ÑAËT VAÁN ÑEÀ Quy hoạch phát triển nông nghiệp tỉnh Vĩnh Long đến năm 2020 Baùo caùo chính Trang 1 ĐẶT VẤN ĐỀ SỰ CẦN THIẾT PHẢI XÂY DỰNG QUY HOẠCH PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP TỈNH VĨNH LONG ĐẾN NĂM 2020 Tỉ[.]
Trang 1ĐẶT VẤN ĐỀ
SỰ CẦN THIẾT PHẢI XÂY DỰNG QUY HOẠCH PHÁT TRIỂN
NÔNG NGHIỆP TỈNH VĨNH LONG ĐẾN NĂM 2020
Tỉnh Vĩnh Long có diện tích tự nhiên 149.680,7 ha (chiếm 3,74% DTTN vùng ĐBSCL), nằm ở vị trí trung tâm của ĐBSCL Dân số trung bình toàn tỉnh năm 2010 là 1.026.521 người, mật độ dân số 686 người/km2, xếp thứ 3 mức bình quân toàn Đồng bằng sông Cửu Long
Trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh, sản xuất nông nghiệp luôn giữ vai trò quan trọng Năm 2009, Tổng sản phẩm (GDP) nông lâm nghiệp và thủy sản chiếm 51,87%; năm 2010 đạt 50,58% tổng GDP toàn tỉnh (theo giá hiện hành) Tốc độ tăng (GDP) nông lâm ngư nghiệp bình quân giai đoạn 2001-2010 là 5,96%/năm Trong nông nghiệp hình thành một số vùng chuyên canh cây trồng có diện tích lớn, đạt năng suất và chất lượng cao, điển hình là cây đặc sản truyền thống như: Bưởi Năm roi ở Bình Minh, cam sành ở Tam Bình, khoai lang ở Bình Tân…
Thành quả nổi bật của nông nghiệp Vĩnh Long trong 10 năm qua (2001 - 2010), với mức huy động cao quỹ đất dành cho nông nghiệp (78,3%), hệ số quay vòng đất đạt 2,78 lần/năm Tuy nhiên, GDP nông lâm nghiệp, thủy sản có mức tăng chưa ổn định qua các năm, bình quân (2006-2010) tăng 6,28%; tuy nhiên xét tính liên hoàn qua các năm cho thấy: Năm 2006 tăng 5,51%, năm 2007 tăng 7,12%, năm 2008 tăng 6,74%, năm
2009 tăng 5,95%, năm 2010 tăng 6,13% (Chỉ số năm trước =100%)
Quy hoạch nông nghiệp tỉnh Vĩnh Long giai đoạn (2001-2010) được Chủ tịch UBND tỉnh phê duyệt theo Quyết định số 1031/QĐ-UB ngày 16 tháng 4 năm 2002 Qua gần 10 năm thực hiện, cần đánh giá một cách khách quan những kết quả đạt được và những vấn đề còn tồn tại, bất cập để có những điều chỉnh bổ sung hợp lý và kịp thời, đề xuất các mục tiêu phù hợp và chuyển dịch kinh tế nông nghiệp đạt hiệu quả cao và bền vững theo hướng công nghiệp hóa - hiện đại hóa
Cơ cấu sản xuất nông nghiệp đã có sự chuyển dịch đúng hướng, hình thành nhiều
mô hình sản xuất mới có hiệu quả kinh tế cao Tuy nhiên, việc chuyển dịch cơ cấu kinh
tế nông nghiệp diễn ra chậm và còn nhiều yếu tố chưa bền vững, trong đó nổi lên vấn đề thị trường tiêu thụ nông sản, thiên tai, dịch bệnh cần phải được dự báo và giải quyết kịp thời tạo bước đi vững chắc cho nền nông nghiệp hàng hóa; đặc biệt khi Việt Nam là thành viên chính thức của tổ chức thương mại thế giới WTO
Đứng trước bối cảnh kinh tế - xã hội của Vĩnh Long, của ĐBSCL hay cả nước và khu vực ASEAN, cũng như thế giới đã và đang có nhiều biến đổi; đặc biệt là xu thế quốc
tế hóa nền kinh tế, tạo nên sự cạnh tranh quyết liệt trong nền kinh tế thị trường, đồng thời cũng luôn tạo ra nhiều cơ hội và thách thức mới
Những quan điểm mới của Đảng và Chính phủ trong chỉ đạo phát triển sản xuất nông nghiệp: chuyển đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi theo hướng tận dụng lợi thế gắn sản xuất với thị trường - công nghệ chế biến - bảo quản trên cơ sở ứng dụng công nghệ cao
Trang 2Nghị quyết số 26/NQ-TW Hội nghị TW 7 (khóa X) và Chương trình hành động của Tỉnh ủy Vĩnh Long thực hiện Nghị quyết TW 26 về “Nông nghiệp, nông dân, nông thôn”
Nghị định số 69/2009/NĐ-CP của Chính phủ ngày 13 tháng 8 năm 2009: Quy định
bổ sung về quy hoạch sử dụng đất, giá đất, thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư
Thủ tướng Chính phủ có Chỉ thị số 05/2006/CT-TTg trong đó lưu ý hạn chế tối đa việc chuyển đổi đất lúa sang sử dụng vào mục đích phi nông nghiệp
Quyết định số 391/QĐ-TTg ngày 18 tháng 4 năm 2008 của Thủ tướng Chính phủ về việc rà soát kiểm tra thực trạng công tác quản lý quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất 5 năm 2006-2010 trên địa bàn cả nước, trong đó có rà soát kiểm tra thực trạng công tác quản lý sử dụng đất nông nghiệp nói chung và đất trồng lúa nước nói riêng
Quyết định số 394/QĐ-TTg ngày 13/3/2006 của Thủ tướng Chính phủ về việc khuyến khích đầu tư xây dựng mới, mở rộng cơ sở giết mổ,… gia cầm và cơ sở chăn nuôi tập trung
Quyết định số 3065/QĐ-BNN-NN ngày 07/11/2005 của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn quy định điều kiện chăn nuôi, ấp trứng, vận chuyển, giết
mổ, buôn bán gia cầm và sản phẩm gia cầm
Quyết định số 124/QĐ-TTg ngày 02 tháng 02 năm 2012 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt quy hoạch tổng thể phát triển sản xuất ngành nông nghiệp cả nước đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030
Quyết định số 195/QĐ-TTg ngày 16 tháng 02 năm 2012 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Vĩnh Long đến năm
2020
Căn cứ Quyết định số 513/QĐ-UBND ngày 08 tháng 3 năm 2010 của UBND tỉnh Vĩnh Long về việc phê duyệt chủ trương lập quy hoạch phát triển nông nghiệp tỉnh Vĩnh Long đến năm 2020; Quyết định số 1588/QĐ-UBND ngày 29 tháng 6 năm 2010 của UBND tỉnh Vĩnh Long về việc phê duyệt Đề cương và Dự toán quy hoạch phát triển nông nghiệp tỉnh Vĩnh Long đến năm 2020
Sở Nông nghiệp - PTNT tỉnh Vĩnh Long phối hợp với đơn vị tư vấn (Phân viện Quy hoạch - TKNN) tiến hành nghiên cứu lập Dự án quy hoạch phát triển nông nghiệp tỉnh Vĩnh Long đến năm 2020
Báo cáo quy hoạch phát triển nông nghiệp tỉnh Vĩnh Long đến năm 2020 đã được phê duyệt theo QĐ số 1613/QĐ-UBND, ngày 03 tháng 10 năm 2012 của Chủ tịch UBND tỉnh; Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tổ chức công bố quy hoạch và ban hành tài liệu làm cơ sở pháp lý để các ngành, thành phố và các huyện tổ chức thực hiện
Trang 3Phần thứ nhất
ĐÁNH GIÁ CÁC NGUỒN LỰC VÀ NHỮNG NHÂN TỐ MỚI
TÁC ĐỘNG ĐẾN SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP TỈNH VĨNH LONG
I VỊ TRÍ ĐỊA LÝ KINH TẾ
Vĩnh Long nằm kẹp giữa sông Tiền, sông Hậu và sông Cổ Chiên, ở vị trí trung tâm của ĐBSCL; đồng thời có Quốc lộ 1A là tuyến giao thông huyết mạch nối ĐBSCL với Đông Nam bộ chạy qua huyện Bình Minh, huyện Long Hồ và thành phố Vĩnh Long dài: 46 km, với cầu Mỹ Thuận kết nối với Tiền Giang; cầu Cần Thơ kết nối với thành phố Cần Thơ và các tỉnh phía Tây tạo cho Vĩnh Long có điều kiện thuận lợi giao lưu kinh tế với các tỉnh trong khu vực và cả nước Ngoài ra còn có các tuyến Quốc lộ 53, 54,
57, 80 góp phần đưa Vĩnh Long đến gần với Trà Vinh, Đồng Tháp… Đặc biệt Vĩnh Long có hệ thống giao thông thủy rất thuận lợi cả trong nước và quốc tế thông ra biển Đông và ngược lên Campuchia
Trong xu thế quốc tế hóa nền kinh tế, nhất là phát triển sản xuất nông nghiệp hàng hóa theo cơ chế thị trường, thì vị trí địa lý đã tạo cho Vĩnh Long lợi thế vượt trội so với các tỉnh khác của ĐBSCL là có thể chủ động sản xuất ra nông, thủy sản gần như 12 tháng trong năm (có nước ngọt quanh năm, chịu ảnh hưởng lũ nhẹ hơn vùng Đồng Tháp Mười) Hàng hóa nông sản (kể cả giống cây trồng, vật nuôi và thủy sản) từ Vĩnh Long tỏa đi toàn vùng rất thuận lợi và Vĩnh Long rất có cơ hội trở thành một trung tâm bảo quản - chế biến và giao dịch nông sản hàng hóa lớn của ĐBSCL, nhất là các loại rau, trái cây đặc sản,…
Tuy nhiên, Vĩnh Long lại nằm kế cận thành phố Cần Thơ (thành phố trực thuộc Trung ương), một cực tăng trưởng của Nam bộ và cách thành phố Hồ Chí Minh (khoảng
135 km) - một đô thị lớn, là trung tâm công nghiệp - dịch vụ - khoa học công nghệ lớn của cả nước, nên khả năng thu hút vốn đầu tư trong và ngoài nước đến với Vĩnh Long bị phân cực Mặt khác, cơ sở hạ tầng phục vụ sản xuất nông nghiệp và đời sống khu vực nông thôn thiếu đồng bộ, chất lượng nguồn nhân lực còn hạn chế, thiếu những doanh nghiệp đủ điều kiện làm đối tác liên doanh, khó thu hút vốn đầu tư về với Vĩnh Long
Gắn vị trí địa lý với các nguồn tài nguyên thiên nhiên ưu đãi thì Vĩnh Long có thế mạnh hình thành nền nông nghiệp toàn diện, đa canh, thâm canh có hiệu quả cao với các nông sản chiến lược là: trái cây đặc sản, lúa, rau màu - thực phẩm, cá tôm nước ngọt, thịt heo, thịt bò, thịt gia cầm với chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu tiêu dùng trong nước và xuất khẩu Đồng thời, tận dụng cảnh quan sông nước - vườn cây - di tích lịch sử văn hóa
để phát triển mạnh ngành du lịch sinh thái
II NGUỒN LỰC TỰ NHIÊN VÀ TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN
II.1 Tài nguyên đất:
Trên cơ sở bản đồ đất (thổ nhưỡng) tỉnh Vĩnh Long tỷ lệ 1/50.000 trước đây, Phân viện quy hoạch và thiết kế nông nghiệp đã tiến hành điều tra, bổ sung, chỉnh lý theo quy phạm điều tra lập bản đồ đất tỷ lệ lớn (Tiêu chuẩn ngành ban hành năm 1984) Quyết định số 765 NN-KHKT/QĐ của Bộ Nông nghiệp Vật liệu chính hình thành đất ở Vĩnh Long là phù sa mới sông Mê Kông; do đặc điểm của quá trình hình thành và phát triển đất được phân loại như sau:
Trang 4II.1.1 Nhóm đất: (Bảng 1)
Chia thành 4 nhóm, trong đó nhóm đất xáo trộn (đất líp) có diện tích 50.613 ha (chiếm 33,81% DTTN), nhóm đất phèn: 59.505 ha (chiếm 39,75%), nhóm đất phù sa: 20.884 ha (chiếm 13,95%) và nhóm đất cát chỉ có: 147 ha (chiếm 0,1%) Đặc biệt lưu ý đất xáo trộn ở Vĩnh Long có quy mô lớn thứ hai ở ĐBSCL Đây là các nhóm đất nếu có hướng sử dụng hợp lý sẽ cho hiệu quả kinh tế cao; đồng thời có thể kết hợp nuôi thủy sản tạo ra nhiều sản phẩm hàng hóa
và jarosite khi gặp oxy trong không khí sẽ bị oxy hóa làm tăng nồng độ SO4- -, Al+++trong dung dịch đất tới mức làm chết cây trồng
- Diện tích đất phù sa: 20.884 ha và đất phèn tiềm tàng rất sâu: 50.495 ha; tổng cộng là: 71.379 ha (sau khi trừ đất xây dựng cơ bản), hoàn toàn cho phép trồng cây trồng cạn (bắp, đậu, rau,…) theo hướng luân canh hợp lý với lúa Đây chính là cơ hội để thực hiện phương án đa dạng hóa cây trồng, tận dụng tối ưu điều kiện đất, kết hợp khai thác tốt nhất thị trường nông sản hàng hóa
- Nhóm đất xáo trộn (đất líp): 50.613 ha, bao gồm đất vườn thổ cư, khu dân cư đô thị, đất trồng cây lâu năm và cây ăn trái…
II.1.3 Tính chất lý, hóa học đất:
- Đất cát giồng có thành phần cơ giới nhẹ, giữ nước và phân kém, nghèo dinh dưỡng được xếp vào loại đất không thích hợp với sản xuất lúa, loại đất này hiện đã sử dụng một phần trồng rau màu và chủ yếu sử dụng vào mục đích xây dựng cơ bản
- Đất phù sa, đất phèn, đất líp đều có thành phần cơ giới nặng, tỷ lệ sét vật lý khá cao (45 - 60%), dung tích hấp thu cao (15 - 22), thích hợp cho canh tác lúa
- Hóa tính đất: Chất hữu cơ (tổng số) từ khá đến giàu (2,0-9,35%), đạm tổng số khá - giàu (0,16-0,43),… Các chỉ tiêu về độ chua ở đất phù sa pHH2O: 5,3-5,5, đất phèn
pHH2O: 4,64-5,0 Lân tổng số tầng canh tác: 0,06-0,10% xếp loại trung bình, kali trung
Trang 5- Nhìn chung đất của Vĩnh Long có độ phì nhiêu tiềm tàng khá cao, nhất là tầng canh tác cho phép áp dụng kỹ thuật thâm canh cây trồng đem lại hiệu quả kinh tế cao Việc khai thác đưa vào sử dụng cho nông nghiệp đến mức cao 78,4%, trồng lúa 2,78 vụ/năm và trồng cây ăn trái 38.927 ha, là các mô hình sử dụng đất hợp lý, có hiệu quả, tuy nhiên diện tích chuyên canh 2-3 vụ lúa còn lớn, tỷ lệ đa dạng hóa còn thấp
Khó khăn:
Khó khăn về đất không đáng ngại, do các loại đất phèn ở Vĩnh Long tuy có diện tích nhiều: 59.505 ha, song tầng phèn sâu, chúng ta chủ động nước để ém và rửa phèn nên các độc tố có trong dung dịch đất hầu như rất ít gây hại cho cây trồng
II.2 Tài nguyên nước và chế độ thủy văn:
II.2.1 Tài nguyên nước:
ưu thế nhất so với các tỉnh thành trong cả nước
Theo kết quả quan trắc tại trạm thủy văn Cần Thơ trên Sông Hậu, lưu lượng nước mùa kiệt QTB tháng IV từ 495 - 1.220 m3/s, mùa lũ QTB tháng IX từ 12.200 - 17.600 m3/s; trên sông Tiền tại Mỹ Thuận (QTB tháng IV từ 898 - 1.900 m3/s), nhánh sông Cổ Chiên vào cùng thời điểm quan trắc với trạm Mỹ Thuận là 618 - 887 m3/s Với tổng lưu lượng nước trung bình mùa kiệt kể trên, nguồn nước không những đủ cung cấp cho sản xuất nông nghiệp và sinh hoạt ở Vĩnh Long mà còn cung cấp cho các tỉnh lân cận như: Trà Vinh, Bến Tre
Nguồn nước có chất lượng tốt pHH2O: 6,8 - 7,0, riêng mùa lũ nước có hàm lượng phù sa từ 250 - 450 g/m3 được lắng đọng tại đồng ruộng, mương vườn, bãi bồi làm đất thêm phì nhiêu
Những năm qua Vĩnh Long đã tận dụng khá tốt lợi thế về nước, tổ chức khai thác phục vụ cho sản xuất trồng trọt (tăng vụ, thâm canh) Tuy nhiên, việc sử dụng hiệu quả kinh tế nước và bảo vệ tài nguyên nước chưa được coi trọng đúng mức
Nguồn nước dưới đất:
Xét về tổng thể, nước ngầm xếp vào loại nghèo, nước sử dụng cho sinh hoạt ở tầng sâu, đầu tư khai thác tốn kém Nghiên cứu chi tiết về nước ngầm như sau:
- Có 4 tầng chứa nước ngầm: Trầm tích đệ tứ (QIV), Pleistoxen giữa - trên (QII-III), Pleistoxen sớm (QI), Meogen trên N2 (chia thành Plioxen N22 và Mioxen N21)
+ Tầng Pleistoxen giữa - trên (QII-III) chiều sâu tầng chứa nước thay đổi từ 50 - 60m, có nơi 80 - 100m chiếm 1/5 diện tích toàn tỉnh Hiện đã được Trung tâm nước sạch
và vệ sinh môi trường nông thôn Vĩnh Long tổ chức khoan khai thác
Trang 6+ Tầng Mioxen nằm ở phía bắc Vĩnh Long, tầng chứa nước xuất hiện ở độ sâu
350 - 405m, dày 18 - 73m, lưu lượng lớn: 12,6 - 21 l/s, mực nước tĩnh cao hơn mặt đất 0,3 - 1,1m, chất lượng tốt, hàm lượng Clor: 31,2 - 216 mg/l, độ khoáng hóa: 0,43 - 0,74 g/l, pH = 8,2 - 8,47 sử dụng tốt cho sinh hoạt
+ Các tầng khác như QIV, QI, N22 thường bị nhiễm mặn, độ khoáng hóa cao (tổng
độ khoáng hóa: 1 - 3 g/l), pH thấp, nên không thể khoan khai thác sử dụng cho sinh hoạt hoặc sản xuất
Thực hiện chương trình nước sạch nông thôn, tính đến cuối năm 2010 toàn tỉnh đã hoàn thành và đưa vào sử dụng 120 công trình cấp nước tập trung có công suất từ 50-100
và 120-360 m3/ngày đêm và hàng ngàn giếng khoan của các hộ, xử lý nước mặt cung cấp nước sạch cho người dân (chiếm 78,1% dân số toàn tỉnh)
II.2.2 Chế độ thủy văn:
Biên độ triều trên sông Hậu (tại Cần Thơ) dao động từ 104 - 172cm (đỉnh triều:
104 - 161cm, chân triều thấp nhất: -22cm đến - 178cm), trên sông Tiền (tại Mỹ Thuận) biên độ dao động 75-142cm (tương ứng đỉnh triều: 79-159cm, chân triều thấp nhất: - 4cm đến -169cm) tại một số điểm trên sông Mang Thít như Quới An có biên độ triều cực đại: 224cm, Trà Ôn: 221cm, Trà Ngoa: 220cm, Long Đức: 222cm Đặc biệt, cường độ truyền triều qua sông Hậu và Cổ Chiên xếp vào loại lớn nhất nước ta (tốc độ 18-24 km/giờ), tốc độ dòng chảy ngược cao Do vậy, với địa hình lòng mo, cao trình đất bình quân 0,6-1,2 m, có thể tận dụng triệt để hoạt động của thủy triều để tưới tiêu tự chảy cho một phần khá lớn diện tích đất nông nghiệp canh tác mùa khô mà không có một tỉnh nào
ở ĐBSCL có được, giảm tiêu tốn năng lượng điện hoặc nhiên liệu chạy máy bơm, giảm chi phí sản xuất, tạo lợi thế cạnh tranh cho sản phẩm hàng hóa Song gần cuối mùa lũ, đặc biệt vào tháng 10, do cường độ lũ mạnh, triều dâng cao kết hợp mưa nhiều trong nội đồng đã có ảnh hưởng ngập úng gây khó khăn trong việc bảo vệ vườn cây ăn trái và vụ lúa Thu Đông
Ngập úng - lũ:
Ngập úng ở Vĩnh Long xảy ra ở nơi có địa hình thấp trũng (diện tích: 38.514 ha, chiếm 26,11% DTTN) làm ảnh đến việc rút nước gieo sạ vụ Đông Xuân sớm; Vấn đề úng có khả năng giải quyết được khi hoàn chỉnh hệ thống thủy lợi và các trạm bơm
Vĩnh Long nằm ở ngoài vùng ngập lũ sâu (theo quy hoạch vùng kiểm soát lũ sâu của ĐBSCL có diện tích 1,5 triệu ha) Song, những năm gần đây lũ có xu thế giảm quy
mô ảnh hưởng, giảm tần suất lũ lớn và thời gian ngập ít hơn, phần lớn gây ảnh hưởng đến sản xuất là do triều cường và mưa lớn cục bộ, cần có kế hoạch ứng phó lũ kịp thời (đặc biệt chú ý tác hại của lũ tháng 10) Mức ngập lũ bình quân qua các năm như sau:
- Độ sâu ngập > 60cm: 38.301 ha, chiếm 25,96% DTTN
- Độ sâu ngập 40 - 60cm: 24.265 ha, chiếm 16,44% DTTN
Trang 7- Độ sâu ngập 20 - 40cm: 11.396 ha, chiếm 7,73% DTTN
- Độ sâu ngập 0 - 20cm: 57.463 ha, chiếm 38,95% DTTN
Thời gian ngập kéo dài từ 2,5 - 3,0 tháng, bắt đầu 1/IX kết thúc 15/XI đến 30/XI ở những nơi ngập > 40cm; hiện nay diện tích ngăn lũ dưới mức báo động III là 78.000 ha (chủ động kiểm soát ngập lũ), nên diện tích bị ngập (> 40cm) bị thu hẹp
Với chiến lược chủ động chung sống với lũ, an toàn về người và bảo vệ tốt cơ sở
hạ tầng, kinh tế phát triển ổn định và bền vững, Vĩnh Long cần thấy lũ có nhiều ích lợi (cung cấp phù sa, làm giàu cho đất, vệ sinh đồng ruộng, tăng nguồn lợi thủy sản,…), cần tận dụng khai thác một cách hiệu quả, bởi theo Hội nghị kiểm soát lũ sông MeKong do ADB (Ngân hàng phát triển châu Á) tài trợ, đã có nhiều ý kiến về một kiểu “lũ đẹp” mà
mô hình lũ này rất gần như ở Vĩnh Long
Tuy nhiên, trận lũ năm 1994 và lũ lịch sử năm 2000 đã gây thiệt hại khá lớn, tổng thiệt hại (theo báo cáo số 71/BC-UBT ngày 9/11/2000) lên đến: 167 tỷ đồng; Trong đó, nông nghiệp: 138 tỷ đồng (riêng cây ăn trái: 80 tỷ đồng và lúa 45 tỷ đồng), nên cần chủ động làm tốt công tác phòng chống lũ và giảm nhẹ thiên tai
Vĩnh Long không phải đối mặt với lũ ở mức cao như ở các tỉnh An Giang, Đồng Tháp, Long An,… phải ngừng trệ sản xuất Một nơi ít ảnh hưởng lũ như Vĩnh Long, lũ
sẽ là cơ hội để tập trung vào sản xuất tạo ra sản phẩm mà thị trường cần, đặc biệt là sản xuất giống: cây trồng, vật nuôi, thủy sản cho phát triển sản xuất nông nghiệp ngay sau lũ
và nông sản hàng hóa cung cấp cho thị trường các tỉnh bị lũ cũng như Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, xây dựng nông nghiệp Vĩnh Long thành hậu phương vững chắc, khai thác tối đa quy luật cung - cầu của thị trường
Xâm nhập mặn:
Mặn 4g/l rất ít khi ảnh hưởng đến Vĩnh Long, tuy nhiên tháng V, VI/1998 do triều cường, lưu lượng nước đầu nguồn về ít,… làm một số nơi ở Vũng Liêm bị ảnh hưởng mặn 3g/l qua sông Cổ Chiên trên diện tích: 6.850 ha và một số diện tích lúa của Trà Ôn, thiệt hại không đáng kể Năm 2010 đã có xâm nhập mặn ở Vũng Liêm và Trà Ôn vượt mức 4g/lít, ảnh hưởng đến sản xuất lúa Mặn tạo ra môi trường giáp nước (nước lợ) để một số loài thủy sản đến cư trú và sinh sản làm giàu thêm nguồn lợi thủy sản
II.3 Điều kiện khí hậu - thời tiết:
Qua chuỗi số liệu quan trắc từ năm 1957 đến 1974 và năm 1976 - 1995 của Trạm Vĩnh Long, cũng như các trạm lân cận như: Sa Đéc, Cần Thơ và số liệu xử lý tổng hợp
của Phân viện Khí tượng Thủy văn Nam bộ (từ 1960 - 1995), được trình bày từ phụ lục 1
đến 3 có nhận xét như sau:
Về mặt thuận lợi của khí hậu - thời tiết đối với sản xuất nông nghiệp:
- Vĩnh Long nằm trong vùng nội chí tuyến bắc bán cầu - cận xích đạo nên có nền nhiệt độ bình quân cao đều quanh năm (26,6 – 26,8 0C) và khá ổn định Tháng IV có nhiệt độ trung bình cao nhất: 28,2 0C và thấp nhất là tháng I: 25,3 0C; do đó tổng tích ôn
cả năm lên đến: 9.585 – 9.582 0C/năm (xếp vào loại cao ở Nam bộ)
- Số giờ chiếu sáng cả năm: 2.552 – 2.582 giờ/năm; trong đó tháng III có số giờ chiếu sáng cao nhất 276 giờ/tháng và thấp nhất là tháng IX: 159 giờ/tháng Bình quân 7,0 giờ/ngày
Trang 8- Đồng thời với ánh sáng, nhiệt độ, khí hậu Vĩnh Long còn có tổng lượng bức xạ tổng cộng trung bình ngày đạt khá cao từ 390 - 493 cal/cm2/ngày
Cả 3 yếu tố nói trên trong điều kiện đủ nước tưới, phân bón và giống cây trồng tốt, cho phép sản xuất trồng trọt áp dụng kỹ thuật thâm canh để đạt năng suất cao; vấn đề
là tính toán bố trí cơ cấu mùa vụ sao cho đạt hiệu quả quang hợp tối ưu nhất Đặc biệt với Vĩnh Long là làm vụ lúa Đông Xuân sớm và màu Xuân Hè sao cho vừa tận dụng được điều kiện đất - nước - khí hậu, vừa tranh thủ được thời điểm thị trường rất cần, mà
ở vùng khác không sản xuất được do lũ lụt ở ĐBSCL hoặc chưa vào mùa mưa là vụ sản xuất chính ở Đông Nam bộ
- Thời gian mùa khô thực sự của Vĩnh Long kéo dài: 151-158 ngày, có nắng nhiều, nhiệt độ và bức xạ cao, là điều kiện thuận lợi cho thâm canh, tăng vụ, đặc biệt là đối với nhóm cây ưa sáng, cũng như thu hoạch ít bị hao hụt
Về khó khăn do khí hậu - thời tiết gây ra:
- Mưa tập trung cường độ lớn vào tháng VII, tháng IX, X (bình quân từ 197 - 241,7mm), ảnh hưởng đến thu hoạch vụ lúa Hè thu hoặc canh tác lúa vụ 3 (vụ Thu Đông), nhất là tăng tỷ lệ thất thoát sau thu hoạch, giảm chất lượng lúa hàng hóa
- Hiện tượng lốc xoáy và ảnh hưởng của mưa bão do thời tiết bất thường đã gây
hư hại cây ăn trái lâu năm; cần có biện pháp phòng tránh tích cực để giảm nhẹ thiên tai
- Dự báo ảnh hưởng của biến đổi khí hậu và nước biển dâng sẽ có tác động đến đời sống kinh tế xã hội trong đó có sản xuất nông nghiệp; yếu tố có tác động lớn nhất là nước biển dâng cao sẽ gây ngập trên diện rộng và xâm nhập mặn vào sâu trong nội đồng, đây là một thách thức lớn đối với đời sống kinh tế xã hội của vùng Đồng bằng sông Cửu Long nói chung và tỉnh Vĩnh Long nói riêng
II.4 Tài nguyên sinh vật (cây trồng và vật nuôi):
Quá trình phát triển sản xuất nông nghiệp (trồng trọt, chăn nuôi) thông qua chọn lọc tự nhiên, đã tạo thành một hệ thống cây trồng phong phú, một số chủng loại cây thích nghi lâu đời có khả năng chống chịu tốt với ngoại cảnh, cho năng suất và chất lượng cao
và đã trở thành cây đặc sản truyền thống của tỉnh Vĩnh Long
II.4.1 Về cây trồng:
- Lúa là cây trồng có số lượng giống nhiều nhất, theo báo cáo của Trung tâm Khuyến nông tỉnh các giống lúa phổ biến hiện nay trên địa bàn tỉnh Vĩnh Long: OM
4900, OM 6162, OM 5472, MTL 547, OM 2514, MTL 232, OM 6976, OMCS 2000, TNĐB 100, đồng thời với lúa thơm Jasmin 85,…
- Cây ngô: Có 3 giống địa phương là ngô nếp, nù, sữa và các giống ngô lai chủ yếu MX 10, P 3110, WAX 44, WAX 48 và một số giống LVN 10, DK 888, Pacific 11
- Khoai lang: Giống chủ lực hiện nay của tỉnh là giống khoai tím Nhật, ngoài ra còn có các giống: Tàu ngạn, Bí đường, Dương ngọc, Bí nghệ, Bí sữa,…
- Giống đậu nành và đậu xanh: Đậu nành MTĐ 176, MTĐ 517-8; MTĐ 760-4, A 17; đậu xanh: V 87-13, V 90-3, HL 25 Giống rau màu: Sử dụng các giống lai F1 cho năng suất và chất lượng cao của các công ty Trang Nông, Hai mũi tên đỏ,…
Trang 9- Giống rau thực phẩm: Một tập đoàn rất phong phú gồm:
+ Cà chua: Có 5 giống (Red Crown 250, cà chua lai KBT4, cà chua núi, cà trắng bành quả tròn, cà chua Đà Lạt SB3)
+ Ớt: Có các giống ớt sừng vàng, ớt sừng trâu, ớt chi Hungrari
+ Dưa hấu: Có các giống (Xuân Lan, Xuân Lan lai, An Tiêm 95, Hồng Lương, Hắc mỹ nhân Trang Nông và Hắc mỹ nhân Nông hữu)
+ Các giống rau nhập khẩu đã được nhiệt đới hóa (bắp cải, súp-lơ, cải ngọt, khổ qua, cà, đặc biệt xà lách xoong,…)
+ Các giống rau địa phương: hành, hẹ, cần, rau muống, rau thơm,…
- Giống cây lâu năm: Ngoài các giống dừa (dâu xanh, dâu vàng, dừa lửa, dừa bị, dừa xiêm), Vĩnh Long có nhiều loại cây ăn trái nổi tiếng, trước hết là bưởi Năm Roi, cam sành, nhãn có 17 giống (nổi tiếng là xuồng cơm vàng, tiêu lá bầu), sầu riêng có 15 giống (nổi tiếng là sầu riêng hạt lép và sầu riêng Mon Thong, Ri 6), xoài 5 giống (nổi tiếng là xoài cát Hòa Lộc hoặc xoài cát Chu) Ngoài ra, còn có cam giấy, quýt tiều, quýt hồng, quýt đường, chanh, mận, Sapoche, ổi, đu đủ, táo, chuối, măng cụt, bòn bon,…
II.4.2 Về vật nuôi:
- Heo có giống heo lai F1 giữa heo nái địa phương (Thuộc Nhiêu) với Yorkshire, Landrace, Duroc và giống YorkLand (2 máu ngoại) và heo lai 3 máu ngoại YorkShire - Landrace – Duroc là những giống được nuôi đại trà hiện nay
- Bò có 2 giống: bò ta vàng và bò lai Sind
- Gà: Gà địa phương 5 giống và gà công nghiệp (AA, Goldline 54, Hiline), gà thả vườn Tam Hoàng…
- Vịt: vịt Tàu rằn, vịt cổ lùn, vịt Bắc Kinh, vịt siêu thịt, vịt siêu trứng CV 2000 Tóm lại, cây trồng và vật nuôi tỉnh Vĩnh Long rất đa dạng, một số có những đặc tính tốt, sản phẩm hàng hóa có chất lượng cao và thị trường chấp nhận tiêu thụ Đây là nguồn cây con đầu dòng rất quan trọng để chọn lọc, bình tuyển các cây con tốt cung cấp vật liệu lai tạo giống hoặc nhân ra cho sản xuất đại trà Đặc biệt nông nghiệp Vĩnh Long phải xem công tác giống vừa là động lực thúc đẩy sản xuất nông nghiệp phát triển vừa là ngành dịch vụ quan trọng, tận dụng điều kiện ít ảnh hưởng lũ để sản xuất cây con giống cung cấp cho vùng lũ (1,8 triệu ha với hơn 10 triệu dân), như Nghị quyết VIII Tỉnh Đảng
bộ Vĩnh Long nhiệm kỳ 2005 - 2010 đã chọn giống nông nghiệp là một trong những chương trình trọng điểm
II.5 Các tài nguyên tự nhiên khác liên quan đến nông nghiệp:
Khoáng sản: Vĩnh Long có lượng cát sông và sét làm vật liệu xây dựng khá dồi dào; cát sông chủ yếu phân bổ ở các sông Cổ Chiên, sông Tiền, sông Pang Tra, sông Hậu
và sông Hậu nhánh Trà Ôn với tổng trữ lượng 129,8 triệu m3 (không kể những vùng cấm, tạm cấm và dự trữ sau năm 2010) Đất sét là nguyên liệu sản xuất gạch ngói, gốm sứ có tổng trử lượng khoảng 200 triệu m3, chất lượng khá tốt Sét thường nằm dưới lớp đất canh tác nông nghiệp với chiều dày từ 0,4-1,2 m, phân bố ở hầu hết các huyện trong tỉnh
Trang 10Vĩnh Long ở vào địa thế thiên nhiên phú cho một cảnh quan sông nước, vườn sinh thái, khí hậu - thủy văn,… rất hấp dẫn khách du lịch trong nước và quốc tế
Ngoài cảnh trí thiên nhiên bao quanh cù lao (Thanh Bình-Quới Thiện, Lục Sĩ Thành, Phú Thành, Đồng Phú, An Bình, Hòa Ninh) là 3 nhánh sông Cửu Long, cây trái xanh mượt trĩu quả, mương vườn có thể nuôi thủy sản (cá tai tượng, tôm càng xanh, cá chép,…) để chế biến ẩm thực giàu chất Nam bộ Mặt khác, kết hợp yếu tố tự nhiên với văn hóa truyền thống và di tích lịch sử văn hóa, cho phép Vĩnh Long phát triển du lịch sinh thái kết hợp tham quan di tích lịch sử giàu chất trữ tình, mang bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam
Do vậy, ngành nông nghiệp Vĩnh Long chủ động xây dựng mô hình nông nghiệp sinh thái kết hợp du lịch để thu được giá trị sản lượng và thu nhập cao nhất, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp - dịch vụ - nông nghiệp, trong đó dịch vụ, du lịch là ngành kinh tế quan trọng
III ĐÁNH GIÁ NGUỒN LỰC KINH TẾ - XÃ HỘI
III.1 Đánh giá tổng quan về kinh tế (2001 - 2010):
III.1.1 Tăng trưởng tổng sản phẩm (GDP):
- Tổng sản phẩm (GDP) giá cố định 1994 năm 2009: 7.018 tỷ đồng, (Gấp 2,3 lần
so với 2000), năm 2010 đạt 7.813 tỷ đồng, trong đó nông lâm ngư nghiệp 2.914 tỷ đồng
Bảng 2: Các chỉ tiêu kinh tế chủ yếu thời kỳ 2001-2010
Đơn vị tính: Tỷ đồng
Các chỉ tiêu Năm 2000 Năm 2005 Năm 2010 Tăng BQ%
2001-2005
Tăng BQ% 2006-2010
-Nông lâm ngư nghiệp 1.634 2.149 2.914 5,63 6,28 -Công nghiệp xây dựng 412 816 1.991 14,65 19,53 -Dịch vụ 988 1.618 2.906 10,37 12,43
-Nông lâm ngư nghiệp 2.559 4.565 11.061
-Công nghiệp xây dựng 516 1.157 3.453
-Dịch vụ 1.248 2.495 7.353
Ghi chú: Giá HH (giá hiện hành)
- Tốc độ tăng GDP giai đoạn 2001- 2005 đạt 8,59%/năm, đến giai đoạn 2006 -
2010 tốc độ tăng đạt 11,26%/năm; bình quân 10 năm (2001-2010) là 9,92%/năm
- Tốc độ tăng GDP nông lâm ngư nghiệp (2001-2005) là 5,63%/năm, giai đoạn 2006-2010 tăng 6,28%/năm; bình quân 10 năm (2001-2010) tăng 5,96%/năm
- Tốc độ tăng GDP công nghiệp - xây dựng (2001-2005) là 14,65%/năm, giai đoạn 2006-2010 tăng 19,53%/năm; bình quân 10 năm (2001-2010) tăng 17,06%/năm
Trang 11- Tốc độ tăng GDP ngành dịch vụ (2001-2005) là 10,37%/năm, giai đoạn
2006-2010 tăng 12,43%/năm; bình quân 10 năm (2001-2006-2010) tăng 11,40%/năm
- GDP bình quân/ người 2005 đạt: 8,05 triệu đồng/người/năm, năm 2010 là 21,3 triệu đồng/người/năm (theo giá hiện hành)
Những thành quả đạt được về tăng trưởng kinh tế là đáng phấn khởi, thể hiện tinh thần đổi mới, phấn đấu liên tục, bền bỉ của Đảng bộ và nhân dân Vĩnh Long, thực hiện thắng lợi chiến lược 10 năm phát triển kinh tế - xã hội do Đại hội Đảng lần thứ IX và X Đảng Cộng Sản Việt Nam đề ra Tốc độ tăng GDP bình quân 10 năm là khá cao (9,92%),
xu thế tăng GDP theo hướng tăng dần là điều tích cực, tuy nhiên tính liên hòan lại thể hiện sự không ổn định qua các năm
III.1.2 Chuyển dịch cơ cấu kinh tế giai đoạn 2001 - 2010:
Quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế của Vĩnh Long là đúng hướng, nhưng tốc độ chậm, số liệu thống kê qua 10 năm được thể hiện như sau:
Bảng 3: Chuyển dịch cơ cấu kinh tế giai đoạn 2001-2010
Cơ cấu GDP (giá HH) Năm 2000 Năm 2005 Năm 2010 Tăng, giảm (01-10)
- Nông lâm nghiệp, thủy sản 59,2 55,6 50,6 -8,6
* Nguồn: Cục Thống kê và Sở Kế hoạch-Đầu tư tỉnh Vĩnh Long (theo giá thực tế)
- Sau 10 năm tỷ trọng GDP nông lâm ngư nghiệp đã giảm: -8,6%, công nghiệp xây dựng tăng: +3,9% và dịch vụ tăng: +4,7% Như vậy, kinh tế Vĩnh Long chủ yếu vẫn
là nông nghiệp, công nghiệp còn rất nhỏ và dịch vụ phát triển chưa tương xứng với tiềm năng của một tỉnh ở vị trí trung tâm của Đồng bằng sông Cửu Long
- Nếu so sánh tỷ lệ 3 khu vực của Vĩnh Long với ĐBSCL năm 2010 là: 46,0% - 22,5% - 31,5% và cả nước là 20,6% - 41% - 38,4% càng cho thấy cơ cấu kinh tế của Vĩnh Long đang mất cân đối, đặc biệt là trong giai đoạn thực hiện mục tiêu chiến lược công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước theo Nghị quyết Đại hội lần thứ XI của Đảng
III.1.3 Thu, chi ngân sách và vấn đề đầu tư phát triển:
- Nguồn thu ngân sách hàng năm đều đạt và vượt chỉ tiêu kế hoạch, tổng thu ngân sách trên địa bàn năm 2001 là: 471 tỷ đồng, năm 2005 là 931 tỷ, năm 2009 thu 1.663 tỷ đồng, năm 2010 đạt 2.293 tỷ đổng Số liệu thu thực tế năm 2010 đạt 2.293 tỷ đồng cao gấp 4,87 lần so với năm 2001, tỷ lệ huy động GDP vào ngân sách năm 2009 đạt 9,3%, năm 2010 đạt 10,5%
- Tổng chi ngân sách địa phương năm 2000 là 523 tỷ đồng, năm 2005 chi 1.033 tỷ đồng, năm 2009 chi 2.304 tỷ đồng, năm 2010 chi 3.087 tỷ đồng Như vậy, tính đến năm
2010 Vĩnh Long là một trong số các tỉnh thành phố trong cả nước “thu không đủ chi”, đây là vấn đề khó khăn cho đầu tư phát triển
Trang 12- Vĩnh Long đã hướng chi ngân sách vào đầu tư phát triển, năm 2009 là: 917 tỷ đồng (chiếm 37,6% so với tổng chi ngân sách trên địa bàn), chi thường xuyên là: 1.494
tỷ đồng (chiếm 61,3% tổng chi ngân sách), chi chương trình mục tiêu: 53 tỷ đồng chiếm 2,2% Nên xem đây là một trong những khó khăn mà nền kinh tế Vĩnh Long cần phải khắc phục là thiếu vốn đầu tư phát triển từ ngân sách
- Vốn đầu tư xây dựng cơ bản khu vực nông lâm ngư nghiệp (do địa phương quản lý) chiếm tỷ trọng thấp So sánh cơ cấu đầu tư cho các ngành năm 2001: Nông lâm nghiệp chiếm 12%, năm 2005 tăng lên 14%, đến năm 2010 đạt 16,2%, trong khi GDP nông lâm ngư nghiệp đóng góp đến 55,6% (2005) và năm 2010 là 50,6%, như vậy mức đầu tư có phần chưa tương xứng, trong đầu tư XDCB cho nông nghiệp lại tập trung vào thủy lợi (chiếm 40%)
Tóm lại, trong đầu tư phát triển vừa thiếu vốn, lại quá tập trung vào lĩnh vực xây dựng cơ sở hạ tầng, cần có sự điều chỉnh lại cho hợp lý hơn nếu muốn thực hiện sự chuyển dịch cấu kinh tế và cơ cấu cây trồng vật nuôi theo hướng hàng hóa, phát huy các lợi thế mà nông nghiệp Vĩnh Long có được trong kinh tế thị trường
III.2 Đánh giá vai trò tác động của công nghiệp và dịch vụ thương mại đến sản xuất nông nghiệp:
III.2.1 Vai trò tác động của công nghiệp đến sản xuất nông nghiệp:
Công nghiệp - TTCN phát triển chưa mạnh, các cơ sở sản xuất có quy mô nhỏ và vừa, thiết bị và công nghệ chưa được đầu tư cải tiến, chất lượng sản phẩm chưa cao, nên giảm sức cạnh tranh của hàng hóa trên trên thị trường Tổng GTSX công nghiệp (giá cố định 1994) năm 2010 là 5.518 tỷ đồng, trong đó công nghiệp chế biến 5.479 tỷ đồng, (gồm: sản xuất SP khoáng phi kim lọai, hóa chất, dày da, thực phẩm và đồ uống); công nghiệp chế biến và bảo quản nông sản, công nghiệp sản xuất công cụ phục vụ nông nghiệp phát triển chưa mạnh
- Công nghiệp sản xuất máy móc, tư liệu sản xuất cho nông nghiệp: Đáng kể
nhất là sản xuất máy tuốt lúa; song nhu cầu không biến động lớn nên sản lượng hàng năm từ 100-150 máy Năm 2000 là 145 chiếc, đến năm 2005 cũng chỉ có 147 chiếc, năm
2009 chỉ còn 98 chiếc Ngoài ra, TTCN chỉ sản xuất các công cụ cầm tay và sửa chữa các thiết bị cơ khí trong nông nghiệp như máy làm đất, máy bơm…
- Công nghiệp chế biến nông, thủy sản: Công nghiệp chế biến nông thủy sản đã
có tác động rất lớn đến sản xuất nông nghiệp, là đầu ra cho một số sản phẩm nông nghiệp, thủy sản bởi đây là ngành có nhiều cơ sở sản xuất, năm 2010 có 2.976 cơ sở sản xuất thực phẩm và đồ uống (chiếm 26,7% tổng số cơ sở ngành công nghiệp chế biến)
Những lĩnh vực công nghiệp tác động tích cực cho nông nghiệp là xay xát gạo phục vụ tiêu dùng trong nước và xuất khẩu (năm 2000 sản lượng xay xát: 566 ngàn tấn đến năm 2005 là: 853 ngàn tấn, 2009 là 920 ngàn tấn, năm 2010 đạt 1.030 ngàn tấn), kế đến là thủy sản đông lạnh (2000 là: 1.646 tấn, năm 2005 là: 1.939 tấn, 2009 là 15.434 tấn, năm 2010 đạt 17.681 tấn), thức ăn chăn nuôi (năm 2000 là 1.281 tấn, năm 2005 là: 8.021 tấn, năm 2009 là 160.637 tấn, năm 2010 đạt 168.027 tấn),… Các sản phẩm công nghiệp có nguyên liệu từ nông nghiệp tăng là: Gạo xuất khẩu và tiêu thụ nội địa, hàng thủy sản đông lạnh, thức ăn gia súc, các sản phẩm khác giảm về sản lượng và chỉ có thị
Trang 13phần tiêu thụ nội tỉnh là chính Về lĩnh vực công nghiệp chế biến trái cây, rau, thịt chưa phát triển nên các sản phẩm này có tỷ lệ hao hụt ở mức cao (rau, trái cây 25-30% sản lượng), khó tiêu thụ, rất dễ mất giá,…
- Công nghiệp sản xuất ra sản phẩm là đầu vào cho sản xuất nông nghiệp:
Nhà máy phân bón Cửu Long (thuộc Công ty phân bón Miền Nam) sản xuất phân hỗn hợp NPK với công suất: 35.000 tấn/năm, phân bón lá: 1.500 tấn/năm,… đáp ứng khoảng 65-70% lượng phân NPK và 90% nhu cầu phân bón lá Nhà máy sản xuất nhiều chủng loại phân bón, phù hợp với yêu cầu của ngành trồng trọt nên đã giành được thị trường và sản xuất kinh doanh có lãi, đang trên đà phát triển Sản lượng sản xuất năm 2009 là 40.276 tấn, năm 2010 đạt 43.234 tấn
- Công nghiệp thu hút lao động từ nông nghiệp: Theo số liệu thống kê hàng
năm, tổng số lao động làm việc trong ngành công nghiệp năm 2001 là: 40.590 người, đến năm 2010 tăng lên 68.020 người (tăng 27.430 người); trong đó lao động ở ngành công nghiệp chế biến tăng mạnh nhất 24.646 người, trong khi đó lao động nông nghiệp thủy sản năm 2010 là 352.030 người, giảm 50.450 người so với năm 2001
Rõ ràng đây là sự chuyển đổi tích cực góp phần thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh
tế theo hướng công nghiệp hóa và hiện đại hóa
III.2.2 Vai trò tác động của ngành dịch vụ, thương mại đối với nông nghiệp:
Nghiên cứu tác động của ngành dịch vụ đến sản xuất nông nghiệp cho thấy:
- Hệ thống thương mại (Nhà nước và tư nhân) đã cung ứng kịp thời và đầy đủ các loại vật tư nông nghiệp như: phân bón, thuốc trừ sâu, xăng, dầu, thức ăn gia súc, thuốc thú y,… hệ thống các đại lý có ở hầu khắp các địa bàn trong tỉnh,… đã góp phần quan trọng trong thâm canh tăng năng suất và chất lượng sản phẩm hàng hóa Đây chính là mặt tích cực của thương mại với sản xuất nông nghiệp Song, vấn đề hiện nay là giá vật
tư nông nghiệp còn cao và không ổn định, một số chủng loại vật tư (thuốc, phân, thức ăn gia súc) chưa thật đảm bảo chất lượng, ảnh hưởng đến quyền lợi của người nông dân
- Những mặt còn hạn chế là việc tiêu thụ sản phẩm hàng hóa cho người dân ở thị trường trong nước và tìm kiếm thị trường xuất khẩu luôn ở thế bị động, thị trường tiêu thụ hầu hết các nông sản thiếu tính ổn định và còn để quy luật cung cầu tự điều tiết, nên một số hàng nông sản được mùa nhưng lại mất giá, ngay cả với loại mặt hàng quan trọng
số một là gạo xuất khẩu nhiều năm còn gặp khó khăn
- Sản lượng gạo xuất khẩu hàng năm với khối lượng lớn, năm 2000 là 309 ngàn tấn, năm 2005 là 537 ngàn tấn (năm cao nhất), năm 2006: 440 ngàn tấn, năm 2009: 421 ngàn tấn Đây là một trong những lý do thúc đẩy nông nghiệp tập trung sản xuất lúa với
hệ số quay vòng đất 2,78 lần/năm, sản lượng lúa qua các năm đạt cao: năm 2000 đạt 941 ngàn tấn, năm 2005 đạt: 973 ngàn tấn/năm, năm 2010 đạt 929 ngàn tấn; bình quân 1 ha gieo trồng lúa đạt năng suất 5,47 tấn (năm 2010)
- Về hoạt động du lịch được đầu tư mở rộng và nâng cao chất lượng phục vụ nên
đã thu hút khách đến với Vĩnh Long ngày càng đông Năm 2010 số khách đến Vĩnh Long lưu trú là 650 ngàn người (khách quốc tế 160 ngàn người) tăng 21%/năm trong giai đoạn (2006-2010); số ngày khách lưu trú năm 2010 đạt 975 ngàn ngày/người, tăng 27%/năm (2006-2010), trong đó khách quốc tế khoảng 240 ngàn ngày/người, tương ứng
Trang 14từ 1,15 ngày/lượt khách lên 1,5 ngày/lượt khách Chất lượng dịch vụ du lịch ngày càng được cải thiện, đã góp phần vào việc thúc đẩy sản xuất nông nghiệp phát triển, bằng việc nâng cao chất lượng và đa dạng hóa sản phẩm phục vụ cho nhu cầu khách du lịch
- Xúc tiến thương mại: Công tác xúc tiến thương mại phục vụ cho sản xuất nông nghiệp đã có những hoạt động thiết thực
Ngành nông nghiệp đã phối hợp với Hội nông dân tổ chức hội chợ thương mại Agriviet năm 2006 tại thành phố Hồ Chí Minh Năm 2007 tổ chức thành công hội chợ giống - vật tư, thiết bị nông nghiệp ĐBSCL, quy tụ 98 đơn vị và cá nhân trong khu vực tham gia Thông qua hội chợ các cuộc hội thảo “Sản xuất trái ngon - an toàn”, “ứng dụng công nghệ sinh học trong sản xuất nông nghiệp”, “Phát triển nông nghiệp bền vững trong hội nhập WTO” Hàng năm đều tham gia các gian hàng tại các hội chợ được tổ chức trong tỉnh và khu vực Năm 2010, ngành nông nghiệp đã phối hợp với Sở Công Thương
tổ chức Hội chợ giới thiệu sản phẩm và thương hiệu của nông nghiệp Vĩnh Long như bưởi Năm Roi (Bình Minh), cam sành (Tam Bình), thủy sản xuất khẩu, thu hút đông đảo khách hàng trong, ngoài tỉnh và quốc tế
Đây là bước đánh dấu nỗ lực trong việc xây dựng, giử vững và phát triển thương hiệu sản phẩm trên đường hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực Tuy nhiên, số lượng sản phẩm thương hiệu mạnh còn ít và chất lượng thương hiệu đang là mối quan tâm cho doanh nghiệp mở rộng thị trường tiêu thụ, thâm nhập thị trường khu vực và quốc tế
Tóm lại, hoạt động công nghiệp và dịch vụ ở Vĩnh Long có tác động tích cực cho
sản xuất nông nghiệp phát triển một cách bền vững, đặc biệt là khâu giải quyết đầu ra cho nông sản hàng hóa Ngành nông nghiệp - công nghiệp - dịch vụ có mối quan hệ chặt chẽ, hữu cơ với nhau, nhất là trong kinh tế thị trường, một nông sản hàng hóa có tồn tại
và phát triển tốt hay không luôn hàm chứa những vấn đề mà cả 3 ngành phải tập trung đầu tư thúc đẩy có cơ sở khoa học và thực tiễn
III.3 Biến động cơ cấu đất nông nghiệp và hiệu quả sử dụng:
III.3.1 Biến động sử dụng đất nông nghiệp năm 2000, 2005 và 2010:
Theo tài liệu thống kê hiện trạng sử dụng đất hàng năm, từ 2000 đến 2010 của
ngành Tài nguyên và Môi trường (bảng 4)
- Đất nông nghiệp được khai thác triệt để với tỷ lệ sử dụng đất cao nhất so với các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long: Năm 2000 là: 119.674,5 ha (chiếm 81,12%) và năm
2005 là: 116.984,5 ha (chiếm 79,17%), năm 2010 là 117.192,5 ha (chiếm 78,29%)
- Đất nông nghiệp có xu hướng giảm dần do đất hoang hóa có khả năng nông nghiệp còn rất ít, trong khi đó nhu cầu đất chuyên dùng và đất ở tăng So sánh 2010 với năm 2000 đất nông nghiệp giảm: 2.482 ha
- Trong đất nông nghiệp, đất sản xuất nông nghiệp có xu hướng giảm, năm 2000
là 119.134 ha đến năm 2010 còn 116.114 ha, giảm 3.020 ha; Đất nuôi trồng thủy sản có
xu hướng tăng, năm 2000 có 524 ha đến năm 2010 tăng lên 1.027 ha, tăng 503 ha
Trong đất sản xuất nông nghiệp, đất trồng cây hàng năm có xu hướng giảm, năm
2010 so với năm 2000 giảm: 8.660 ha, trong đó đất lúa giảm 8.192 ha Đất trồng cây lâu năm tăng khá cao, tổng diện tích đất trồng cây lâu năm từ 38.733 ha (năm 2000) lên
Trang 1541.808 ha (năm 2005), và 44.373 ha năm 2010, tăng tuyệt đối: 5.640 ha, đặc biệt trong đất trồng cây lâu năm thì cây ăn trái có diện tích 38.603 ha, chiếm 87% tổng diện tích cây lâu năm (31/12/2010) Đất mặt nước nuôi trồng thủy sản tăng 503 ha, năm 2000 có
524 ha thì đến năm 2010 là 1.027 ha
Cơ cấu đất trồng cây hàng năm cũng biến động theo hướng giảm đất lúa từ 78.434
ha (năm 2000) xuống 72.851 ha (năm 2005) đến năm 2010 còn 70.241 ha; giảm tuyệt đối 8.192 ha; đất luân canh lúa – màu tăng từ 4.863 ha năm 2000 lên 10.550 ha năm 2009 (tăng 5.678 ha), đất chuyên màu năm 2009 là 1920 ha
Biến động về đất nông nghiệp 2000 và 2010 của Vĩnh Long là một tất yếu khách quan của việc sử dụng đất nông nghiệp theo hướng kinh tế thị trường Đây là định hướng đem lại hiệu quả kinh tế, xã hội và môi trường ngày càng tối ưu, tạo ra cơ sở vững chắc
để giai đoạn 2011-2020 tiếp tục chuyển đổi một cách hợp lý, góp phần đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế, nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống người lao động
III.3.2 Chuyển đổi mục đích sử dụng đất tác động đến sản xuất nông nghiệp
Đất là tư liệu sản xuất đặc biệt trong nông nghiệp, khi mục tiêu sử dụng đất thay đổi, tác động sâu sắc đến sản xuất nông nghiệp đặc biệt là gia tăng giá trị, lợi nhuận, thu nhập hoặc tăng sản lượng nông sản hàng hóa
Từ những năm 2000 mục tiêu hàng đầu của sử dụng đất là tăng sản lượng lúa, nhằm đảm bảo an ninh lương thực quốc gia và tăng sản lượng gạo xuất khẩu, nên việc ưu tiên tối đa quỹ đất nông nghiệp cho canh tác chuyên lúa, đặc biệt hệ số quay vòng đất lúa năm 2000 là 2,75 và năm 2005 là 2,78 lần/năm Dẫn đến tổng sản lượng lúa năm 2000 là: 941.000 tấn, năm 2005 là 973.017 tấn, năm 2010 tổng sản lượng lúa đạt 928.972 tấn Tổng sản lượng gạo xuất khẩu năm 2005 là 537.262 tấn, năm 2009 đạt 421.024 tấn, năm
2010 đạt 317.859 tấn
Sản xuất nông nghiệp cũng chịu tác động mạnh của kinh tế thị trường, trong đó chỉ tiêu lợi nhuận luôn hấp dẫn người sử dụng đất, nên họ đã tích cực chuyển đất cây hàng năm kém hiệu quả và vườn tạp sang trồng cây ăn trái Do đó, diện tích cây ăn trái tăng từ 32.610 ha (năm 2000) lên 36.356 ha (2005); lên 38.601 ha năm 2009; 38.927 ha năm 2010 Sản lượng các loại trái cây chính tăng từ 208.593 tấn (năm 2000) lên 306.074 tấn (năm 2005), 354.746 tấn năm 2009 và 412.213 tấn năm 2010, trực tiếp gia tăng giá trị sản xuất của cây ăn trái trong tổng giá trị sản xuất ngành nông nghiệp
Chuyển đổi cơ cấu cây trồng của ngành trồng trọt đã làm tăng giá trị sản phẩm một cách rõ rệt, năm 2009 giá trị sản phẩm bình quân của ngành trồng trọt là 70,81 triệu đồng/ha/năm, trong đó giá trị sản phẩm cây hàng năm trên 1 ha là 75,92 triệu đồng/ha/năm (theo giá hiện hành) Đơn vị có giá trị sản phẩm trồng trọt trên 1 ha cao nhất là huyện Bình Tân 100,5 triệu đồng, trong đó giá trị sản phẩm cây hàng năm trên 1
ha đạt tới 110,9 triệu đồng; Đây là mức cao nhất ở Đồng bằng sông Cửu Long hiện nay
Tóm lại, sử dụng đất hợp lý, có hiệu quả luôn là mục tiêu cần thiết phải hoàn thiện của nền nông nghiệp hàng hóa, góp phần thúc đẩy kinh tế phát triển, chuyển đổi cơ cấu sản xuất, tăng lợi nhuận và thu nhập cho nông dân, nên quy hoạch sử dụng đất phải được xem là chiến lược quan trọng hàng đầu khi hoạch định chiến lược phát triển kinh tế - xã hội - môi trường
Trang 16III.3.3 Đánh giá tình hình quản lý sử dụng đất nông nghiệp:
- Tính đến thời điểm (31/12/2010) toàn tỉnh có 117.192,5 ha đất nông nghiệp, (chiếm 78,29% DTTN) trong đó có 116.857 ha đất nông nghiệp do hộ gia đình cá nhân
sử dụng chiếm 99,7% quỹ đất nông nghiệp Đặc biệt việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đạt 96,58%, đây là cơ sở pháp lý để hộ gia đình và các tổ chức đang sử dụng đất thực hiện tốt quyền và nghĩa vụ theo luật đất đai, yên tâm đầu tư cải tạo, sử dụng đất có hiệu quả cao nhất
- Tỷ lệ hộ thiếu đất sản xuất nông nghiệp tòan tỉnh khỏang 20,4%, số hộ không đất sản xuất và một số hộ trong diện giải tỏa thu hồi đất để xây dựng các cụm dân cư, giao thông, thủy lợi chiếm gần 5,5%, trong khi tìm kiếm việc làm trong các cụm và khu công nghiệp đối với các hộ không đất là rất mong manh, làm phát sinh một lượng lao động không có việc làm, không có thu nhập tác động không tốt đến trật tự an tòan xã hội
ở nông thôn Đây là vấn đề khó khăn cho Vĩnh Long trong phát triển kinh tế và giải quyết việc làm, góp phần cải thiện đời sống cho người lao động
III.3.4 Đánh giá hiệu quả kinh tế các mô hình sử dụng đất nông nghiệp:
Đối với cây hàng năm:
Phân tích tài chính của 26 loại hình sử dụng đất (xem bảng 5) rút ra nhận xét:
- Chi phí sản xuất có khoảng dao động rất lớn từ 22,29 triệu đồng/ha lúa 2 vụ đến 179,71 triệu đồng/ha (Chuyên rau 5 vụ/năm), những cơ cấu cây trồng có mức chi phí cao
> 48 - 72 triệu đồng/ha/năm là luân canh 2 vụ lúa - 1 vụ (khoai lang, đậu, bắp, rau, cá), còn mức chi phí rất cao > 72,0 triệu đồng/ha, có 1 vụ lúa ĐX - khoai lang Xuân hè - một
vụ dưa hấu (72,3 triệu đồng), chuyên canh 3 vụ rau - dưa hấu (112,17 triệu đồng/ha), 3
vụ rau - 1 vụ (đậu nành) là 90,15 triệu đồng/ha Riêng 2 - 3 vụ lúa chi phí từ 22,29 - 35,5 triệu đồng/ha xếp ở mức chi phí trung bình
Như vậy, ở Vĩnh Long là nơi đầu tư với mức khá cao cho thâm canh, tăng vụ bởi đất cây hàng năm có hệ số quay vòng đất 2,75 - 2,78 lần nên yêu cầu mức chi phí cao, đây là một bất lợi nếu tiếp tục nâng mức đầu tư mà phải tính đến đổi mới, hoàn thiện quy trình kỹ thuật, giảm chi phí, giảm giá thành thì sản phẩm hàng hóa mới đủ sức cạnh tranh trên thị trường
- Hiệu quả kinh tế của các mô hình: Tổng giá trị sản lượng (theo giá thực tế tại thời điểm điều tra) giá trị sản lượng đạt cao nhất là mô hình canh tác: Rau thực phẩm (chuyên canh rau 5 vụ: 584 triệu đồng/ha, 3 vụ rau - 1 vụ dưa hấu: 434 triệu đồng/ha, 3
vụ rau - 1 vụ đậu nành: 372 triệu đồng; 1 vụ lúa (ĐX) - 1 vụ đậu nành XH - 2 vụ hành: 289,8 triệu đồng/ha), kế đến là màu luân canh 1 vụ lúa - 2 vụ màu mà điển hình là 1 lúa
ĐX - khoai lang Xuân hè - Dưa hấu Thu đông: 246,8 triệu đồng; 2 vụ lúa - 1 vụ màu đạt giá trị sản lượng 145 - 153 triệu đồng/ha, còn chuyên canh 2 - 3 vụ lúa chỉ đạt: 44,8 - 67,2 triệu đồng/ha, trong đó thấp nhất là cơ cấu 2 vụ lúa (ĐX-HT)
- Lợi nhuận: mức rất cao có mô hình chuyên 4 - 5 vụ rau, 3 vụ rau - 1 vụ dưa hấu đạt lợi nhuận từ 282 - 404 triệu đồng, 2 vụ lúa - 1 khoai lang, 2 vụ lúa - 1 rau, đạt từ 97 - 104,5 triệu đồng/ha, lợi nhuận của 2 - 3 vụ lúa chuyên canh thấp (22,5 - 31,7 triệu đồng/ha), còn 2 lúa - 1 màu (bắp, đậu nành) đạt trung bình: 40 - 57 triệu đồng/ha
Trang 17Tóm lại, nếu chỉ xét riêng về kinh tế thì chuyên canh lúa hiệu quả thấp nhất, cần phải đa canh để phát huy lợi thế về sinh thái, tập quán sản xuất và thị trường tiêu thụ
Cây lâu năm :
- Chi phí hàng năm: Với 9 loại cây trồng chuyên canh, chi phí dao động từ 23,75 triệu đồng (chôm chôm) đến 53,9 triệu đồng/ha (cam sành) Ngoại trừ chuối, dừa là chi phí thấp còn các cây khác như: bưởi, chanh, xoài tương đương 3 vụ lúa (Đông xuân - Hè thu - Thu đông)
- Giá trị sản lượng đạt thấp chỉ có nhãn, chôm chôm (60-64 triệu đồng/ha/năm), cây ăn quả hỗn hợp mức trung bình (48 triệu đồng/ha/năm), còn xoài, sầu riêng, bưởi Năm roi, đạt từ: 76 - 93 triệu đồng/ha/năm Đặc biệt có bưởi da xanh, cam sành, măng cụt đạt giá trị rất cao: 96 - 112 triệu đồng/ha/năm
- Lợi nhuận của cây lâu năm (trừ dừa, chuối, chôm chôm, nhãn) đạt từ 31,2-36,2 triệu đồng/ha/năm, các cây ăn quả khác đều có lợi nhuận cao hơn làm 2-3 vụ chuyên lúa
Do vậy, trồng cây ăn trái đặc sản (bưởi da xanh, bưởi Năm Roi, cam sành, xoài cát Hòa Lộc,…) có hiệu quả kinh tế cao; xét về sinh thái ở Vĩnh Long còn cho phép chủ động điều khiển thời gian thu hoạch trái vụ, đáp ứng yêu cầu của thị trường, càng khẳng định việc điều chỉnh tăng diện tích cây ăn quả ở những nơi có điều kiện thích nghi từ nay đến năm 2020 là hoàn toàn đúng đắn
III.4 Hiện trạng cơ sở hạ tầng kỹ thuật phục vụ nông nghiệp:
III.4.1 Hiện trạng thủy lợi đến năm 2010: (Chi tiết xem phụ lục: 9,10,11)
Hệ thống thủy lợi của Vĩnh Long được đánh giá khá nhất so với 13 tỉnh vùng Đồng bằng sông Cửu Long Thủy lợi thực sự là yếu tố quyết định đến tăng vụ, chuyển đổi cơ cấu cây trồng và là biện pháp kỹ thuật quan trọng trong thâm canh tăng năng suất cây trồng (Có phần quy hoạch chi tiết thủy lợi riêng)
- Tổng diện tích đất sản xuất nông nghiệp năm 2010 là 116.114 ha, trong đó cây hàng năm 71.740 ha, cây lâu năm 44.373 ha (cây ăn trái và cây lâu năm khác)
- Diện tích có bờ vùng khép kín phục vụ tưới tiêu đến cuối năm 2010 là 100.000
ha (chiếm 86,1%) đất sản xuất nông nghiệp, trong đó cây hàng năm 68.637 ha (chiếm 95,7% DT cây hàng năm), diện tích cây lâu năm có thủy lợi khép kín là 31.363 ha (chiếm 70,7% so với cây lâu năm)
- Diện tích đảm bảo ngăn lũ lớn nhất (2002) là 69.900 ha, chiếm 71,3% so với diện tích khép kín thủy lợi
Chính vì vậy cần phải tiếp tục đầu tư hoàn chỉnh hệ thống công trình thủy lợi, nhất
là thủy lợi nội đồng và bờ bao khép kín phục vụ sản xuất
III.4.2 Hiện trạng giao thông:
Đường bộ:
- Quốc lộ: Vĩnh Long có trục Quốc Lộ 1A tuyến đường chính của Đồng bằng
sông Cửu Long, đoạn chạy qua Vĩnh Long dài 35 km, đã được nâng cấp (tiêu chuẩn đường cấp I đồng bằng), đặc biệt cầu Mỹ Thuận và cầu Cần thơ đã làm cho giao thông
Trang 18đường bộ Vĩnh Long nối liền với các tỉnh bờ Nam sông Hậu và Bắc sông Tiền với vùng Đông Nam bộ, nhất là Thành phố Hồ Chí Minh trở nên rất thuận lợi Ngoài ra còn có Quốc lộ 53 dài 47 km, Quốc lộ 54 dài 49 km, Quốc lộ 57 dài 7,5 km, ngòai ra còn có đọan QL 80 dài 3,7 km, đã và đang được nâng cấp, tổng chiều dài các tuyến Quốc lộ là: 142,2 km
- Đường tỉnh: Có 10 tuyến (ĐT: 901, 902, 903, 904, 905, 906, 907, 908, 909,
910) với tổng chiều dài: 222,6 km đã và đang được nâng cấp, lưu thông vận chuyển tương đối thuận lợi Trên các tuyến có 107 cầu, với tổng chiều dài các cầu là: 4.856 m Đến năm 2010 đã cơ bản hoàn thành nâng cấp trãi nhựa các tuyến đường tỉnh (212 km) còn 10 km cấp phối đá
- Đường huyện: Tổng chiều dài 87 tuyến đường huyện là 372 km, với 165 chiếc
cầu trên các tuyến có chiều dài 6.494 m Nhìn chung đường huyện đã có nâng cấp song
về cấp kỹ thuật chưa đảm bảo, bề mặt đường còn hẹp, cần được đầu tư nâng cấp và mở rộng, phục vụ tốt vận chuyển sản phẩm và hành khách
- Đường xã: Có 1.600 km có kết cấu mặt đường là đá, đan, nhựa, chủ yếu cho xe
hai bánh lưu thông dễ dàng Theo thống kê đến 31 tháng 12 năm 2010 toàn tỉnh có 94 xã
có đường ô tô đến trung tâm xã đạt 100%, cơ bản xóa hết cầu khỉ
Giao thông đường bộ đã từng bước được nâng cấp, tuy nhiên do địa chất công trình nền đất yếu, sông - kênh - rạch chằng chịt, hàng năm lại bị ngập lũ nên đầu tư xây dựng giao thông (đường, cầu, cống) rất tốn kém Hiện tại, giao thông nông thôn đã có nhiều cải thiện, đáp ứng ngày một tốt hơn cho các phương tiện tham gia giao thông; nhưng về mùa mưa lũ còn khó khăn vì đường xuống cấp, nhất là lũ tháng 10 Đây chính
là vấn đề tồn tại, cần tiếp tục đầu tư trong những năm tới để phục vụ tốt sản xuất nông nghiệp và phát triển nông thôn mới
Đường thủy:
- Vĩnh Long có các sông lớn: sông Hậu, sông Tiền, sông Cổ Chiên và sông Mang Thít, là các tuyến giao thông thủy quốc gia, quốc tế do Bộ Giao thông vận tải quản lý với tổng chiều dài 215 km; tỉnh quản lý các tuyến còn lại, trong đó Sở Giao thông vận tải quản lý 25 tuyến với tổng chiều dài 179 km; UBND các huyện, thành phố quản lý các tuyến còn lại ước chiều dài khoảng 1.500 km Ngoài ra, còn có trên 500 km kênh cấp I
và 1.100 km kênh cấp II (mật độ đường thủy 4,2km/km2) hợp thành hệ thống giao thông thủy rất tiện lợi, có cước phí vận chuyển thấp, đã hỗ trợ tích cực cho giao thông đường
bộ, thúc đẩy sản xuất nông nghiệp phát triển
- Bến cảng:
a) Cảng Vĩnh Long (bờ phải sông Cổ Chiên, thuộc Phường 9 TP Vĩnh Long,
năng lực 450 ngàn tấn/năm, tiếp nhận tàu 3.000 tấn Theo kết quả hoạt động thì Cảng mới khai thác khoảng 60% công suất; vị trí của Cảng rất thuận lợi, tuy nhiên ở trong nội
ô thành phố Vĩnh Long nên ảnh hưởng môi trường khi trung chuyển hàng hóa
b) Cảng Bình Minh (bờ trái sông Hậu, thuộc xã Mỹ Hòa, huyện Bình Minh) hiện
tại chủ yếu là vật liệu xây dựng, năng lực 250 ngàn tấn/năm
c) Cảng An Phước (bờ phải sông Cổ Chiên, xã An Phước huyện Mang Thít),
năng lực 250 ngàn tấn/năm, đã giao cho UBND huyện Mang Thít quản lý và khai thác
Trang 19III.4.3 Điện khí hóa nông thôn:
Đến tháng 12 năm 2010 toàn tỉnh đã có 94/94 xã đã có điện sử dụng, tổng số hộ
sử dụng điện 269.000 hộ, chiếm 98,5% Điện thương phẩm tiêu thụ bình quân: 295 KWh/người/năm và chủ yếu dùng cho sinh hoạt (60%), công nghiệp và xây dựng (25%, dịch vụ thương mại (3%), điện dùng cho sản xuất nông nghiệp khoảng 2% tổng lượng điện tiêu thụ, chủ yếu do nông nghiệp chưa có những nhu cầu lớn về điện, đặc biệt là nhu cầu bơm tưới dùng máy bơm dầu cơ động và quản lý dễ dàng hơn là đầu tư các trạm bơm điện, vì quy mô ruộng đất bình quân của nông hộ thấp
Đây là vấn đề cần giải quyết để điện thực sự là động lực thúc đẩy công nghiệp hóa, hiện đại hóa và phát triển nông thôn mới
III.4.4 Nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn:
Chương trình Mục tiêu quốc gia về nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn được thực hiện theo Quyết định số 237/1998/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 03 tháng 12 năm 1998, số liệu lũy kế thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia đến 31 tháng 12 năm 2010 như sau:
Chương trình nước sạch:
Toàn tỉnh, hiện nay đã có các hệ thống cấp nước 120 trạm, kể cả nhà nước và tư nhân (số lũy kế), với tổng công suất theo thiết kế 22.395 m3
/ngày đêm, công suất thực tế
sử dụng 19.253 m3/ngày đêm, tổng số hộ sử dụng từ hệ thống cấp nước tập trung này là 40.374 hộ Riêng trong năm 2010 xây dựng mới 01 trạm và nâng cấp công suất cho 17 trạm cấp nước Tính đến tháng 12 năm 2010, toàn tỉnh Vĩnh Long có 766.000 người dân nông thôn trên địa bàn của 79/94 xã nông thôn được tiếp cận nước hợp vệ sinh, tỷ lệ hộ dân có nước sạch phổ thông sử dụng là 90%, trong đó từ nguồn cấp nước tập trung là 55% Tuy nhiên, đối chiếu với QCVN 02-BYT, tỷ lệ số dân nông thôn sử dụng nước sạch đáp ứng Quy chuẩn Quốc gia do Bộ Y tế ban hành ngày 17/6/2009 chỉ đạt 28,9%, tỷ
lệ toàn tỉnh là 37,1%, khu vực thành thị là 85,12%
Về vệ sinh môi trường nông thôn:
Thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia, đến 31/12/2010 tòan tỉnh Vĩnh Long
đã có 70% hộ dân có nhà tiêu hợp vệ sinh, trong đó có khoảng 45% số hô dân có nhà tiêu hợp vệ sinh theo TC 08/BYT của Bộ Y tế; 80% trường học, 100% trạm y tế xã, 95% trụ
sở UBND xã, 70% chợ nông thôn có nước sạch và nhà tiêu hợp vệ sinh Hiện nay ô nhiễm môi trường nông thôn đang có chiều hướng gia tăng, bởi các nguy cơ gây ô nhiễm không được kiểm soát Trong đó đáng kể nhất là do tập quán sinh hoạt và ý thức bảo vệ môi trường sống của người dân nông thôn còn ở mức thấp: xả rác bừa bãi, chăn nuôi gia súc, gia cầm và nuôi thủy sản bằng phương thức giản đơn, toàn bộ phân, thức ăn thừa,… không được xử lý đã xả trực tiếp ra sông rạch Đồng thời do thâm canh, tăng vụ nông dân
đã sử dụng một số lượng lớn phân hóa học, thuốc bảo vệ thực vật, thuốc cỏ,… cũng là nguy cơ gia tăng ô nhiễm môi trường
Vĩnh Long là tỉnh có tỷ lệ dân khu vực nông thôn cao (84,6%), công tác kiểm soát môi trường nông thôn chưa có sự cải thiện đáng kể, đây là một thách thức lớn đến sức khỏe và đời sống dân cư nông thôn, cũng như khó có thể hướng đến một nền nông nghiệp sạch để sản phẩm hàng hóa đạt chất lượng cao đủ sức cạnh tranh trên thị trường
Trang 20III.5 Đánh giá nguồn nhân lực và mức sống dân cư:
III.5.1 Đánh giá nguồn nhân lực (Chi tiết theo huyện xem phụ lục 12)
- Dân số trung bình năm 2010 là: 1.026.521 người (chiếm 6,1% dân số Đồng bằng sông Cửu Long và 1,3% dân số cả nước), trong đó người Khơme: 21.670 người (chiếm 2,1% dân số toàn tỉnh), với mật độ 686 người/km2 (đứng thứ 2 về mật độ bình quân trong vùng Đồng bằng sông Cửu Long, chỉ sau Cần thơ) nên Vĩnh Long được xếp là nơi “đất chật người đông”
- Tổng dân số 1.026.521 người, trong đó khu vực nông thôn 868.527 người (chiếm 84,6%), tỷ lệ tăng dân số tự nhiên là 0,9%/năm, nên áp lực về tăng dân số đang là gánh nặng của nền kinh tế, khu vực nông thôn cơ sở hạ tầng chưa thật đồng bộ, kinh tế thuần nông chậm chuyển đổi, nông dân không có đất và thiếu đất sản xuất, thiếu việc làm
có chiều hướng tăng thêm
- Lao động và chất lượng lao động: Tổng số người trong độ tuổi lao động đến năm
2010 là 698.030 người (chiếm 68% dân số) Lao động đang làm việc trong các ngành kinh tế: 604.095 người (chiếm 86,54% lao động trong độ tuổi)
- Lao động trong ngành nông lâm nghiệp, thủy sản: 352.033 người (chiếm 58,3% lao động đang làm việc trong các ngành kinh tế), với số lao động này hiện nay chỉ sử dụng khoảng 82% năng lực, tỷ lệ số ngày nhàn rỗi trong năm lên đến 18% tổng quỹ thời gian Lao động nông nghiệp chiếm tỷ trọng cao, nhưng trình độ chuyên môn và nghiệp
vụ còn hạn chế
Tổng số lao động có chuyên môn kỹ thuật hiện nay của tất cả các ngành là 35% (theo số liệu Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Vĩnh Long nhiệm kỳ 2010-2015) Trong quá trình sản xuất người lao động đã tích lũy được nhiều kinh nghiệm, nhạy bén với khoa học - kỹ thuật, có sự đầu tư thâm canh khá cao; đồng thời, thông qua hoạt động khuyến nông đã tập huấn chuyển giao kỹ thuật cho hàng chục ngàn lao động Đây là giải thích tại sao năng suất cây trồng và tăng vụ ở Vĩnh Long cao so với cả nước
Do vậy, để tăng tỷ trọng lao động có chuyên môn và hiểu biết khoa học kỹ thuật mới trong nông nghiệp, cần một chiến lược tổng thể đào tạo nguồn nhân lực (đào tạo nghề và hướng nghiệp) để đến năm 2020 có ít nhất 55% lao động trong độ tuổi được đào tạo chuyên môn, nghiệp vụ với chất lượng đảm bảo cho quá trình đổi mới nền kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp
III.5.2 Thu nhập và mức sống của dân cư:
- GDP bình quân/người đã tăng từ 8 triệu đồng/người năm 2005 lên 17,5 triệu đồng/người năm 2009, năm 2010 là 21,3 triệu đồng/người; so với ĐBSCL thì Vĩnh Long đang xếp hạng thứ 6/13 tỉnh, thành (trung bình của toàn ĐBSCL), tuy nhiên do ảnh hưởng của tình hình lạm phát trong những năm gần đây đã ảnh hưởng đến đời sống vật chất của người dân
- Công tác xóa đói giảm nghèo và giải quyết việc làm đã được các ngành các cấp quan tâm thực hiện Năm 2010, giảm hộ nghèo toàn tỉnh xuống còn 16.385 hộ (chiếm 6%, theo tiêu chí hiện tại) Thực hiện Quyết định số 09/2011/QĐ-TTg về việc ban hành
Trang 21chuẩn hộ nghèo, hộ cận nghèo áp dụng cho giai đoạn 2011-2015, chắc chắn hộ nghèo trong những năm tới sẽ tăng lên
- Ở khu vực nông thôn, 100% số xã có trạm y tế và đã đạt chuẩn quốc gia, 98,5%
hộ dân sử dụng điện, 90% số hộ dân dùng nước sạch phổ thông, trong đó có 55% số hộ
sử dụng nước sạch từ hệ thống cấp nước sạch tập trung; 74% số hộ dân có nhà kiên cố, bán kiên cố,… cho thấy đời sống nông dân từng bước được cải thiện, bộ mặt nông thôn mới đã và đang đổi thay từng ngày dưới sự lãnh đạo toàn diện, sáng tạo của Đảng bộ và chính quyền tỉnh Vĩnh Long, đời sống người dân sẽ được nâng cao hơn nữa
III.6 Đánh giá tác động của kinh tế thị trường đến sản xuất hàng hóa
III.6.1 Ảnh hưởng của kinh tế thị trường trong nước:
Thực hiện đường lối đổi mới toàn diện của Đảng cộng sản Việt Nam, đã mang lại nhiều thành tựu to lớn trong mọi lĩnh vực Kinh tế Việt Nam nói chung và kinh tế Vĩnh Long nói riêng có bước tăng trưởng đáng kể trên nhiều lĩnh vực; trong đó sản xuất nông nghiệp liên tục tăng dưới tác động của các quy luật kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa Tuy nhiên, kinh tế thị trường có cả mặt tích cực và mặt hạn chế cần phải biết vận dụng để khắc phục đưa nông nghiệp phát triển một cách bền vững
Ảnh hưởng tích cực:
Sản xuất nông sản hàng hóa theo quy luật cung - cầu, lợi nhuận và thu nhập cao sẽ hấp dẫn người nông dân tăng vụ, thâm canh, chuyển đổi cơ cấu cây trồng, tăng chất lượng sản phẩm, nhằm đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của thị trường hàng hóa vốn luôn cạnh tranh quyết liệt Cụ thể ở Vĩnh Long là việc tăng diện tích cây ăn quả đặc sản (nhãn, xoài, bưởi, cam, quýt), trồng rau thực phẩm chuyên canh hoặc luân canh lúa - khoai lang, tăng đàn heo, tăng đàn bò, vịt chuyên trứng Giờ đây người nông dân có ý thức chọn sản phẩm hàng hóa là các loại cây trồng có lợi nhuận, thu nhập cao trên một đơn vị diện tích
để sản xuất và biết tính toán kinh tế khi sản xuất, biết đầu tư tiến bộ khoa học kỹ thuật và
tư liệu sản xuất để tăng năng suất và hiệu quả của đồng vốn
Thông qua hoạt động kinh tế thị trường trong sản xuất nông nghiệp, nhiều hộ nông dân và trang trại sản xuất giỏi đã trở nên giàu có, phân công lại lao động xã hội theo hướng chuyên môn hóa (các dịch vụ nông nghiệp ra đời: làm đất, tuốt lúa, bơm nước, bảo hiểm cây trồng vật nuôi, sản xuất cây con giống ngày một phát triển hơn) và phân vùng tiêu thụ sản phẩm hàng hóa
Quá trình sản xuất người nông dân đã cần đến thông tin thị trường để bố trí cơ cấu mùa vụ, tạo sản phẩm ra trái vụ, đáp ứng yêu cầu tiêu dùng của thị trường, đồng thời từng bước hình thành các vùng cây trồng, vật nuôi chuyên canh (nhãn ở cù lao 4 xã huyện Long Hồ, bưởi ở Bình Minh, cam sành, quýt đường ở Tam Bình và một số xã huyện Trà Ôn, khoai lang, rau ở huyện Bình Tân,…)
- Quá trình hội nhập kinh tế khu vực và thế giới (Việt Nam là thành viên chính thức thứ 150 của tổ chức thương mại thế giới WTO), tạo môi trường cạnh tranh khốc liệt, đòi hỏi người sản xuất phải cải tiến quy trình, mẫu mã, xây dựng thương hiệu sản phẩm, đẩy mạnh xúc tiến thương mại…nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm, có như vậy mới mong đem lại hiệu quả cao cho sản xuất
Trang 22 Những mặt hạn chế của kinh tế thị trường:
- Do thông tin thị trường không đầy đủ, một bộ phận nông dân chưa tiếp cận được nên sản xuất một số cây trồng, vật nuôi còn theo “phong trào” dễ dẫn đến dư thừa, “được mùa, dội chợ, mất giá”
- Gia tăng tích tụ đất đai, phân hóa giàu nghèo trong nông thôn sẽ tăng mạnh hơn, tình hình lao động thiếu việc làm sẽ gay gắt hơn, xuất hiện tình trạng kinh doanh cạnh tranh thiếu lành mạnh (hạ cấp nông sản, ép giá) gây thiệt hại cho nông dân khi thị trường cung vượt cầu…
III.6.2 Ảnh hưởng của thị trường nông sản xuất khẩu
Ảnh hưởng tích cực:
- Sản phẩm xuất khẩu của Vĩnh Long chính ngạch chủ yếu gồm có: gạo, hàng thủy sản đông lạnh, trứng vịt muối, than gáo dừa, nấm rơm chế biến,… Thông qua hoạt động của xuất khẩu hàng nông sản đã thúc đẩy sản xuất nông nghiệp phát triển
- Năm 2000 xuất khẩu: 309.019 tấn gạo, năm 2005 là 537.262 tấn, năm 2009 xuất 421.024 tấn, khuyến khích nông dân tăng vụ lúa (2,75 - 2,78 lần/năm) đưa sản lượng lúa lên cao 973.017 tấn (năm 2005) và năm 2010 là 928.972 tấn Đồng thời hệ thống xay xát
đã được đổi mới công nghệ và thiết bị ngày một tốt hơn, đưa các giống lúa đạt tiêu chuẩn xuất khẩu có chất lượng cao vào trồng và chế biến xuất khẩu
- Nông sản xuất khẩu tiểu ngạch, mà thị trường chủ yếu hiện nay là Trung Quốc với các mặt hàng rau quả: nhãn, xoài, chôm chôm,… và đậu nành cũng có tác động gia tăng diện tích các loại cây trồng trên và hình thành dịch vụ thu mua, phân loại, đóng gói,
sơ chế và vận chuyển sản phẩm
Những mặt hạn chế:
Rõ nhất là thị trường gạo, khi thị trường nhập khẩu thế giới giảm và bị thu hẹp, giá gạo xuống thấp sẽ làm người nông dân trồng lúa gặp không ít khó khăn, mặc dù Nhà nước đã tập trung hỗ trợ Tương tự như một số mặt hàng rau quả xuất khẩu qua Trung Quốc lúc ít hàng thì giá tăng, khi hàng nhiều thì giá giảm đột ngột, gây không ít thiệt hại cho người sản xuất và người kinh doanh xuất khẩu
Tóm lại, sản xuất nông nghiệp hàng hóa theo cơ chế thị trường đã tác động mạnh
mẽ đến việc hình thành và phát triển cơ cấu nông sản hàng hóa Chúng ta phải đầu tư đổi mới công nghệ và thiết bị, thu thập và phân tích sâu sắc những thông tin về thị trường, lợi thế cạnh tranh của các nông sản ở thị trường trong nước và quốc tế để có phương án sản xuất kinh doanh tối ưu, hạn chế đến mức thấp nhất rủi ro do thị trường gây ra Đồng thời phải đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ dân trí và kiến thức khoa học, mạnh dạn đầu tư công nghệ mới, đa dạng hóa sản phẩm, để sản phẩm hàng hóa có tính cạnh tranh cao, chủ động hội nhập vào kinh tế thị trường
IV ĐÁNH GIÁ CHUNG
IV.1 Những lợi thế và cơ hội
Những Lợi thế:
- Vĩnh Long nằm ở vùng giữa châu thổ Đồng bằng sông Cửu Long rất phù hợp cho phát triển nông nghiệp hàng hóa theo cơ chế thị trường
Trang 23- Tài nguyên thiên nhiên và điều kiện tự nhiên ở Vĩnh Long (đất, nước, chế độ thủy văn, khí hậu, sinh vật,…) có nhiều thuận lợi, nên việc đưa khoa học - công nghệ mới vào sản xuất, nhất là công nghệ sinh học sẽ có tác động một cách sâu rộng đến sản xuất nông nghiệp, có đủ điều kiện phát triển một nền nông nghiệp đa canh, đa dạng hóa sản phẩm theo hướng thâm canh, tăng năng suất và tạo ra nhiều sản phẩm hàng hóa quanh năm, nhất là giống cây trồng, gia súc và thủy sản; thỏa mãn tốt nhu cầu của thị trường Đây là lợi thế vượt trội của Vĩnh Long so với các tỉnh vùng ĐBSCL
- Quá trình phát triển kinh tế - xã hội nói chung và sản xuất nông nghiệp nói riêng
đã giúp nông dân Vĩnh Long có nhiều kinh nghiệm trong sản xuất lúa gạo và phát triển sản xuất cây ăn trái, tiếp thu ứng dụng sáng tạo tiến bộ kỹ thuật vào nông nghiệp, đã tạo
ra các cây trồng đặc sản truyền thống nổi tiếng: bưởi Năm roi, cam sành, quýt đường, khoai lang, xoài cát, măng cụt, bòn bon,… được coi là tài sản quý hiếm trong nhân giống cũng như tạo ra các nông sản hàng hóa đủ sức cạnh tranh trên thị trường
- Cơ sở hạ tầng phục vụ sản xuất nông nghiệp (thủy lợi, giao thông, điện, cơ giới hóa nông nghiệp) đã được đầu tư khá tốt, đã và đang phát huy tác dụng Nếu tiếp tục đầu
tư hoàn chỉnh sẽ nâng cao hiệu quả trong việc tăng năng suất và chất lượng nông sản, giảm chi phí sản xuất, thúc đẩy nhanh chuyển dịch cơ cấu cây trồng - vật nuôi một cách vững chắc
- Khoa học và công nghệ mới bước đầu được ứng dụng vào thực tế sản xuất nông nghiệp đã đem lại kết quả khả quan Đã hình thành được một số vùng chuyên canh lúa, khoai lang, bưởi, cam, nhãn, rau thực phẩm… có quy mô khá lớn, với chất lượng ngày càng được cải thiện Đồng thời xuất hiện nhiều mô hình canh tác đem lại hiệu quả kinh tế cao, đây là tiền đề quan trọng cho việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi, chuyển dịch kinh tế nông nghiệp
- Nhiều năm qua, Vĩnh Long đã cố gắng trong công tác xúc tiến thương mại, xây dựng thương hiệu sản phẩm nên đã tạo cho sản xuất nông nghiệp có được những kết quả khả quan trong tiêu thụ sản phẩm và uy tín chất lượng hàng nông sản
Cơ hội:
- Sự thuận lợi về giao thông đối nội, đối ngoại, hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực là cơ hội khai thác vốn và công nghệ từ bên ngoài (nước ngoài và các vùng lân cận) Việc hoàn thành cầu Cần Thơ là cơ hội để Vĩnh Long liên kết với TP Cần Thơ bổ sung cho nhau và thúc đẩy quá trình đô thị hóa ở Vĩnh Long nhanh hơn, cùng với Cần Thơ trở thành Vùng phát triển của ĐBSCL
- Nhiều dự án lớn về hạ tầng (giao thông, bến cảng, điện đang được tiến hành đầu
tư ở ĐBSCL, Quy hoạch xây dựng vùng Đồng bằng sông Cửu Long đến 2020 và tầm nhìn 2050, Vùng trọng điểm ĐBSCL, tại các hành lang Đông - Tây của các nước GMS (Tiểu vùng Mê Công Mở rộng), Chiến lược kinh tế biển đến 2020…tất cả đang tạo ra rất nhiều cơ hội để Vĩnh Long phát triển kinh tế, trong đó có nông nghiệp
IV.2 Khó khăn và thách thức
IV.2.1 Những khó khăn đối với sản xuất nông nghiệp:
- Hiện tại đất nông nghiệp bình quân/hộ nông nghiệp là 6.570 m2, tương đương 1.400 m2/người, dân số đông và tiếp tục tăng sẽ tạo áp lực rất lớn cho ngành nông
Trang 24nghiệp, số hộ nông dân thiếu đất sẽ tiếp tục gia tăng, dẫn đến bình quân đất nông nghiệp/hộ sẽ giảm, khả năng thiếu việc làm trong nông thôn sẽ tăng Những nguyên nhân trên tất yếu sẽ làm cho bình quân thu nhập tăng chậm, nguy cơ tụt hậu về đời sống của một bộ phận dân cư nông thôn là đáng lo ngại
- Công nghiệp và dịch vụ phát triển chưa mạnh nên tác động hỗ trợ cho nông nghiệp phát triển trong mối quan hệ nông nghiệp - công nghiệp - dịch vụ chưa có sự cải thiện đáng kể, đây là một khó khăn cần được quan tâm giải quyết
- Ảnh hưởng của lũ lụt thường niên cũng là một khó khăn, bởi lũ lớn ở ĐBSCL có năm đến sớm, nước lũ lên nhanh, rút muộn, thời gian ngập lũ kéo dài ảnh hưởng đến cơ
sở hạ tầng phục vụ nông nghiệp - nông thôn Ngoài lũ lụt, những năm gần đây còn bị ảnh hưởng của triều cường và xâm nhập mặn, cũng có những năm hạn hán kéo dài
- Diễn biến phức tạp của biến đổi khí hậu và nước biển dâng đang là mối quan tâm hàng đầu cho chiến lược nghiên cứu phát triển bền vững của ngành nông nghiệp; cần tập trung nghiên cứu để đề ra kế hoạch ứng phó một cách chủ động và có hiệu quả
IV.2.2 Các thách thức đối với sản xuất nông nghiệp:
- Vĩnh Long có tỷ lệ dân cư nông thôn cao (84,6%), bình quân đất nông nghiệp thấp và đang có chiều hướng giảm, trồng trọt vẫn chiếm tỷ trọng cao trong cơ cấu kinh tế nông nghiệp và kinh tế thuần nông còn khá phổ biến Để thực hiện công nghiệp hóa - hiện đại hóa nông nghiệp - nông thôn, thì các yếu tố trên là một thách thức lớn
- Một số chỉ tiêu được coi là thành quả của nông nghiệp Vĩnh Long ở giai đoạn 2001- 2010 như: Năng suất lúa bình quân 5,465 tấn/ha (2010), hệ số quay vòng đất cây hàng năm đạt 2,78 lần/năm, nghĩa là 2 trong 3 yếu tố cơ bản tăng sản lượng hoặc giá trị sản lượng thông qua tăng năng suất và tăng vụ chỉ còn rất ít, vậy làm sao để tiếp tục phát triển sản xuất trồng trọt có hiệu quả trong thời gian tới
- Giá thành của nhiều loại nông sản như lúa, heo, trái cây… ở mức cao, những sản phẩm hàng hóa chính: trái cây, rau thực phẩm, thịt heo, gà, vịt, cá,… sẽ chịu sự cạnh tranh quyết liệt hơn của nhiều nơi khác cùng sản xuất (Đông Nam bộ) Nếu nông nghiệp Vĩnh Long không nhanh chóng ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ mới vào sản xuất để tăng năng suất, chất lượng, giảm giá thành sẽ khó cạnh tranh trên thị trường trong nước và quốc tế
Trang 25
Phần thứ hai
ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG VÀ DIỄN BIẾN SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP (2001-2010)
I ĐÁNH GIÁ TĂNG TRƯỞNG VÀ CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU
KINH TẾ NÔNG NGHIỆP
I.1 Tăng trưởng giá trị sản xuất nông nghiệp: (Bảng 6)
- Giá trị sản xuất nông nghiệp (giá cố định 1994) năm 2000 đạt 3.495.616 triệu đồng, đến năm 2005 đạt 4.505.499 triệu đồng, năm 2009 đạt 5.118.543 triệu đồng, năm
2010 đạt 5.350.586 triệu đồng, tốc độ tăng bình quân (2001-2010) là 4,35%/năm, trong
đó trồng trọt tăng 4,09%/năm, chăn nuôi tăng 5,17%/năm và dịch vụ nông nghiệp tăng 7,14%/năm Nếu tính riêng giai đoạn 2006-2010 tốc độ tăng GTSX nông nghiệp chỉ đạt 3,5%/năm (trồng trọt tăng 2,6%/năm, chăn nuôi tăng 6,86%/năm, dịch vụ nông nghiệp tăng 12,6%/năm
- Tuy nhiên, chỉ số tăng trưởng liên hòan hàng năm không ổn định, năm 2001/2000 là: 2,95%; 2006/2005 là: 3,01%, 2007/2006 giảm 0,4%; năm 2008/2007 tăng 5,39%, năm 2009/2008 tăng 5,08% và năm 2010/2009 chỉ tăng 4,53%, đây chính là biểu hiện đáng lo ngại Giải pháp tăng giá trị sản xuất bằng tăng vụ, thâm canh,… đã dần bão hòa, trong khi đó phải chịu tác động của điều kiện tự nhiên (lũ, hạn hán, sâu rầy) hoặc giá cả nông sản không ổn định ảnh hưởng đến sản xuất
I.2 Chuyển dịch cơ cấu nội bộ ngành nông nghiệp: (Bảng 7)
- Trồng trọt giữ vai trò quan trọng nhất trong ngành nông nghiệp, GTSX năm
2000 chiếm 73,47%, năm 2005 là 72,89%, năm 2010 là 69,85% so với tổng GTSX nông nghiệp; tỷ trọng trồng trọt giảm 3,62% trong vòng 10 năm từ 2000-2010
- Tỷ trọng GTSX ngành chăn nuôi hàng năm chỉ dao động từ 22 - 26,9%, cao nhất
là các năm (2008 là 26,97%) năm 2010 chỉ chiếm 25,85% Trong điều kiện đất nông nghiệp ngày càng bị thu hẹp, tăng vụ đã tới “ngưỡng” thì sự mất cân đối kéo dài giữa trồng trọt và chăn nuôi được xem là nguyên nhân làm chậm tốc độ tăng trưởng kinh tế nông nghiệp
- Dịch vụ nông nghiệp chiếm tỷ trọng 3,95% (năm 2000) xuống 3,10% (năm 2005) và 3,77 (năm 2009), năm 2010 đạt 4,3%
Dịch vụ có tỷ trọng thấp trong cơ cấu GTSX nông nghiệp cũng cho thấy nông nghiệp Vĩnh Long đang mất dần lợi thế và điều kiện được thiên nhiên ưu đãi
Có thể nói không nơi nào ở Đồng bằng sông Cửu Long có điều kiện thuận lợi như Vĩnh Long trong phát triển dịch vụ nông nghiệp, nhất là cung cấp giống cây trồng: giống cây ăn trái, giống lúa xác nhận, giống rau,…giống vật nuôi: giống heo, giống gà, vịt, thủy sản: giống cá nước ngọt cho các tỉnh Đông Nam bộ và Đồng bằng sông Cửu Long, nhất là các tỉnh vùng ngập lũ và các dịch vụ như cung ứng vật tư nông nghiệp, bảo vệ thực vật,… Đây là tiềm năng khá lớn cần được tận dụng khai thác; nhưng phải trên quan điểm xã hội hóa công tác giống và trên cơ sở Nhà nước tạo giống đầu dòng, giống nguyên chủng, giống gốc (bố mẹ)
Trang 26I.3 Cơ cấu giá trị sản xuất ngành trồng trọt:
- Khai thác tổng hợp tài nguyên thiên nhiên trong kinh tế thị trường thì Vĩnh Long
có ưu thế nhất so với các tỉnh ĐBSCL về đa dạng hóa cây trồng Song trên thực tế, lúa nước luôn chiếm vị trí số một, năm 2000 chiếm 58,43% GTSX ngành trồng trọt, đến năm
2005 còn 49,3%, đến năm 2009 là: 48,91%, năm 2010 đạt 45,32% Tuy nhiên, từ năm
2006 khi khả năng xuất khẩu gạo được khơi dậy thì giá lúa đã tăng lên, hiện nay >5.000 đồng/kg, người nông dân đã phần nào yên tâm hơn Đây cũng chính là lý do tại sao quá trình giảm diện tích lúa vụ 3 (Thu Đông), thực hiện luân canh tăng diện tích màu đang bị chậm lại
- Sau lúa phải kể đến cây ăn trái, chiếm tỷ trọng đáng kể trong trồng trọt (theo giá HH), nếu năm 2000 chiếm 27,70% và năm 2005 tăng lên 33,86%, năm 2009 chỉ còn 27,1%, năm 2010 đạt 28,14% Tổng GTSX cây ăn quả năm 2010 đạt 2.611.036 triệu đồng, tăng 3 lần so với năm 2000 Sản lượng các loại trái cây chủ yếu năm 2005 đạt 306 ngàn tấn, năm 2009 là 355 ngàn tấn, năm 2010 tăng lên 412 ngàn tấn
Trong 2-3 năm gần đây do giá cả trái cây không ổn định và ở mức thấp, dịch bệnh vàng lá trên cây có múi vẫn chưa khắc phục một cách có hiệu quả, trong khi đó giá lúa tương đối ổn định, năm 2008 trên toàn tỉnh đã có 272 ha vườn kém hiệu quả được chuyển sang trồng lúa
Tuy nhiên, thực tế sản xuất nhiều năm cho thấy cây ăn trái cho giá trị sản lượng cao, đặc biệt một số cây ăn trái nổi tiếng của Vĩnh Long như bưởi Năm Roi, cam sành,… cộng với điều kiện tự nhiên cho phép điều khiển cho thu hoạch trái vụ Nếu nhanh chóng cải tạo vườn tạp, trồng giống chất lượng cao kết hợp thâm canh,… cây ăn trái còn đem lại giá trị cao hơn chiếm >50% giá trị sản xuất ngành trồng trọt đến năm 2015 và năm
2020 Đây là một kỳ vọng trong chuyển đổi cơ cấu cây trồng, đẩy nhanh tăng trưởng sản xuất trồng trọt, đem lại thu nhập cao cho người sản xuất
- Cây rau, đậu thực phẩm đã có sự phát triển, GTSX năm 2010 chiếm 14,3%, cao hơn năm 2000 là 9,6%, cây công nghiệp ngắn ngày chiếm tỷ trọng rất nhỏ (1,3%)
Tiềm năng luân canh cây màu trên đất lúa là khá lớn, song những năm qua chưa thực hiện được nhiều, đặc biệt là có ít tiến bộ kỹ thuật về giống đậu nành, đậu đỗ, rau các loại Nguyên nhân chính do thiếu thị trường nên phát triển không ổn định, cần sớm có tác động đồng bộ từ xây dựng cơ bản (thủy lợi) đến giống và kỹ thuật canh tác cũng như bảo quản chế biến đối với các loại cây như: rau, khoai lang, bắp, đậu nành,… đưa tỷ trọng cây màu lên khoảng 16 - 17% trong tổng giá trị sản xuất ngành trồng trọt
I.4 Cơ cấu giá trị sản xuất ngành chăn nuôi:
Ngành chăn nuôi đã có những cố gắng lớn, trong điều kiện dịch bệnh diễn ra liên tục cả gia súc và gia cầm, trong đó dịch cúm gia cầm là có tác hại nhiều nhất, kế đến là heo tai xanh, lở mồm long móng ở gia súc Dịch bệnh không những ảnh hưởng đến phát triển quy mô đàn, mà còn gây ảnh hưởng đến tâm lý người tiêu dùng, lo ngại lây lan dịch bệnh từ gia súc gia cầm sang người Vì vậy, trong những năm qua tình hình sản xuất ngành chăn nuôi đã gặp nhiều khó khăn, nhiều biến động về quy mô đàn và chất lượng đàn Đến nay, về cơ bản đàn gia súc gia cầm đã phát triển trở lại, tuy nhiên cũng hết sức
đề phòng tái phát dịch bệnh
Trang 27Cơ cấu giá trị sản xuất nội bộ ngành chăn nuôi thiếu ổn định giữa gia súc - gia
cầm và vật nuôi khác, tính theo giá hiện hành (Đơn vị tính: %)
Gia súc 55,54 69,73 69,04 72,38 68,47 61,69 Gia cầm
CN khác và không giết mổ
21,90 21,07
13,43 14,68
17,01 11,75
16,35 9,79
18,80 11,16
24,92 13,39 Giá trị sản xuất (giá 1994) ngành chăn nuôi giai đoạn 2001-2005 chỉ tăng 3,51%/năm, trong đó gia súc tăng 7,96%, gia cầm giảm -4,1%/năm; giai đoạn 2006-2010 tăng 6,86%/năm, trong đó gia súc tăng 5,34%/năm, gia cầm tăng 14,60%/năm Dịch cúm gia cầm H5N1 (2003-2006) và bệnh lở mồm long móng (2008-2009) đã gây ảnh hưởng lớn đến sự phát triển của ngành chăn nuôi, cả đầu vào và đầu ra cho sản phẩm thiếu ổn định Đầu vào do chi phí cao (giống, thức ăn, thuốc thú y), trong khi đầu ra thấp và chỉ
có thị trường trong nước là chính Vấn đề cần tháo gỡ để chuyển đổi cơ cấu giá trị sản xuất chăn nuôi là tập trung phát triển nuôi heo nạc hóa 3 máu ngoại, bò chuyên thịt, vịt chuyên trứng,… là sản phẩm có thị trường tiêu thụ khá ổn định
Tóm lại, giá trị sản xuất nông nghiệp, đều có xu thế tăng về giá trị; trong đó tốc độ tăng cao là cây ăn trái, rau đậu thực phẩm Song cơ cấu giá trị sản xuất nông nghiệp còn mất cân đối và chậm chuyển đổi, chưa tận dụng tốt các cơ hội và khai thác tối ưu các tiềm năng, trong trồng trọt chỉ có cây ăn trái và lúa đang có sự hoán đổi diện tích và tỷ trọng giá trị sản xuất cho nhau Do vậy, chiến lược chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp phải được xem là việc làm cấp thiết và không thể thiếu trong phát triển nông nghiệp giai đoạn 2011 - 2020 và tầm nhìn 2030
Các nguyên nhân chủ yếu dẫn đến cơ cấu nông nghiệp chuyển đổi chậm và thiếu cân đối gồm có:
- Quan niệm của các nhà quản lý và người nông dân luôn tập trung làm tốt việc sản xuất lúa-gạo nhằm đảm bảo an ninh lương thực quốc gia và xuất khẩu gạo
- Đầu tư cho nông nghiệp nói chung, đặc biệt là đầu tư cho hoạt động khoa học -
kỹ thuật cũng như xúc tiến thương mại nói riêng, chưa chú trọng đến phát triển chăn nuôi, cụ thể hơn là cho nuôi bò, heo, gà, dịch vụ giống,… trong trồng trọt chưa đầu tư hợp lý cho rau, màu và cây công nghiệp ngắn ngày nên sản phẩm ở các lĩnh vực này chất lượng còn thấp, giá thành cao, thiếu thị trường, sức cạnh tranh của sản phẩm bị hạn chế
- Các biện pháp khuyến khích, phát triển công nghiệp chế biến, dịch vụ nông nghiệp có phần chưa được sát hợp với thực tế, rất cần được điều chỉnh
- Lợi nhuận và thu nhập từ chăn nuôi, dịch vụ,… đem lại thấp, nên ít tạo ra động lực cho lĩnh vực này phát triển
II HIỆN TRẠNG SẢN XUẤT NGÀNH NÔNG NGHIỆP
Thực hiện kế hoạch 5 năm 2006-2010 về sản xuất nông nghiệp trong bối cảnh kinh tế thế giới bất lợi, tình hình suy thoái kinh tế lan rộng ảnh hưởng trực tiếp đến kinh
tế Việt Nam trong đó có Vĩnh Long Giá cả vật tư nông nghiệp tăng (xăng dầu, phân bón,
Trang 28thuốc trừ sâu, thức ăn gia súc…), trong khi giá cả nông sản tăng giảm không ổn định; dịch bệnh liên tục xẩy ra đối với cây trồng và vật nuôi
Tuy nhiên, được sự lãnh đạo và chỉ đạo chặt chẽ của Tỉnh ủy và UBND tỉnh, sự
hỗ trợ của các ban ngành cùng sự phấn đấu cao của nông dân trong tỉnh nên sản xuất nông nghiệp vẫn đạt những kết quả khả quan Tốc độ tăng GTSX nông lâm nghiệp thủy sản là 5,31%/năm, trong đó nông nghiệp tăng 3,5%/năm, thủy sản tăng 29,24%/năm
II.1 Hiện trạng sản xuất trồng trọt: (Bảng 8,9)
Qua 5 năm thực hiện các mục tiêu của Đại hội Đảng bộ tỉnh khóa VIII nhiệm kỳ (2005-2010), Đảng bộ, Chính quyền và nhân dân tỉnh Vĩnh Long đã cố gắng phấn đấu liên tục và đạt được những thành tựu đáng ghi nhận Các chỉ tiêu diện tích, năng suất, sản lượng cây trồng xếp ở mức cao so với cả nước và Đồng bằng sông Cửu Long
- Cây lúa:
Diện tích gieo trồng lúa cả năm 2010 là 169.980 ha, bình quân 5 năm 2005-2010 giảm 3,5%/năm Tuy nhiên do tăng năng suất lúa hàng năm 2,67%/năm nên sản lượng lúa chỉ giảm 0,92%/năm; tổng sản lượng lúa dao động khoảng 900.000 tấn/năm; năm
2010 sản lượng lúa đạt 928.972 tấn, năng suất bình quân đạt 5,47 tấn/ha gieo trồng, đặc biệt 4 năm liên tiếp từ 2007-2010 năng suất lúa luôn đạt trên 5 tấn/ha gieo trồng, trong
đó lúa Đông xuân luôn vượt mức 6 tấn/ha, riêng năm 2010 đạt 6,78 tấn/ha cao nhất từ trước đến nay
Ngành nông nghiệp & PTNT đã kết hợp với chính quyền địa phương các cấp làm tốt công tác tuyên truyền vận động nông dân xuống giống tập trung đồng loạt theo thời
vụ để né rầy, kiểm soát chặt chẽ diễn biến rầy nâu, bệnh vàng lùn, lùn xoắn lá; ứng dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất: ứng dụng nhiều giống lúa mới có năng suất chất lượng cao, biện pháp phòng trừ sâu bệnh tổng hợp (IPM), 3 giảm 3 tăng
- Cây ăn trái:
Diện tích cây ăn trái năm 2005 có 36.356 ha, năm 2009 là 38.601 ha, năm 2010 đạt 38.972 ha; đứng thứ 2 so với ĐBSCL và đứng thứ 4 cả nước (sau Tiền Giang, Đồng Nai và Bắc Giang); các loại trái cây như nhãn, bưởi, cam sành xếp vào nhóm các tỉnh có diện tích, năng suất và sản lượng lớn Tổng sản lượng trái cây chủ yếu năm 2005 đạt 306 ngàn tấn, năm 2010 đạt 412 ngàn tấn, năng suất bình quân 13,76 tấn/ha (tính trên diện tích cây cho sản phẩm); tốc độ tăng sản phẩm cây ăn trái 6,1%/năm giai đoạn 2006-2010
Năm 2008 bưởi Năm Roi Mỹ Hòa được tổ chức SGS chứng nhận là sản phẩm đạt tiêu chuẩn Globalgap và HTX bưởi Năm roi Mỹ Hòa được ghi tên vào danh sách các HTX theo tiêu chuẩn nổi tiếng toàn cầu tại Việt Nam Hiện nay ngoài HTX Mỹ Hòa, có thêm một công ty The Fruit Republic LTD đầu tư hỗ trợ cho nông dân với diện tích khoảng 18 ha làm theo tiêu chuẩn Globalgap, hướng tới mở rộng hơn 100 ha bưởi Năm Roi của xã Mỹ hòa và vùng lân cận
Trong những năm qua, ngành nông nghiệp và PTNT tỉnh đã thực hiện dự án hỗ trợ giống sạch bệnh và chuyển giao kỹ thuật để khắc phục bệnh vàng lá trên cam sành tại huyện Tam Bình và Trà Ôn Tuy nhiên kết quả còn hạn chế, nguyên nhân do nguồn bệnh lưu tồn quá lớn, chi phí đầu tư cao nên khó phát triển Chi cục BVTV đang tích cực xác định nguyên nhân gây hại và đề xuất các biện pháp phòng trị cho loại bệnh này
Trang 29- Rau màu và cây công nghiệp ngắn ngày:
Diện tích luân canh lúa - màu chiếm tỷ lệ thấp, tính đến năm 2010 diện tích luân canh chỉ khoảng 10.500-11.000 ha/năm; tập trung chủ yếu các xã phía Bắc QL IA thuộc huyện Bình Tân, dọc tuyến sông Mang Thít thuộc huyện Tam Bình, cặp tuyến sông Tiền thuộc huyện Long Hồ, Mang Thít Toàn tỉnh đến nay có 4 HTX sản xuất rau an toàn, tiến tới hình thành vùng sản xuất tập trung
Năng suất cây trồng cao: Lúa 5,465 tấn/ha/vụ, đậu nành 2,5 tấn/ha (cả nước 1,3 tấn/ha), khoai lang 29,2 tấn/ha/vụ (cả nước 6,7 tấn/ha), cam sành 11,0 tấn/ha (cả nước 6 tấn/ha), bưởi 12,8 tấn/ha (năm 2010),… Trong cơ chế thị trường khi có một cây trồng có năng suất, chất lượng cao, sản lượng lớn và nếu có thêm giá thành thấp thì sản phẩm ấy
có thể tăng sức cạnh tranh và kiểm soát cung - cầu trên thị trường Tuy nhiên trên thực tế Vĩnh Long vẫn chưa phát huy được lợi thế này
II.1.1 Đánh giá về tăng vụ, đa dạng hóa cây trồng:
Nhờ có hệ thống thủy lợi tương đối hoàn chỉnh, bộ giống cây ngắn ngày phong phú, nguồn lao động sống dồi dào,… nên Vĩnh Long đạt chỉ số tăng vụ cao nhất so với
cả nước và ĐBSCL (Vĩnh Long đạt 2,78 lần/năm ở đất lúa), xét về thời gian sử dụng tài nguyên thì mang tính tích cực
Đa dạng hóa cây trồng còn thấp và có xu thế tăng chậm, cụ thể là:
- Tỷ lệ đất luân canh lúa - cây trồng cạn năm 2000 là: 6,28% so với diện tích canh tác lúa và đến năm 2005 đạt 9,58%, năm 2010 đạt 14,6%
- Diện tích gieo trồng năm 2000 là 221.976 ha, trong đó lúa là 208.671; diện tích cây ngắn ngày (ngoài lúa) là: 11.866 ha, chiếm 5,34% và năm 2005 tổng diện tích gieo trồng là 223.330 ha, trong đó lúa là: 203.084 ha, cây ngắn ngày (ngoài lúa) là 20.246 ha (chiếm 9,1%), năm 2010 tổng DTGT: 204.587 ha, trong đó lúa là 169.979 ha, cây ngắn ngày ngoài lúa 34.608 ha (chiếm 16,9%)
Mục tiêu lâu dài ở Đồng bằng sông Cửu Long theo các nhà khoa học thì tỷ lệ đa dạng hóa thích hợp cho các tỉnh ven sông Tiền và sông Hậu là khoảng 25% diện tích
II.1.2 Tăng diện tích, năng suất và sản lượng cây trồng:
Cây hàng năm:
- Con đường tăng sản lượng cây trồng (nhất là sản lượng lúa) thông qua tăng diện tích gieo trồng ở Vĩnh Long làm khá tốt trong giai đoạn trước năm 2000 Tuy nhiên hiện nay giải pháp này không còn phù hợp nữa, bởi diện tích quay vòng đất lúa đã lên tới 2,78 lần/năm Trong 10 năm từ 2000 đến năm 2010 diện tích gieo trồng lúa dao động trong khỏang 170 đến 200 ngàn ha và có chiều hướng giảm, sản lượng lúa dao động từ 910.000 tấn đến 930.000 tấn/năm, năm 2010 diện tích gieo trồng lúa 169.979 ha, sản lượng đạt
928.972 tấn
- Thâm canh tăng năng suất để tăng sản lượng cây trồng là hướng đi đúng đắn của sản xuất nông nghiệp hiện đại So sánh năng suất một số cây trồng chính ở Vĩnh Long cho thấy năng suất lúa chỉ dao động từ 4,51 tấn/ha/vụ năm 2000 tăng lên 4,79 tấn/ha/vụ (năm 2005) và lên 5,47 tấn/ ha/vụ (năm 2010), bình quân tăng 1,94%/năm
Trang 30Do vậy, con đường độc canh lúa để tăng sản lượng và tăng giá trị sản lượng lúa là không thể được, bởi nếu thâm canh bằng đầu tư, giá thành lúa sẽ cao, sức cạnh tranh kém, lãi và thu nhập sẽ giảm Nên để sản xuất có hiệu quả phải đi bằng con đường đầu tư
kỹ thuật, tăng nhẹ năng suất, tăng mạnh chất lượng và giảm chi phí
- Các cây trồng ngắn ngày còn lại có trong giai đoạn 2001-2010, chỉ tiêu năng suất đều tăng, trong đó năng suất bắp tăng 1,55%/năm, khoai lang tăng 6,2%/năm, đậu nành giảm - 1,62%/năm, đậu phộng tăng 4,2%/năm, rau tăng 1,27%/năm, đậu đỗ tăng 3,1%/năm, cây cói có sự phát triển tốt (năm 2008, 2009, 2010 đạt 9,65 tấn/ ha)… Điều đáng lưu ý, ngoài một số cây có năng suất cao như khoai lang, đậu nành, rau vẫn còn một
số cây đạt năng suất thấp và mức tăng năng suất thấp như bắp năng suất 2,08 tấn/ha, Điều này phản ánh mức thâm canh chưa toàn diện, độ đồng đều về năng suất giữa các hộ nông dân còn khoảng cách khá xa (khoảng 15% nông hộ có năng suất dưới mức trung bình) cần phải khắc phục
Việc giảm sản lượng mía, khoai mỳ, đậu phộng là hoàn toàn phù hợp cả về sinh thái và kinh tế Đối với cây đậu nành cần xem xét để phát triển luân canh trên đất lúa, nhằm thay thế hàng nhập khẩu (Việt Nam phải nhập 150.000 - 200.000 tấn/năm)
Cây lâu năm:
- Cây công nghiệp: cây CN lâu năm chủ yếu là dừa, do thị trường không được mở rộng, nên diện tích chỉ tăng nhẹ và dao động từ 6.500-7395 ha, năng suất thấp, nên sản lượng giảm 2,15%/năm, giai đoạn 2011-2020 chỉ duy trì diện tích hiện có không mở rộng thêm diện tích dừa
- Cây ăn trái một thế mạnh của nông nghiệp Vĩnh Long đã và đang vươn lên khá mạnh, diện tích trồng cây ăn trái tăng bình quân 5,8%/năm, diện tích sau 10 năm (2000-2010) tăng +16.791 ha, trong đó (2001-2005) tăng 10,43%/năm, giai đoạn 2006-2010 chỉ tăng 1,38%/năm; sản lượng trái cây năm 2010 đạt 412.200 tấn
Tuy nhiên trong những năm gần đây do vấn đề sâu bệnh diễn biến phức tạp, giá cả trái cây ở mức thấp trong khi giá lúa tương đối thuận lợi nên việc chuyển đổi trồng cây
ăn trái có chựng lại Trong 7 cây chính có 2 cây đặc sản truyền thống, nổi tiếng là bưởi 7.847 ha và cam sành 7.058 ha (2010), nhưng cây có diện tích lớn nhất lại là nhãn: 9.840
ha (chiếm 25% tổng diện tích cây ăn trái) và sản lượng đạt: 100.500 tấn (chiếm 24% sản lượng cây ăn trái)
Tốc độ tăng diện tích hai cây đặc sản là: Cam tăng bình quân 4,5%/năm và sản lượng tăng 9,1%/năm; bưởi diện tích tăng 21,65%/năm, sản lương tăng 26,3%/năm Hai loại cây sầu riêng và xoài cũng có tốc độ tăng diện tích và sản lượng ở mức cao, diện tích sầu riêng tăng bình quân: 16,4%/năm, sản lượng tăng 21,6%/năm và xoài diện tích tăng bình quân: 6,86%/năm và sản lượng tăng 13,9%/năm Hai cây nhãn và chôm chôm diện tích tăng chậm, quýt diện tích giảm do ảnh hưởng của sâu bệnh, đang từng bước khôi phục
Phong trào lên vườn trồng cây ăn trái, cải tạo vườn tạp thành vườn chuyên thực hiện khá tốt về số lượng, tuy nhiên quá trình thực hiện còn một số tồn tại:
+ Giống cây ăn trái chất lượng chưa cao chiếm 30% diện tích (nhiễm bệnh, thoái hóa, sinh trưởng chậm,…)
Trang 31+ Một số diện tích vườn sau cải tạo thiếu đầu tư chăm sóc, nhất là vườn ở sâu trong nội đồng (thiếu phân bón, nước tưới, chưa thường xuyên tạo tán, đánh nhánh, tỉa cành, cỏ dại tranh chấp dinh dưỡng và ánh sáng với cây ăn trái)
+ Diện tích vườn đã kép kín bờ bao, cống bộng chủ động kiểm soát lũ và ngập úng trong mùa lũ là 29.363 ha chiếm khoảng 68,1% tổng diện tích cây lâu năm, còn 31,9% diện tích cần phải khép kín bờ bao
+ Sản phẩm của cùng một loại cây ăn trái song lại quá khác biệt về kích thước, màu sắc và chất lượng, đây là điều hạn chế của sản phẩm hàng hóa khi đưa ra thị trường
+ Nhãn trồng thuần quá nhiều và phát triển mạnh ở các xã cù lao, nhất là ở 4 xã cù lao thuộc huyện Long Hồ, cần xem xét để thực hiện phương án đa canh có hiệu quả cao
và ít rủi ro hơn, bởi sinh thái cù lao rất thích hợp với, bòn bon, bưởi, là đối tượng cây trồng có sản phẩm đang được thị trường tiêu thụ mạnh (riêng cù lao Quới Thiện - Thanh Bình thích hợp với cây măng cụt); thêm vào đó cù lao được chọn bố trí mô hình du lịch sinh thái, cần có tính đa dạng sinh học cao, lại chưa được trồng như các tỉnh khác đã làm (cù lao Thái Sơn - Ngũ Hiệp - Tân Long) thuộc tỉnh Tiền Giang…
II.2 Đánh giá hiện trạng sản xuất ngành chăn nuôi:
II.2.1 Đánh giá về quy mô đàn giai đoạn 2001- 2010: (Bảng 10,11)
- Quy mô đàn trâu giảm rất nhanh, từ 479 con (năm 2000) giảm chỉ còn 186 con (năm 2005), đến năm 2010 tăng lên 319 con, giảm tuyệt đối 172 con, do cơ giới hóa khâu làm đất đã thay thế sức kéo của trâu
- Đàn bò tăng rất nhanh bình quân (2001-2010) là: 16,97%/năm, từ 14.029 con năm 2000 tăng lên 45.306 con năm 2005, năm 2010 tăng lên 67.243 con (tính cả bê 0-6 tháng); Nếu không tính bê 0-6 tháng, đàn bò chỉ có 53.350 con Tuy nhiên quy mô đàn
bò sẽ tăng chậm lại do khả năng trồng cỏ và cơ sở chuồng trại có giới hạn, ảnh hưởng của quá trình đô thị hóa và phát triển các khu và cụm công nghiệp, giảm đất nông nghiệp
- Đàn heo tăng chậm, ổn định đạt mức trung bình (3,7%/năm) từ 245.747 con năm
2000 lên 353.196 con năm 2010 (tăng tuyệt đối 107.450 con)
- Đàn gia cầm (gà và vịt) giảm -0,46%/năm, đến năm 2010 đàn gà là: 2,62 triệu con và vịt là: 2,09 triệu con Đàn gia cầm phát triển chậm và có phần giảm do ảnh hưởng nặng của dịch cúm gia cầm H5N1 hoành hành trong những năm qua, mà hầu như chưa
có biện pháp hữu hiệu phòng trị
- Trong những năm gần đây, con dê đã được một số hộ nông dân Vĩnh Long đưa vào nuôi nhằm tận dụng đất vườn cây ăn quả, lao động nông nhàn và phụ phẩm nông nghiệp có sẵn Với kỹ thuật chăn nuôi tương đối dễ, dê ít bị bệnh, giá dê cái giống tăng trong khi giá thịt dê ổn định, dễ tiêu thụ và hiệu quả kinh tế cao, nên phong trào chăn nuôi dê hiện đang phát triển trên địa bàn tỉnh (huyện Bình Minh, Tam Bình, Trà Ôn và Vũng Liêm) Đàn dê năm 2010 có khoảng 6.500 con, đang góp phần cho các hộ chăn nuôi có thêm thu nhập
Tóm lại, đàn heo, bò tăng là hợp lý, đàn gia cầm giảm vì nguyên nhân dịch bệnh
và một phần do sự phát triển mở rộng các khu dân cư, các khu đô thị hóa, công nghiệp
Trang 32nên việc mở rộng nuôi gia cầm còn cần phải tính toán kỹ về ô nhiễm môi trường; riêng đàn trâu giảm là hợp quy luật
II.2.2 Đánh giá về chất lượng đàn:
- Từ năm 2002, tỉnh đã đầu tư xây dựng mô hình nuôi bò cái lai Sind và triển khai chương trình Sind hóa đàn bò, đến nay đã nâng tỷ lệ đàn bò lai Sind lên khoảng 34% Nhìn chung, tỷ lệ đàn bò lai Sind ở Vĩnh Long còn thấp so với các tỉnh trong vùng và tốc độ Sind hóa đàn bò còn chậm, nguyên nhân do thiếu vốn mua bò giống, giá liều tinh cao, tỷ lệ đậu thai thấp, sự hiểu biết về thụ tinh nhân tạo của người chăn nuôi còn hạn chế
- Thông qua Chương trình nạc hóa đàn heo, hiện nay chất lượng đàn heo của Vĩnh Long được xếp vào một trong những tỉnh đứng đầu vùng ĐBSCL Đàn heo nội đến nay chỉ còn khoảng 4-5%; trong đó, các huyện Trà Ôn, Tam Bình, Vũng Liêm, Long Hồ hầu như các hộ nông dân không còn nuôi heo nội Thay vào đó là các giống heo ngoại (chiếm 30% tổng đàn) và giống heo lai 2 - 3 máu ngoại (chiếm 66% tổng đàn) Các giống heo ngoại chủ yếu hiện nay ở Vĩnh Long là: Yorkshire, Landrace, Duroc và Pietrian; những giống thường sử dụng làm dòng cái là Yorkshire và Landrace, còn ở dòng đực là Yorkshire, Duroc và Pietrian để tạo các con lai nuôi thương phẩm 2 - 3 máu ngoại
- Đối với chăn nuôi gia cầm, trong những năm gần đây chất lượng đàn gia cầm đã được cải thiện rõ rệt:
Đàn gà công nghiệp lông trắng chiếm 24,50% tổng đàn (chủ yếu là các giống
gà chuyên trứng thương phẩm) và đàn gà thả vườn giống nhập nội lông màu (Lương Phượng, Tam Hoàng,…) chiếm 29,3%; đàn gà giống địa phương (gà Ta, gà Tàu vàng, gà Tre, gà Ác) chiếm 46,2% và hầu hết được nuôi nhỏ lẻ trong nông hộ theo phương thức quảng canh
Trong các giống vịt đang nuôi thì giống vịt Tàu địa phương nuôi chuyên trứng thương phẩm và nuôi thịt chạy đồng chiếm tỷ lệ cao nhất: 53% tổng đàn Vịt siêu trứng, siêu thịt nuôi với tỷ lệ khá: 32,5% tổng đàn, và nhóm giống vịt lai nuôi lấy thịt trứng chỉ chiếm 14,5% tổng đàn Trong nhóm vịt thịt thì vịt siêu thịt được nuôi nhiều nhất; kế đến là nhóm giống vịt Anh Đào, thấp nhất là nhóm vịt lai cho thịt Vịt xiêm cũng được nuôi phổ biến và phát triển tốt ở Vĩnh Long, số liệu ước tính cho thấy vịt xiêm địa phương vẫn có tỷ lệ cao nhất, kế đến là giống vịt xiêm lai với ngan Pháp
II.2.3 Đánh giá về phương thức chăn nuôi theo hướng sản xuất hàng hóa:
Hiện nay, ở Vĩnh Long đang tồn tại 3 phương thức chăn nuôi: (1) Phương thức chăn nuôi quảng canh, tận dụng trong nông hộ với quy mô nhỏ, (2) Phương thức chăn nuôi bán công nghiệp quy mô vừa và (3) Phương thức chăn nuôi công nghiệp quy mô lớn, tập trung Ngoài ra, do điều kiện sinh thái đặc thù của vùng châu thổ hạ lưu (sản xuất lúa, hệ thống sông kênh rạch chằng chịt,…), phương thức nuôi vịt chạy đồng đã trở thành một
“nghề” của nông dân Vĩnh Long
1 Phương thức chăn nuôi quảng canh trong nông hộ quy mô nhỏ:
Đây là hình thức chăn nuôi có từ lâu đời với mục đích tự cung tự cấp, đặc trưng của phương thức chăn nuôi này là đầu tư vốn và kỹ thuật chăn nuôi thấp, phổ biến đối
Trang 33với trâu bò chăn thả tự do, heo nuôi trong chuồng giản đơn với nguồn thức ăn tận dụng
và gà vịt nuôi thả rông, tự tìm kiếm thức ăn tự nhiên là chính,… Vật nuôi dễ mắc bệnh
và lây lan mạnh khó kiểm soát mỗi khi có dịch, năng suất vật nuôi thấp, sản phẩm hàng hóa và hiệu quả kinh tế không cao; song, phương thức chăn nuôi này lại dễ thực hiện, phù hợp khả năng vốn đầu tư và kinh nghiệm, trình độ chăn nuôi của một bộ phận không nhỏ các hộ gia đình nông thôn và sản phẩm của gia súc gia cầm chăn nuôi theo phương thức này lại được nhiều người ưa chuộng
2 Phương thức chăn nuôi bán công nghiệp:
Đây là phương thức chăn nuôi có sự kết hợp những kinh nghiệm chăn nuôi truyền thống và kỹ thuật nuôi dưỡng tiên tiến Mục đích chăn nuôi đã mang đậm tính hàng hóa Đặc trưng của phương thức chăn nuôi này là quy mô lớn hơn (đàn heo thịt 50 - 100 con, heo sinh sản 20 - 30 con, đàn gia cầm từ 200 - 500 con), chuồng trại được đầu tư và bổ sung thức ăn công nghiệp, đồng thời áp dụng các quy trình phòng bệnh, nên tỷ lệ nuôi sống và hiệu quả chăn nuôi cao, thời gian nuôi rút ngắn, vòng quay vốn nhanh hơn so với chăn nuôi nhỏ, lẻ trong nông hộ Tính đến nay Vĩnh Long có khoảng 15% số hộ chăn nuôi heo (kể cả hộ nuôi heo giống) và 18% số hộ nuôi gia cầm theo phương thức này
Mô hình chăn nuôi gà an toàn sinh học đã phát triển từ năm 2006 đến nay ở 8 huyện và thành phố trong tỉnh đạt kết quả tốt Giống gà nhận nuôi là gà Lương Phượng 1 ngày tuổi loại I từ Trung tâm nghiên cứu và chuyển giao tiến bộ kỹ thuật chăn nuôi Sau thời gian 2 tháng nuôi gà đạt: Tỷ lệ nuôi sống 95%, trọng lượng xuất chuồng lúc 2 tháng tuổi đạt 2 kg/con, tiêu tốn thức ăn 2,4 kg/kg tăng trọng Tuy nhiên do giá cả lên xuống thất thường nên lợi nhuận thu được rất khác nhau: năm 2006 là 25.000 đồng/con, năm
2007 là 11.600 đồng/con, năm 2009 chỉ còn 3.000 đồng/ con, nên người dân đầu tư
không nhiều
3 Chăn nuôi công nghiệp:
Chăn nuôi theo phương thức công nghiệp ở Vĩnh Long hình thành từ khá lâu và chủ yếu ở các trại giống Gần đây số cơ sở chăn nuôi gia công cho Công ty CP phát triển khá nhiều, chủ yếu là chăn nuôi gia cầm, chăn nuôi heo phát triển ở hầu hết các huyện và thành phố Nhìn chung, chăn nuôi theo phương thức công nghiệp đã có bước phát triển, tuy vẫn còn hạn chế cả về công nghệ và chất lượng sản phẩm Tỷ trọng sản phẩm hàng hóa chăn nuôi công nghiệp còn thấp so với tổng sản phẩm chăn nuôi
Chăn nuôi vịt chạy đồng:
Chăn nuôi vịt thả đồng (chạy đồng) là tập quán chăn nuôi truyền thống của nông dân vùng ĐBSCL nói chung và tỉnh Vĩnh Long nói riêng Phương thức chăn nuôi này không đòi hỏi sự đầu tư lớn về thức ăn và chuồng trại
Thức ăn của đàn vịt phụ thuộc chủ yếu vào nguồn thực phẩm (lúa rơi vãi sau thu hoạch, thủy sản tự nhiên,…) sẵn có trên đồng ruộng hoặc kênh rạch Mùa vụ nuôi lệ thuộc vào mùa thu hoạch lúa Ngay sau mỗi vụ gặt, người dân thả vịt trên các cánh đồng
để tận dụng nguồn thóc rơi vãi và chạy đồng từ địa phương này sang địa phương khác
Cách chăn nuôi này có hiệu quả đối với hộ nghèo vì đầu tư ít, song lại là nguy cơ tiềm tàng gieo rắc mầm bệnh trong phạm vi không gian rộng mỗi khi trong đàn có cá thể mang bệnh Hiện nay, chăn nuôi vịt chạy đồng đang là mối đe dọa sự bùng phát dịch
Trang 34cúm gia cầm tại các địa phương nếu như không có sự thay đổi căn bản phương thức sản xuất này
Chăn nuôi ở Vĩnh Long chủ yếu ở hộ gia đình, quy mô nhỏ, kỹ thuật và chuồng trại còn giản đơn, nên năng suất và chất lượng trong chăn nuôi ở mức trung bình Các kỹ thuật chăn nuôi tiên tiến chưa được áp dụng rộng rãi trong sản xuất, nên thời gian nuôi kéo dài, hệ số tiêu tốn thức ăn cao, dẫn đến giá thành sản phẩm chăn nuôi cao, lãi và thu nhập còn thấp Do vậy, để chăn nuôi trở thành ngành sản xuất hàng hóa quan trọng trong nông nghiệp cần tiếp tục đầu tư toàn diện hơn về chất lượng giống, phương thức nuôi và các biện pháp kỹ thuật và phòng chống dịch bệnh
II.2.4 Sản phẩm ngành chăn nuôi:
Cùng với tốc độ tăng quy mô đàn, sản phẩm chăn nuôi cũng tăng qua các năm và tăng nhanh hơn so với tốc độ tăng đàn do chất lượng vật nuôi được cải thiện, trình độ kỹ thuật chăn nuôi được nâng cao cùng với việc ứng dụng các tiến bộ khoa học - kỹ thuật mới vào sản xuất
- Sản lượng thịt hơi các loại năm 2010 đạt: 83.976 tấn, tăng bình quân 2001- 2010: 5,70%/năm; đặc biệt sản lượng thịt bò tăng rất cao: 19,56%/năm; song, về cơ cấu sản lượng thịt thì thịt bò mới chỉ chiếm 9,46%, thịt heo chiếm tỷ trọng cao nhất: 71,9%, kế đó thịt gia cầm đứng vị trí thứ hai: 18,6%
Sản lượng thịt tăng chủ yếu do tăng đàn (nhất là đối với đàn gia cầm), còn tăng nhờ cải tiến chất lượng giống, kỹ thuật chăn nuôi thâm canh,… vẫn còn ít, chỉ số tăng đàn heo
và sản lượng thịt heo bình quân (2001-2010) của Vĩnh Long là: 3,69/6,13, trong đó giai đoạn (2001-2005) là: 5,09/7,65 và giai đoạn 2006-2010 chỉ còn: 2,31/4,63); trong khi chỉ
số này của cả nước là: 5,28/7,45, Trung Quốc: 1,77/4,43, Philippine: 4,78/6,60,…
Sản lượng trứng gia cầm năm 2000 đạt: 211,784 triệu quả đến năm 2010: 249,689 triệu quả, tăng gấp 1,2 lần so với năm 2000; song do ảnh hưởng của dịch cúm gia cầm nên năm 2006 sản lượng trứng giảm chỉ còn: 140,962 triệu quả
Vĩnh Long là một trong những tỉnh có sản lượng thịt hơi các loại lớn nhất của vùng ĐBSCL; đặc biệt sản lượng thịt gia cầm và trứng gia cầm đứng đầu các tỉnh
Sản phẩm chăn nuôi tăng nên mức tiêu thụ các sản phẩm chăn nuôi như thịt, trứng của người dân cũng đã tăng đáng kể qua các năm Trong hơn 10 năm qua, sức tiêu thụ thịt/người/năm tăng từ 18,0kg năm 2000 lên 27,0kg vào năm 2010; tương tự, sức tiêu thụ trứng tăng từ 48 quả/năm của năm 2000 lên 75 quả/người/năm của năm 2010 Tuy vậy sức tiêu thụ này vẫn ở mức thấp so với một số nước Châu Á như Trung Quốc: 50,8 kg thịt/người, 330 quả trứng, Thái Lan: 33 kg thịt, 240 quả trứng, Malaysia: 49,7 kg thịt,…) Cân đối nhu cầu thực phẩm thịt và trứng, khả năng sản xuất của ngành chăn nuôi Vĩnh Long không những đáp ứng đủ mà còn có sản phẩm hàng hóa tham gia thị trường các tỉnh lân cận và TP Hồ Chí Minh
II.2.5 Phân tích hiệu quả chăn nuôi: (Bảng 12)
- Nuôi bò thịt: Khảo sát các hộ nuôi bò thịt cho thấy bình quân tổng chi phí nuôi
trong 12 tháng: 5,3 triệu đồng/con (kể cả mua bò giống), tổng thu 6,5 triệu đồng/con, lợi nhuận 1,2 triệu đồng/con và thu nhập 2,3 triệu đồng/con, tỷ suất lợi nhuận 15,8% Mô hình nuôi bò thịt hiện nay đang có hiệu quả kinh tế khả quan do nhu cầu tiêu thụ và giá
Trang 35thịt bò ngày càng tăng cao, nhất là sau dịch lỡ mồm long móng Trên thực tế, đa số các
hộ nông dân nuôi từ 1- 4 con và đạt hiệu quả kinh tế thấp do không có vốn mua bò giống
và đất để chăn thả hoặc trồng cỏ, các hộ nuôi từ 5 - 10 con đạt hiệu quả kinh tế cao hơn; đặc biệt, các hộ nông dân có điều kiện về vốn, trang thiết bị và đất trồng cỏ nuôi từ 10 -
30 con bò thịt kết hợp nuôi bò sinh sản đã trở nên giàu có
- Nuôi bò sinh sản: Hiện nay do giá bò giống tăng cao, các hộ chăn nuôi đang có
xu hướng nuôi bò sinh sản nhằm mục đích là bán bò giống hoặc để tăng quy mô đàn
Các cơ sở chăn nuôi bò giống có quy mô trung bình 3 bò cái/cơ sở, hạch toán chi phí sản xuất nuôi bò sinh sản trong thời gian nuôi 6 năm,cho thấy:
Tổng chi phí 62,5 triêu (trong đó giống 6 triệu/con), tổng thu 77,2 triệu đồng, lãi 14,7 triệu đồng (bình quân lãi 1 con/ năm là 820.000 đồng; tỷ suất lợi nhuận 23,6%
- Nuôi heo thịt: Trong 2 năm 2009-2010 dịch heo tai xanh xuất hiện và lây lan
mạnh trên địa bàn của 90 xã của 8 huyện, thành phố thuộc tỉnh, nên quy mô đàn giảm, sản phẩm khó tiêu thụ Đánh giá chung, chất lượng đàn heo giống ở Vĩnh Long đã được cải tạo tốt cũng như trình độ kỹ thuật chăn nuôi của người dân khá cao, giảm tiêu tốn thức ăn/kg tăng trọng, thời gian nuôi rút ngắn còn 3,5-4 tháng, mặt khác thời điểm hiện nay giá heo hơi đang có chiều hướng tăng Tuy nhiên nuôi heo thịt có mức lãi thấp; Chi phí bình quân 1 heo thịt: 3,7 triệu đồng/con, bán heo hơi với giá thời điểm điều tra là: 40.000 đồng/kg, lợi nhuận thu được: 178.000 - 180.000 đồng/con, thu nhập: 266.000 – 300.000 đồng/con, tỷ suất lợi nhuận 4,83%
- Nuôi heo sinh sản: Theo điều tra các cơ sở nuôi heo giống (tháng 10/2010), hạch
toán chi phí: Tổng chi phí 1 đời heo nái nuôi 4 năm đẻ được 6 lứa số con thu được 54 con là 51,6 triệu đồng Tổng thu bán giống và nái loại thải 65,5 triệu đồng, lợi nhuận: 14 triệu đồng, tỷ suất lợi nhuận 26,7% Tuy nhiên, khảo sát thực tế một số hộ chăn nuôi heo nái vào thời điểm (tháng 10/2010) cho thấy tuy lợi nhuận thu được khá hơn nuôi heo thịt song yêu cầu kỹ thuật và kinh nghiệm rất cao nên số hộ nuôi heo sinh sản vẫn chưa nhiều
- Nuôi gà: Nuôi gà thả vườn có hiệu quả kinh tế cao hơn nuôi gà thịt công nghiệp
do giảm được chi phí thức ăn và giá bán thịt gà thả vườn cao (lợi nhuận trên 1 đầu gà thịt nuôi thả vườn: 18.600 đồng/con so với gà thịt công nghiệp: 3.300 đồng/con); song thời gian nuôi kéo dài hơn và hệ số vòng nuôi thấp hơn (gà thịt công nghiệp hiện nay ở Vĩnh Long có hệ số quay vòng từ 3,0 – 3,5 vòng/năm) Nuôi gà đẻ cũng có hiệu quả kinh tế khá cao, lợi nhuận bình quân/10 quả trứng: 1.628 đồng, trên 1 đầu gà đẻ: 43.136 đồng/con Đây là vật nuôi có thế mạnh của Vĩnh Long; song hiện nay do tác động của dịch cúm gia cầm, sản phẩm gia cầm khó tiêu thụ nên ảnh hưởng lớn đến đời sống và thu nhập của hộ nông dân, cần sớm có giải pháp khôi phục và phát triển cũng như kiểm soát thú y chặt chẽ
- Nuôi vịt: Vịt là vật nuôi truyền thống của Vĩnh Long và mang lại hiệu quả kinh tế
cao; đồng thời cũng là nguồn thu nhập chính của nhiều hộ nông dân, nhất là hình thức nuôi vịt chạy đồng do tận dụng được nguồn thức ăn tự nhiên (tỷ suất lợi nhuận vịt chạy đồng: 43,24%, vịt đẻ: 23,3% và vịt thịt: 21,97%) Tuy nhiên, do ảnh hưởng của dịch cúm gia cầm, nhất là đàn vịt chạy đồng có thể mang virus cúm gia cầm H5N1, do đó đàn vịt chạy đồng hiện nay giảm mạnh
Trang 36- Nuôi dê: Hiện nay, nuôi dê gặp nhiều thuận lợi do giá dê cái giống tăng trong
khi giá thịt dê ổn định, dễ tiêu thụ các hộ nuôi dê đều có lãi cao, bình quân: 3,8 - 4,0 triệu đồng/con/năm; các cơ sở chăn nuôi dê bán giống cũng có lợi nhuận hàng năm khoảng 38
- 40 triệu đồng/năm Vì vậy, phong trào chăn nuôi dê hiện đang phát triển trên địa bàn
tỉnh (Bình Tân, Tam Bình, Trà Ôn, Vũng Liêm) tuy nhiên mở rộng quy mô có giới hạn
- Mô hình trồng cỏ chăn nuôi:
Trước đây, nuôi bò theo phương thức chăn nuôi quảng canh chủ yếu dựa vào cỏ tự nhiên; số lượng đàn bò còn ít, cỏ tự nhiên còn nhiều nên có thể tận dụng chăn thả hoặc cắt
về chuồng Hiện nay ở một số huyện như Vũng Liêm, Trà Ôn, Tam Bình, Mang Thít đàn
bò thịt tăng nhanh, lượng cỏ tự nhiên không đáp ứng đủ, nhất là trong mùa khô, người chăn nuôi đã phải tận dụng thêm rơm lúa và trồng cỏ để chủ động nguồn thức ăn thô xanh cho
bò Cỏ được trồng trên đất gò cao, xen trong vườn cây ăn quả, với các giống cỏ địa phương (cỏ tầm bứt, cỏ lúa ma, ), một số hộ trồng cỏ cao sản và có lên líp
Hiện nay, người chăn nuôi trồng cỏ chủ yếu để bổ sung thức ăn thô xanh cho đàn
bò của gia đình là chính, chưa có tính chất hàng hóa
II.3 Đánh giá các hoạt động dịch vụ nông nghiệp:
Trong nền kinh tế thị trường, các hoạt động dịch vụ giữ vai trò rất quan trọng, đặc biệt Vĩnh Long có nhiều lợi thế về lĩnh vực này nhưng chưa khai thác một cách có hiệu quả kinh tế cao
II.3.1 Hoạt động dịch vụ giống nông nghiệp:
Dịch vụ nông nghiệp có tỷ trọng thấp trong cơ cấu GTSX nông nghiệp và có chiều hướng giảm, năm 2000 chiếm 3,95%, 2005 chỉ còn 3,1%, năm 2010 là 4,3%
Những dịch vụ chính: bước đầu đáp ứng giống lúa và một phần giống heo, gà, vịt, riêng giống cây ăn trái làm khá tốt, vượt nhu cầu về số lượng, chất lượng ngày một nâng lên rõ rệt Hệ thống cơ giới hóa sản xuất nông nghiệp cũng phát triển mạnh, đến nay 100% khâu làm đất, 60% khâu cắt lúa đã được dùng máy, 20% sử dụng máy sấy
Về giống cây ăn trái:
Tòan tỉnh hiện có 1 trại giống quy mô 3,73 ha (xã Tân Hội, TP Vĩnh Long) và 47
cơ sở sản xuất kinh doanh giống cây ăn trái, quy mô sản xuất 1.520.000 cây/ năm, vượt nhu cầu từ 10-15% Riêng trại giống của tỉnh cung ứng 250.000 cây /năm chủ yếu là cây
Trang 37có múi sạch bệnh và một số chủng lọai khác xòai, sầu riêng, măng cụt chất lượng ngày càng tăng
Giống gia súc gia cầm:
- Giống heo: Nâng cao chất lượng, khuyến khích nuôi heo đực giống lấy tinh thay
cho gieo tinh trực tiếp, chú trọng theo hướng thịt, tránh đồng huyết để đẩy nhanh nạc hóa đàn heo Đến nay, có trên 18.000 hộ tham gia chăn nuôi heo giống, trong đó có 80 hộ nuôi heo đực giống Đến cuối năm 2010, trại heo giống tỉnh đã cung ứng 2.100 con heo giống /năm Tính đến năm 2010, thực hiện mục tiêu của chương trình giống, xã hội hóa công tác giống, toàn tỉnh đảm bảo khoảng 85% nhu cầu heo giống cho sản xuất
- Giống bò:
Có 175 hộ nuôi bò đực giống, chủ yếu nuôi bán chuyên nghiệp Để đáp ứng nhu cầu giống bò cho sản xuất từ năm 2008-2010 tỉnh đã có dự án “Cải tiến nâng cao chất lượng giống bò thịt tỉnh Vĩnh Long” với quy mô gieo tinh cho 2.347 con bò cái ở 8 huyện, thành phố trong tỉnh với giống bò Brahman, tỷ lệ đậu thai 70%, tạo ra khoảng
1630 con bê Nhìn chung dự án đã góp phần cải tạo tầm vóc giống bò địa phương, nâng cao chất lượng giống bò theo hướng thịt, phù hợp với nhu cầu thị trường Ngoài ra còn
có các dự án mô hình hỗ trợ bò giống sind (nâng tổng số bò sind hóa lên 34-35%% tổng đàn), năng lực cung cấp giống bò đảm bảo 100% nhu cầu trong tỉnh
- Giống gia cầm:
Toàn tỉnh có 84 cơ sở lò ấp trứng gia cầm, nhưng chủ yếu là ấp trứng lộn, chỉ có 1
cơ sở sản xuất giống gà, còn giống vịt chủ yếu người dân mua từ Tiền Giang Ngoài ra, Công ty cổ phần chăn nuôi C.P.Việt Nam cung cấp một lượng giống gia cầm lớn cho các trang trại và cơ sở chăn nuôi trong tỉnh Nếu tính thêm phần gia đình tự để giống thì đáp ứng 100% nhu cầu con giống phục vụ sản xuất
Giống thủy sản:
Toàn tỉnh có 475 cơ sở sản xuất và kinh doanh cá giống, cung cấp cho nhu cầu nuôi thủy sản mà chủ yếu là giống cá tra Tỉnh có 1 trại giống thủy sản, diện tích 6,8 ha (3,5 ha mặt nước) quy mô 7.000 kg cá bố mẹ, năng lực sản xuất 300 triệu cá bột và 2 triệu cá giống mỗi năm Chủng lọai cá chép, mè, rô phi… thừa gần 180 triệu con; đảm bảo 100% nhu cầu giống sản xuất trong năm
Dịch vụ về giống là một lợi thế của nông nghiệp Vĩnh Long không chỉ sản xuất đủ cho thị trường trong tỉnh mà còn cung cấp cho các tỉnh khác thuộc Đồng bằng sông Cửu Long, trước hết là giống lúa, giống cây ăn trái, giống heo, giống gia cầm,… giống thủy sản cho các địa phương vùng lũ
II.3.2 Dịch vụ thủy nông:
Mô hình hoạt động và khai thác công trình thủy nông hiện nay đang bị bỏ lõng về
tổ chức; Hệ thống thủy lợi chưa được phân cấp quản lý đến địa bàn huyện nên tuy các công trình thủy lợi đã xây dựng tương đối tốt, nhưng chưa làm tốt công tác duy tu bảo dưỡng và tái đầu tư công trình thủy nông hàng năm nên hiệu suất các công trình còn thấp
và bị xuống cấp Tuy nhiên, do nguồn vốn có hạn đầu tư còn dàn trãi cho các huyện, nên chưa có công trình nào mang tính vượt trội về hiệu quả và tầm vóc trong tương lai
Trang 38Ở một địa bàn tưới tiêu tự chảy bằng thủy triều là chính, ngoài việc đầu tư xây dựng hệ thống công trình đồng bộ (kênh, cống,…) và đầu tư hệ thống các trạm bơm điện cho các vùng gò có điều kiện tưới, còn phải được tổ chức quản lý khoa học mới đảm bảo tưới, tiêu chủ động trên toàn bộ diện tích canh tác theo thiết kế
Những thành quả phát triển nông nghiệp của Vĩnh Long trong những năm qua, nhất là giai đoạn 2001- 2010 có sự đóng góp rất hiệu quả của thủy lợi Cũng theo đánh giá, phong trào kinh tế hợp tác nơi nào thủy lợi, thủy nông hoạt động tốt nơi ấy kinh tế phát triển
II.3.3 Dịch vụ cơ giới hóa nông nghiệp:
Theo thống kê đến 2010 toàn tỉnh có 1.260 máy kéo lớn, 4.850 máy kéo nhỏ, 22.620 động cơ dầu và xăng với công suất 12 mã lực/máy, đối với khâu làm đất đảm bảo 100% cơ giới hóa Toàn tỉnh hiện nay có 510 máy gặt đập liên hợp, 119 máy gặt xếp dãy, 4.340 máy tuốt lúa đảm bảo gần 100% cơ giới hóa khâu suốt lúa Ngoài ra, có 6.500 máy bơm nước, 476 máy sấy với công suất 890 tấn/mẽ, đảm nhiệm 50% sản lượng lúa Hè Thu và Thu Đông, 890 máy phun thuốc có đông cơ phục vụ xử lý sâu rầy có hiệu quả Một số khâu cần trang bị thêm là máy gieo hạt (máy sạ hàng), trạm bơm điện,… để từng bước hiện đại hóa sản xuất nông nghiệp
II.3.4 Dịch vụ giết mổ gia súc gia cầm: (Chi tiết xem bảng 13)
Dịch vụ giết mổ gia súc gia cầm là một trong những quan tâm hàng đầu của ngành thú y vì nó liên quan đến việc quản lý và phát hiện kịp thời dịch bệnh trên gia súc gia cầm Hệ thống các lò giết mổ gia súc gia cầm trên địa bàn tỉnh đã có bước phát triển tốt về số lượng và quy mô cũng như phân bố đều khắp trên địa bàn các huyện
Tính đến cuối năm 2010, toàn tỉnh có 37 lò giết mổ gia súc gia cầm tập trung, trong đó có 30 lò mổ heo, 4 lò mổ bò, 3 lò mổ gia cầm Đơn vị có số lượng lò mổ nhiều nhất là huyện Vũng Liêm với 7 lò mổ heo và 2 lò mổ bò, huyện Tam Bình với 7 lò mổ heo và 1 lò mổ bò Tình hình kiểm soát giết mổ tương đối thuận lợi nhờ có nhiều lò mổ tập trung Tuy nhiên, vẫn còn gặp một số khó khăn nhất định; do một số nơi chưa có lò
mổ tập trung nên việc kiểm tra vệ sinh thú y còn thực hiện tại các chợ như Tích Thiện, Trà Côn của huyện Trà Ôn, 4 xã cù lao của huyện Long Hồ Lò giết mổ trâu bò chưa đều khắp (toàn tỉnh chỉ có 4 lò mổ trâu bò, còn lại mổ chung với lò giết mổ heo như: Mang Thít, Bình Tân, Trà Ôn)
III HIỆN TRẠNG TỔ CHỨC QUẢN LÝ SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP III.1 Kinh tế hợp tác xã và tổ hợp tác:
- Hợp tác xã nông nghiệp:
Theo báo cáo của Sở Nông nghiệp và PTNT, tính đến cuối năm 2010 toàn tỉnh có
35 HTX nông nghiệp, tăng 14 HTX so với năm 2005 Chia theo lĩnh vực hoạt động: Có 5 HTX DV tiêu thụ trái cây (2 HTX chôm chôm, 2 HTX bưởi, 1 HTX xoài), 9 HTX SX tiêu thụ rau màu, khoai lang, 5 HTX dịch vụ - chăn nuôi, 6 HTX thủy sản, 1 HTX cơ giới hóa, 9 HTX kinh doanh dịch vụ tổng hợp Chất lượng các hợp tác xã ngày càng được nâng cao, tỷ lệ các hợp tác xã kinh doanh có hiệu quả năm 2010 là 29% (năm 2000 là 10,2%), sản xuất và kinh doanh có hiệu quả còn thấp, số hộ tham gia HTX còn thấp chỉ
Trang 39chiếm khoảng 0,4% tổng số hộ nông nghiệp Như vậy, cần nhanh chóng đẩy mạnh việc củng cố công tác quản lý và hiệu quả sản xuất kinh doanh của các hợp tác xã, mở rộng quy mô, tiến hành đào tạo cán bộ quản lý, cán bộ chuyên môn
- Tổ hợp tác: Tính đến cuối năm 2010, toàn tỉnh có 2.063 tổ hợp tác với 77.487 tổ
viên (hộ), chiếm 35,2% số hộ nông nghiệp), với tổng diện tích 46.035 ha, chiếm 38,5%
DT sản xuất nông nghiệp toàn tỉnh; bình quân có 22,3 ha/tổ, mỗi tổ có 38 hộ tham gia Các mô hình sản xuất của các tổ hợp tác bao gồm: Lúa - lúa giống; lúa - vườn; lúa - màu; lúa - cá; vườn - màu - nấm rơm, với những khâu chính là: quản lý thủy lợi, lịch thời vụ, chuyển giao khoa học kỹ thuật, liên doanh vốn, hợp tác tiêu thụ sản phẩm Theo đánh giá của ngành nông nghiệp Vĩnh Long, nhìn chung các tổ hợp tác còn lúng túng trong quản
lý điều hành, tỷ lệ làm ăn có lãi chưa đạt yêu cầu đặt ra
Qua quá trình hoạt động của các HTX nông nghiệp cũng biểu hiện một số tồn tại, cán bộ quản lý hợp tác xã có trình độ văn hóa và chuyên môn thấp, thiếu kinh nghiệm và kiến thức quản lý, ít được chuyển giao khoa học kỹ thuật, phương thức hoạt động của hợp tác xã còn lúng túng Các ngành kinh tế hoạt động có liên quan đến dịch vụ đầu vào, đầu ra của sản xuất chưa quan tâm hỗ trợ một cách tích cực và hiệu quả
III.2 Kinh tế trang trại:
Theo báo cáo của ngành Nông nghiệp và PTNT đến cuối năm 2010, toàn tỉnh có
529 hộ đạt tiêu chí trang trại (159 hộ trồng cây hàng năm, 94 hộ trồng cây lâu năm, 108
hộ chăn nuôi, 153 hộ nuôi trồng thủy sản và 15 hộ kinh doanh tổng hợp); Trong đó có
114 trang trại được cấp giấy chứng nhận (chiếm tỷ lệ 21,6%) Tổng diện tích đất nông nghiệp 2.120 ha, bình quân: 4,1 ha/trang trại (chỉ bằng ½ quy mô trang trại nông nghiệp
cả nước), vốn sản xuất bình quân 1 trang trại: 250 triệu đồng Tổng doanh thu từ sản xuất kinh doanh bình quân: 750 triệu đồng/1 trang trại (tăng 14 lần so với năm 2001) Đây là những điển hình sản xuất kinh doanh có hiệu quả, rất cần được nhân rộng và phát huy để trang trại phát triển hơn nữa trong nền kinh tế thị trường một cách bền vững
IV NHỮNG TỒN TẠI TRONG PHÁT TRIỂN SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP
Qua đánh giá phân tích diễn biến quá trình sản xuất và tổ chức quản lý sản xuất nông nghiệp rút ra những tồn tại cần khắc phục trong giai đoạn 2011- 2020 như sau:
1 Cơ cấu kinh tế nông nghiệp - thủy sản đã có những chuyển biến tích cực, thủy sản phát triển với tốc độ nhanh trong giai đoạn 2006-2010 là 29,24%/năm, đặc biệt tiềm năng thủy sản còn khá lớn, tuy nhiên những năm qua gặp nhiều khó khăn về đầu ra của sản phẩm, mặt khác vốn đầu tư cho thủy sản mà đặc biệt là nuôi thâm canh cá da trơn cần vốn rất lớn Năm 2005 thủy sản chiếm tỷ trọng nhỏ 9,16%, năm 2010 tăng lên 19,9% GTSX nông lâm ngư nghiệp (theo giá thực tế)
2 Chuyển dịch cơ cấu trong nội bộ ngành nông nghiệp bao gồm: trồng trọt - chăn nuôi - dịch vụ nông nghiệp còn chậm, trồng trọt luôn chiếm tỷ trọng cao (73,47% năm
2000, 72,89% năm 2005 đến 2010 trồng trọt vẫn còn 69,85% GTSX nông nghiệp), chăn nuôi có phát triển song chưa trở thành ngành sản xuất chính trong nông nghiệp (năm
2000 chiếm 22,58% đến năm 2005 là 24,01%, năm 2010 tăng lên 25,85%) Riêng dịch
vụ nông nghiệp Vĩnh Long có nhiều lợi thế nhưng chưa được phát triển mạnh (năm 2000 chiếm 3,95%, năm 2005 chiếm 3,1%, năm 2010 là 4,3% GTSX nông nghiệp) và đang còn dưới dạng tiềm năng
Trang 403 Kinh tế thuần nông, chuyên canh lúa là đặc trưng của kinh tế nông thôn Vĩnh Long Do vậy, con đường để gia tăng sản lượng và giá trị sản lượng thông qua tăng vụ, thâm canh lúa đã có chiều hướng chửng lại là một trong những nguyên nhân sâu xa làm chậm tốc độ tăng GTSX của ngành nông nghiệp Đồng thời, khi thị trường tiêu thụ khó khăn, giá lúa xuống thấp, ảnh hưởng “tiêu cực” mang tính dây chuyền đến toàn bộ hệ thống từ người trồng lúa, thu mua, chế biến đến xuất khẩu lúa gạo trong tỉnh
4 Ngoại trừ cam sành, bưởi Năm Roi, xoài cát Hòa Lộc là đặc sản truyền thống lại có chất lượng khá, song độ đồng nhất của sản phẩm chưa cao Còn lại phần lớn các sản phẩm hàng hóa (lúa, rau, trái cây, thịt, cá,…) có chất lượng trung bình, giá thành lại thường cao hơn mức bình quân của ĐBSCL
5 Sản xuất nông nghiệp trong thời gian qua phát triển với tốc độ khá nhưng thiếu tính bền vững, thị trường tiêu thụ khó khăn, nông dân chưa yên tâm đầu tư Doanh nghiệp chưa mạnh dạn đầu tư vào lĩnh vực chế biến nông sản, kho trử nông sản, cơ hội cho người nông dân bán nông sản theo giá có lợi còn thấp Các nhà máy chế biến thức ăn chăn nuôi và thủy sản còn ít, nguồn nguyên liệu còn phụ thuộc vào nhập khẩu, giá cả không ổn định Việc thực hiện hợp đồng giữa doanh nghiệp và nông dân về tiêu thụ nông sản chưa nhiều và thiếu chặt chẽ Thương hiệu cho sản phẩm nông nghiệp Vĩnh Long còn ít, thiếu liên kết Lĩnh vực công nghiệp chế biến trái cây, rau, thịt gia súc gia cầm còn bỏ ngõ
6 Các hình thức tổ chức sản xuất kinh tế hợp tác, hợp tác xã, trang trại đa dạng, song hoạt động còn lúng túng, vai trò và lợi thế của kinh tế hợp tác chưa phát huy đầy đủ thế mạnh vốn có trong nền kinh tế hàng hóa theo cơ chế thị trường
V ĐÁNH GIÁ THỰC HIỆN MỘT SỐ CHỈ TIÊU SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP (2001-2010) SO VỚI QUY HOẠCH (Phê duyệt năm 2002)
Qua gần 10 năm thực hiện (2001- 2010) rà soát những chỉ tiêu chính của quy hoạch nông nghiệp giai đoạn này như sau:
Những chỉ tiêu đạt cao hơn so với quy hoạch (mang tính tích cực):
- Trước hết là tốc độ tăng trưởng GDP nông lâm ngư nghiệp (2001-2010) đạt 5,96%/năm, đạt 107,39% so với quy hoạch
- Tổng sản lượng lúa năm 2010 là 928.972 tấn, đạt 185,79%
- Tổng sản lượng khoai lang năm 2010 là 170.732 tấn, đạt 126,16%
- Sản lượng rau thực phẩm năm 2010 là 408.579 tấn, đạt 264,92%
- Quy mô đàn bò năm 2010 có 67.243 con, đạt 227,17%
Những chỉ tiêu không đạt so với quy họach gồm: Diện tích và sản lượng cây
ăn trái: DT đạt 59,89%, sản lượng đạt 56,85%; đàn heo 62,3%, thịt hơi các loại 77%
- Đặc biệt là những chỉ tiêu có khoảng cách quá xa so với quy hoạch gồm: Đáng chú ý nhất là sản lượng lúa năm 2010: đạt 928.972 tấn vượt +428.972 tấn, (quy họach là 500.000 tấn), sản lượng bắp đạt 7,38% (quy hoạch 37.411 tấn, thực hiện chỉ 2.760 tấn), sản lượng đậu đỗ đạt 26,52%
Trong các chỉ tiêu của quy hoạch giai đoạn 2001-2010, có những chỉ tiêu thực hiện còn thấp quá xa so với dự báo, cần đánh giá nguyên nhân và có sự điều chỉnh