ phải thực hiện
mà giá trị của tài sản cũng có thể bằng hoặc nhỏ hơn giá trị nghĩa vụ bảo đảm
Việc không quy định về xử lý tài sản cầm giữ là một thiếu sót lớn của BLDS 2015,
làm mất đi ý nghĩa của cầm giữ tài sản với vai trò một biện pháp bảo đảm Khi
không được xử lý tài sản bảo đảm, bên có quyền chỉ có thể khai thác tài sản để bù
trừ nghĩa vụ nếu được bên có nghĩa vụ đồng ý Khi bên có nghĩa vụ không đồng
ý thì bên cầm giữ không thể bảo đảm được quyền và lợi ích hợp pháp của mình
Do vậy, BLDS 2015 hoặc các văn bản dưới luật hướng dẫn về biện pháp cầm giữ
tài sản cần có quy định về xử lý tài sản cầm giữ để tạo điều kiện cho bên có quyền
thực thi tốt nhất quyền năng của mình trên thực tế Trong trường hợp bên vi phạm
nghĩa vụ không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ của mình thì bên
cầm giữ có quyền xử lý tài sản đảm bảo một cách nhanh nhất, ít tốn kém nhất
nhưng vẫn đảm bảo khách quan, trung thực Mặt khác, Bộ luật dân sự năm 2015