1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

bài tập lớn học phần kinh tế vĩ mô phân tích công cụ và cơ chế tác động của chính sách tài khóa đối với nền kinh tế việc vận dụng chính sách này ở việt nam như thế nào

18 20 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 18
Dung lượng 533,67 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Covid 19 và tình hình kinh tế Đông Nam Á 2020Trong năm 2020, ngoại trừ Việt Nam, phần lớn các nền kinh tế lớn của khu vực Đông Nam Á như Thái Lan, Indonesia, Philippines, Singapore, đều

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ ĐÔ HÀ NỘI

KHOA KINH TẾ VÀ ĐÔ THỊ

BÀI TẬP LỚN HỌC PHẦN: KINH TẾ VĨ MÔ

Danh sách thành viên nhóm : Hoàng Thị Phương Anh

(220001280)

Vũ Phương Anh (220001286) Trần Thị Lan Anh (220001375) Dương Thị Dự (220000969) Nguyễn Trường Sơn (220001033)

Hà Nội, tháng 8/ 2021

Trang 2

PHỤ LỤC

CÂU 1 3

1.1 Bối cảnh xã hội 3

1.2 Covid 19 và tình hình kinh tế Đông Nam Á 2020 4

1.3 Covid tác động đến Việt Nam 2020 4

a) Bối cảnh kinh tế trong và ngoài nước 4

b) Tác động của Covid đến kinh tế Việt Nam năm 2020 4

1.4 Covid 19 và tình hình kinh tế Đông Nam Á 2020 6

1.5 Ảnh hưởng tác động đến Việt Nam vào 6 tháng đầu năm 2021 7

CÂU 2 9

2.1 Công cụ và cơ chế tác động của chính sách tài khóa đối với nền kinh tế 9

2.1.1 Khái niệm về chính sách tài khóa 9

2.1.2 Các công cụ của chính sách tài khóa 10

2.1.3 Cơ chế tác động của chính sách tài khóa 10

2.1.4 Các loại chính sách tài khóa 11

2.1.5 Hạn chế của chính sách tài khóa 11

2.2 Việc vận dụng chính sách tài khóa ở Việt Nam 12

2.2.1 Giai đoạn 2011- 2015 12

2.2.2 Giai đoạn 2016-2020 13

2.2.3 Năm 2020 13

a) Bối cảnh thế giới và trong nước năm 2020 13

b) Việt Nam vận dụng chính sách tài khóa để khắc phục kinh tế năm 2020 14

NHẬN XÉT VÀ CHO ĐIỂM CỦA GIẢNG VIÊN 16

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 17

Trang 3

PHẦN I: Thống kê GDP của các nước Đông Nam Á trong năm 2020 vào 6 tháng đầu năm 2021 Phân tích sự thay đổi trên trong thời dịch Covid 19.

GDP các nước Đông Nam Á theo Quý 3-2020 của TradingNomics

(Nguồn: Wikipedia)

1.1 Bối cảnh xã hội

Dịch bệnh viêm đường hô hấp cấp do chủng virus corona mới có tên khoa học la COVID-19 khởi phát tại thành phố Vũ Hán, thuộc tỉnh Hồ Bắc (Trung Quốc) gây ra đã lây nhiễm với tốc độ khó lường không chỉ ở Trung Quốc mà còn tại nhiều nơi trên thế giới Ngày 30/01/2020, WHO phải ban bố tình trạng khẩn cấp y tế toàn cầu Theo thống kê của WHO, tính đến ngày 06/04/2020, số ca tử vong trên toàn thế giới do COVID-19 gây ra đã vượt mốc 70.000 người (trên tổng số 1.288.319 ca lây nhiễm) Tại thời điểm hiện tại, chưa quốc gia nào trên thế giới phát triển thành công vaccine chống lại sự lây lan của COVID-19

Trang 4

1.2 Covid 19 và tình hình kinh tế Đông Nam Á 2020

Trong năm 2020, ngoại trừ Việt Nam, phần lớn các nền kinh tế lớn của khu vực Đông Nam Á như Thái Lan, Indonesia, Philippines, Singapore, đều suy giảm tăng trưởng mạnh vì đại dịch Covid-19 Triển vọng kinh tế khu vực hiện được giới phân tích dự báo tươi sáng hơn, nhưng 2021 sẽ vẫn là một năm khó khăn với đa số các nền kinh tế Đông Nam Á

 Thái Lan có nền kinh tế phụ thuộc lớn du lịch, do vậy đại dịch Covid-19 đã khiến kinh tế nước này thiệt hại nặng nề Ngân hàng Thế giới (WB) dự báo tăng trưởng GDP ròng của Thái Lan sẽ ở mức âm trong năm 2021

 Đại dịch Covid-19 cũng đã tàn phá nghiêm trọng nền kinh tế lớn nhất khu vực Đông Nam Á là Indonesia Theo dự báo kinh tế mới nhất từ giới chuyên gia, GDP của Indonesia giảm 2,2% vào năm 2020 và phục hồi lên mức tăng trưởng 6% vào năm

2021 nhờ sự gia tăng chi tiêu của người tiêu dùng và đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng Tăng trưởng kinh tế của Indonesia dự kiến sẽ phục hồi trong năm 2021, nhưng đại dịch sẽ tiếp tục làm suy giảm các hoạt động kinh tế

 Trong khi đó, các nền kinh tế lớn khác như Singapore hay Philippines cũng tiếp tục lâm vào tình cảnh khó khăn trong năm nay, sau khi đã suy giảm mạnh năm 2020 Số liệu ước tính ban đầu mà Bộ Công thương Singapore (MTI) vừa công bố cho thấy, GDP của nước này năm 2020 suy giảm 5,8% Đây là mức suy giảm mạnh nhất từ trước tới nay, song vẫn ít hơn so mức suy giảm 6,5% được dự báo trước đó MTI dự báo nền kinh tế Singapore sẽ đạt tăng trưởng tích cực trong năm 2021, từ 4 đến 6%, nhưng những rủi ro phía trước vẫn rất lớn

1.3 Covid tác động đến Việt Nam 2020

a) Bối cảnh kinh tế trong và ngoài nước

Năm 2020 được xem là một năm của những khó khăn và thách thức lớn đối với kinh tế thế giới nói chung, trong đó có Việt Nam Kinh tế thế giới được dự báo suy thoái nghiêm trọng nhất trong lịch sử, tăng trưởng của các nền kinh tế lớn đều giảm sâu do ảnh hưởng tiêu cực của dịch Covid-19 Tuy nhiên, kinh tế Việt Nam vẫn duy trì tăng trưởng với tốc độ tăng GDP ước tính đạt 2,91%

b) Tác động của Covid đến kinh tế Việt Nam năm 2020

Trang 5

Trong nước, thiên tai, dịch bệnh tác động không nhỏ tới các hoạt động của nền kinh tế

và cuộc sống của người dân; tỷ lệ thất nghiệp, thiếu việc làm ở mức cao Tuy nhiên, với những giải pháp quyết liệt và hiệu quả trong việc thực hiện mục tiêu kép “vừa phòng chống dịch bệnh, vừa phát triển kinh tế – xã hội”, kinh tế Việt Nam vẫn đạt kết quả tích cực với việc duy trì tăng trưởng Mặc dù tăng trưởng GDP năm 2020 đạt thấp nhất trong giai đoạn 2011-2020 (2,91%) nhưng trước những tác động tiêu cực của dịch Covid-19 thì đó là một thành công của nước ta với tốc độ tăng thuộc nhóm nước cao nhất thế giới Cùng với Trung Quốc và Mi-an-ma, Việt Nam là một trong ba quốc gia ở châu Á có mức tăng trưởng tích cực trong năm nay; đồng thời quy mô nền kinh tế nước ta đạt hơn 340 tỷ USD vượt

Xin-ga-po và Ma-lai-xi-a, đưa Việt Nam trở thành quốc gia có nền kinh tế lớn thứ 4 trong khu vực Đông Nam Á

 Kết quả xuất khẩu nông sản tăng mạnh trong bối cảnh khó khăn do dịch Covid-19, kim ngạch xuất khẩu gạo lần đầu tiên đạt hơn 3 tỷ USD, tăng 9,3% so với năm 2019;

gỗ và sản phẩm gỗ đạt 12.323,3 tỷ USD, tăng 15,7% Trái ngược với ngành lâm sản, bức tranh xuất khẩu thủy sản lại ảm đạm hơn khi kim ngạch xuất khẩu năm 2020 chỉ đạt 8,4 tỷ USD, giảm 1,8% so với năm trước

 Khu vực công nghiệp và xây dựng đạt tốc độ tăng cao nhất trong tăng trưởng chung của toàn nền kinh tế với 3,98% Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tiếp tục đóng vai trò chủ chốt dẫn dắt tăng trưởng của nền kinh tế với mức tăng 5,82%

Trang 6

 Đối với khu vực dịch vụ, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng giảm 1,2% trong 6 tháng đầu năm 2020 so với cùng kỳ năm trước, nhưng sau đó đã phục hồi rõ rệt với tốc độ tăng 6 tháng cuối năm đạt 6,2%, đưa lĩnh vực thương mại trong nước cả năm tăng 2,6%

 Một điểm sáng trong bức tranh kinh tế năm 2020 không thể không nhắc đến đó là xuất khẩu vượt khó trong tình hình dịch bệnh, duy trì tăng trưởng dương; xuất siêu hàng hóa đạt mức cao kỷ lục (19,1 tỷ USD) và cán cân thương mại duy trì xuất siêu 5 năm liên tiếp (Kim ngạch xuất siêu hàng hóa các năm trong giai đoạn 2016-2020 lần lượt là: 1,6 tỷ USD; 1,9 tỷ USD; 6,5 tỷ USD; 10,9 tỷ USD; 19,1 tỷ USD)

Bên cạnh kết quả tăng trưởng đạt được trong năm 2020, nền kinh tế Việt Nam vẫn còn tồn tại nhiều vấn đề cần phải giải quyết Với độ mở lớn, hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng nên mọi biến động của kinh tế thế giới đều tác động đến các lĩnh vực kinh tế – xã hội nước ta Dịch Covid-19 tuy được khống chế ở Việt Nam nhưng còn diễn biến phức tạp trên thế giới, các hoạt động sản xuất, cung ứng và lưu chuyển thương mại, hàng không, du lịch, lao động và việc làm bị đình trệ, gián đoạn Bên cạnh đó, xuất khẩu tăng trưởng nhưng chưa đảm bảo tính bền vững, năng suất lao động vẫn ở mức thấp… Do vậy, nước ta cần tập trung thực hiện mục tiêu kép “vừa phòng chống dịch bệnh hiệu quả, vừa tận dụng tốt các cơ hội,

nỗ lực phục hồi và phát triển kinh tế – xã hội trong trạng thái bình thường mới”; đồng thời khai thác tối đa tiềm năng, lợi thế để đưa nền kinh tế đạt mức tăng trưởng cao nhất trong năm 2021

1.4 Covid 19 và tình hình kinh tế Đông Nam Á 2021

Sự tái diễn các đợt bùng phát và thắt chặt hơn nữa biện pháp phòng chống dịch có thể ảnh hưởng đáng kể đến tăng trưởng GDP của Đông Nam Á vào nửa cuối năm nay

Đông Nam Á đang trở thành một trong những khu vực chịu sự bùng phát dịch Covid-19 tồi tệ nhất trên thế giới, một phần do sự lây lan nhanh chóng của biến thể Delta, một phần do chậm trễ trong triển khai chiến dịch tiêm vaccine ngừa Covid-19

Tình hình dịch bênh diễn biến phức tạp khiến hàng loạt quốc gia hạ dự báo tăng trưởng:

Trang 7

 Indonesia, Thái Lan và Philippines đã cắt giảm dự báo về Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) trong năm nay Malaysia cho biết sẽ sớm điều chỉnh lại

 Việt Nam – một trong số ít nền kinh tế trên thế giới đạt được tốc độ tăng trưởng mạnh năm 2020, cũng cắt giảm dự báo tăng trưởng cho nửa đầu năm 2021 khi phải

nỗ lực đối phó với các đợt bùng phát dịch bệnh tại những khu công nghiệp lớn Theo dữ liệu của Ngân hàng Thế giới, trước đại dịch, các nền kinh tế lớn nhất Đông Nam

Á gộp lại sẽ là nền kinh tế lớn thứ năm thế giới, sau Đức Kinh tế Đông Nam Á được thúc đẩy bởi nhu cầu nhập khẩu mạnh mẽ trên toàn cầu, đặc biệt là các mặt hàng điện tử Hiện nay, sự thay đổi nhu cầu nhập khẩu cùng ảnh hưởng của dịch bệnh tới các động lực phát triển truyền thống của khu vực như tiêu dùng và du lịch, đang gây ra những thiệt hại lớn cho khu vực

Chỉ số chứng khoán Đông Nam Á MSCI ASEAN Index giảm 1,7% trong tháng này, kéo dài mức trượt 3,4% trong tháng 6 Đồng baht của Thái Lan đã mất 5% giá trị kể từ giữa tháng 6 – thời điểm biến thể Delta xuất hiện tại nước này, trong khi đó đồng peso của Philippines cũng mất 4,2% giá trị

Trong một bản thông báo vào ngày 15/7, các nhà kinh tế học của Goldman Sachs cho biết

họ đã cắt giảm dự báo tăng trưởng kinh tế thời kỳ nửa cuối năm 2021 của Đông Nam Á ở mức trung bình là 1,8% Các nước bị cắt giảm dự báo lớn nhất là Indonesia từ 5% xuống còn 3,4%, Philippines từ 5,8% xuống còn 4,4%, Malaysia từ 6,2% xuống còn 4,9% và Thái Lan từ 2,1% xuống 1,4%

1.5 Ảnh hưởng tác động đến Việt Nam vào 6 tháng đầu năm 2021

Tổng cục Thống kê nhận định, trong bối cảnh dịch COVID-19 vẫn còn diễn biến phức tạp, bức tranh kinh tế – xã hội Việt Nam 6 tháng đầu năm 2021 tiếp tục duy trì ổn định

và đạt được những kết quả tích cực trên các lĩnh vực Tính chung, GDP 6 tháng đầu năm tăng 5,64%, cao hơn tốc độ tăng 1,82% của 6 tháng đầu năm 2020, nhưng thấp hơn tốc độ tăng cùng kỳ năm 2018 và 2019

 Trong đó, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản 6 tháng đầu năm 2021 tăng khá so với cùng kỳ năm trước do năng suất lúa đông xuân tăng cao, ngành chăn nuôi và thủy sản phát triển ổn định, các sản phẩm nông nghiệp và thủy sản chủ yếu đều tăng khá

Trang 8

 Khu vực công nghiệp và xây dựng, ngành công nghiệp 6 tháng đầu năm 2021 tăng 8,91% so với cùng kỳ năm trước, thấp hơn tốc độ tăng 9,13% của 6 tháng đầu năm

2019 nhưng cao hơn tốc độ tăng 2,91% của 6 tháng đầu năm 2020, đóng góp 3,01 điểm phần trăm vào tốc độ tăng tổng giá trị tăng thêm toàn nền kinh tế

 Trong khu vực dịch vụ, hệ thống nhà hàng và cơ sở dịch vụ ăn uống tại chỗ, vận tải hành khách gặp nhiều khó khăn do thực hiện giãn cách xã hội tại một số địa phương

để phòng chống dịch bệnh Tăng trưởng của khu vực dịch vụ trong 6 tháng đầu năm

2021 chỉ cao hơn tốc độ tăng 0,48% của cùng kỳ năm 2020 trong giai đoạn 2011-2021

Quý 2 năm 2021 GDP của Việt Nam ước tăng 6,61% so với cùng kỳ năm trước, GDP 6 tháng tăng 5,64% Khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm tỉ trọng 12,15%; khu vực công nghiệp và xây dựng chiếm 37,61%; khu vực dịch vụ chiếm 41,13%

 Tổng sản phẩm trên địa bàn Hà Nội 6 tháng đầu năm 2021 tăng 5,91% so với cùng

kỳ năm trước (quý I tăng 5,17%; quý II tăng 6,61%)

 TP Hồ Chí Minh vừa công bố dù bị tác động nặng bởi dịch Covid-19 nhưng kinh tế tiếp tục tăng trưởng ổn định, 6 tháng đầu năm tăng 5,46%

 Hải Phòng tổng sản phẩm trên địa bàn 6 tháng đầu năm 2021 ước tăng 13,52% so với cùng kỳ năm trước

 Tổng sản phẩm trên địa bàn thành phố Đà Nẵng trong 6 tháng đầu năm 2021 tăng 4,99% so với cùng kỳ năm 2020

Trang 9

PHẦN II: Phân tích công cụ và cơ chế tác động của chính sách tài khóa đối với nền kinh tế? Việc vận dụng chính sách này ở Việt Nam như thế nào?

2.1 Công cụ và cơ chế tác động của chính sách tài khóa đối với nền kinh tế

Chính sách tài khóa được ví như “bàn tay vô hình” của Chính phủ Nhằm can thiệp đến tình hình kinh tế của một Quốc gia hay vùng lãnh thổ Đặc biệt là trong những thời điểm lạm phát quá cao Hay có tốc độ tăng trưởng GDP không đạt kỳ vọng Thì chính sách này được xem như là công cụ ngắn hạn để cải thiện tình hình

2.1.1 Khái niệm về chính sách tài khóa

Chính sách tài khóa (Fiscal Policy) là quyết định của Chính phủ về chi tiêu và thuế khóa

→ Việc điều chỉnh này nhằm mục đích hướng nền kinh tế vào mức sản lượng, mức việc làm mong muốn Đặc biệt là ổn định giá cả, lạm phát trong nền kinh tế của một quốc gia Hiểu một cách đơn giản thì đây là công cụ của nền kinh tế vĩ mô, tác động đến quy mô hoạt động kinh tế Thông qua việc thay đổi chi tiêu, thuế của chính phủ

 Xét trong điều kiện kinh tế bình thường thì chính sách này tác động vào giúp tăng trưởng kinh tế

 Còn trong điều kiện khi nền kinh tế có dấu hiệu phát triển quá mức hay suy thoái Thì

nó lại được dùng như công cụ đưa nền kinh tế trở lại trạng thái cân bằng

 Chỉ có cấp chính quyền trung ương như chính phủ mới có quyền ban hành cũng như thực thi Còn lại các cấp chính quyền địa phương hoàn toàn không có chức năng này

2.1.2 Các công cụ của chính sách tài khóa

Chính sách tài khoá có hai công cụ chủ yếu bao gồm: chi tiêu của chính phủ và thuế

- Chi tiêu chính phủ: Chi tiêu của Chính phủ là bộ phận cấu thành lớn của tổng cầu,

thuế ảnh hưởng lớn đến chi tiêu của các hộ gia đình, hãng kinh doanh Chi tiêu của Chính phủ gồm hai loại: chi mua sắm hàng hoá dịch vụ và chi chuyển nhượng

 Chi mua hàng hoá dịch vụ là việc Chính phủ dùng ngân sách để mua vũ khí, khí tài, xây dựng đường sá, cầu cống và các công trình kết cấu hạ tầng, trả lương cho đội ngũ cán bộ nhà nước Chi mua sắm hàng hoá và dịch vụ của Chính phủ quyết định quy

Trang 10

mô tương đối của khu vực công trong GDP so với khu vực tư nhân Khi Chính phủ tăng hay giảm chi mua sắm hàng hoá, dịch vụ của mình, nó sẽ tác động đến tổng cầu với một tác động mang tính chất số nhân Cụ thể là, nếu chi mua sắm của Chính phủ tăng lên một đồng sẽ làm tổng cầu tăng nhiều hơn một đồng và ngược lại, nếu chi mua sắm của Chính phủ giảm đi một đồng thì sẽ làm tổng cầu thu hẹp với tốc độ nhanh hơn Chính nhờ hiệu ứng số nhân này mà Chính phủ có thể sử dụng chi tiêu như một công cụ để điều tiết tổng cầu

 Chi chuyển nhượng là các khoản trợ cấp của Chính phủ cho các đối tượng chính sách như người nghèo hay các nhóm dễ bị tổn thương khác trong xã hội Khác với chi mua sắm hàng hoá dịch vụ, chi chuyển nhượng lại có tác động gián tiếp đến tổng cầu thông qua việc ảnh hưởng đến thu nhập và tiêu dùng cá nhân Khi Chính phủ tăng chi chuyển nhượng sẽ làm tiêu dùng cá nhân tăng lên Một lần nữa, qua hiệu số nhân của tiêu dùng cá nhân, điều này sẽ làm gia tăng tổng cầu

- Công cụ thuế:

 Thuế (Tax): Khoản khí mà một cá nhân hay pháp nhân phải trả cho chính phủ để tài trợ cho các khoản chi tiêu công

 Direct Taxes là thuế trực thu Là loại thuế đánh trực tiếp lên tài sản / thu nhập của người dân Ví dụ: Thuế thu nhập cá nhân, …

 Thuế gián thu: Thuế đánh gián tiếp lên giá trị hàng hóa/dịch vụ trong sản xuất, tiêu dùng Ví dụ: Thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế giá trị gia tăng, …

- Thuế ảnh hưởng đến nền kinh tế nói chung theo hai cách:

 Một mặt, ngược với chi chuyển nhượng, thuế làm giảm thu nhập khả dụng của cá nhân, dẫn đến chi cho tiêu dùng hàng hoá và dịch vụ của cá nhân giảm xuống, khiến tổng cầu giảm và GDP giảm

 Mặt khác, thuế tác động làm méo mó giá cả hàng hoá và dịch vụ nên ảnh hưởng đến hành vi và động cơ khuyến khích của cá nhân

Ngày đăng: 30/04/2022, 23:25

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w