1 hoav BẢNG CHỈ SỐ Chứng khoán (ngày 08/10) VN Index 996,12 1,22% HNX Index 114,38 0,25% D JONES CK Mỹ 26 486,78 0,15% STOXX CK C Âu 3 309,72 1,07% CSI 300 CK TQ 3 290,90 4,30% Vàng (SJC cập[.]
Trang 1hoav
BẢNG CHỈ SỐ
Chứng khoán (ngày 08/10)
D.JONES CK Mỹ 26.486,78 0,15% STOXX CK C.Âu 3.309,72 1,07% CSI 300 CK TQ 3.290,90 4,30%
Vàng(SJC cập nhật 08h30 ngày 09/10)
Quốc tế USD/Oz 1184.40 1,40%
Tỷ giá
USD/VND BQ LNH 22.723 0,01%
Dầu
Q uyết định 986 về Chiến lược phát triển
ngành ngân hàng đến năm 2025, định hướng
đến năm 2030 vẫn đặt nhiệm vụ xây dựng cơ
chế phân định rõ chức năng, nhiệm vụ, quyền
hạn của NHNN với vai trò là cơ quan quản lý
nhà nước trong lĩnh vực NH, vai trò đại diện
chủ sở hữu vốn nhà nước tại các TCTD và DN
có vốn nhà nước do NHNN làm đại diện chủ sở
hữu Điều này chứng tỏ NHNN vẫn tiếp tục
duy trì vị trí được nhiều chuyên gia gọi nôm na
là “siêu NHTM” Nếu vậy, việc tách bạch vai
trò ổn định chính sách tài khóa và điều hành
tiền tệ của NHNN, tiến tới việc tổ chức giữ vai
trò như một NHTW thực thụ không dễ đạt được
một cách triệt để Mục tiêu sau năm 2020, thị
trường NH cơ bản hoạt động theo nguyên tắc
thị trường chỉ có thể được coi là vừa sức
Tin nổi bật
Tái cấu trúc NH: Tiền phải sinh ra tiền Bài toán tăng vốn cho VAMC
Lợi nhuận hệ thống NH được kỳ vọng tăng trưởng 18,63% trong năm 2018
Lạc quan tăng trưởng GDP: Đạt được, thậm chí vượt mục tiêu tăng trưởng, lên đến 7% Tăng trưởng tốt, dấu ấn doanh nghiệp Việt đang dần rõ nét hơn
Trung Quốc đứng thứ hai thế giới về đầu tư trực tiếp ra nước ngoài
Thứ Ba, ngày 09/10/2018
BP.NGHIÊN CỨU & PHÁT TRIỂN – PHÒNG KẾ HOẠCH
Trang 2Tái cấu trúc ngân hàng: Tiền
phải sinh ra tiền
Dù thừa nhận thành tích giảm nợ xấu từ mức 17,2% năm 2012 còn 6,7% vào cuối tháng 6/2018, theo BIDV, vẫn còn đó lời than phiền về việc DNNVV khó tiếp cận vốn Con số này thêm phần suy nghĩ bởi thực trạng DN tạm ngừng hoạt động có thời hạn hoặc chờ giải thể tháng sau tăng hơn tháng trước, đạt 73.103 DN trong 9th/2018, 48,1% so với cùng kỳ 2017 Trong bối cảnh này, có lẽ, cần xem xét việc tái cơ cấu hệ thống NH bằng những đánh giá thực tế và khắt khe hơn PGS - TS Ngô Hướng, nguyên Hiệu trưởng Đại học NH TP.HCM, đưa ra từ khóa “thị trường” Hoạt động cho vay của hệ thống NHTM phải tuân thủ đúng quy luật của nền KT thị trường “tiền sinh ra tiền” Muốn vậy, tín dụng phải được luân chuyển nhịp nhàng, không thừa, không thiếu Đối với nền KT hiện tại, nhiệm vụ này chưa sớm khả thi Mới đây nhất, UB Quản lý vốn nhà nước tại DN (Siêu Ủy ban) ra đời nhằm quản lý gần 1 triệu tỷ đồng vốn nhà nước tại DN có thể nhận được nhiều tiếng vỗ tay Thế nhưng, như chính Thủ tướng lưu ý “chúng ta phải lựa chọn, xây dựng UB trở thành một cơ quan chuyên nghiệp, hiện đại hoặc con đường thứ 2 là một cơ quan quan liêu, kiểu cũ tạo ra gánh nặng cho đất nước” Nếu không hoạt động hiệu quả, đây chỉ là cách “cơ cấu vốn, cơ cấu nợ” chứ không phải là cách thay đổi cấu trúc tín dụng nhằm phục vụ nền kinh tế hiệu quả Trong khi những ràng buộc, níu kéo DN ở lại với Nhà nước hoặc duy trì cách thức quản lý kiểu Nhà nước chưa được tháo gỡ, chưa thể hy vọng có một nền kinh tế thị trường vận hành hiệu quả Hệ lụy không thể tránh khỏi là rất khó vận hành một hệ thống tín dụng theo nguyên tắc KT thị trường trong môi trường kinh doanh vắng bóng những yếu tố lành mạnh này Tất nhiên, không thể không nhắc đến vướng mắc đang án ngữ trong cấu trúc nội tại của hệ thống tín dụng VN Quyết định 986 về Chiến lược phát triển ngành NH VN đến năm 2025, định hướng đến năm 2030 vẫn đặt nhiệm vụ xây dựng cơ chế phân định rõ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của NHNN với vai trò là cơ quan quản
lý nhà nước trong lĩnh vực NH, vai trò đại diện chủ sở hữu vốn nhà nước tại các TCTD và DN có vốn nhà nước do NHNN làm đại diện chủ sở hữu Điều này chứng tỏ NHNN vẫn tiếp tục duy trì vị trí được nhiều
Tài chính – Ngân hàng
Trang 3chuyên gia gọi nôm na là “siêu NH thương mại” Nếu vậy, việc tách bạch vai trò ổn định chính sách tài khóa và điều hành tiền tệ của NHNN, tiến tới việc tổ chức giữ vai trò như một NHTW thực thụ không
dễ đạt được một cách triệt để Mục tiêu sau năm 2020, thị trường NH cơ bản hoạt động theo nguyên tắc thị trường chỉ có thể được coi là vừa sức Chỉ khi nội lực nền KT vững vàng, việc mở cánh cửa thị trường tài chính nội địa mới không đi kèm cùng mối lo các nhà tài phiệt nước ngoài mau chóng chiếm ưu thế
Bộ Tài chính được giao làm đầu
mối đẩy nhanh tái cơ cấu DNNN
Chính phủ vừa giao Bộ Tài chính làm đầu mối đẩy nhanh quá trình tái
cơ cấu DNNN Cùng với đó, sau khi UB Quản lý vốn nhà nước tại DN vừa đi vào hoạt động, Chính phủ y/c các bộ, ngành chủ động phối hợp với cơ quan này trong việc chuyển giao quản lý các tập đoàn, tổng công
ty, bảo đảm hoạt động bình thường, chống thất thoát, lãng phí Ủy ban được giao quản lý vốn tại 19 tập đoàn, tổng công ty lớn, với tổng số vốn
1 triệu tỷ đồng, tài sản trị giá 2,3 triệu tỷ đồng Để đánh giá sâu hiện trạng tái cơ cấu, cổ phần hóa DNNN, trên cơ sở đó kiến nghị giải pháp mới, hội nghị toàn quốc về đổi mới DNNN sẽ được tổ chức trong tháng
10 này (kế hoạch trước đó là tổ chức trong tháng 9)
vai trò của VAMC, và trong thời gian tới được kỳ vọng sẽ đẩy mạnh hơn nếu Bộ Tài chính thông qua các quy định liên quan đến việc mua bán
nợ của DATC và Công ty xử lý nợ của các NHTM (AMC), sẽ hỗ trợ rất nhiều cho VAMC Theo nhiệm vụ được giao, đến hết năm 2020 VAMC phải mua tối thiểu 330.000 tỷ đồng nợ xấu, trong đó mua nợ xấu theo giá trị thị trường đạt tối thiểu 20.000 tỷ đồng Chính vì vậy theo kế hoạch mà VAMC công bố thì trong năm 2018, VAMC phát hành trái phiếu đặc biệt với tổng giá trị tối đa là 32.000 tỷ đồng; tổng số tiền mua
nợ xấu theo giá trị thị trường năm 2018 là 3.500 tỷ đồng Đối với xử lý
nợ, đến năm 2022 xử lý tối thiểu được 140.000 tỷ đồng số nợ xấu đã mua, trong đó, riêng năm 2018 xử lý 34.504 tỷ đồng Thời gian qua công tác mua nợ xấu của VAMC được đánh giá chuyển biến tốt nhưng theo các chuyên gia KT, thực tế việc xử lý nợ xấu của VAMC vẫn khá chậm Con số báo cáo trong 6th/2018, hệ thống TCTD xử lý nợ xấu ước đạt 58.800 tỷ đồng, tuy nhiên trong con số này thì khối nợ xấu mà các TCTD tự xử lý đã chiếm đến 56.740 tỷ đồng
Trang 4TS Trương Huy Mai, chuyên gia KT RMIT nhận định kết quả xử lý nợ xấu của VAMC chưa như mong đợi, vì còn gặp nhiều vướng mắc do cơ quan quản lý chậm ban hành văn bản hướng dẫn thi hành Nghị quyết 42; khâu định giá ban đầu chưa sát với thị trường, dẫn đến nhiều khoản phải bán đi bán lại; thiếu nguồn nhân lực chuyên môn, hạ tầng công nghệ thông tin còn thô sơ, nên việc hỗ trợ lưu trữ hồ sơ, báo cáo thống
kê tốn nhiều thời gian… Trên hết, cản trở lớn nhất cho VAMC trong thực hiện trọng trách của mình là thiếu vốn Từ cuối năm 2015, VAMC được tăng vốn điều lệ lên 2.000 tỷ đồng nhưng vẫn quá nhỏ so với quy mô nợ xấu cần xử lý Thực tế việc tăng vốn để VAMC hoàn thành vai trò cũng
đã được cơ quan quản lý tính đến Theo lộ trình, giai đoạn 2017-2018, NHNN trình Thủ tướng cấp bổ sung vốn điều lệ cho VAMC để đạt mức 5.000 tỷ đồng và đạt mức mức 10.000 tỷ đồng trong giai đoạn
2019-2020 Tuy nhiên cho đến nay, chỉ còn 3 tháng nữa sẽ kết thúc năm
2018, nhưng VAMC vẫn chưa được cấp vốn như lộ trình đề ra Mới đây, VAMC đã đề xuất NHNN trình Thủ tướng được cấp đủ 5.000 tỷ đồng vốn điều lệ như lộ trình đề ra Các chuyên gia KT cho rằng muốn xử lý dứt điểm nợ xấu, bên cạnh việc banh hành các quy định tháo gỡ các rào cản trong việc bán tài sản thế chấp thì điều quan trọng đó là VAMC phải có tiền tươi thóc thật để mua nợ Bởi vì nếu VAMC mua nợ bằng trái phiếu đặc biệt sẽ tạo ra mối quan hệ “tay 3” giữa con nợ, NH và VAMC Bởi về nguyên tắc NH bán nợ là chuyển nợ sang VAMC, nhưng
NH vẫn có trách nhiệm giữ tài sản và VAMC chỉ ghi giấy thay vì đưa tiền cho NH TS Trương Huy Mai cho rằng, việc cấp thêm vốn cho VAMC là điều cần thiết, không chỉ tăng lên 5.000 tỷ đồng, 10.000 tỷ đồng, thậm chí phải tăng lên mức 20.000 tỷ đồng để giải quyết nợ xấu, giúp VAMC hút thêm vốn xử lý nợ xấu Bởi lẽ, VAMC được xác định là trung tâm thúc đẩy thị trường mua bán nợ, do đó cần tăng cường sức khỏe để VAMC gánh trọng trách này
Lợi nhuận hệ thống NH được kỳ
vọng tăng trưởng 18,63% trong
năm 2018
Theo kết quả cuộc điều tra xu hướng KD mới nhất vào tháng 9/2018, 88,3% TCTD kỳ vọng lợi nhuận trước thuế của đơn vị tăng trưởng dương so với năm 2017; 5,3% TCTD kỳ vọng lợi nhuận “không đổi” và 6,4% TCTD lo ngại lợi nhuận “suy giảm” Lợi nhuận toàn hệ thống được
kỳ vọng BQ 18,63% trong 2018, thấp hơn so với mức kỳ vọng 19,05%
ghi nhận tại cuộc điều tra tháng 6/2018 nhưng cao hơn nhiều so với mức kỳ vọng 13,63% của các TCTD tại cuộc điều tra cùng kỳ
Trang 5Kết quả điều tra cho thấy, tình hình KD Q.III/2018 có cải thiện hơn so với Q.II/2018 với 72,6% TCTD nhận định tình hình KD cải thiện tốt hơn, trong đó 15,8% là nhận định là “cải thiện nhiều” Dự kiến trong thời gian tới, 80% TCTD kỳ vọng tình hình KD sẽ “cải thiện” trong Q.IV/2018 và 84,2% TCTD kỳ vọng tình hình KD tổng thể trong 2018 “cải thiện” hơn
so với 2017 Trong đó 23 - 30,5% TCTD kỳ vọng “cải thiện nhiều” Về huy động vốn, các TCTD kỳ vọng huy động vốn toàn hệ thống BQ
5,83% trong Q.IV/2018 (cao hơn so với mức tăng thực tế và mức kỳ vọng của cùng kỳ năm 2017) và 15,34% trong cả năm 2018 (cao hơn mức tăng thực tế 14,98% nhưng thấp hơn mức kỳ vọng 16% của năm 2017) Về hoạt động tín dụng, dư nợ tín dụng của hệ thống NH được kỳ vọng 4,52%
trong Q.IV/2018 và 15,22% trong 2018 trong bối cảnh mặt bằng LS huy động vốn và cho vay được các TCTD kỳ vọng tiếp tục duy trì ổn định trong Q.IV/2018 và cả năm 2018 Cùng với đó, khảo sát cũng cho thấy nhu cầu của khách hàng đối với sản phẩm dịch vụ TC-NH tiếp tục được các TCTD nhận định tích cực trong Q.III/2018 với nhu cầu vay vốn được 49,5% TCTD lựa chọn mức “cao” Tiếp đến là nhu cầu thanh toán
và thẻ (38,1% TCTD lựa chọn mức “cao”) và nhu cầu gửi tiền (33% TCTD lựa chọn mức “cao”) Dự kiến tổng thể năm 2018 so với năm 2017, kết quả điều tra kỳ này cho thấy các TCTD kỳ vọng sản phẩm thu hút được nhiều khách hàng nhất là vay vốn, tiếp đến là nhu cầu sử dụng dịch vụ thanh toán và thẻ, sau đó là nhu cầu gửi tiền Các tỷ lệ TCTD dự kiến tương ứng 69,2% 57,5% 57% Thanh khoản của hệ thống NH tại thời điểm cuối Q.III/2018 tiếp tục ở trạng thái “tốt” đối với cả VND và ngoại tệ Dự báo trong quý tới và cả năm 2018, đa số các TCTD kỳ vọng tình hình thanh khoản của hệ thống NH tiếp tục diễn biến khả quan đối với cả tiền đồng và ngoại tệ Đánh giá về tình hình lao động và việc làm trong ngành NH, các TCTD nhận định tiếp tục chuyển biến tích cực với 56,84% TCTD cho biết đã tuyển thêm lao động trong Q.III/2018 (cao hơn tỷ lệ 46% ghi nhận tại kỳ trước); 26,6% TCTD nhận định đang thiếu lao động cần thiết cho nhu cầu công việc hiện tại; và 61,46%
TCTD dự kiến tiếp tục tuyển thêm lao động trong Q.IV/2018
Thanh khoản dồi dào trở lại
nhưng tỷ giá có xu hướng tăng
Theo SSI Retail Research, thị trường tiền tệ thế giới tháng 9 khá ổn định Chỉ số USD Index sau khi chạm đỉnh 96,7 điểm trong tháng 8 đã giảm trở lại và dao động quanh vùng 94 – 95 điểm trong tháng 9 và chỉ bật lên cao hơn một chút vào cuối tháng sau cuộc họp của Fed quyết
Trang 6định tăng LS lần thứ 3 trong năm Nhờ sự ổn định trên thị trường thế giới, tỷ giá USD/VND trong nước dao động quanh ngưỡng 23.260 - 23.340 (mua - bán) trong gần hết tháng 9 Tỷ giá bắt đầu tăng vào cuối tháng cùng những tín hiệu tăng của đồng USD và lợi suất trái phiếu kho bạc Mỹ Tỷ giá USD/VND kết thúc tháng 9 ở mức kỷ lục mới 23.310 - 23.390, 50 đồng so với tháng 8 Trong khi đó, tỷ giá tự do giảm khá mạnh về 23.400 sau đó lại tăng trở lại ngang mức cuối tháng 8 là 23.470 - 23.500 Các chuyên gia cũng cho biết, biến động LS trên thị trường LNH cũng khá nhạy với tỷ giá Chênh lệch LS VND-USD được kéo giãn đã giúp tỷ giá hạ nhiệt từ giữa tháng 7 Trong thời gian này, NHNN đã điều hành thị trường tiền tệ để duy trì LS VND qua đêm ở mức 4%, trong khi LS LNH USD vẫn khá ổn định ở mức 2% Chênh lệch 2% là mức khá an toàn để không gây áp lực lên tỷ giá Tuy nhiên, khi LS VND giảm trở lại về sát 2% vào nửa cuối tháng 9, khiến chênh lệch LS được thu hẹp, tỷ giá cũng có xu hướng tăng trở lại trong thời gian này Giao dịch thị trường mở tháng 9 khá ổn định và nhịp nhàng thể hiện quan điểm rất thận trọng của NHNN Tổng khối lượng tín phiếu
mà NHNN phát hành đạt 52.950 tỷ đồng, chủ yếu để bù lại khối lượng đáo hạn là 50.000 tỷ đồng, trong đó có một phần là lượng tín phiếu kỳ hạn 91 ngày phát hành trong tháng 6 Tổng khối lượng OMO cho vay ra
là 8.155 tỷ đồng, trong khi có 15.401 tỷ OMO đáo hạn Như vậy NHNN
đã hút ròng 10.196 tỷ đồng trong tháng 9 Thanh khoản dồi dào đã đưa
LS VND LNH về khoảng 2,6%, cao hơn khoảng 60 điểm cơ bản (bps) so với LS USD Nhìn chung, diễn biến tỷ giá tháng 9 chịu tác động chủ yếu
từ các yếu tố thị trường trong khi các cân đối vĩ mô vẫn cho những tín hiệu tích cực Về hoạt động XNK, xuất siêu bất ngờ tăng mạnh trong tháng 8 với giá trị 2,2 tỷ USD, ước tính tiếp tục duy trì ở mức 0,7 tỷ USD trong tháng 9, nâng thặng dư thương mại từ đầu năm lên 6 tỷ USD so với mức 324 triệu USD cùng kỳ năm 2017
Trang 7“Dồn nén lạm phát năm 2018 sẽ
tạo áp lực lớn cho năm sau“
Theo ông Ngô Trí Long, Nguyên Viện trưởng Viện Quản lý giá, Bộ Tài chính cho biết, kiểm soát lạm phát những năm gần đây, đặc biệt từ năm 2016-2017 luôn đạt mục tiêu Quốc hội đề ra Thời gian qua lạm phát là một trong chỉ tiêu ổn định KTVM, bên cạnh kiểm soát lạm phát là CSTT, tỷ giá ổn định và công ăn việc làm cho người lao động Lạm phát trong tầm kiểm soát đồng thời đảm bảo mục tiêu tăng trưởng GDP như vậy cũng là thành công kép Những năm qua, kiểm soát lạm phát đạt được mục tiêu Quốc hội giao nhưng tăng trưởng mặt chất lượng chưa cải thiện nhiều, chủ yếu do CSTT và nguyên nhân khách quan do giá
TG đặc biệt giá mặt hàng dầu giảm mạnh Năm 2018, kiểm soát lạm phát nhưng lại bằng cách kiểm soát các nhân tố, không cho tăng giá điện, hạn chế tăng giá xăng dầu cho thấy, việc kiểm soát chưa thật bền vững Do đó, khả năng kiểm soát được lạm phát trong 2018 nhưng bằng cách dồn nén như vậy ảnh hưởng đến chỉ số này trong 2019…
Lạc quan tăng trưởng GDP: Đạt
được, thậm chí vượt mục tiêu
tăng trưởng, lên đến 7%
Tính chung 9th/2018, GDP ước tính 6,98% so với cùng kỳ 2017, là mức tăng cao nhất của 9th kể từ năm 2011 trở về đây Nhiều dự báo cho rằng VN có thể đạt mức tăng trưởng GDP lên đến 7% năm 2018, mức tăng trưởng cao thứ 2 châu Á chỉ sau Ấn Độ (i) Theo ông Dương Mạnh Hùng, Vụ trưởng Vụ Hệ thống Tài khoản quốc gia (Tổng cục Thống kê): Tăng trưởng GDP Q.IV chỉ cần đạt 6,11% do đó khả năng tăng trưởng cả năm sẽ đạt mục tiêu 6,7% là khả thi Thông thường Q.IV là quý có GDP tăng trưởng cao nhất 3 năm gần đây, mức tăng trưởng quý này đều >6,11% (ii) Theo ông Nguyễn Trí Hiếu, chuyên gia tài chính: Dự báo của tôi có lẽ hơi bảo thủ một chút, khả năng tăng trưởng GDP đạt được ít nhất 6,7%, khả năng đạt được 7% là có tuy nhiên vấn
đề luôn luôn đặt ra là tăng trưởng nhanh như thế chưa chắc tốt Vấn đề cần đặt ra là chất lượng tăng trưởng ngay cả khi đạt được mức tăng trưởng 6,7% con số không quan trọng bằng chất lượng tăng trưởng được định nghĩa theo nghĩa giá trị hàng hoá, DV… (iii) Ông Ngô Trí Long, nguyên Viện trưởng Viện Quản lý giá, (Bộ Tài chính) cho rằng:
GDP riêng trong Q.III 6,88% so với cùng kỳ 2017 Mức này tuy thấp
Kinh tế Việt Nam
Trang 8hơn mức 7,45% của Q.I nhưng cao hơn mức 6,73% của Q.II, cho thấy nền KT vẫn giữ được đà tăng trưởng và xóa đi lo ngại về xu hướng GDP quý sau tăng thấp hơn so với quý trước và tốc độ tăng trưởng có thể chậm lại theo các quý Do đó, tôi cho rằng việc thực hiện được mục tiêu GDP 6,7% mà Quốc hội đã giao hoàn toàn đạt được, thậm chí cao hơn (iv) Đối với ông Lưu Bích Hồ, nguyên Viện trưởng Viện Chiến lược phát triển (Bộ KHĐT): Tính chung tăng trưởng GDP 9th/2018 đạt 6,98%,
là mức tăng trưởng cao nhất kể từ năm 2011 Theo đó, để đạt được mục tiêu tăng trưởng chính thức cả năm là 6,7%, GDP Q.IV/2018 chỉ cần 6,1% so với cùng kỳ do đó, đạt và vượt 6,7% là chắc chắn, trừ đột biến Còn mức nào không quan trọng, vì không thể vượt quá nhiều
Tăng trưởng tốt, dấu ấn doanh
nghiệp Việt đang dần rõ nét hơn
Trong Công nghiệp và Xây dựng, đáng chú ý nhất là sự cải thiện của ngành Xây dựng với mức tăng trưởng cao nhất kể từ đầu năm là
9,2% Trong khi đó Công nghiệp Chế biến chế tạo - ngành có tỷ trọng giá trị lớn nhất trong GDP - đi ngang với tăng trưởng 12,1% còn Khai khoáng 3,3% (Q.II 3,1%). Theo báo cáo cập nhật KT VN tháng 10 của Công ty cổ phần CK Sài Gòn (SSI), sự cải thiện của ngành Xây dựng có thể xuất phát từ sự cải thiện trong giải ngân vốn đầu tư toàn
XH, đặc biệt là giải ngân đầu tư công Q.III/2018, tổng vốn đầu tư toàn
XH đạt 507.000 tỷ đồng, 12,5% so với cùng kỳ và đạt mức cao nhất 4 quý vừa qua Trong đó, vốn NSNN đạt mức tăng ấn tượng 14,9%, tăng gấp đôi tốc độ tăng trưởng của 2 quý trước đó Nguồn vốn đầu tư
tư nhân (chiếm tỷ trọng lớn nhất) cũng cải thiện nhẹ và vươn lên mức cao nhất nhiều năm, khi 18,8% “Sự bù đắp của 2 nguồn vốn này cho FDI
là minh chứng cho sự dịch chuyển cơ cấu KT theo hướng tập trung hơn vào nội lực Tăng tốc giải ngân vốn ngân sách cũng là một dấu hiệu tích cực bởi nguồn lực tài khóa đang đóng vai trò quan trọng trong thúc đẩy tăng trưởng khi dư địa tiền tệ hẹp lại Mặt khác, điều này cho thấy việc tháo gỡ các nút thắt trong giải ngân đầu tư công đang có tiến triển tốt”
Mặc dù đóng góp của ngành Xây dựng là đáng ghi nhận, nhưng ngành Công nghiệp chế biến chế tạo - có tỷ trọng lớn nhất trong cơ cấu GDP - mới thực sự là bệ đỡ để có được sự cải thiện trong Q.III… SSI khuyến nghị, cùng với sự hồi phục của đầu tư công, việc thúc đẩy tăng trưởng duy trì ở mức cao của đầu tư tư nhân có ý nghĩa đặc biệt quan trọng
Đó là cơ sở cho sự dịch chuyển cơ cấu KT theo hướng giảm dần sự phụ thuộc vào FDI và tăng dần tỷ trọng của khối tư nhân trong nước
Trang 9Làm thế nào để kinh tế tư nhân
lớn mạnh?
Tại Hội thảo "Phát triển Kinh tế tư nhân (KTTN): rào cản và giải pháp",
Gs Nguyễn Mại, Chủ tịch Hiệp hội DN đầu tư nước ngoài, cho hay
8th/2018, cả nước có 87.448 DN được thành lập với tổng số vốn đăng ký mới và tăng thêm 2,56 triệu tỷ đồng, 32,5% so với cùng kỳ 2017 Điều này cho thấy, KTTN với số lượng ngày càng nhiều, quy mô ngày càng lớn, đóng vai trò ngày càng quan trọng đối với tốc độ tăng trưởng theo hướng bền vững Theo Tổng cục Thống kê, KV DNTN VN đã không thể lớn nổi so với chính mình, mới chỉ đóng góp khoảng 9% vào GDP/năm trong suốt hàng chục năm qua Tuy nhiên, TS Nguyễn Đình Cung, Viện trưởng Viện Nghiên cứu quản lý KTTW, cho rằng phải đánh giá lại vai trò của KTTN và bày tỏ sự nghi ngờ về con số đóng góp vào GDP của KV này Theo ông Cung, phải đánh giá lại để thay đổi những nhận định chính trị, vì những nhận định đó chính là các rào cản căn bản đối với phát triển đất nước nói chung và KV KTTN nói riêng Các con số doanh thu, lợi nhuận đều cao, nhưng đóng góp GDP lại thấp KV KTTN đối mặt với nhiều rủi ro, bên cạnh các rủi ro thông thường, phải đối mặt rủi ro pháp lý Điều này đến từ hệ thống pháp luật không cụ thể, không minh bạch, không hiệu lực, không hiệu quả Mặt khác, với những DN muốn lớn lại không lớn được Một DN có ý tưởng KD tốt, cần nguồn lực
để phát triển, nhưng nguồn lực đó không thể đến từ vốn gia đình, bạn
bè của mình Trong khi đó, còn tình trạng phân bố nguồn lực theo xin – cho, thay vì dựa trên tiêu chí chất lượng Một vấn đề đặt ra là vẫn còn
sự phân biệt trong nhận thức dẫn tới sự phân biệt trong đối xử giữa KV KTTN và các thành phần KT khác Bên cạnh đó, ông Kiên cũng chỉ ra một rào cản ngay ở chính các DNTN khiến KV KT này chưa lớn được,
đó là bản thân nhiều DNTN chưa đáp ứng được 5 yếu tố quyết định, bao gồm: chiến lược KD, quản trị DN, ứng dụng khoa học công nghệ, quản lý lao động và đào tạo nguồn nhân lực Phân tích ở cả hai mặt cho thấy việc làm thế nào để KV KTTN lớn được cần sự vào cuộc của
cả hệ thống chính trị, cũng như sự nỗ lực của chính DNTN…
Hà Nội: Tăng trưởng kinh tế
7,17% trong 9 tháng
UBND TP Hà Nội vừa ban hành Thông báo Hội nghị giao ban Q.III và
9th/2018 Đáng chú ý, GRDP của thành phố 9th/2018 ước đạt 7,17% , cao hơn so với mức 6,87% của cùng kỳ 2017 tổng thu NSNN ước
9th/2018 ước đạt 166.200 tỷ đồng, #69,7% dự toán và 13,7% so với cùng kỳ; thu hút đầu tư nước ngoài ước đạt 6,265 tỷ USD, gấp 5,4 lần
so cùng kỳ, đứng đầu cả nước Bên cạnh đó, du thị trường thế giới tiềm
Trang 10ẩn nhiều rủi ro với chiến tranh thương mại leo thang, kim ngạch XK của thành phố trong 3 quý qua vẫn đạt 10,51 tỷ USD, 21,6% so với cùng
kỳ (cùng kỳ 8,7%) Khách quốc tế có lưu trú tại thành phố đạt 3,1 triệu lượt, 21%, chiếm 37,2% thị phần cả nước Tổng thu từ khách du lịch ước đạt 57.300 tỷ đồng, 7,3%