1 | P a g e Số 115 2 | P a g e Chính thức tiếp tục cho vay ngoại tệ trong năm 2017 03 07 11 17 Tài sản của các TCTD chính thức vượt 8 triệu tỷ đồng 21 Bức tranh lợi nhuận ngân hàng quý III Các mảng mà[.]
Trang 1Số 115
Trang 2Chính thức tiếp tục cho vay ngoại tệ trong năm 2017
03
07
11
17 Tài sản của các TCTD chính thức vượt 8 triệu tỷ đồng
21
Bức tranh lợi nhuận ngân hàng quý III: Các mảng màu sáng, tối!
SHB tri ân khách hàng dịp sinh nhật
Ngân hàng Nhà nước: Tỷ giá tăng là hết sức bình thường
27 BAC A BANK tổ chức lễ tri ân giảng viên nội bộ 2016
Trang 3Chính thức tiếp tục cho vay ngoại
tệ trong năm 2017
(VnEconomy) - Các doanh nghiệp xuất khẩu tiếp
tục được vay ngoại tệ ngắn hạn trong cả năm
tới
Khi được tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng
nước ngoài giải ngân vốn cho vay, khách hàng
vay phải bán số ngoại tệ vay đó cho tổ chức tín
dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài cho vay
theo hình thức giao dịch hối đoái giao ngay
(spot)
Ngân hàng Nhà nước vừa chính thức ban hành
Thông tư số 31/2016/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung
một số điều của Thông tư số 24/2015/TT-NHN quy
định cho vay bằng ngoại tệ của tổ chức tín dụng,
chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách
hàng vay là người cư trú
Theo Ngân hàng Nhà nước, trong bối cảnh tình
hình kinh tế - xã hội và hoạt động sản xuất, kinh
doanh của doanh nghiệp vẫn còn khó khăn, nhất là doanh nghiệp xuất khẩu, chính sách tín dụng ngoại tệ sẽ tiếp tục được triển khai trong năm tới
Đây cũng là một chính sách nhằm góp phần thực hiện mục tiêu của Chính phủ tại Nghị quyết
số 35/NQ-CP ngày 16/5/2016 về hỗ trợ và phát triển doanh nghiệp đến năm 2020
Theo đó, với thông tư vừa ban hành, tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài được phép hoạt động ngoại hối xem xét quyết định cho khách hàng là người cư trú vay vốn bằng ngoại tệ để đáp ứng các nhu cầu vốn ngắn hạn ở trong nước nhằm thực hiện phương án sản xuất, kinh doanh hàng hóa xuất khẩu qua cửa khẩu biên giới Việt Nam mà khách hàng vay có đủ ngoại tệ từ nguồn thu xuất khẩu để trả nợ vay
Khi được tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài giải ngân vốn cho vay, khách hàng vay phải bán số ngoại tệ vay đó cho tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài cho vay theo hình thức giao dịch hối đoái giao ngay (spot), trừ trường hợp nhu cầu vay vốn của khách hàng để thực hiện giao dịch thanh toán mà pháp luật quy định đồng tiền giao dịch phải bằng ngoại tệ
Quy định trên có hiệu lực từ 1/1/2017 và thực hiện đến hết ngày 31/12/2017
Điểm ủy thác thanh toán không
được tính phí dịch vụ đối với
khách hàng
(TBNH) - Quy định trên được đưa ra tại Dự thảo
Thông tư quy định về việc ủy thác và nhận ủy
thác trong hoạt động cung ứng dịch vụ thanh
toán đang được NHNN lấy ý kiến đóng góp.
Theo đó, Thông tư này quy định về việc ủy thác, nhận ủy thác của tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán và việc nhận ủy thác của tổ chức không phải là tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài (sau đây gọi tắt là TCTD) tại Việt Nam trong hoạt động cung ứng dịch vụ thanh toán bằng đồng Việt Nam cho khách hàng, bao gồm các nghiệp vụ sau
Trang 4Thứ nhất là, tiếp nhận yêu cầu dịch vụ của
khách hàng; giao nhận, xử lý và kiểm soát
chứng từ giao dịch với khách hàng; thu, chi tiền
mặt nhằm mục đích cung ứng dịch vụ chuyển
tiền trong nước, thu hộ, chi hộ cho khách hàng
của tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán
Theo dự thảo Thông tu, Bưu điện sẽ được nhận
ủy thác thanh toán
Thứ hai là, truy vấn số dư, giao dịch của tài
khoản thanh toán của khách hàng tại tổ chức
cung ứng dịch vụ thanh toán
Thứ ba là, thực hiện nhận biết, xác minh thông
tin nhận biết khách hàng và thu thập xử lý các
thông tin, tài liệu liên quan đến mở tài khoản
thanh toán, đơn đăng ký phát hành thẻ ngân
hàng từ khách hàng để gửi cho tổ chức cung
ứng dịch vụ thanh toán thẩm định và ra quyết
định về việc mở tài khoản thanh toán hoặc phát
hành thẻ cho khách hàng
Các tổ chức được ủy thác thanh toán bao gồm:
Ngân hàng thương mại; Ngân hàng Phát triển
Việt Nam; Chi nhánh ngân hàng nước ngoài
Các tổ chức được nhận ủy thác thanh toán,
ngoài các tổ chức nêu trên còn có: Quỹ tín dụng
nhân dân; Tổ chức không phải là TCTD (bao
gồm: Bưu điện; Tổ chức cung ứng dịch vụ công
nghệ thông tin và viễn thông; Tổ chức phân
phối, kinh doanh xăng dầu; Tổ chức cung ứng
dịch vụ trung gian thanh toán được NHNN Việt
Nam cấp phép)
8 nguyên tắc thực hiện ủy thác thanh toán
Dự thảo Thông tư cũng quy định rõ 8 nguyên tắc thực hiện ủy thác thanh toán
Thứ nhất, ủy thác thanh toán phải được lập thành hợp đồng bằng văn bản phù hợp với quy định tại Thông tư này và các quy định pháp luật khác có liên quan
Thứ hai, bên ủy thác và bên nhận ủy thác phải
có hệ thống thông tin kế toán quản trị đảm bảo theo dõi riêng được hoạt động cung ứng dịch
vụ thanh toán thông qua việc ủy thác và nhận
ủy thác thanh toán, đồng thời theo dõi và thống
kê được các giao dịch thực hiện tại từng điểm
ủy thác thanh toán
Thứ ba, bên ủy thác chỉ được ủy thác cho bên nhận ủy thác thực hiện những nội dung ủy thác
mà bên ủy thác được thực hiện và được ủy thác theo quy định tại Thông tư này
Thứ tư, bên ủy thác phải thực hiện các biện pháp nhằm mục đích phòng ngừa, ngăn chặn
và xử lý các loại rủi ro như rủi ro thanh khoản, hoạt động, lừa đảo, gian lận, rửa tiền, tài trợ khủng bố và các rủi ro khác; bên ủy thác có trách nhiệm yêu cầu bên nhận ủy thác thực hiện các biện pháp của bên nhận ủy thác nhằm các mục đích quy định tại khoản này
Thứ năm, bên ủy thác có quyền và nghĩa vụ phát sinh từ các giao dịch do bên nhận ủy thác thực hiện với khách hàng trong phạm vi ủy thác
và liên đới chịụ trách nhiệm về hành vi vi phạm pháp luật của bên nhận ủy thác nếu hành vi vi phạm có lỗi của bên ủy thác
Thứu sáu, giao dịch do bên ủy thác thực hiện với khách hàng vượt quá phạm vi ủy thác không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ của bên ủy thác đối với phần giao dịch được thực hiện vượt quá phạm vi ủy thác; trong trường hợp này, bên nhận ủy thác phải thực hiện nghĩa vụ đối với khách hàng về phần giao dịch vượt quá phạm
Trang 5thông báo cho khách hàng biết vê phạm vi ủy
thác của mình
Cuối cùng, trường hợp bên nhận ủy thác và
khách hàng cố ý thực hiện giao dịch vượt quá
phạm vi ủy thác mà gây thiệt hại cho bên ủy
thác thì phải chịu trách nhiệm liên đới bồi
thường thiệt hại cho bên ủy thác
Điểm nhận ủy thác không được tính phí dịch vụ
trực tiếp đối với khách hàng
Liên quan đến phí trong hoạt động ủy thác
thanh toán, Dự thảo Thông tư quy định rõ: Các
điểm ủy thác thanh toán không được tính phí
dịch vụ trực tiếp đối với khách hàng
Bên ủy thác thu phí của khách hàng theo Biểu phí dịch vụ của mình và không được thu thêm bất kỳ loại phí nào ngoài Biểu phí đã công bố Biêu phí dịch vụ của bên ủy thác phải nêu rõ các loại phí, mức phí áp dụng cho từng loại dịch
vụ Biểu phí dịch vụ của bên ủy thác phải phù hợp với quy định của pháp luật và được niêm yết công khai tại điểm ủy thác thanh toán Bên ủy thác thỏa thuận với bên nhận ủy thác về phí ủy thác, việc chia sẻ phí và tỷ lệ phí hợp lý cho các điểm ủy thác thanh toán liên quan
Nâng cao hiệu quả tham gia các
thể chế tài chính - tiền tệ - ngân
hàng
(Chinhphu.vn) - Thủ tướng Chính phủ vừa phê
duyệt Đề án “Đẩy mạnh việc tham gia vào các
thể chế tài chính - tiền tệ - ngân hàng khu vực và
quốc tế” nhằm tạo cơ hội cho Việt Nam tận dụng
được thị trường thế giới, đẩy mạnh các hoạt
động sản xuất – kinh doanh để phát triển kinh tế
- xã hội
Việt Nam là thành viên của IMF
Hiện nay, Việt Nam đang là thành viên của
6 thể chế tài chính tiền tệ ngân hàng khu vực
và quốc tế (TCTCNHQT), bao gồm: Quỹ Tiền
tệ Quốc tế (IMF), Ngân hàng Thế giới (WB),
Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB), Ngân
hàng Đầu tư Quốc tế (IIB), Ngân hàng Hợp tác
Kinh tế Quốc tế (IBEC) và mới đây nhất là Ngân
hàng Đầu tư cơ sở hạ tầng châu Á (AIIB) với tư cách thành viên sáng lập
Tham gia vào các TCTCNHQT sẽ góp phần kích thích tăng trưởng kinh tế, thúc đẩy sự phát triển sâu rộng của các quan hệ kinh tế tài chính quốc tế, thúc đẩy tự do hóa thương mại, đầu tư, thông tin, lao động… tạo cơ hội cho Việt Nam tận dụng được thị trường thế giới, đẩy mạnh các hoạt động sản xuất – kinh doanh để phát triển kinh tế - xã hội
Do đó, trong bối cảnh toàn cầu hóa khi Việt Nam tham gia hiệu quả các định chế, tổ chức kinh tế, tài chính khu vực cũng như toàn cầu sẽ
có cơ hội tiếp cận thị trường vốn và dịch vụ tài chính ngân hàng ở các thể chế và thị trường tài chính của các nước thành viên với điều kiện thuận lợi và giá cả phù hợp để xây dựng, nâng cấp cơ sở hạ tầng và phát triển kinh tế - xã hội Tham gia vào các TCTCNHQT tạo điều kiện cho Việt Nam tham gia tích cực hơn vào các quá trình hợp tác liên kết quốc tế, tham gia thiết lập trật tự kinh tế quốc tế công bằng hơn, hợp
lý hơn, thúc đẩy tiến trình dân chủ hóa và bình đẳng hóa các quan hệ quốc tế Việt Nam sẽ ngày càng khẳng định vị thế của mình trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay thông qua các diễn đàn tài chính tiền tệ quốc tế
Trang 6Việc tham gia các tổ chức, định chế khu vực và
thế giới sẽ giúp Việt Nam có được vị thế bình
đẳng như các thành viên khác trong việc hoạch
định chính sách tài chính tiền tệ toàn cầu, có
tiếng nói được tôn trọng hơn, có quyền thương
lượng và khiếu nại công bằng hơn đối với các
tranh chấp trong khuôn khổ tổ chức, định chế
quốc tế, do đó có điều kiện để bảo vệ lợi ích
của đất nước, của doanh nghiệp
Để tăng cường tham gia các TCTCNHQT đến
năm 2020, tầm nhìn 2030, Đề án đưa ra 3
nhiệm vụ
Nhiệm vụ đầu tiên là nâng cao hiệu quả tham
gia các TCTCNHQT Trong đó, tham gia tích
cực vào các hoạt động, xây dựng chính sách,
sáng kiến, chương trình tăng vốn, cơ cấu lại và
cải cách của các tổ chức này nhằm nâng cao vị
thế của Việt Nam tại các TCTCNHQT, tiến tới
có được các vị trí chủ chốt như Giám đốc điều
hành hoặc Giám đốc điều hành phụ khuyết tại
các tổ chức này
Tăng hiệu quả sử dụng các nguồn hỗ trợ từ các
TCTCNHQT, đẩy mạnh tư vấn chính sách và
tận dụng hợp tác kỹ thuật cho phát triển kinh tế
Có kế hoạch và chiến lược tiếp cận với các
nguồn vốn kém ưu đãi, thương mại và khai thác
các sản phẩm khác phù hợp với vị thế của Việt
Nam là nước có thu nhập trung bình; tăng
cường hiệu quả sử dụng các nguồn lực phát
triển
Nhiệm vụ tiếp theo là tiếp cận, tham gia có chọn lọc vào các TCTCNHQT và sáng kiến thiết lập khuôn khổ hợp tác tài chính mới
Cụ thể, nghiên cứu, tiếp cận và đề xuất tham gia có chọn lọc vào các TCTCNHQT quan trọng trong việc xây dựng khuôn khổ phát triển của khu vực và thế giới nhằm bổ sung nguồn tài chính, nguồn lực phát triển nhằm tăng cường năng lực thể chế và nhân lực đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế
Đẩy mạnh hoạt động hợp tác với các TCTCNHQT khác, kể cả các sáng kiến, diễn đàn, hội nghị, nhóm công tác liên quan cũng như các hoạt động nghiên cứu phát triển, tạo điều kiện để Việt Nam tham gia vào việc xây dựng những thiết chế, khuôn khổ hợp tác quốc
tế và khu vực
Nhiệm vụ khác là xây dựng và phát triển năng lực hội nhập Cụ thể, hoàn thiện khuôn khổ pháp luật để áp dụng, triển khai và thực hiện các cam kết, nghĩa vụ của Việt Nam tại các TCTCNHQT
Bên cạnh đó, xây dựng, đào tạo và phát triển nguồn nhân lực có trình độ, kỹ năng tốt, có khả năng tham gia và có đóng góp tích cực vào hoạt động của các TCTCNHQT nhằm tăng cường
sự tham gia, tiếng nói và vị thế của Việt Nam; nghiên cứu cơ chế, chính sách liên quan để đề xuất lộ trình, mức độ tham gia của Việt Nam với vai trò nhà tài trợ
Trang 7Tài sản của các TCTD chính thức
vượt 8 triệu tỷ đồng
(TBNH) - Tổng tài sản của toàn hệ thống TCTD
tiếp tục tăng mạnh hơn 198 nghìn tỷ đồng trong
tháng 9, chính thức vượt ngưỡng 8 triệu tỷ đồng
Vốn tự có, vốn điều lệ cũng tăng
Thanh khoản của hệ thống hiện đang rất dồi
dào nhờ nguồn tiền gửi tiết kiệm từ dân cư
Tài sản của tất cả các khối đều tăng
Theo số liệu thống kê của NHNN, tính đến
30/9/2016 tổng tài sản của toàn hệ thống TCTD
đạt 8.091.355 tỷ đồng, tăng 198.158 tỷ đồng so
với cuối tháng 8 và tăng 772.042 tỷ đồng (tương
đương tăng 10,55%) so với cuối năm 2015
Nguyên nhân khiến tài sản của hệ thống tăng
mạnh trong tháng 9 là do tài sản của tất cả các
khối đều tăng Trong đó tăng mạnh nhất là khối
NHTM Nhà nước, khi tài sản của khối này đã
tăng thêm 94.538 tỷ đồng lên 3.690.463 tỷ
đồng Đứng thứ hai về mức tăng là khối
NHTMCP với việc tài sản tăng thêm 70.438 tỷ
đồng lên 3.198.341 tỷ đồng
Sau khi giảm 15.409 tỷ đồng trong tháng 8, đến
tháng 9, tài sản của khối ngân hàng liên doanh
– nước ngoài đã tăng trở lại 26.350 tỷ đồng, đạt
826.789 tỷ đồng, xếp thứ 3 về mức độ tăng
Trong tháng tài sản của khối Công ty tài chính
– cho thuê cũng tiếp tục tăng 2.117 tỷ đồng lên
103.851 tỷ đồng; Ngân hàng chính sách tăng
2.344 tỷ đồng lên 157.753 tỷ đồng; Ngân hàng Hợp tác tăng 1.408 tỷ đồng lên 25.673 tỷ đồng;
và hệ thống QTDND tăng 963 tỷ đồng lên 88.486 tỷ đồng
Nếu xét về giá trị tuyệt đối, khối NHTM Nhà nước vẫn đang dẫn đầu về giá trị tài sản đạt 3.690.463 tỷ đồng; đứng thứ hai là khối NHTMCP đạt 3.198.341 tỷ đồng; khối ngân hàng liên doanh – nước ngoài đứng thứ 3 với tổng tài sản 826.789 tỷ đồng
Tính đến cuối tháng 9/2016, tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu của toàn hệ thống đạt 12,73%, giảm nhẹ so với cuối tháng 8, song vẫn cao hơn nhiều tỷ lệ cho phép của NHNN là 9% Tỷ lệ này tại tất cả các khối đều cao hơn quy định
Tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn của toàn hệ thống tại thời điểm cuối tháng 9 là 33,48%, không thay đổi so với thời điểm cuối tháng 8 Tỷ lệ này tại tất cả các khối đều thấp hơn nhiều mức tối đa theo quy định
Điều đó cho thấy thanh khoản của hệ thống đang rất dồi dào Đây là cơ sở để
ổn định mặt bằng lãi suất huy động và phấn đấu giảm lãi suất cho vay
Vốn tự có, vốn điều lệ cũng tăng mạnh
Bên cạnh tổng tài sản, vốn tự có, vốn điều lệ của toàn hệ thống cũng duy trì được đà tăng trưởng trong tháng 9
Theo đó, đến cuối tháng 9, vốn tự có của toàn
hệ thống đạt 617.538 tỷ đồng, tăng 4.108 tỷ đồng so với cuối tháng trước và tăng 39.518 tỷ đồng (tương đương tăng 6,84%) so với cuối năm năm 2015
Trang 8Trong tháng, ngoại trừ vốn tự có của Ngân
hàng Hợp tác không thay đổi, các khối còn lại
đều tăng
Trong đó, tăng mạnh nhất là khối NHTM Nhà
nước khi vốn tự có của khối này tăng thêm
2.035 tỷ đồng lên 218.362 tỷ đồng Đứng thứ
hai về mức độ tăng là khối ngân hàng liên
doanh – nước ngoài khi vốn tự có tăng thêm
880 tỷ đồng lên 127.341 tỷ đồng
Vốn tự có của khối NHTMCP cũng tăng thêm
677 tỷ đồng lên 249.213 tỷ đồng, xếp thứ ba về
mức độ tăng Ngoài ra vốn tự có của khối công
ty tài chính - cho thuê tăng 516 tỷ đồng lên
19.061 tỷ đồng
Nếu xét về giá trị tuyệt đối, hiện khối NHTMCP
lại dẫn đầu về vốn tự có; đứng thứ hai là khối
NHTM Nhà nước; xếp thứ ba là khối ngân hàng
liên doanh - nước ngoài
Trong tháng 9, vốn điều lệ của toàn hệ thống
cũng tăng mạnh 6.789 tỷ đồng lên 4778.399 tỷ
đồng, bằng 60% mức tăng của 8 tháng đầu
năm Còn so với cuối năm 2015, vốn điều lệ của toàn hệ thống tăng thêm 18.120 tỷ đồng (tương đương tăng 2,96%)
Trong tháng, ngoại trừ vốn điều lệ của khối Ngân hàng Chính sách, Công ty tài chính – cho thuê và Ngân hàng Hợp tác xã là không thay đổi, vốn điều lệ của các khối còn lại đều tăng Trong đó, tăng mạnh nhất là khối NHTM Nhà nước với mức tăng 4.550 tỷ đồng lên 141.693
tỷ đồng Đứng thứ hai về mức độ tăng vốn điều
lệ là khối ngân hàng liên doanh – nước ngoài, tăng 1.716 tỷ đồng lên 103.517 tỷ đồng
Trong tháng vốn điều lệ của khối NHTMCP cũng tăng 522 tỷ đồng lên 197.280 tỷ đồng; hệ thống QTDND tăng 3 tỷ đồng lên 3.382 tỷ đồng Nếu xét về giá trị tuyệt đối, khối NHTMCP cũng đang dẫn đầu về vốn điều lệ với 197.280 tỷ đồng; kế đến là khối NHTM Nhà nước với 141.693 tỷ đồng; thứ ba là khối ngân hàng liên doanh, nước ngoài với 103.517 tỷ đồng
Khách hàng làm sao để nhận diện
được ngân hàng áp dụng Basel II?
thương mại (NHTM) áp dụng thí điểm tại Việt
Nam kể từ tháng 2/2016 Khi tuân thủ tốt, các
ngân hàng sẽ có khả năng đánh giá hiệu quả
hơn về rủi ro hoạt động và rủi ro thị trường mà
các ngân hàng gặp phải thông qua hệ số an toàn
Cụ thể hơn, trụ cột về vốn tối thiểu trong Basel
II yêu cầu các NHTM phải duy trì hệ số CAR tối thiểu là 8% (tỷ lệ này giữ nguyên trong Basel III) Công thức tính CAR đã được bổ sung vốn yêu cầu cho rủi ro hoạt động và rủi ro thị trường, ngoài vốn yêu cầu cho rủi ro tín dụng như quy định hiện hành tại Thông tư 36/2014 và Thông
tư 06/2016 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư 36/2014 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước (NHNN) về các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của Tổ chức tín dụng, Chi nhánh ngân hàng nước ngoài Trong khi đó, hai trụ cột còn lại đóng vai trò trong việc thiết lập quy trình rà soát và duy trì
Trang 9mức vốn; công khai và minh bạch hóa các
thông tin liên quan
Trong đó, rủi ro thị trường là rủi ro do biến động
bất lợi của lãi suất, tỷ giá, giá chứng khoán và
giá hàng hóa trên thị trường Rủi ro hoạt động
là rủi ro do các quy trình nội bộ không đầy đủ
hoặc có sai sót, do con người, do các lỗi, sự cố
của hệ thống hoặc do các yếu tố bên ngoài làm
tổn thất về tài chính, tác động tiêu cực phi tài
chính đối với ngân hàng
Do đó, nếu tính thêm 2 phần rủi ro này, ước tính
sẽ chiếm trung bình khoảng 1,5-2% hệ số CAR,
nghĩa là với những ngân hàng có tỷ lệ CAR hiện
tại 9% sẽ giảm còn khoảng từ 7- 7,5% Trong
khi với Basel I, ngân hàng tập trung về rủi ro tín
dụng và yêu cầu vốn tối thiểu Nhưng với Basel
II, các ngân hàng phải quản trị rủi ro theo 3 trụ
cột, đó là yêu cầu về vốn tối thiểu; quy trình rà
soát, giám sát; kỷ luật thị trường và công bố
thông tin
Ngân hàng sẽ gia tăng chuẩn mực quản trị
rủi ro theo tiêu chuẩn quốc tế
NHNN đã công bố Dự thảo Thông tư lần thứ 4
quy định về chỉ số CAR đối với ngân hàng, chi
nhánh ngân hàng nước ngoài nhằm mục tiêu
đưa việc quản trị rủi ro cũng như an toàn vốn
theo Basel II dự kiến sẽ có hiệu lực thi hành kể
từ ngày 1/9/2017 đối với Vietcombank,
VietinBank, BIDV, MB, Techcombank, ACB,
VIB, VPBank, Maritime Bank, Sacombank và từ
ngày 1/1/2019 đối với tất cả ngân hàng, chi
nhánh ngân hàng nước ngoài
Dự thảo Thông tư yêu cầu các ngân hàng sử
dụng một phần vốn tự có để phòng ngừa rủi ro
thị trường và rủi ro hoạt động, thay vì trước đây
NHNN chỉ yêu cầu bù đắp cho rủi ro tín dụng
Cấu phần tín dụng cũng sẽ theo hướng chặt
chẽ hơn, tính đến đặc thù rủi ro của từng sản
phẩm vay và khách hàng vay Điều này sẽ
khiến mức vốn yêu cầu cho rủi ro tín dụng cao
hơn Đây cũng là yếu tố khiến hệ số CAR trong
ngân hàng giảm đi và những ngân hàng có
CAR xung quanh 9% sẽ phải tính đến phương
án cải thiện để đảm bảo an toàn hoạt động Cách tính chỉ số CAR mới giúp các ngân hàng nhìn lại mức tăng trưởng tín dụng như thế nào phù hợp hơn với sức mạnh vốn, cho nên để đảm bảo mức lợi nhuận, ngân hàng sẽ chuyển dần sang các mảng dịch vụ khác nhiều hơn nữa Tất nhiên, điều này có ảnh hưởng đến vốn
vì liên quan đến rủi ro hoạt động thì khi tăng lợi nhuận từ các hoạt động khác đương nhiên bị tính vốn liên quan đến rủi ro hoạt động, nhưng thường sẽ vẫn ít hơn phần rủi ro tín dụng từ việc tăng trưởng tín dụng
Theo Ngân hàng Thanh toán quốc tế, hệ số CAR tăng từ 7% lên 8% thì xác suất trung bình xảy ra khủng hoảng ngân hàng giảm đi khoảng
25 - 30% Do vậy, việc áp dụng Basel II đã đưa
ra chuẩn mực mới cho hoạt động quản trị rủi ro của các NHTM theo hướng lượng hóa từng loại rủi ro mà ngân hàng gặp phải và nhu cầu vốn
để bù đắp những rủi ro đó
Tuy nhiên, cũng cần lưu ý về mối quan hệ nhân quả của việc nợ xấu tăng cao và tỷ lệ CAR suy giảm Khi chất lượng tài sản giảm sút, chi phí
dự phòng tăng cao sẽ “ăn mòn” vào lợi nhuận của ngân hàng, làm suy giảm mức vốn và sức khỏe tài chính, được đo bằng chính tỷ lệ CAR
Do đó, chừng nào các ngân hàng còn “giấu giếm” con số nợ xấu và không tuân thủ các quy định về trích lập dự phòng, chừng đó tỷ lệ CAR còn bị thổi phồng và không phản ánh chính xác mức độ an toàn vốn của các ngân hàng Việt Nam
Cách nào để nhận ra ngân hàng đang áp dụng Basel II?
Có nhiều cách thức để khách hàng nhận biết là ngân hàng nào tại Việt Nam đang áp dụng quản trị rủi ro và tuân thủ chỉ số CAR theo chuẩn Basel II Cách thức chính thống và phổ biến nhất hiện nay là khách hàng theo dõi các thông tin được NHNN công bố trên các phương tiện truyền thông về việc áp dụng chuẩn Basel II của các ngân hàng
Trang 10Ngoài ra, khách hàng còn có thể đọc các thông
tin về việc áp dụng Basel II trên các Báo cáo tài
chính đã được kiểm toán định kỳ hàng quý của
các NHTM trên các trang web của các ngân
hàng này hay nhận thông tin từ bạn bè, người
thân, khách hàng Tuy nhiên, các thông tin thứ
cấp thường là thiếu tính chính xác Cho nên,
ngoài thông tin từ phía NHNN công bố thì cách
tốt hơn là khách hàng nên đọc thông tin từ các
Báo cáo do ngân hàng chính thức đưa ra
Trong đó, ngân hàng sẽ công khai một cách chi
tiết tiến trình triển khai Basel II tại ngân hàng
đang đến đâu dựa vào 3 trụ cột chính như đã
đề cập ở trên
Cụ thể, các ngân hàng phải công khai quá trình
nghiên cứu xây dựng phương pháp quản lý rủi
ro tích hợp, khẩu vị rủi ro toàn hàng, khung
quản lý vốn nội bộ (ICAAP), xây dựng hệ thống,
công cụ tính vốn theo chuẩn mực quốc tế, dự
án tính toán tài sản chịu rủi ro (RWA), dự án xây
dựng kho dữ liệu rủi ro và nhóm dự án công
nghệ thông tin Trong đó, một trong những yếu
tố cơ bản để có thể thực hiện thành công Basel
II là ngân hàng cần phải có cơ sở dữ liệu tốt và
đầy đủ Từ trước đến nay, hệ thống cơ sở dữ
liệu của các NHTM trong nước nói chung được
lưu trữ và quản lý chưa hoàn toàn theo các
chuẩn mực quốc tế và chưa chú trọng để phục
vụ công tác quản trị rủi ro Trong khi đó yêu cầu
để triển khai Basel II đòi hỏi rất khắt khe về cơ
sở dữ liệu và công tác quản trị dữ liệu
…có dễ với khách hàng để nhận biết?
Việc áp dụng Basel II sẽ đem lại rất nhiều lợi
ích cho ngân hàng áp dụng không chỉ tăng
cường quản trị rủi ro hoạt động kinh doanh ngân hàng theo chuẩn mực quốc tế, đánh giá toàn diện hoạt động của ngân hàng, hoạch định kinh doanh theo khẩu vị rủi ro, phòng tránh rủi
ro trong tương lai mà còn ngày càng tạo ra nhiều uy tín và niềm tin cho khách hàng, giúp khách hàng gửi tiền an toàn hơn và giúp cho người vay tiền hay thực hiện các dịch vụ ngày càng được thuận lợi hơn Tuy nhiên, đối với khách hàng thông thường và ít cập nhật thông tin về tài chính ngân hàng, việc nhận biết ra ngân hàng áp dụng Basel II là vô cùng khó khăn
Trong ba trụ cột của Basel II thì hai trụ cột là mang tính quản trị nội bộ của ngân hàng, đó là xác định chỉ số CAR và quy trình rà soát, giám sát nội bộ của chính ngân hàng đó và khách hàng rất khó để biết được nếu không thông qua trụ cột thứ ba là tiếp nhận thông tin từ các Báo cáo của ngân hàng Nhưng không có nhiều khách hàng có thể đọc và hiểu được các nội dung từ Báo cáo tài chính của ngân hàng
Do đó, nếu nhìn bề ngoài hình thức hay các thông tin cơ bản trên trang web của ngân hàng thì khách hàng rất khó để nhận biết là ngân hàng đã áp dụng chuẩn mực quản trị rủi ro mới theo Basel II hay chưa để từ đó quyết định có thực hiện giao dịch gửi tiền, vay tiền hay thực hiện các dịch vụ ngân hàng khác Từ đó, NHNN
và các ngân hàng cần có nhiều kênh thông tin hơn nữa để giúp khách hàng có được các thông tin chính xác nhất về hệ thống quản trị của các NHTM để từ đó giúp khách hàng đưa ra các quyết định phù hợp nhất
Trang 11Ngân hàng thương mại Nhà nước
còn áp đảo bao lâu?
(VnEconomy) - Những khó khăn kỹ thuật chưa
cản bước chân áp đảo, nhưng có thể sẽ khác
dần từ năm tới
Tại nghị quyết về kế hoạch tài chính 5 năm tới,
Quốc hội đã thông qua một chủ trương có ảnh
hưởng lớn tới khối ngân hàng thương mại nhà
nước, là “không sử dụng ngân sách Nhà nước
để cấp vốn điều lệ cho tổ chức tín dụng thương
mại”
Ngân hàng Nhà nước vừa cập nhật dữ liệu cơ bản
về tình hình hoạt động của hệ thống, với sự áp đảo
của khối ngân hàng thương mại Nhà nước dù quy
mô vốn thấp hơn
Hệ thống thống kê này phân nhóm khối ngân
hàng thương mại Nhà nước gồm Ngân hàng
Ngoại thương (Vietcombank), Ngân hàng Công
thương (VietinBank), Ngân hàng Đầu tư và
phát triển (BIDV), Ngân hàng Nông nghiệp và
phát triển nông thôn (Agribank), cùng ba ngân
hàng thương mại mà Ngân hàng Nhà nước đã
mua lại bắt buộc với giá 0 đồng
Tuy nhiên, do vấn đề tài chính nên những ngân
hàng có vốn tự có âm không tính vào một số chỉ
tiêu thống kê
Vốn thấp, tài sản cao
Xét về quy mô năng lực tài chính, tổng quy mô
vốn tự có của khối ngân hàng thương mại Nhà
nước thấp hơn khối ngân hàng thương mại cổ
phần, 218.362 tỷ đồng so với 249.213 tỷ đồng Tương tự, tổng quy mô vốn điều lệ cũng thấp hơn, 141.693 tỷ đồng so với 197.280 tỷ đồng Trong so sánh trên, khó khăn nổi bật của khối ngân hàng thương mại Nhà nước thể hiện rõ: tốc độ tăng vốn điều lệ trong 9 tháng đầu năm gần như không đáng kể, chỉ 0,07% so với cuối
2015 Đây là một phần từ kết quả của kế hoạch tăng vốn thất bại của các thành viên, tính đến thời điểm này, do ngân sách Nhà nước không nhượng bộ về cổ tức, do không phát hành thành công…
Còn khối ngân hàng thương mại cổ phần, tốc
độ tăng quy mô vốn điều lệ 9 tháng đầu năm nay cao hơn với 1,7%
Dù quy mô vốn thấp hơn như trên, nhưng khối ngân hàng thương mại Nhà nước lại đang có quy mô tổng tài sản áp đảo, vượt khá xa khối
cổ phần Đây cũng là chỉ tiêu phản ánh sự chi phối thị phần của họ trên thị trường
Cụ thể, tính đến 30/9/2016, tổng tài sản của khối ngân hàng thương mại Nhà nước đã đạt 3.690.463 tỷ đồng, chiếm 45,6% toàn hệ thống các tổ chức tín dụng; còn khối cổ phần chỉ chiếm 39,5% với 3.198.341 tỷ đồng
Đáng chú ý, những bước chân áp đảo về mở rộng tài sản của khối ngân hàng thương mại Nhà nước vẫn thể hiện rõ ở tốc độ tăng trưởng, tới 11,7% trong 9 tháng đầu năm nay; còn khối
cổ phần tăng trưởng thấp hơn với 9,23% Khối ngân hàng thương mại Nhà nước có quy
mô vốn thấp hơn, những mở rộng khối lượng tài sản lớn hơn với tốc độ nhanh hơn Như trên, điểm này một phần phản ánh mức độ thị phần, nhưng cũng phản ánh nhất định lợi thế giá trị niềm tin, thương hiệu “ngân hàng của Nhà nước” trong bối cảnh thị trường bộc lộ những rủi ro nổi bật những năm gần đây và cho đến
Trang 12câu chuyện cho thí điểm phá sản ngân hàng
nêu lên gần đây
Mặt khác, khối ngân hàng thương mại Nhà
nước do yếu tố gắn sâu trong quá khứ và kéo
dài đến đặc thù sở hữu hiện tại, nên có nhiều
lợi thế trong nền tảng khách hàng (đặc biệt là
khách hàng lớn với mức độ sử dụng sản phẩm,
dịch vụ lớn), cũng như có lợi thế trong chi phí
vốn và cạnh tranh cho vay…
Những lợi thế đặc thù đó cũng góp phần giải
thích (trong nhiều nguyên do khác) về hiệu quả
kinh doanh của khối ngân hàng thương mại
Nhà nước luôn vượt trội khối ngân hàng
thương mại cổ phần những năm gần đây, xét
về tổng thể khối (xét riêng lẻ, có những ngân
hàng cổ phần hiệu quả hơn)
Dữ liệu thống kê của Ngân hàng Nhà nước
chưa cập nhật đến kỳ 30/9/2016, nhưng tại các
kỳ liền trước, các chỉ số đo lường hiệu quả kinh
doanh như ROA, ROE của khối ngân hàng
thương mại Nhà nước thường cao khoảng gấp
đôi so với khối cổ phần
Bên cạnh những ưu/lợi thế trên, một tham khảo
khác cũng góp phần giải thích cho so sánh về
hiệu quả đó Khối ngân hàng thương mại Nhà
nước đã đẩy cao mức độ sử dụng vốn, hơn hẳn
khối cổ phần Tính đến tháng 9/2016, tỷ lệ cấp
tín dụng so với nguồn vốn huy động của họ lên
tới 92,89%, trong khi khối cổ phần thấp hơn
nhiều với 78,70%
Khó khăn sẽ níu chân
Tuy nhiên, sự áp đảo của khối ngân hàng
thương mại Nhà nước nói trên có thể sẽ khác
dần từ năm tới Nguyên do, họ đang gặp những
khó khăn kỹ thuật, bị níu chân mà không dễ
khắc phục
Như trên, tốc độ tăng vốn điều lệ của khối này chỉ nhích được 0,07% trong 9 tháng đầu năm nay đã phản ánh một khó khăn nổi bật Các kế hoạch tăng vốn năm nay đang có nguy cơ phá sản khi 2016 sắp trôi qua Nguyên do vẫn là câu chuyện cổ tức và ngân sách Nhà nước không nhượng bộ, kế hoạch phát hành thêm bất thành…
Điều đó dẫn đến thực tế so sánh bất lợi khác:
tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu (CAR) của khối ngân hàng thương mại Nhà nước đến tháng 9/2016 chỉ nhích trên mức quy định với 9,48%, trong khi khối ngân hàng thương mại cổ phần cao hơn với 12,1%
CAR thấp phản ánh mức độ sử dụng vốn cao,
và ngược lại Nhưng, CAR thấp cũng phản ánh triển vọng đẩy mạnh sử dụng vốn trong tương lại sẽ hạn chế Ở so sánh này, khối ngân hàng thương mại cổ phần đang có lợi thế hơn Khó khăn kỹ thuật của khối ngân hàng thương mại Nhà nước càng rõ ràng hơn, như bài viết VnEconomy đề cập mới đây, tại nghị quyết về
kế hoạch tài chính trung hạn 5 năm tới, Quốc hội đã thông qua một chủ trương có ảnh hưởng lớn tới khối ngân hàng này, là “không sử dụng ngân sách Nhà nước để cấp vốn điều lệ cho tổ chức tín dụng thương mại”
Với chủ trương trên, kế hoạch tăng vốn điều lệ của các ngân hàng thương mại Nhà nước chắc chắn sẽ khó khăn hơn trong 5 năm tới, sau khi đang sắp bất thành trong năm nay
Theo đó, xu hướng áp đảo hiện nay của khối ngân hàng thương mại Nhà nước so với khối ngân hàng thương mại cổ phần sẽ dần khác đi, thu hẹp lại, khi không thể tiếp tục “tăng cân” nhanh trên một đôi chân kỹ thuật khó gia
cố tương ứng
Bức tranh lợi nhuận ngân hàng
quý III: Các mảng màu sáng, tối!
BizLIVE - Mặc dù nợ xấu có xu hướng gia tăng tại một số ngân hàng, nhưng nhờ các hoạt động kinh doanh được cải thiện, phần lớn các ngân
Trang 13hàng đều ghi nhận lợi nhuận tăng trưởng so với
cùng kỳ
Ảnh minh họa
Chi phí hoạt động tăng chậm hơn tổng thu
nhập
Thống kê 10 ngân hàng lớn của Việt Nam mới
công bố báo cáo tài chính quý III/2016 gồm
Ngân hàng BIDV, Vietinbank, Vietcombank,
SHB, MBB, Sacombank, ACB, VIB, VPbank và
Eximbank cho thấy, tổng thu nhập trong quý III
của 10 ngân hàng là gần 34.395 tỷ đồng, tăng
14,8% so với cùng kỳ năm trước
Trong đó, thu nhập lãi thuần của 10 ngân hàng
đạt 27.486 tỷ đồng, tăng 13,5% so với quý
III/2015, chiếm 79,9% tổng thu nhập
BIDV, VIB và MB là 3 ngân hàng có tổng thu
nhập tăng trưởng cao nhất, lần lượt tăng
33,4%, 28% và 24,8% so với cùng kỳ năm
trước Cả 3 ngân hàng này có thu nhập tăng
mạnh chủ yếu nhờ thu nhập lãi thuần tăng
mạnh, chiếm trên 80% tổng thu nhập của nhà
băng
Một dấu hiệu khá khả quan của các nhà băng
trong kỳ này là mặc dù tổng thu nhập và thu
nhập lãi thuần tăng khá mạnh, chi phí hoạt động
lại chỉ nhích nhẹ so với cùng kỳ
Cụ thể, tổng chi phí hoạt động của 10 ngân
hàng trong quý III/2016 chỉ tăng nhẹ 5,9% so
với cùng kỳ, lên mức hơn 16.121 tỷ đồng Trong
đó, có 3 ngân hàng có chi phí giảm bao gồm Vietcombank (giảm 7,4%), ACB (giảm 5,6%) và Eximbank (giảm 6%) Các ngân hàng còn lại có mức tăng từ 0,92% đến 33,9%
Giảm phụ thuộc vào hoạt động tín dụng
BCTC 10 ngân hàng lớn cũng cho thấy, tỷ trọng thu nhập lãi thuần trong tổng thu nhập hoạt động của nhiều ngân hàng đã giảm đáng kể, thay vào đó, nguồn thu nhập từ kinh doanh ngoại hối, dịch vụ lại tăng lên
Cụ thể, tổng thu nhập lãi thuần của 10 ngân hàng trong kỳ đạt hơn 27.486 tỷ đồng, tăng trưởng 13,5% so với cùng kỳ
Mặc dù vậy, tỷ trọng thu nhập lãi thuần trong tổng thu nhập hoạt động của nhóm ngân hàng này đã giảm xuống còn 79,91%%, so với mức 80,8% cùng kỳ năm trước Với xu hướng này,
có thể thấy thu nhập của các ngân hàng đang giảm dần phụ thuộc vào hoạt động tín dụng Sacombank là ngân hàng có sự chuyển biến mạnh nhất trong cơ cấu thu nhập, với tỷ trọng thu nhập lãi thuần trong tổng thu nhập chỉ còn 58,05%, từ mức 83,16% cùng kỳ năm trước Trong khi đó, ngân hàng lại có các khoản thu nhập từ hoạt động khác tăng hơn 300 tỷ đồng
so với cùng kỳ Trong đó thu từ dịch vụ tăng gần
49 tỷ, tương đương tăng 16,3%, lãi từ kinh doanh chứng khoán tăng gấp 4 lần lên hơn 279
tỷ đồng, lãi từ hoạt động khác tăng 36,8% lên
33 tỷ đồng,
SHB cũng là một trong số những nhà băng có thu nhập lãi thuần giảm khá mạnh trong cơ cấu lợi nhuận với hơn 717 tỷ đồng, chiếm 63,4% (so với mức 81,54% cùng kỳ năm trước Trong khi
đó, tỷ trọng lãi thuần từ hoạt động dịch vụ lại
Trang 14tăng từ 3,81% lên 5,1%, đạt gần 58 tỷ đồng, lãi
thuần từ hoạt động kinh doanh chứng khoán
cũng tăng nhẹ từ mức 2,34% lên 2,64%, đặc
biệt, tỷ trọng của lãi thuần từ hoạt động khác
của ngân hàng kỳ này tăng vọt từ mức 12% lên
28,8%, đạt gần 326 tỷ đồng
Tương tự, Eximbank kỳ này cũng chứng kiến
sự sụt giảm khá mạnh của thu nhập lãi thuần
trong kết quả kinh doanh Kết thúc quý III/2016,
thu nhập lãi thuần của ngân hàng chỉ đạt hơn
719 tỷ đồng, giảm 19,3% so với cùng kỳ năm
trước và chỉ chiếm 81,25% cơ cấu tổng thu
nhập hoạt động, so với mức 91,37% cùng kỳ
Trích lập dự phòng tăng vọt, nhưng lợi
nhuận ngân hàng vẫn tăng
6/10 ngân hàng được khảo sát đều có chi phí
rủi ro tín dụng tăng so với cùng kỳ, với tổng chi
phí trích lập dự phòng trong quý đạt hơn 7.994
tỷ đồng, tăng tới 42,2% so với cùng kỳ năm
trước Tuy nhiên, mức trích lập này lại giảm
16% so với quý II
BIDV là một trong những ngân hàng tăng trích
lập dự phòng mạnh nhất trong nhóm khảo sát
với việc tăng tới 396% so với cùng kỳ năm
ngoái (từ hơn 499 tỷ đồng lên hơn 2.478 tỷ
đồng) Điều này khiến cho lợi nhuận thuần của
ngân hàng dù tăng tới 68,3%, đạt hơn 4.908 tỷ
đồng nhưng lợi nhuận trước thuế chỉ đạt hơn
2.430 tỷ đồng, tăng nhẹ 0,5 so với quý III/2015
Tính chung 9 tháng, BIDV phải trích lập hơn 6.972 tỷ đồng, tăng 76% so với cùng kỳ khiến lợi nhuận trước thuế chỉ còn 5.758 tỷ đồng, tăng nhẹ 4% dù lợi nhuận thuần tăng tới 34% so với cùng kỳ
VIB cũng nằm trong top các ngân hàng tăng mạnh chi phí dự phòng Báo cáo tài chính của ngân hàng này cho thấy, lợi nhuận thuần từ hoạt động kinh doanh trước chi phí dự phòng rủi ro 9 tháng đầu năm đạt hơn 940 tỷ đồng, tăng 25,9% Tuy nhiên, chi phí dự phòng rủi ro tăng tới hơn 41% so với cùng kỳ, lên gần 532
tỷ đồng đã khiến cho lợi nhuận trước thuế của ngân hàng đạt hơn 408 tỷ đồng, tăng nhẹ 10,4% so với cùng kỳ
Tương tự, ngân hàng SHB cũng dành tới gần
245 tỷ đồng cho việc trích lập dự phòng, tăng 76,3% so với cùng kỳ Lũy kế 9 tháng, mức trích lập lên hơn 482 tỷ đồng, tăng 25,2% so với cùng kỳ và chiếm gần 38% tổng lợi nhuận thuần
Mặc dù trích lập dự phòng của các ngân hàng tăng khá mạnh nhưng một điều đáng chú ý là lợi nhuận của hầu hết các nhà băng đều tăng trưởng so với cùng kỳ năm trước Theo thống
kê của BizLIVE, 9/10 ngân hàng khảo sát đều
có lợi nhuận trước thuế quý III/2016 tăng trưởng so với cùng kỳ, duy chỉ có Sacombank báo lợi nhuận giảm 69,6% do thu nhập lãi thuần giảm mạnh trong khi chi phí hoạt động lại tăng
Nợ xấu có xu hướng tăng trở lại
Theo số liệu của BizLIVE, tổng nợ xấu của 10 ngân hàng khảo sát tính đến cuối quý III/2016
đã tăng hơn 8.813 tỷ đồng, tương đương tăng 23,6% so với đầu năm, trong đó, 5/10 ngân hàng có tỷ lệ nợ xấu tăng so với cuối năm 2015