1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Cay thuoc va vi thuoc VN (phan 2.10 chua di long - dau bung)

17 3 0
Tài liệu được quét OCR, nội dung có thể không chính xác
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 17
Dung lượng 1,93 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cong dung và liêu dùng Tại nhiều nước Malaixia, Cămpuchia, Philipin, người ta dùng nước sắc vỏ măng cụt để làm thuốc chữa đau bụng đi ia lỏng, chữa ly, có khi còn dùng chữa bệnh hoàng

Trang 1

X CÁC CÂY THUỐC VÀ VỊ THUỐC CHỮA ĐI

KHA TỬ §J#

Còn gọi là cây chiều liêu, myrobolan de com-

merce

Tén khoa hoc Terminalia chebula Retz

(Terminalia reticulata Roth., Myrobalanus chebula

Gaertn.)

Thuộc họ Bàng Combretaceae

Kha tử (Fructus Terminaliae) là quả chín sấy hay

phơi khô của cây chiều liêu hay kha ti

A Mô tả cây

Chiều liêu là một cây to cao chừng 15-20m, có

vỏ màu đen nhạt trên có những vạch nứt dọc LÁ

mọc đối cuống rất ngắn, hình trứng, phía cuống

tròn hơi thon, đầu nhọn, dài chừng 15-20cm, rộng

7-15cm, đai, hơi có lông miểm trên cả hai mặt, sau

thì nhắn, ở đầu cuống có hai tuyến nhỏ hình mắt

cua Hoa mọc thành bông, nhỏ, màu trắng, l-ỡng

tính, mùi thơm, mọc ở đâu cành hay ở kế lá, cuống

ngắn, trên có phủ lông màu vàng nhạt Quả hình

trứng thon, dài 3-4cm, rộng 22-25mm, hai đầu tì,

không có đìa, có 5 cạnh dọc, màu nâu vàng nhạt,

thịt đen nhạt, khô, cứng và chắc Hạch cứng, hơi

hình 5 cạnh, dày chừng I0-15mm, | hat, 14 mầm

cuốn ( Hinh 328, Hm 32,1 )

Có một loại chiêu hhéu xanh (Terminalia citrina

Roxb hay Myrobalanus citrina Gaertn.) cé 14 dai

hơn, nhãn, kể cả khi còn non, quả thuôn và nhỏ

hơn, nhân mỏng hơn, hạt hẹp hơn Chiểu liêu xanh

mọc ở Biên Hòa

B Phân bố, thu hái và chế biến

Cây kha tử hay chiều liêu chí mới thấy mọc ở

niềm Nam, Cămpuchia (còn gọi là Sramar), Lào ,

clare Trait Seen iE ¬

Hình 328 Kha tử - TerminaÌia chebula

Ấn Độ, Miến Điện và Thái Lan

Tr-ớc đây Trung Quốc cũng nhập của Ấn Độ,

hiện nay có thể tự túc Trồng ở Vân Nam, Quảng Đông, Quảng Tây

Vào tháng 9-10-1I quả chín, hái về phơi khó là đ-ợc

C Thành phần hóa học Trong kha tử có tới 20-40% tanin bao gồm axit elagic, axit galic, va axit luteohc Lượng tan có khi lên tới 51,3% nếu quả thật khô

Ngoài ra còn có axit chebulinic C_H,O,„ với ty

427

Trang 2

lệ 3-4% Thủy phân axit chebulinic sẽ cho một phân

tử glucoza 3 phân tử axit galic và một phân tử axit

có công thức C,.H,O,, 1 hạ

Trong nhân còn có 36,7% dầu vàng nhạt, trong,

nửa khô

Axit elagic

D Công dụng và liều dùng

Kha tử là một vị thuốc chuyên dùng chữa đi ỉa

lỏng lâu ngày, chữa ly kinh niên, còn dùng chữa ho

mất tiếng, di tỉnh, mồ hôi trộm, trĩ, lòi dom, xích

bạch đới

Ngày uống 3-6g dưới dạng thuốc sắc, thuốc viên

Còn dùng trong kỹ nghệ thuộc đa

Điều đáng chú ý khi dùng kha tử là dùng liều nhỏ thì cầm di ia, liều lớn lại gây đi ỉa Liều cầm đi

ia 1a 3-6g

Đơn thuốc có kha tử Chữa xích bạch ly:

Axit galic

Kha tử 12 quả, 6 quả để sống, 6 quả nướng bỏ

hạt, sao vàng và tán nhỏ Nếu ly ra máu thì dùng

nước sắc cam thảo mà chiêu thuốc, nếu ly ra mũi

không, dùng nước sắc cam thảo trích

Chữa ho lâu ngày:

Kha tử 4g, đảng sâm 4g, sắc với 400ml nước cô

đặc còn 200ml, chia 3 lần uống trong ngày

Còn gọi là sơn trúc tử, mangoustanier

Tén khoa hoc Garcinia mangostana L

(Mangostana garcinia Gaertn.)

Thudc ho Bita Clusiaceae (Guttiferae)

Tuy mang tên sơn trúc tử tại Trung Quốc, nhưng

Trung Quốc không có cây này, vẫn phải nhập từ

nước ngoài vào

A Mô tả cây

Măng cụt là một loại cây to, có thể cao tới 20m

Lá dày, dai, màu lục sẫm, hình thuôn dài 15-20cm,

rong 7-10cm

Đặc điểm của cây này là người ta mới chỉ thấy

cây cái Người ta cho rằng trong số những nhị lép

(staminode) bao quanh bầu có thể có bao phấn chứa

phấn hoa

Quả hình cầu, to bằng quả cam trung bình, vỏ

ngoài màu đỏ sâm, dây cứng, phía dưới có lá đài,

Hình 329 Măng cạt - Garcinia mangostana

phía đỉnh có đầu nhụy Trong quả có từ 6 đến 18 hạt, quanh hạt có áo hạt ăn được ( Hình 329 ).

Trang 3

B Phân bố, thu hái và chế biến

Người ta cho rằng cây măng cụt nguồn gốc ở

các đảo La Sôngđơ và Môluyc (Malaixia,

Inđônêxya) san được các nhà truyền giáo đạo gia tô

di thực vào miền Nam Việt Nam Hiện nay được

trồng rộng rãi ở Nam Bộ Còn thấy ở Philipin,

Indénéxya, Malaixia

Người ta trồng chủ yếu để lấy áo hạt mà ăn; vỏ

quả phơi khô dùng chữa đi la lỏng hay đi ly

C Thành phản hóa học

Áo của hạt có vị ngọt, thơm ngon Khi mới chín

có màu trắng trong, nhưng sau ít ngày thì ngả màu

vàng, kém thơm và có vị chát do đó khó chuyên

chở đi xa Thành phần hóa học chưa thấy có tài

liệu nghiên cứu

Vỏ quả được nhiều người nghiên cứu hơn vì

người ta hy vọng dùng nó để thuộc da Trong vỏ

quả có chứa từ 7-13% tanin Tuy nhiên không được

dùng thuộc đa vì theo yêu cầu của những nhà thuộc

da, nguyên liệu dùng để thuộc không được chứa

quá một phần không phải tanin (tối đa) so với 2

phần tanín Trong khi đó vỏ măng cụt chứa trong

phần tan trong nước khoảng 13,61% tann và 14,59%

khéng phai tanin (theo Bull Office Colonial, s6 136,

tháng 4-1919),

Ngoài tan ra, trong vỏ quả măng cụt, theo W,

Schmidt còn có chất nhựa và chất mangostin

(C,H,,O,), có tỉnh thể hình phiến nhỏ, màu vàng tươi, không vị, tan trong rượu, ẻte và chất kiềm,

không tan trong nước Độ chảy 175°C Chất

mangostinr có thể chiết suất như sau: Lấy kiệt vỏ mang cụt bàng nước lạnh, sau bằng nước sôi Hợp

cả hai nước đó lại, Cô đặc và bốc hơi cho khô Rửa

cặn bằng nước rồi hòa tan bằng rượu Thêm nước

và axit axetic vào dung dịch Để một thời gian sẽ

xuất hiện một đám tinh thể Gạn và ép Khi thêm

vao chat mangostin dung dịch clorua feric, sẽ có màu lục đen nhạt Nếu thêm axit sunfuaric sé có màu đỏ

D Cong dung và liêu dùng

Tại nhiều nước Malaixia, Cămpuchia, Philipin,

người ta dùng nước sắc vỏ măng cụt để làm thuốc chữa đau bụng đi ia lỏng, chữa ly, có khi còn dùng

chữa bệnh hoàng đản (vàng da) Cách dùng như

sau:

Cho chừng 10 vỏ quả măng cụt vào một nổi đất hay nồi đồng (tránh nồi sắt hay nồi tôn) thêm nước

vào cho ngập rồi đun sôi kỹ trong vòng 15 phút, Ngày uống 3 đến 4 chén to nước này

Cé thé ding theo don sau day: V6 qua mang cut

khô 60g, hat mùi 5g, hạt thìa là 5g, nước 1200ml

Đun sôi, sắc kỹ cho cạn còn chừng một nửa (600m)

Mỗi lần uống 120ml Uống mỗi ngày 2 lần Nếu

đau bụng có thể thêm ít thuốc phiên Trong tường

hợp này không dùng cho trẻ con được

NGŨ BỘI TỬ «4+

Còn gọi là bầu bí, mác piêt, bơ pật (Thái)

Tên khoa học Gall4 sinensis

Ngũ bội tử (galla sinensis) là những túi đặc biệt

do nhộng của con sâu ngũ béi ur Schlechtendalia

sinensis Bell gay ra trén những cuống lá và cành

của cày muối hay cây diêm phu mộc-Rhux semialata

Murray (Rhus sinensis Mill.) thudc hợ Đào lồn hột

Anacardiaceae

A, Mô tả cây muối hay diém phu mộc

Cây muối là một cây nhỏ cao từ 2 đến 8m Lá

mọc so le, kép đìa lẻ, gồm 7 đến 14 lá chét Cuống

lá chung có đìa như cánh, trên có những lông ngắn

màu vàng nâu nhạt, Lá chét không cuống, hình

trứng, mép có răng cưa (to, thô, dài 5-Í4cm, rộng 2,5-9cm Cum hoa hình chùy mọc ở đầu cành, dài

20-3Óem Hoa nhỏ, màu trắng sữa Quả hạch màu

vàng cam đỏ, một hạt Mùa hoa các tháng 8-9, mùa

qua tháng !0 ( Hình 330 )

Khi cành non và cuống lá cây này bị một giống

sâu đục thì sẽ xuất hiện những chỗ sùi lên hình dạng khác nhau dài từ 3 đến 6cm, khi thì giống quả

trứng nhỏ, khi thì lại có nhiều nhánh Trên mặt có lông mịn, ngắn màu xám nhạt, có chỗ màu đỏ nâu Khi bẻ ta thấy thành dày 1-2mm, cứng bóng như

sừng Trong có những lông nhỏ trắng như sợi len

và mảnh con sâu Những chỗ sùi này được gọi là bầu bí (tiếng kinh), măc piêt (tiếng thổ Cao bang),

429

Trang 4

ngũ bội (tên vị thuốc) ( Hình 331 )

Hình 330 Cành cây muối - Rhus semialata

và ngũ bội tử được tạo thành (a)

B Phân bố, thu hái và chế biến

Ở nước ta, ngũ bội tử chỉ mới có nhiều ở các tỉnh

Cao Bằng, Lạng Sơn (Nước Hai, Nguyên Bình, Sóc

Giang), Ha Giang (Quang Ba) Lao Cai c6 một ít

Có thể một số vùng Tây Bắc gân biên giới Trung

Việt cũng có

Tại nhiều nước khác như Nhật Bản, Trung Quốc

(Quảng Đông, Quảng Tây, Văn Nam, Phúc Kiến

v.v ) cũng có Vào khoảng tháng 5-6, con sâu ngũ

bội tử (sâu cái) từ những cây trung gian hay đến

cây muối hay điêm phu mộc, chích vào cành non

và lá cây này, rồi đẻ trứng Có thể do những chất

kích thích thích tố đặc biệt của trứng và sâu non,

những tế bào của cây phát triển đặc biệt, bất thường

thành ngũ bội Vào khoảng tháng 9, người ta hái về,

hấp nước sôi từ 3 đến 5 phút để giết chết con sâu ở

trong rồi phơi khô là được

Trước đây hằng năm nước ta có thể sản xuất tới

30-40 tấn để xuất, nhưng sau chiến tranh, lượng

sản xuất có giảm sút và chưa được phục hồi đúng

mức

C Thành phân hóa học

Ngũ bội tử của ta, có thành phần hóa học giống

430

ngũ bội tử Trung Quốc Độ ẩm 13,47%, chất tan vào nước gồm có tanm 43,20%, không tanin 13,20%, chất không tan 30,13% Trong khi đó ngũ bội tử Trung Quốc có độ ẩm 13,27%, chất tan trong nước gồm tanin 42,5%, không tanin 10%, chất không

tan 34,23%

Nếu trừ độ ẩm đi rồi, tỷ lệ tanin của ngũ bội tử

'Việt Nam là 50%, loại tốt lên tới 60-70%, có khi tới 80%

Tanin ngũ bội từ còn gọi là axit galotanic Thành phần hóa học chủ yếu là penta m digaloylglucoza

trong đó một phân tử glucoza được kết hợp với 5

phan tử axit đigalic, có khi một phần tanin gdm một phân tử glucoza kết hợp với axit elagic hay axit galic

Phan tir cdc tanin đó thường biểu thị chung là C,H,,0,, Thủy phân axit sẽ cho axit galic

Ngoài tanin ra, trong ngũ bội tử còn có axit galic

tự do, 2-4% chất béo, nhựa và tính bột Khi chất

tanin của ngũ bội tử tác dụng lên feric clorua sẽ cho màu lam đen, nếu dùng thuốc thử Braemer (dung

dich natri tungstat và natri axetat lg trong 10ml

Hình 331 Các dạng ngũ bội tứ

nước) sẽ có màu vàng nâu hay màu vàng

D Tác dụng được lý

Tác dụng dược lý của ngũ bội tử chủ yếu do

chất tanin Tanin có tính chất làm tha protit, tổ chức

của đa, niêm mạc, vết loét tiếp xúc với tanin sẽ tủa

và đanh lại, tạo thành một lớp cứng làm máu đông

Trang 5

lại, ngừng chảy, do đó có tác đụng cầm máu, tế bào

của các hạch phân tiết cũng bị đông và làm giảm sự

bài tiết các địch, niêm mạc được khô ráo Đầu dây

thân kinh cũng bị cứng lại, do đó hơi có tác dụng

gây tê

Tanin còn có tác dụng tủa với các chất ancaloit,

làm giảm sự hấp thụ, do đó có thể dùng làm thuốc

giải độc

E Cong dung và liều dùng

Theo (ải liệu cổ, ngũ bội tử vị chua, tính bình,

vào 3 kinh phế, thận và đại trường Có tác dụng

liễm phế, giáng hỏa chỉ huyết, liễm hãn, sáp trường

Dùng chữa phế hư sinh ho, ly lâu ngày lời dom,

nhiều mồ hôi, mụn nhọt

Ngũ bội tử được dùng làm thuốc thu liễm trong

bệnh di ia long, ìy xuất huyết, hoàng đản, giải độc

Còn là nguyên liệu chế tanin dùng thuộc đa loại

màu sáng, chế mực viết, nhuộm màu đen v.v

Liêu dùng: Ngày uống 0,5 đến 1g, dưới dạng

thuốc sắc hay thuốc bột Dung dịch 5-10% ding

súc miệng để điều trị các vết loét trong miệng

Đơn thuốc có ngũ bội tử

1 Chita dau bung di ia long: Ngii boi tir tan bột,

thêm hồ vào, viên thành viên bằng hạt đậu xanh,

ngày uống 15-20 viên, đùng nước pha bạc hà mà

uống thuốc

2 Trẻ con đái dầm: Ngũ bội tử giã nhỏ Thêm

nước cho dính, đấp vào rốn

3 Trẻ con bị trớ: Ngũ bội tử 3g, một nửa để

sống, một nửa nướng chín, trích cam thảo 20g Tất

cả tán nhỏ Mỗi lần dùng 2g bột này, dùng nước

cơm hay nước cháo mà chiêu thuốc

Chi thích:

Một số nơi ở nước ta và Lào có loại cây gọi là

son biit-Rhus semialata Roxb var roxburghii DC

cùng họ cũng hay bị một loại sâu cánh mềm (chưa

CÂY ỒI

Còn gọi là ủi, phan thạch lựu, guajava

Tén khoa hoc Psidium guyjava L (P pomiferum

L Psidium Pyriferum L.)

Hình 332 Lá cây muối - Rhus semialata

xác định được tên khoa học) gây trên cành non

những loại ngũ bội nhỏ hơn, chỉ bằng quả nho,

thường rất bằng nhau, lúc đầu có màu đỏ, sau đen,

thành dày khoảng 0,5mm Độ ẩm 16,00%, tỷ lệ tanin 5.75% ft thay ding

Trong đông y hiện nay dùng cả ngũ bội nhập

của Trung Quốc, cùng loại với ngũ bội tử của ta, cũng con sâu đó và cũng sống trên một loài cây

Rhus semialata Mill

Trước đây, ta vân phải nhập loại ngũ bội tử của Thổ Nhĩ Kỳ-Galla Tưcia Ngũ bội này do loài ong Cynips gallae tinctoriae Oliv gay trên cành nơn của

cay Quercus infectoria Oliv thuéc ho Gié Fagaceae

không thấy ở nước ta Thành phần là Turkish

galotanin chừng 50-70%, cấu tạo hóa học của nó là tetragaloylglucoza

Ất: 5178 Thuộc họ Sim Myrtaceae

A Mó tả cày

Ổi là một cây nhỡ, cao chừng 3-Šm, cành nhỏ

431

Trang 6

Ninh 333 Oi - Psidium guyjava

thì vuông cạnh Lá mọc đối có cuống ngắn, hình

bầu dục, nhắn hoặc hơi có lông ở mặt trên, mặt

dưới có lômng mịm, phiến nguyên, khi soi lên có

thấy túi tỉnh dầu trong Hoa màu trắng, mọc đơn

độc ở kế lá Quả là một quả mọng có vỏ quả giữa

dày, hình đáng thay đổi tùy theo loài; ở đầu quả có

sẹo của đài tồn tại Rất nhiều hạt, hình thận, không

đều, màu hơi hung (Hình 330)

B Phan bo, thu hái và chế biến

Cây ổi nguồn gốc miền nhiệt đới châu Mỹ, sau

được phổ biến và trồng ở khắp miễn nhiệt đới châu

Á, châu Phi Đặc biệt ở nước ta, cây ổi mọc hoang

tại nhiều vùng núi miền Bác, nhưng phần nhiều người

ta trồng để lấy quả ăn

Ngoài ra, ổt còn cung cấp các bộ phận sau đây

dùng làm thuốc: Búp non, lá non, quả, vỏ rễ và vỏ thân nhưng hay đùng nhất là búp non va 14 non Dùng tươi hay phơi hoặc sấy khô

C Thanh phan hóa học Trong gud ối có chứa pectin và vitamin C Luong viiamim thay đổi tùy theo bộ phận của quả và tùy theo loài, thường tập trung nhiều nhất ở vỏ ngoài

sau đến phía ngoài của vỏ quả giữa

Trong i4 và búp non chứa 7-10% một loại tanin pyrogalic, axit psiditanic, chừng 3% nhựa và rất ít tĩnh dầu (0,36%)

Có tác giả thấy trong thân và lá một chất

tnitecpenic (Arthur H R et W Hui, 1952)

Trong hat cé 14% chất dầu đặc sánh, mùi thơm, 15% chat protein va 13% tính bột

D Công dụng và liêu dùng Quả ối còn xanh thì chát có tính gây táo bón và

có thể đùng chữa đi ỉa lỏng, khi chín, quả ổi hơi có tác dụng nhuận Người ta ăn ối chín hoặc chế thành

mứt đóng hộp

Lá non và búp ổi non là một vị thuốc chữa đau

bung đi ngoài kinh nghiệm lâu đời trong nhân dân

Thường dùng dưới dạng thuốc sắc hay thuốc pha

Ngày dùng IŠ5-20g búp non hay lá non, dùng nêng hay phối hợp với các vị khác như chè, gừng v.v

Vỏ rễ và vỏ thân cũng được dùng để chữa ởi

ngoài và rửa vết thương, vết loét Uống trong người

ta dùng với liều I5g sắc với 200ml] nước, nấu cạn

còn chừng 100ml

ÔDƯỢC &&

Còn gọi là cây dầu dang, 6 duoc nam

Tén khoa hoc Lindera myrrha (Lour.) Merr

(Laurus myrrha Lour., Litsea trinervia Pers.,

Tetranthera trinervia Spreng., Daphnidium myrrha

Nees.)

Thudéc ho Long nao Lauraceae

Ô dược (Radix Linderae) là rễ phơi hay sấy khô

của cây dầu đắng hay 6 duoc nam

432

A Mo ta cay

Ô dược nam là một cây nhỏ cao độ 1,30-1,40m,

cành gầy, màu đen nhạt Lá mọc so le, hình bầu duc, dai 6cm, rộng 2cm, mặt trên nhãn bóng, mặt

dưới có lông, hai gân phụ bắt đầu từ điểm cách

cuống lá 2mm, đài ra chừng 2/3 lá, mặt trên lõm, mặt đưới lồi lên Cuống gảy, dài 7-lÕmm, lúc đầu

có lỏng, sau nhắn, mặt trên hom thành rãnh Hoa

Trang 7

màu hồng nhạt, họp thành tan nhỏ, đường kính 3-

4mm Quả mọng hình trứng khi chín có màu đỏ,

một hạt

Toàn cây có mùi thơm, vị đắng ( Hình 334 )

Hình 334 Vệ châu ô được -Cocculus laurifolius

B Phân bố, thu hái và chế biến

Mọc hoang ở nhiều tỉnh toàn miền Bắc Nhiều

nhất tại các tỉnh miền Trung như Thanh Hóa, Nghệ

An, Ha Tinh Tại Bắc Bọ, có ở Hòa Bình, Hà Tay

Có thể thu hái quanh nảm, nhưng tốt nhất vào

thu đông hay đầu xuân

Đào rể, cát bỏ rễ con, rửa sạch, phơi khô

Nếu thái miếng thì rễ tươi lấy về, cạo sạch vỏ

ngoài (có khi không cao) ngâm vào nước thính

thoảng thay nước rồi thái thành từng miếng mỏng

phơi khô

C Thành phần hóa học

VỊ ô dược nam chưa thấy có tài liệu nghiên

cứu Trong quả mọng có thể chiết được một thứ

dầu màu đỏ

Trong 6 được bác, người ta phân biệt hai loại:

1 Thiên thai ô dược là rễ cây Lindera

strychnfolia WII (hay Benzom sirychnifolium

Kuntze) cùng họ

28- CTVN

2 Vé chau 6 duoc 1a ré cay Cocculus laurifolius

DC thuộc họ Tiết đê (Menispermaceae)

Trong thiên thai ô dược, người ta đã xác định được các chất ancaloit như, linderan CH LÔ,

lindéren C,H, ,O,, rugu linderola C,,H,,O va axit linderic C,.H,,O, va este cla nyou linderola Ngoai

ra, người ta còn xác định được một xelon với công thức C,H,,O, và một chất linderazulen với công thite C,,H,,

Trong vé cháu ô được, người ta xác định được một ancalort gọi là coclorin C,H,,O,N Céng thitc của coclorin đã xác định như sau:

CHaO

HO —NH

cCHa

OH Coclorin

D Công dung va Hêu dùng

Ô dược còn là một vị thuốc dùng trong phạm vị

nhân dân, làm thuốc chữa đau bụng, ăn không tiêu, nôn mửa, trẻ con có giun, sung huyết, đầu nhức,

hay đi đái đêm

Ngày dùng 2-6g đưới dạng thuốc sắc hay thuốc bột

Đơn thuốc có ô được

1 Ô hương tán: Ô dược-hương phụ, hai vị bằng

nhau, tán nhỏ Mỗi lần dùng 6-8g bột này, Có thể sắc uống Tùy theo các bệnh mà thay đổi thêm các

vị khác sau đây:Ví dụ Ăn không ngon, sắc nước

gừng mà chiêu thuốc (4g gừng), nếu có giun, thay bằng hạt cau (hạt cau 4g sắc với 50ml nước đùng

chiên thuốc)

2 Viên ô dược: Ô được tán nhỏ, thêm nước hồ

làm thành viên bằng hạt ngô Ngày uống 10-20 viên chữa ly, sốt, đi 1a

Chu thích:

Theo các tài liệu cũ, trong nước ta có vệ cháu ô được Cocculus laurfƒfolius DC thuộc họ Tiết dé (Menispermaceae) Day 1a mot thứ dây leo, gầy

433

Trang 8

nhấn, màu xanh lục nhạt Lá có cuống ngắn gần

giống như lá quế Phiến phía cuống nhọn, dai, nhắn

dài 9cm, rộng 3-5cm, có 3 gân, nổi rõ ở cả hai mặt

Quả hình thấu kính, đường kính 5mm Hạt cũng

gần giống như quả, hình thấu kính, nhưng ở hai

SIM

Còn gọi la duong lê, sơn nhậm, nhậm tử, đào

kim nương

Tén khoa hoc Rhodomyrtus tomentosa Wight

(Myrtus Tomentosa Ait., Myrtus canescens

Lour.)

Thuéc ho Sim Myrtaceae

A Mô tả cây

Sim là một cây nhỏ cao 1-2m có khi tới 3m,

cành 4 cạnh, võ thân róc thành từng mảng Lá

mọc đối, hình thuòn, hơi hẹp ở phía cuống, phía

đầu tù, hơi rộng, đài 4-7cm, rộng 2-4em, khi

già thì nhãn ở mặt trên, có lông mịn ở mặt đưới,

phiến lá đày, mép hơi cong xuống, có 3 gân

chính, cuống có lông min, dai 4-7mm Hoa

màu hồng tím, mọc đơn độc hoặc từng 3 cái

một ở kẽ lá Quả mọng màu tím sắm, mẫm

Hạt nhiều hình móng ngựa (Hình 335, Hm

37,1)

B Phân bố, thu hái và chế biến

Mọc hoang rất nhiều tại những vùng đổi trọc

miền trung du nước ta

Tại Trung Bộ và Nam Bộ cũng có

Có mọc ở miền nam Trung Quốc, Philipin,

Malaixia, Indénéxya, cdc nude ving nhiệt đới

châu Á Tại Việt Nam, người ta không trồng,

nhưng ở Philipin, người ta trồng để lấy quả Ta

dùng quả và búp sim tươi hay phơi khô làm thuốc

C Thành phần hoá học

Quả sim có vị ngọt chát, mùi thơm Chưa được

nghiên cứu Sơ bộ mới thấy sắc tố antoxyanozit,

tanm, đường,

Lá và búp sim có chứa nhiều tanin

D Công dụng và liều dùng

Tại một vài vùng ở Việt Nam người ta dùng

búp và lá sim non sắc uống chữa bệnh đi ỉa lỏng,

đi ly, hoặc dùng để rửa vết thương, vết loét

434

mặt có đìa nổi lên trông giống móng ngựa

Theo tài liệu cây này mọc ở khắp Việt Nam Theo sự nghiên cứu của Nhật Bản, thì trong vỏ và lá

có ancalowt gọi là cocculin có tác dụng giống như chất curarơ

thám

Hình 335 Sim - Rhodomyrtus tomentosa

Quả dùng để ăn Một vài nơi dùng để chế

rượu như rượu nho

Ngày uống 20-30 búp hay lá non dưới dạng

thuốc sắc

Dùng ngoài không kể liều lượng

Chu thích:

Trong A Pételot còn giới thiệu một loại cây

gọi sim rừng lớn Rhodammia trinervi Blume

(Rhodammia spectabilis Blume) cùng họ Sim (Myrtaceae), ching mét cong dung

Theo mô tả, cây này là một loại cây nhỡ cao Í-

4m, lá mọc đối, hơi thuôn, tù ở phía dưới, nhọn ở phía trên, mặt trên nhắn, mặt dưới màu trắng bạc phiến lá dài 45-75 mm, rộng 20-30mm Hoa trắng,

mọc ở kẽ lá, có khi mọc đơn độc Quả hình cầu,

Trang 9

gần khô, đường kính 6mm, trên đỉnh có đài tồn

tại Nhiều hạt hơi hình móng ngựa Đường kính

chừng 4mm

Qua tài liệu nói trên, thì cây này rất phổ biến

trong nước ta, nhưng cho đến nay chúng tôi chưa

có dịp thấy lại

TRẦM HƯƠNG W.£

Còn gọi là kỳ nam, trà hương, gió bầu, bots

aigle, bois d’aloes

Tén khoa hoc Aquilaria agaliocha Roxb (A

crassna Pierre)

Thudc ho Tram Thymelacaceae

Trầm hương (Lignum Aquilariae) la g6 có nhiều

điểm nhựa của cây trầm hương Vì vị thuốc có mùi

thơm, thả xuống nước chìm xuống do đó có tên gọi

như vậy (trầm-chìm)

Tên kỳ nam còn có tên kỳ nam hương thường

dành cho loại trầm quý nhất Giá đắt gấp 10-20 lần

trầm hương

A, Mô tả cây

Trầm hương là một loại cây to cao tới 30-40m,

vỏ xám, xơ Lá mọc so le, phiến mỏng, hình thuôn,

Hình 336 Trâm hương - Aqullaria agallocha

dài 8-10cm, rộng 3,5-5,5cm, nhọn ở phía cuống, đầu lá cũng nhọn, mặt trên màu xanh bóng, mật dưới màu xanh nhạt hơn, có lông Cuống dài 4- 3mm cũng có lông, mặt trên thành ranh Cụm hoa

hình tán hay chùm, mọc ở kẽ lá Hoa màu trắng tro Quả khô, nang, hình lê, có lông, dài 4cm, rộng 3

cm, phía dưới có chu tính (perigone) đồng trưởng

Vỏ quả mở làm hai mảnh, xốp Một hạt gồm một phần trên hình nón, phía dưới dài cùng một kích

thước, vỏ ngoài cứng, phía trong mềm (Hình 336)

B Phân bố và tạo thành trầm hương

Trâm hương mọc hoang ở những vùng núi Nghệ

An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên,

Quảng Nam, Quảng Ngãi và Hội An, miền Nam

Bộ Việt Nam Có mọc nhiều ở Cămpuchia

Việc tạo thành trầm hương chưa rõ: Có người

nói trầm hương được tạo thành do một bệnh gây

bởi sự biến chất của những ct chim ở kẽ cành Hiện nay người ta mới chỉ biết rằng cây cang gia,

10 đến 20 năm hoặc lâu hơn, gỗ cây biến thành một chất bóng như đá sỏi, có những vết nhăn, gồ

ghẻ trông giống như cánh con chim ung do đó có tên là gỗ chim ưng (bois đ°aigle) Tuy nhiên, cũng

có những mầu gỗ không có các điểm trên, mà chỉ

có một màu nâu đỏ đều Có những miếng gỗ chỉ có những điểm màu lam nhạt

Tại những vùng có cây trầm hương có bệnh (tức

là bắt đầu có những điểm nâu đỏ), thì người ta thường làm nhà ở gần để canh, vì loại trầm thu được như

vậy giá rất đất, có khi gấp 20-20 lần Một cây gió bầu có trầm cho từ 2-30kg trầm hương

Trầm hương có hình đáng, kích thước không

nhất định: Có khi là miếng gỗ, có khi là những cục

hình trụ, thường dai 10cm, rong 24cm, hai đầu có

vết như dao cắt, có khi lại như miếng gỗ mục, mặt

ngoài màu vàng nâu, có khi cố những vết dọc sim màu, chất cứng nặng, nơi cắt ngang có thể thấy

những đám nhựa màu đen hay đen nâu Mii thom

đặc biệt, khi đốt lên mùi thơm lại càng rõ rỆt

435

Trang 10

_ Trung Quốc thường nhập trầm hương của ta hay

Ấn Độ, nhưng tại một số tỉnh miền Nam như Quảng

Đông, Hải Nam cũng có trầm hương, nhưng do

cách lấy khác nhau, phẩm chất có khác, thường

người ta quý loại trầm hương của Việt Nam hơn

C Thanh phan hoa hoc

Loại trầm hương tốt có thành phần tan trong

cồn lên tới 40-50% sau khi xà phòng hoá bằng

KOH rồi cất hơi nước sẽ được chừng 13% tính

dầu, Trong tình dầu thành phần chủ yếu là

metoxybenzylaxeton 53% va tecpen ancol 11%

Ngoai ra con axit xinamic va các đẫn xuất của nó

D Công dụng va liều dùng

Trầm hương là một vị thuốc hiếm và đất trong

đóng y, người ta coi nó có vị cay, tính hơi ôn, vào 3

kinh tỳ vị và thận, có tác dụng giáng khí nạp thận

bình can tráng nguyên dương, chủ yếu chữa các

bệnh đau ngực bụng, nôn mửa, bổ đạ dày, hen

xuyễn, bí tiểu tiện Còn có tác dụng giảm đau, trấn

tính

Ngày dùng 3-4g dưới dạng bột hay ngâm rượu

Ít khi sắc, thường chỉ mài với nước mà uống

Đứng về mặt công dụng làm thuốc, chúng ta

không thể giải thích tại sao giá trầm và kỳ nam

trên thị trường lại đắt như vày Ngay từ thế kỷ 16,

theo lời một du khách Bồ Đào Nha còn ghi lưu lại

tại chợ Hội An, giá một gối bằng gỗ trầm nặng

gần 509g lên tới gần 8kg vàng Năm 1956 tại Nha

Trang giá lkg tram hương cũng xấp xi 20 lạng

vàng Từ nam 1977 đến nay ở các tính phía nam nước ta cũng đang có phong trào tìm khai thác

trầm hương xuất khẩu, dẫn tới sự khai thác bừa

bãi, phá hoại một nguồn đặc sản có giá trị của

nước ta Chỉ có một số rất ít nước trên thế giới,

trong đó có nước ta, mới có trầm hương, do đó

chúng ta cần có kế hoạch bảo vệ và phát triển cây trầm hương Từ xưa tới nay trầm hương ngoài công

dụng làm thuốc trước hết là một chất thơm và chất

định hương cao cấp Xưa kia người ta gối đầu trên

gối gô trầm hương, người ta đốt trầm trong những

ngày lế tết lớn Ngày nay người ta trích từ trầm hương những tỉnh dầu để làm chất định hương va

chat thom cao cap

Don thuốc có trầm hương

Chữa nôn mứa, đau bụng, dau da day:

Trầm hương 10g, nhục quế 10g, bach đậu khấu

8g, hoàng liên 8g, định hương 10g Tất ca tấn nhỏ Ngày uống 3 hay 4 lần mỗi lần 1g bột này Dùng nước nóng chiêu thuốc

Chu thích:

Ngoài cây Aguilaria agaliocha ra, người ta còn

khai thác gỗ của nhiều loài Agwilaria khác như

Aqullaria malaccensis Lamk., Aloexylon agallochum Lour va Ecoecari agallocha L

Ở các tỉnh phía nam nhân dân còn dùng vị kiến

kỳ nam hoàn toàn không lấy từ trầm hương mà là một cây mọc phụ sinh được giới thiệu sau đây

KIẾN KỲ NAM

Còn gọi là trái bí kỳ nam, kỳ nam kiến, ổ kiến,

kỳ nam gai

Tên khoa học Hjydnophytum ƒormicarwm Jack

(lá rộng), Myrmecodia armaia DC (lá hẹp)

Thuộc họ Cà phê (Rubiaceae)

A, Mô tả cây

Có hai loại củ kỳ nam đều được dùng làm thuốc:

l Kỳ nam lá rộng Hydnophytum formicarum

Jack là một cây phụ sinh, sống ở rừng thưa vùng

trung đu và có củ trơn, mầu vỏ xám đen, bổ ra có

thịt màu xám vàng với rất nhiều lỗ hang cho kiến ở

436

Thân từ 2 đến 4 tròn, nhãn Lá hình trái xoan ngược,

dây, nhắn, gân phụ mịn 6-10 đôi, hoa không cuống,

trắng, ống vành 3mm, tiểu nhụy 4 Mùa hoa tháng

5-8 Qua nhân cứng, vị ngọt, cao 5-7mm Nhân 2,

cao 5mm (Hình 334)

2 Ky nam la hep dai Myrmecodia armata DC (con cé tén Myrmecodia tuberona Bi.) cing 1A mét cây phụ sinh, nhưng củ có gai đo đó có tên kỳ nam gai, màu vỏ xám đen, bổ ra có thịt màn xám vàng, với rất nhiều lô cho kiến ở Thân đơn độc, tròn,

nhãn Lá thon, dầy, hẹp, gân phụ mịn 8-IO đôi, lá

bẹ lcm, tiểu nhụy 4 Quả nhân cứng, cao 2,5cm,

Ngày đăng: 30/04/2022, 18:34

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w