CBEM Community - Based Environment Management Quản lý môi trường dựa vào cộng đồng CBCM Community based conservation management Quản lý tài nguyên thiên nhiên dựa vào cộng đồng RRA Rapid
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHOA MÔI TRƯỜNG & TÀI NGUYÊN
Trang 2MỤC LỤC
MỤC LỤC i
DANH SÁCH CÁC TỪ VIẾT TẮT iii
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG I TỔNG QUAN VỀ RỪNG NGẬP MẶN 2
1.1 GIỚI THIỆU CHUNG VỀ HỆ SINH THÁI RỪNG NGẬP MẶN 2
1.1.1 Khái niệm rừng ngập mặn 2
1.1.2 Rừng ngập mặn thế giới và Việt Nam 2
1.2 VAI TRÕ CỦA RỪNG NGẬP MẶN 4
1.2.1 Cung cấp nguồn nguyên vật liệu 4
1.2.2 Vai trò điều hòa 5
1.2.3 Vai trò hỗ trợ 7
1.2.4 Về văn hóa 8
1.3 NGUYÊN NHÂN VÀ HẬU QUẢ MẤT ĐA DẠNG SINH HỌC RỪNG NGẬP MẶN 8
1.3.1 Sử dụng không bền vững các nguồn tài nguyên sinh vật 8
1.3.2 Chuyển đổi mục đích sử dụng đất 10
1.3.3 Ô nhiễm môi trường 11
1.3.4 Sức ép từ gia tăng dân số 12
1.3.5 Chiến tranh 13
1.3.6 Mâu thuẫn trong chính sách 13
CHƯƠNG II TỔNG QUAN VỀ BẢO TỒN ĐA DẠNG SINH HỌC RỪNG NGẬP MẶN DỰA VÀO CỘNG ĐỒNG 15
2.1 CÁC KHÁI NIỆM 15
2.1.1 Khái niệm về tài nguyên sở hữu chung 15
2.1.2 Khái niệm cộng đồng 15
2.1.3 Khái niệm sự tham gia của cộng đồng 16
2.1.4 Khái niệm về quản lý môi trường dựa vào cộng đồng(CBEM) 17
2.2 VAI TRÕ CỦA CỘNG ĐỒNG TRONG VIỆC KHAI THÁC BỀN VỮNG RNM 19
Trang 32.3 CÁC NGUYÊN TẮC BẢO TỒN ĐA DẠNG SINH HỌC RỪNG NGẬP MẶN
DỰA VÀO CỘNG ĐỒNG 21
CHƯƠNG III PHƯƠNG PHÁP BẢO TỒN ĐA DẠNG SINH HỌC RỪNG NGẬP MẶN DỰA VÀO CỘNG ĐỒNG, KHÓ KHĂN, GIẢI PHÁP 23
3.1 PHƯƠNG PHÁP BẢO TỒN ĐA DẠNG SINH HỌC RỪNG NGẬP MẶN DỰA VÀO CỘNG ĐỒNG 23
3.1.1 PHƯƠNG PHÁP GIAO KHOÁN RỪNG VÀ ĐẤT RỪNG 23
3.1.2 PHƯƠNG PHÁP ĐẢM BẢO ĐỜI SỐNG CHO NGƯỜI DÂN, NÂNG CAO Ý THỨC BẢO TỒN 24
3.1.3 PHƯƠNG PHÁP KHAI THÁC BỀN VỮNG RNM 27
3.2 KHÓ KHĂN 29
3.2.1 Từ phía người dân 29
3.3.2 Từ phía nhà nước 30
3.3 GIẢI PHÁP 32
3.3.1 Giải pháp về quản lý 32
3.3.2.Giải pháp tuyên truyền giáo dục và phát huy nội lực cho cộng đồng 32
3.3.3 Giải pháp liên quan đến quan đến chính sách 33
3.3.4 Giải pháp liên quan đến công tác quy hoạch giao đất giao rừng 33
3.3.5 Giải pháp khuyến khích, hỗ trợ và dịch vụ cho phát triển quản lý rừng cộng đồng 33
3.3.6 Giải pháp về đầu tư tín dụng 34
3.3.7 Giải pháp về đào tạo và phát triển nguồn nhân lực 34
KẾT LUẬN 34 TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 4CBEM Community - Based Environment Management
(Quản lý môi trường dựa vào cộng đồng) CBCM Community based conservation management (Quản
lý tài nguyên thiên nhiên dựa vào cộng đồng) RRA Rapid Rural Appraisal (Đánh giá nhanh nông thôn) DENR Department of Environment and Natural Resource
(Bộ tài nguyên và môi trường) SDAFDEC Southeast Asian Fisheries Development Center
(Trung tâm Phát triển Thủy sản Đông Nam Á) OXFAM Oxford Commitee for Famine Relief (Tổ chức phi
chính phủ quốc tế) MERC Mangrove Ecosystems Research Centre (Trung tâm
nghiên cứu hệ sinh thái rừng ngập mặn) IUCN International Union for Conservation of Nature and
Natural Resources (Liên minh Quốc tế Bảo tồn Thiên nhiên và Tài nguyên Thiên nhiên)
UBND Ủy ban nhân dân
BV&PTR Luật bảo vệ và phát triển rừng
BQL Ban quản lý
VQG Vườn quốc gia
Trang 5MỞ ĐẦU
Tài nguyên thiên nhiên (TNTN) luôn gắn với cuộc sống của loài người
từ rất lâu Mỗi loại tài nguyên đều có những giá trị kinh tế, xã hội hay giá trị môi trường nhất định Rừng ngập mặn (RNM) là một hệ sinh thái (HST) đa dạng có nhiều tài nguyên quý giá và có vai trò quan trọng, đóng góp cho đời sống con người, đặc biệt là cư dân vùng cửa sông ven biển
Tuy nhiên diện tích RNM ngày càng bị thu hẹp do các tác động của con người, phương thức quản lý và sử dụng cũng chưa thật hiệu quả, RNM hiện nay đang chịu nhiều sức ép, đang bị suy giảm cả về số lượng và chất lượng
Nhiều biện pháp nhằm bảo vệ RNM đã được áp dụng xong do thiếu những cơ chế thích hợp nên hiệu quả chưa cao do chưa coi trọng đúng mức vai trò của người dân địa phương tham gia trong công tác bảo vệ rừng Những kinh nghiệm thực tiễn trong công tác bảo vệ và phát triển nguồn TNTN nói chung và tài nguyên rừng nói riêng cho thấy, nếu biết tổ chức và phát huy tốt vao trò của cộng đồng trong công tác bảo vệ rừng sẽ có hiệu quả rất tốt Bởi vậy, việc tham gia vào quá trình quy hoạch quản lý và khai thác sử dụng tài nguyên của các cộng đồng có liên quan là khâu then chốt Đó cũng chính là phương thức quản lý TNTN dựa vào cộng đồng (Community based conservation management - CBCM)
Với tầm quan trọng đã nêu, tôi đã chọn đề tài “Bảo vệ tài nguyên rừng ngập mặn dựa vào cộng đồng” nhằm mang đến cái nhìn tổng thể về công tác
bảo tồn đa dạng sinh học dựa trên cộng đồng ở thế giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng Qua đó, tạo cơ sở trong việc thực hiện nhiệm vụ bảo tồn tài nguyên thiên nhiên gắn liền với mục tiêu phát triển bền vững
Trang 6CHƯƠNG I TỔNG QUAN VỀ RỪNG NGẬP MẶN
1.1 GIỚI THIỆU CHUNG VỀ HỆ SINH THÁI RỪNG NGẬP MẶN 1.1.1 Khái niệm rừng ngập mặn
Thuật ngữ “Rừng ngập mặn” dùng để chỉ vùng đất ngập nước chịu tác động của thủy triều, bao gồm các rừng ngập mặn, bãi triều, vùng nước mặn và các sinh cảnh khác thuộc vùng ngập triều khu vực nhiệt đới và cận nhiệt đới
Rừng ngập mặn là một loại rừng đặc biệt ở vùng cửa sông, ven biển của các nước nhiệt đới và cận nhiệt đới Trong rừng ngập mặn chỉ có một số loài cây sống được, đó là cây ngập mặn Cây ngập mặn sinh trưởng và phát triển tốt trên các bãi bùn lầy ngập nước biển, nước lợ có thủy triều lên xuống hàng ngày, khác với cây rừng trong đất liền và cây nông nghiệp chỉ sống ở nơi có nước ngọt
1.1.2 Rừng ngập mặn thế giới và Việt Nam
a Rừng ngập mặn trên thế giới
Rừng ngập mặn có thể mọc tốt ở những vùng có khí hậu nóng ẩm và không sống được ở những vùng lạnh Rừng ngập mặn được tìm thấy ở 118 quốc gia và vùng lãnh thổ, trên thế giới có khoảng 16.670.000 ha rừng ngập mặn với hơn 100 loài cây trong đó Châu Á nhiệt đới và Châu Úc là 7.487.000
ha chiếm 45% Châu Mỹ nhiệt đới là 5.781.000 ha chiếm 32% và Châu Phi nhiệt đới là 3.402.000 ha chiếm 23%
Hai nước có rừng ngập mặn lớn nhất thế giới là Indonesia và Brazil, kích thước cây mọc trong rừng ngập mặn cũng rất lớn ở Ecudor (Nam Mỹ) có cây cao đến 64m Ở các nước Đông Nam Á như Malaysia, Philippines, Thái Lan, Việt Nam rừng ngập mặn cũng phát triển vì có nhiều điều kiện thuận lợi
Trang 7như nhiệt độ cao ít biến động, lượng mưa dồi dào, bãi lầy rộng, giàu chất mùn
và phù sa…
Diện tích: năm 2005, tổng diện tích rừng ngập mặn trên thế giới đã giảm xuống còn 15,2 triệu ha Phân bố: 2 nhóm chính Khu vực Ấn độ - Thái Bình Dương và khu vực tây Phi châu Mỹ Hiện trạng đa dạng sinh học: Có khoảng 65 loài thuộc 20 chi và 16 họ cùng với 60 loài gia nhập thuộc 46 chi…
b Rừng ngập mặn tại Việt Nam
Việt Nam có bờ biển dài trên 3.260 km với nhiều cửa sông giàu phù sa nên RNM sinh trưởng tốt, có khoảng 50 loài cây ngập mặn được nhận dạng
Việt Nam có diện tích rừng ngập mặn trong top 10 của thế giới Rừng ngập mặn không chỉ hấp dẫn các nhà nghiên cứu thực vật, mà còn cả những nhà nghiên cứu động vật, thổ nhưỡng, sinh thái, môi trường, du lịch
Ở nước ta, rừng ngập mặn tập trung chủ yếu ở Nam Bộ, nhất là ở tỉnh
Cà Mau Miền Bắc do có mùa đông lạnh, đồng thời các vùng cửa sông cũng hẹp hơn, nên diện tích rừng ngập mặn và cây cũng nhỏ hơn Còn dọc miền Trung rất ít bãi lầy ven biển, các cồn cát chiếm diện tích đáng kể
+ Theo kết quả kiểm kê rừng toàn quốc, diện tích RNM Việt Nam tính đến ngày 31/12/2012 là 131.520 ha Trong đó diện tích RNM tự nhiên là 58.227 ha chiếm 44,27% và diện tích RNM trồng là 73.293 ha chiếm 55,73% + Dựa vào các yếu tố địa lý, khảo sát thực địa và một phần kết quả ảnh viễn thám đã chia RNM Việt Nam ra làm 4 khu vực khác nhau Cụ thể như sau:
- Khu vực 1: Ven biển Đông bắc, từ mũi Ngọc đến mũi Đồ sơn
Trang 8- Khu vực 2: Ven biển đồng bằng Bắc bộ, từ mũi Đồ Sơn đến mũi Lạch Trường
- Khu vực 3: Ven biển Trung bộ, từ mũi Lạch trường đến mũi Vũng Tàu
- Khu vực 4: Ven biển Nam bộ, từ mũi Vũng Tàu đến mũi Nải – Hà Tiên
1.2 VAI TRÕ CỦA RỪNG NGẬP MẶN
1.2.1 Cung cấp nguồn nguyên vật liệu
Cung cấp gỗ và vật liệu: Gỗ các loài cây đước, vẹt, cóc, đà rất cứng,
mịn, bền dùng làm cột nhà, ván, xà, đồ dùng trong gia đình, cầu, cọc chài lưới Gỗ các loài cây tạp như mắm, bần, giá dùng làm ván ép Lá cây dừa nước dùng để làm nhà, làm vách, mui thuyền và một số dụng cụ gia đình khác
Cung cấp tanin: Tanin chiết từ vỏ của cây đước, vẹt, già có chất lượng
tốt, tỉ lệ cao, dùng nhuộm vải, lưới, thuộc da Trụ mầm của các cây trong họ đước cũng chứa nhiều tanin, nhân dân ven biển Thái Bình trước đây đã khai thác để làm thuốc chữa bệnh tiêu chảy và nhuộm lưới
Cung cấp chất đốt: Các cây ngập mặn là nguồn chất đốt chủ yếu của
nhân dân vùng ven biển Nếu như biết khai thác hợp lý và phát triển rừng trồng trên các bãi bồi có thể sử dụng lâu dài Than đước, vẹt có nhiệt lượng cao, lâu tàn được nhân dân các thành phố và thị trường thế giới ưa chuộng
Sản phẩm công nghiệp: Nhiều loài cây như giá, mắm, bần có gỗ
trắng, mềm, làm bột giấy rất tốt Rễ hô hấp của cây bần xốp, có thể làm nút chai, vật cách điện
Thức ăn, đồ uống: Hầu hết các loài cây ngập mặn là thức ăn giàu đạm
cho gia súc Quả mắm nhiều đạm, có thể muối dưa, luộc ăn khi thiếu gạo Một
số loài cá như cá dứa rất thích quả mắm, tôm, cua, biển, sò, ốc, cá bớp
Trang 9Nhựa cây dừa nước lấy từ cuống quả là loại nước uống bổ, ngon, có thể khai thác để sản xuất đường, nước ngọt, cồn
1.2.2 Vai trò điều hòa
- Phòng hộ bảo vệ môi trường sinh thái
Chống xói mòn, hạn chế bão gió, bảo vệ đê ven biển, chống sạt lở, bảo
vệ các công trình ven biển Rừng ngập mặn còn có tác dụng hạn chế xâm nhập mặn Nhờ có rừng ngập mặn mà quá trình xâm nhập mặn diễn ra chậm
và trên phạm vi hẹp, vì khi triều cao, nước dân lan toả vào trong những khu rừng ngập mặn rộng lớn Rừng ngập mặn từ lâu đã được coi là nguồn dự trữ sinh quyển và là nơi trú ngụ của nhiều loài chim di cư, các loài động và thực vật quý hiếm
Rừng ngập mặn làm tăng lượng mưa của khí quyển nhờ vào quá trình thoát hơi nước của rừng từ các lỗ khí khổng của lá cây trong rừng Các quần
xã rừng ngập mặn là tác nhân làm cho khí hậu dịu mát hơn, giảm nhiệt độ tối
đa và giảm biên nhiệt độ
Rừng ngập mặn giúp loại bỏ các chất phú dưỡng, trầm tích và chất ô nhiễm ra khỏi đại dương và sông ngòi Vì thế, chúng giúp lọc sạch nước cho những hệ thống sinh thái xung quanh (như hệ sinh thái san hô, cỏ biển và bờ biển) Các chất độc hại và ô nhiễm từ các khu công nghiệp, đô thị thải vào sông suối, hòa tan trong nước hoặc lắng xuống đáy được nước sông mang ra các vùng cửa sông ven biển Rừng ngập mặn hấp thụ các chất này và tạo ra các hợp chất ít độc hại hơn đối với con người
- Phòng chống thiên tai
Rừng ngập mặn có chức năng chống lại sự tàn phá của sóng thần nhờ hai phương thức khác nhau Thứ nhất, khi năng lượng sóng thần ở mức trung
Trang 10chính rừng và bảo vệ cộng đồng dân cư sinh sống đằng sau chúng Có được như vậy là vì các cây ngập mặn mọc đan xen lẫn nhau, rễ cây phát triển cả trên và dưới mặt đất cộng với thân và tán lá cây cùng kết hợp để phân tán sức mạnh của sóng thần Thứ hai, khi năng lượng sóng thần đủ lớn để có thể cuốn trôi những cánh rừng ngập mặn thì chúng vẫn có thể hấp thụ nguồn năng lượng khổng lồ của sóng thần bằng cách hy sinh chính mình để bảo vệ cuộc sống con người Rễ cây ngập mặn có khả năng phát triển mạnh mẽ cả về mức
độ rậm rạp và sự dàn trải Khi cây ngập mặn bị đổ xuống thì rễ cây dưới mặt đất tạo ra một hệ thống dày đặc ngăn cản dòng nước
Rừng ngập mặn bảo vệ con người, nhà cửa và ruộng rẫy khỏi thiên tai như bão, ngập lụt và sóng triều Tổ chức “Friend of the Earth” cho rằng, bảo
vệ những cánh RNM là cách giải quyết duy nhất để bảo vệ dân cư vùng ven biển chống lại sóng và các đe doạ khác trong tương lai
Những thân cây, cành và rễ của rừng ngập mặn có vai trò như những rào cản giúp giảm những ảnh hưởng của sóng, ngập lụt và gió mạnh Theo khảo sát của IUCN (2005) tại những vùng bị tác động của sóng thần cho thấy: những vùng ven biển có rừng ngập mặn rậm, có các vành đai cây phòng hộ
như phi lao, dừa, cọ thì thiệt hại về người và tài sản ít hơn rất nhiều so với
những nơi mà các hệ sinh thái ven biển bị suy thoái, hoặc chuyển đổi đất sang mục đích sử dụng khác như nuôi tôm hay xây dựng khu du lịch
- Giảm tác động của biến đổi khí hậu
Rừng ngập mặn có tác dụng điều hòa khí hậu thông qua việc làm giảm đáng kể lượng nhiệt chiếu từ mặt trời xuống bề mặt trái đất do độ che phủ của tán rừng là rất lớn so với các loại hình sử dụng khác Mặt khác tán cây rừng
có tác dụng giữ hơi nước trong rừng, tạo nên độ ẩm cao có tác dụng chống lại bức xạ mặt trời Nếu bức xạ mặt trời không được lọc qua tán lá, nó sẽ chiếu
Trang 11thẳng xuống đất, làm đất khô hạn, độ ẩm không khí giảm mạnh, mây không được tạo thành dẫn đến hạn hán
Đặc biệt rừng có một vai trò hết sức quan trọng trong việc duy trì chu trình cacbon trên trái đất mà nhờ đó nó có tác dụng trực tiếp đến biến đổi khí hậu toàn cầu
Rừng ngập mặn có tác dụng làm giảm mạnh độ cao của sóng khi triều cường độ cao sóng biển giảm mạnh khi đi qua dải rừng ngập mặn, với mức biến đổi từ 75% đến 85%, từ 1,3m xuống 0,2m - 0,3m Ngoài ra rừng ngập mặn còn có tác dụng rất tốt trong việc loại thải khí nhà kính (vốn là nguyên nhân chính gây ra biến đổi khí hậu) ra khỏi bầu khí quyển
1.2.3 Vai trò hỗ trợ
Phòng hộ đồng ruộng và khu dân cư: giữ nước, cố định phù sa, hạn chế
lũ lụt và hạn hán, tăng độ ẩm cho đất Rừng làm chậm dòng chảy và phát tán rộng nước triều nhờ hệ thống rễ dày đặt trên mặt đất của các loài cây đước, vẹt, mắm, bần,…làm cản sóng, tích lũy phù sa, mùn bã thực vật tại chổ rễ cây ngập mặn chằng chịt, đặc biệt là những quần thể thực vật tiên phong mọc dày đặc có tác dụng làm giảm vận tốc dòng chảy tạo điều kiện cho trầm tích bồi tụ nhanh hơn ở các vùng cửa sông ven biển Chúng vừa ngăn chặn có hiệu quả hoạt động công phá bờ biển của sóng, đồng thời là vật cản làm cho trầm tích lắng đọng Nhiều bãi nổi ở cửa sông, ven biển ngày nay trở thành những khu rừng có giá trị kinh tế cao như Cồn Trong, Cồn Ngoài (Minh Hải), Cồn Lu, Cồn Ngạn (Nam Định) đều là nơi phát triển của các cây ngập mặn
Rừng ngập mặn còn là đối tượng nghiên cứu của nhiều lĩnh vực khoa học, đặc biệt là nơi dự trữ sinh quyển bảo tồn các nguồn gen quý hiếm
Trang 121.2.4 Về văn hóa
Du lịch sinh thái là loại hình du lịch dựa vào thiên nhiên và văn hóa bản địa gắn với giáo dục môi trường, đóng góp cho nỗ lực bảo tồn và phát triển bền vững với sự tham gia tích cực của cộng đồng địa phương Du lịch sinh thái gắn liền với các vườn quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên, những địa điểm
có cảnh quan đặc biệt
Du lịch sinh thái là một dịch vụ góp phần nâng cao đời sống tinh thần
và vật chất cho người dân địa phương Thông qua du lịch sinh thái những người dân địa phương nhận thức được giá trị do rừng mang lại họ sẽ gắn bó với rừng hơn, tích cực hơn trong công tác xây dựng và phát triển rừng bền vững Vì vậy người dân sẽ nâng cao trách nhiệm bảo vệ khu di tích lịch sử của rừng và nâng cao giá trị cảnh quan và du lịch
1.3 NGUYÊN NHÂN VÀ HẬU QUẢ MẤT ĐA DẠNG SINH HỌC RỪNG NGẬP MẶN
1.3.1 Sử dụng không bền vững các nguồn tài nguyên sinh vật
Mở rộng đất nông nghiệp, lâm nghiêp xâm hại đến rừng và các hệ sinh thái khác: Mở rộng đất canh tác nông nghiệp có liên quan đến quá trình hình thành và phát triển của đất nước, là quy luật tất yếu phải xảy ra khi dân số tăng nhanh và văn hoá, kinh tế, xã hội ngày một phát triển Ngày nay, phá rừng, xâm hại đến đất ngập nước để mở rộng đất canh tác không hợp lý là một trong những nguyên nhân quan trọng làm suy thoái đa dạng sinh học vì làm mất nơi sống cùa nhiều loài thực vật động vật
Hầu hết các loài thực vật có giá trị kinh tế, trong đó, có nhiều loài được dùng làm thức ăn (như măng, nấm), làm chất đốt, thuốc chữa bệnh, vật liệu xây dựng hay nguyên liệu làm đồ thủ công mỹ nghệ đều bị khai thác ồ ạt nhằm phục vụ tiêu thụ tại chỗ hoặc trao đổi thương mại
Trang 13- Khai thác trái phép gỗ và lâm sản ngoài gỗ
Khai thác gỗ làm cạn kiệt rừng, mất môi trường sống: Gỗ là sản phẩm lâm nghiệp rất quan trọng trong xây dựng Tuy nhiên, khai thác gỗ quá mức làm kiệt quệ rừng Khai thác gỗ phục vụ cho các mục tiêu khác nhau: làm gỗ chống hầm lò trong công nghiêp khai thác, khai thác gỗ làm đồ thủ công mỹ nghệ…Kết quả là rừng bị cạn kiệt nhanh chóng cả về diện tích và chất lượng, nhiều loài thực vật, loài gỗ quý và những động vật sống trong rừng suy giảm
số lượng và nhiều loài có nguy cơ bị tuyệt diệt
Khai thác các sản phẩm ngoài gỗ: Khoảng 2300 loài thực vật, các sản phẩm ngoài gỗ như song, mây, tre nứa, lá, cây, thuốc… được khai thác cho những mục đích khác nhau: để dùng, để bán trên thị trường trong nước và xuất khẩu
- Đánh bắt thủy sản bằng phương pháp không bền vững
Khoảng 1/5 dân số Việt Nam sống dựa vào đánh bắt thủy sản để sinh sống và các hoạt động này cũng đóng góp một phần rất lớn cho nhu cầu thực phẩm của nhân dân và xuất khẩu Tuy nhiên, việc gia tăng mức độ tiêu thụ, cộng với việc quản lý đánh bắt kém hiệu quả đã dẫn tới việc khai thác thủy sản quá mức ở nhiều vùng làm suy giảm tổng lượng đánh bắt
Nhiều loài hải sản có giá trị cao bị suy giảm nghiêm trọng, như tôm hùm (Panulirus spp.), bào ngư (Haliotesspp.), điệp (Chlamys spp.) Các kỹ thuật đánh bắt mang tính hủy diệt như dùng chất nổ, chất độc và sốc điện để đánh bắt cá đang tràn lan, dùng lưới cào mắt cáo
- Săn bắn và buôn bán trái phép động vật hoang dã
Việc săn bắn, đuổi bắt động vật hoang dã là mối đe doạ đối với động vật, đặc biệt là đối với các loài quý hiếm, các loài có giá trị kinh tế cao, các
Trang 14loài có chức năng trong đấu tranh sinh học – cân bằng sinh thái trong quần xã ngày càng mất nhiều
Các hoạt động săn bắt diễn ra do nhiều yếu tố quan hệ mắt xích với nhau, gồm cả các nhu cầu sống và giải trí Về bản chất, nhu cầu tiêu thụ của các thị trường buôn bán động vật hoang dã quốc tế và nội địa lại là nguyên nhân chủ yếu của nạn săn bắt này Các loài động vật hoang dã bị buôn bán phổ biến là những loài được dùng trong thành phần bào chế các loại thuốc đông y cổ truyền như gấu, khỉ, cầy cáo, rùa, kỳ đà và trăn, rắn; nhiều loài chim cũng bị bắt để bán làm chim cảnh Theo thống kê, năm 2002, buôn bán động vật hoang dã nội địa và qua Việt Nam lên tới khoảng 3.050 tấn, trị giá khoảng 66 triệu đô la
1.3.2 Chuyển đổi mục đích sử dụng đất
Việc chuyển đổi đất rừng và các vùng đất ngập nước một cách thiếu cơ
sở khoa học thành đất canh tác nông nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản; sự mở rộng
đô thị hoá và phát triển cơ sở hạ tầng cũng dẫn đến việc mất hay phá vỡ các
hệ sinh thái và các sinh cảnh tự nhiên
- Mở rộng diện tích sản xuất cây nông nghiệp, công nghiệp và nuôi trồng thuỷ sản
Các vùng đất ngập nước như các trảng cỏ ngập nước theo mùa đang bị
đe dọa bởi các hệ thống thủy lợi và sự chuyển đổi thành các ruộng lúa Ở Nước ta, miền Bắc rừng đang bị phá hủy do du canh, Tây Nguyên và vùng Đông Nam Bộ nhất là các vùng ven biển việc chuyển đổi mục đích trồng rừng sang nuôi tôm cũng ảnh huưởng đến mât đa dạng sinh học, đất bị nhiễm mặn Việc mở rộng thiếu kiểm soát diện tích các loài cây công nghiệp và cây kinh tế là nguyên nhân lớn nhất gây mất rừng trong thập kỷ vừa qua
Trang 15- Phát triển cơ sở hạ tầng
Việc xây dựng các công trình đường, điện và các cơ sở hạ tầng khác đã trực tiếp gây ra sự suy thoái, chia cắt, hình thành rào cản sự di cư, và làm mất các sinh cảnh tự nhiên, gây nên những tác hại nghiêm trọng và lâu dài tới sự sống còn của các quần thể động vật hoang dã Ngoài ra, việc phát triển cơ sở
hạ tầng còn làm tăng dân số cơ học tạo ra tác động gián tiếp đến suy thoái ĐDSH tại rừng ngập mặn
Hậu quả của việc phát triển cơ sở hạ tầng trong khu vực rừng ngập mặn:
- Làm thay đổi các kiểu nơi cư trú như vực sông-suối, ghềnh, bãi cát chắn trên sông, đồng bằng ngập lụt ven sông, lòng sông Bởi vậy làm thay đổi cấu trúc thành phần loài thuỷ sinh
- Nhịp sống của thuỷ sinh vật như thời kỳ sinh sản, sinh trưởng, kiếm mồi và các phản ứng khác với môi trường sống bị thay đổi
- Nhiều loài thuỷ sinh vật, đặc biệt các loài có tập tính di cư dài, có tính
di chuyển kết nối theo chiều dọc sông bị ảnh hưởng
- Thay đổi dòng chảy tạo điều kiện thuận lợi cho các loài ngoại lai xâm nhập vào hệ sinh thái sông
1.3.3 Ô nhiễm môi trường
Hiện nay, chất lượng môi trường nói chung đã xuống cấp Nhiều thành phần môi trường bị suy thoái, tình trạng ô nhiễm do các chất thải khác nhau không được xử lý đổ ra môi trường bên ngoài là nguyên nhân đe dọa tới đa dạng sinh học: gây chết, làm giảm số lượng cá thể, gián tiếp làm hủy hoại nơi
cư trú và môi trường sống của các loài sinh vật hoang dã
Trang 16Thuốc trừ sâu được sử dụng ngày càng phổ biến ở Việt Nam đã góp phần làm suy thoái các quần thể chim ở các vùng nông thôn và ngoại ô thành phố, do chúng đã tiêu diệt các hệ động vật không xương sống là các mắt xích
ở bậc thấp trong chuỗi thức ăn của các loài chim Các hệ sinh thái nước ngọt, duyên hải và biển cũng đang bị đe dọa bởi nạn ô nhiễm từ nhiều nguồn, bao gồm nước thải chưa được xử lý, hệ thống thoát nước nông nghiệp và các dòng
thải công nghiệp
1.3.4 Sức ép từ gia tăng dân số
Cùng với sự gia tăng dân số là quá trình đô thị hoá diễn ra rất nhanh chóng trong thời gian gần đây Đô thị hoá không chỉ diễn ra ở các nước công nghiệp phát triển mà còn ở các nước đang phát triển Tuy nhiên, nếu như
ở các nước công nghiệp phát triển quá trình này diễn ra một cách tương đối có kiểm soát, thì ở các nước đang phát triển đô thị hoá hầu như là một quá trình
tự phát Đi kèm với quá trình đô thị hoá là các con đường, các khu đô thị, khu tập trung dân cư mới Việc xây dựng cơ bản như làm đường giao thông, thuỷ lợi, khu công nghiệp, thuỷ điện, khu dân cư mới… cũng là nguyên nhân trực tiếp làm mất môi trường sống, làm suy giảm đa dạng sinh học
Kinh tế chủ yếu dựa vào khai thác nguồn tài nguyên thiên nhiên, cho nên dân số tăng cao, nguồn tài nguyên thiên nhiên, trong đó, tài nguyên sinh vật giữ vị trí hàng đầu, ngày càng được sử dụng nhiều hơn Đối với sự tiêu thụ tài nguyên, sức ép lớn nhất là nhu cầu sử dụng đất để canh tác nông nghiệp, chăn nuôi ngày càng tăng, gây tác động lớn đến các hệ sinh thái trong thiên nhiên Do đó, tài nguyên sinh vật ngày càng cạn kiệt, số lượng các loài ngày càng ít đi, khối lượng các quần thể sinh vật ngày càng suy giảm, nguồn gen ngày càng nghèo nàn
Trang 171.3.5 Chiến tranh
Chiến tranh huỷ diệt con người, cơ sở kinh tế, huỷ diệt rừng và huỷ diệt
hệ động thực vật Chiến tranh kèm theo nó là cháy rừng, phá huỷ rừng bằng các chất độc hoá học cũng đồng nghĩa là các động thực vật sinh sống trong hệ sinh thái rừng bị suy giảm và bị tiêu diệt Trong giai đoạn từ năm 1961 đến năm 1975, 13 triệu tấn bom và 72 triệu lít chất độc hoá học rải xuống chủ yếu
ở miền Nam Việt Nam đã huỷ diệt khoảng 4,5 triệu ha rừng
Hậu quả của hoá chất độc do Mỹ rải ở miền nam Việt Nam trong chiến tranh cho đến nay vẫn còn gây nên hậu quả nghiêm trọng cho người dân Việt Nam, tồn dư trong đất, trong môi trường sống và trong cơ thể động thực vật
ở khu vực bị rải chất độc hoá học làm cho môi trường sống kém chất lượng, làm suy giảm đa dạng sinh học
1.3.6 Mâu thuẫn trong chính sách
Các chính sách được soạn thảo và ban hành không đồng bộ, một số chủ trương chính sách nhằm kiểm soát tài nguyên sinh vật mang tính ứng phó nhiều hơn là mang tính chủ động đã hoạch định sẵn Các chủ trương đề ra nhằm ngăn chặn suy giảm đa dạng sinh học, nhưng thiếu các giải pháp kiểm soát chặt chẽ của các cấp quản lý
Sau năm 1975, đất nước đã được thống nhất, nhưng nền kinh tế vẫn còn gặp vô vàn khó khăn Trong giai đoạn này gỗ được khai thác mạnh cho xây dựng và xuất khẩu tạo nguồn vốn cho phát triển kinh tế Những chính sách trong thời kỳ đổi mới (từ năm 1986) một mặt đã góp phần tạo ra bước tiến mạnh mẽ cho nền kinh tế, mặt khác đã gây ảnh hưởng tiêu cực đến ĐDSH Lợi nhuận kinh tế cao của việc xuất khẩu nông sản đã kích thích các thành phần kinh tế đầu tư phá rừng để mở rộng diện tích trồng cây công nghiệp như
cà phê, cao su, điều và phá rừng ngập mặn để nuôi tôm cá
Trang 18Điển hình là chính sách nhập khẩu sinh vật ngoại lai, các loài du nhập cạnh tranh với các loài bản địa để có được nguồn thức ăn và nơi ở Các loài
du nhập còn ăn thịt các loài bản địa cho đến khi chúng tuyệt chủng hoặc làm chúng thay đổi nơi cư trú đến mức nhiều loài bản địa không thể nào tồn tại được nữa Các chính sách nhập khẩu sinh vật ngoại lai làm ảnh hưởng đến hệ sinh thái trong nước:
- Chính sách nhập khẩu rùa tai đỏ, rùa tai đỏ đã có ở Việt Nam từ năm
1994, được người dân nuôi làm cảnh và còn phóng sinh ra ao hồ Hiện nay rùa tai đỏ đã có mặt ở hầu hết các tỉnh thành
- Chính sách nhập khẩu ốc bươu vàng, trung bình mỗi năm, ốc bươu vàng
“ăn” hết hơn 200.000ha lúa Ngoài lúa, ốc bươu vàng còn hại tảo, rau muống, khoai sọ, trứng và được ví như máy nghiền vì có thể ăn liên tục trong 24 giờ Đặc biệt, gần đây chúng còn gặm vỏ cây tràm mới trồng, gây chết cây ở vùng Đồng Tháp Mười
- Chính sách nhập khẩu chuột hải ly, chuột hải ly đã gây ra các tác hại nghiêm trọng như phá huỷ hệ sinh thái đất ngập nước, phá huỷ mùa màng, làm hư hỏng đê điều, bờ kênh, bờ sông Diệt trừ tận gốc là biện pháp quản lý
có hiệu quả đối với loài vật này Tính đến cuối năm 2002, khoảng 4.000 con Chuột hải ly đã bị tịch thu và tiêu hủy Hiện loài này được cho là đã loại bỏ khỏi Việt Nam
Trang 19CHƯƠNG II TỔNG QUAN VỀ BẢO TỒN ĐA DẠNG SINH HỌC RỪNG NGẬP MẶN DỰA VÀO CỘNG ĐỒNG
2.1 CÁC KHÁI NIỆM
2.1.1 Khái niệm về tài nguyên sở hữu chung
Tài nguyên sở hữu chung là tài nguyên được quản lý và sử dụng bởi một nhóm người (không phải một người) Để quản lý tài nguyên này thì nhóm người quản lý phải đặt ra các luật lệ và giám sát thực hiện các luật lệ này
Đối với tài nguyên sở hữu chung vấn đề luật lệ là rất quan trọng Bởi vì khi dân số phát triển hay các yếu tố về luật bị phá vỡ thì hệ thống khác sẽ không vận hành hiệu quả nữa và chuyển sang một dạng tài nguyên khác được gọi là tài nguyên tự do tiếp cận Khi đó việc sử dụng tài nguyên này không bị loại trừ và có tính cạnh tranh là cho việc khai thác tài nguyên không bị ràng buộc, mạnh ai người ấy khai thác, khai thác cho tới khi không thể khai thác được nữa thì thôi
2.1.2 Khái niệm cộng đồng
Cộng đồng là những nhóm người có những đặc điểm về thái độ, cách ứng xử, tập quán sinh hoạt và ước muốn tương đối giống nhau, cùng sống trong bối cảnh tự nhiên, kinh tế, xã hội Hay nói cách khác, cộng đồng được xác định là tất cả những người sống hoặc làm việc trong một khu vực địa lý nhất định, không phân biệt nam nữ, già hay trẻ Như vậy sự tham gia của cộng đồng được xác định là tất cả những người sống hoặc làm việc trong khu vực
Cộng đồng cũng có thể bao gồm những tổ chức xã hội do cộng đồng lập ra để đại diện cho các quan điểm của họ Ở nhiều dân tộc thiểu số, Già làng, Trưởng bản là những người giàu kinh nghiệm, nắm vững phong tục, tập quán của cộng đồng mình, đồng thời cũng là trung tâm của cuộc hoà giải,
Trang 20những tranh chấp xung đột, được cộng đồng tôn sùng nên hoàn toàn có thể đại diện cho cộng đồng, khác với những tổ chức được thành lập cho chương trình,
dự án hay tổ chức quần chúng có màu sắc chính trị như Đoàn Thanh niên, Hội Phụ nữ, Hội Cựu chiến binh
Tuỳ theo lịch sử hình thành hay đặc điểm của cộng đồng, có các loại cộng đồng sau:
- Cộng đồng người địa phương, là những người có quan hệ gần gũi với nhau, thường xuyên gặp mặt ở địa bàn sinh sống
- Cộng đồng những người có chung quan tâm đặc điểm, tính chất (cộng đồng các nhà nghiên cứu khoa học, cộng đồng doanh nhân )
- Cộng đồng những người có chung những quan tâm đặc điểm, tính chất, màu da (cộng đồng người dân tộc thiểu số, cộng đồng người da màu )
- Cộng đồng có quan niệm chung về các vấn đề quan hệ xã hội, có chung mục tiêu, quan điểm chung về giá trị, cùng tham gia vào quá trình ra quyết định (cộng đồng ASEAN, các nước Pháp ngữ )
2.1.3 Khái niệm sự tham gia của cộng đồng
Có nhiều cách hiểu khác nhau về sự tham gia của cộng đồng Nhưng theo tổ chức phát triển quốc tế Canada quan niệm :
Tham gia cộng đồng thu hút các nhóm đối tượng mục tiêu vào các khâu của chu trình dự án từ thiết kế, thực hiện và đánh giá dự án với mục tiêu nhằm xây dựng năng lực của người nghèo để duy trì được cơ sở hạ tầng và kết quả
mà dự án đã tạo ra được trong quá trình thực hiện, và tiếp tục phát triển sau khi tổ chức hay cơ quan tài trợ rút khỏi dự án Cách tiếp cận này đựơc sử dụng khá phổ biến trong các lĩnh vực, các dự án trên thế giới
Trang 21Sự tham gia của cộng đồng là việc một cộng đồng được tham gia tự đóng góp ý kiến, bày tỏ thái độ và mối quan tâm của họ về một kế hoạch phát triển, hay một quy hoạch, kế hoạch sử dụng tài nguyên Đó là cơ hội để người dân có thể bày tỏ ý kiến của mình và bằng cách đó họ có thể ảnh hưởng đến
sự ra quyết định Điều này sẽ tác động đến những kế hoạch của một vùng rộng lớn hoặc cũng có thể là một dự án nhỏ
Hình thức tham gia có thể khác nhau, tuỳ thuộc vào loại và mức độ của
dự án, cũng như khả năng nhận thức của cộng đồng về vấn đề đang được quan tâm Thời gian của sự tham gia cũng khác nhau, từ giai đoạn đầu của việc lập
kế hoạch hoặc trong quá trình cần có sự đánh giá nhu cầu của cộng đồng, sự tham gia của cộng đồng vào quá trình trên càng sớm thì càng có được nhiều
sự ủng hộ của cộng đồng
Những quyết định về quy hoạch, kế hoạch sử dụng tài nguyên sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng cuộc sống của cộng đồng Những người trong cộng đồng chịu ảnh hưởng bao gồm những người sống trong khu vực đó, làm việc trong khu vực đó, học tập trong khu vực đó và thường qua lại trong khu vực đó
Do đó, sự cần thiết phải có được những ý kiến của họ về những gì họ đang làm, những gì họ đang muốn có và trong nhiều trường hợp, chính cộng đồng là những người ra quyết định Thực tiễn đã cho thấy, nếu những kế hoạch phát triển hoặc quy hoạch sử dụng tài nguyên phù hợp với nguyện vọng
và nhu cầu của cộng đồng thì cộng đồng cũng sẽ tự hào về xứ sở của mình
2.1.4 Khái niệm về quản lý môi trường dựa vào cộng đồng(CBEM)
Quản lý cộng đồng là phương thức bảo vệ môi trường trên cơ sở một vấn đề môi trường cụ thể ở địa phương, thông qua việc tập hợp các cá nhân và
tổ chức cần thiết để giải quyết vấn đề đó Phương pháp này sử dụng các công