1 BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Tiểu luận Ứng dụng sinh thái, đa dạng sinh học và bảo tồn Hiện trạng đa dạng sinh học và các vấn đề trong quản lý đa dạng sinh học tại Việt Nam GVHD PGS TS LÊ QUỐC TUẤN HVTH NGUYỄN ANH ĐÀO TP HCM, tháng 92017 2 Mục lục I ĐẶT VẤN ĐỀ 1 II HIỆN TRẠNG ĐA DẠNG SINH HỌC CỦA VIỆT NAM 2 2 1 Tầm quan trọng của đa dạng sinh học 2 2 2 Hiện trạng đa dạng sinh học 3 2 2 1 Hiện trạng các hệ sinh thái ở Việt Nam 3 2 2 2 Hiện trạng thành lậ.
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Tiểu luận Ứng dụng sinh thái, đa dạng
sinh học và bảo tồn
Hiện trạng đa dạng sinh học và các vấn đề trong
quản lý đa dạng sinh học tại Việt Nam
GVHD: PGS.TS LÊ QUỐC TUẤN HVTH: NGUYỄN ANH ĐÀO
TP HCM, tháng 9/2017
Trang 2Mục lục
I ĐẶT VẤN ĐỀ 1
II HIỆN TRẠNG ĐA DẠNG SINH HỌC CỦA VIỆT NAM 2
2.1 Tầm quan trọng của đa dạng sinh học 2
2.2 Hiện trạng đa dạng sinh học 3
2.2.1 Hiện trạng các hệ sinh thái ở Việt Nam 3
2.2.2 Hiện trạng thành lập và quản lý khu bảo tồn ở Việt Nam 7
2.2.3 Hiện trạng loài tại Việt Nam 9
2.2.3 Hiện trạng nguồn gen 14
III CÁC VẤN ĐỀ ƯU TIÊN TRONG QUẢN LÝ ĐA DẠNG SINH HỌC TẠI VIỆT NAM 15
3.1 Củng cố hệ thống chính sách và pháp luật về đa dạng sinh học: 15
3.2 Tăng cường hệ thống tổ chức quản lý, phân công, phân cấp: 17
3.3 Tăng tính hiệu quả của thực thi pháp luật: 18
3.4 Tăng cường nguồn lực tài chính cho đa dạng sinh học: 19
3.5 Nâng cao nhận thức và xã hội hóa công tác bảo tồn đa dạng sinh học: 21
TÀI LIỆU THAM KHẢO 23
Trang 3I ĐẶT VẤN ĐỀ
Đa dạng sinh học (ĐDSH) là nền tảng cho sự sống và phát triển của con người ĐDSH được xem
là “vốn tự nhiên” cho giảm nghèo, tăng trưởng xanh và phát triển bền vững trong bối cảnh biến đổi khí hậu (BĐKH), mất an ninh lương thực, khủng hoảng kinh tế mà nhiều khu vực, quốc gia đang phải đối mặt Cam kết bảo tồn và đầu tư cho bảo tồn ĐDSH được quốc tế xem là sự đầu tư cho tương lai và đang trở thành một điều kiện, nội dung bắt buộc trong các tiến trình đàm phán
về hợp tác kinh tế và thương mại quốc tế
Việt Nam là quốc gia giàu có về ĐDSH, được xếp hạng thứ 16 trên thế giới về mức độ đa dạng của tài nguyên sinh vật Tính đa dạng về hệ sinh thái (HST) bao gồm rừng, biển, đất ngập nước;
sự phong phú và giàu có về các loài và nguồn gen sinh vật; và dịch vụ sinh thái-môi trường do chúng mang lại; cùng hệ thống các kiến thức truyền thống và văn hóa địa phương về quản lý và
sử dụng tài nguyên đã làm cho ĐDSH có vai trò và giá trị vô cùng to lớn trong việc đảm bảo an ninh lương thực và phát triển kinh tế-xã hội Việt Nam, nhất là lĩnh vực sản xuất nông lâm nghiệp
và thủy sản Du lịch sinh thái cũng đang trở thành ngành kinh tế đầy tiềm năng, thu hút đầu tư trong và ngoài nước
Nhận thức được sự cần thiết phải bảo tồn ĐDSH, từ đầu những năm 1960 của thế kỷ trước, Đảng
và nhà nước đã có những chính sách bảo vệ các khu rừng nguyên sinh (rừng cấm), nhờ đó Vườn quốc gia Cúc Phương được thành lập Tuy nhiên, quyết tâm và cam kết bảo tồn ĐDSH của nhà nước được chú trọng hơn sau khi Việt Nam trở thành viên công ước CBD và CITES năm 1994 Một hệ thống các vườn quốc gia và khu bảo tồn (VQG/KBT) của Việt Nam đã được quy hoạch
và thành lập trên toàn quốc (theo Luật Bảo vệ và Phát triển rừng, Luật Thủy sản) Đến nay, Việt Nam đã có 164 KBT rừng đặc dụng với tổng diện tích gần 2,2 triệu ha và dự kiến đến năm 2020
sẽ nâng lên 176 khu tương đương 2,4 triệu ha[1] Thành tựu và cũng là cột mốc quan trọng nhất cho sự nghiệp bảo tồn ĐDSH Việt Nam là Luật ĐDSH được Quốc hội thông qua ngày
13/11/2008 và bắt đầu có hiệu lực từ ngày 01/7/2009 Luật ĐDSH được đánh giá là rất tiến bộ,
có tầm nhìn, hệ thống và tiếp cận đầy đủ các cam kết và chuẩn mực quốc tế về bảo tồn ĐDSH Đây là khung luật đầu tiên của Việt Nam quy định về bảo tồn và phát triển bền vững ĐDSH; quyền và nghĩa vụ của tổ chức, hộ gia đình, cá nhân trong bảo tồn và phát triển bền vững ĐDSH Trên cơ sở này, đến nay đã có 10 Nghị định của Chính phủ, 12 Quyết định của Thủ tướng Chính phủ và 23 Thông tư của Bộ trưởng đã được ban hành, thể chế hóa các chiến lược, quy hoạch, cơ chế về bảo tồn và phát triển bền vững ĐDSH Việt Nam
Tuy vậy, không thể phủ nhận được thực tế là tài nguyên ĐDSH của Việt Nam liên tục bị suy giảm và suy thoái dưới áp lực của gia tăng dân số, khai thác quá mức tài nguyên sinh vật và sự đánh đổi với ưu tiên phát triển kinh tế Việt Nam không phải là trường hợp cá biệt, mà đây là tình trạng chung ở giai đoạn chuyển đổi của các quốc gia đang phát triển có nền kinh tế dựa vào khai thác tài nguyên Nghị quyết số 24-NQ/TW ngày 03/6/2013 của Ban chấp hành TƯ Đảng về chủ động ứng phó với BĐKH, tăng cường quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường đã nhận
Trang 4định: “…ĐDSH suy giảm, nguy cơ mất cân bằng sinh thái đang diễn ra trên diện rộng, ảnh hưởng tiêu cực đến phát triển kinh tế-xã hội, sức khỏe và đời sống nhân dân” Đồng thời, Nghị quyết cũng giao nhiệm vụ cho các cơ quan quản lý Nhà nước thực hiện các nội dung: (i) Bảo vệ, phục hồi, tái sinh rừng tự nhiên, đẩy mạnh trồng rừng, nhất là rừng ngập mặn, rừng phòng hộ ven biển, rừng đầu nguồn Ngăn chặn có hiệu quả nạn phá rừng, cháy rừng Sớm dừng khai thác
gỗ rừng tự nhiên; (ii) Tăng cường quản lý, mở rộng diện tích các khu bảo tồn thiên nhiên hiện có tại những nơi có đủ điều kiện và đẩy nhanh việc thành lập các khu bảo tồn thiên nhiên mới Ưu tiên nguồn lực cho bảo vệ cảnh quan, sinh thái, di sản thiên nhiên; (iii) Bảo vệ nghiêm ngặt các loài động vật hoang dã, các giống cây trồng, cây dược liệu, vật nuôi có giá trị, loài quý hiếm có nguy cơ bị tuyệt chủng Ngăn chặn sự xâm nhập, phát triển của sinh vật ngoại lai xâm hại; (iv) Tăng cường quản lý rủi ro từ sinh vật biến đổi gen
Nhằm duy trì và bảo tồn ĐDSH và thực hiện Nghị quyết số 24-NQ/TW của Ban chấp hành TƯ Đảng, các cơ quan Nhà nước phải triển khai đồng bộ rất nhiều các giải pháp, biện pháp Tuy nhiên, để công tác bảo tồn ĐDSH sớm đi vào nề nếp và đạt hiệu quả thì việc xác định rõ và tổ chức triển khai các nhiệm vụ ưu tiên nhằm duy trì, bảo tồn sự ĐDSH của Quốc gia là việc quan trọng đầu tiên chúng ta phải làm
II HIỆN TRẠNG ĐA DẠNG SINH HỌC CỦA VIỆT NAM
2.1 Tầm quan trọng của đa dạng sinh học
ĐDSH ở Việt Nam có ý nghĩa to lớn trong đời sống tự nhiên và con người, thể hiê ̣n qua chức năng và tầm quan tro ̣ng của các hệ sinh thái Không chỉ là nơi cư trú, môi trường sống của nhiều loài sinh vật, các HST còn có chức năng cung cấp các loại hình dịch vụ như sau:
Dịch vụ cung cấp: HST mang đến những lợi ích trực tiếp cho con người, thường có giá trị kinh tế
rõ ràng, đóng góp lớn cho nền kinh tế quốc gia, đặc biệt là trong lĩnh vực sản xuất nông lâm nghiệp và thủy sản; là cơ sở đảm bảo an ninh lương thực của đất nước; duy trì nguồn gen tạo giống vật nuôi, cây trồng; cung cấp các vật liệu xây dựng và các nguồn nguyên liệu, dược liệu; cung cấp khoảng 80% lượng thủy sản khai thác từ vùng biển ven bờ và đáp ứng gần 40% lượng protein cho người dân Nghề thủy sản đem lại nguồn thu nhập chính cho khoảng 8 triệu người và một phần thu nhập cho khoảng 12 triệu người
Tổng trữ lượng hải sản ở biển Việt Nam ước tính khoảng 3,075 triệu tấn (số liệu điều tra giai đoạn 2011-2012 của Viê ̣n Nghiên cứu hải sản) Tổng sản lượng khai thác nên ở mức 1,7 đến 1,9 triệu tấn năm Hiện nay, tổng sản lượng khai thác đang ở mức 2,7 triệu tấn/năm
Dịch vụ văn hóa: HST không chỉ cung cấp những lợi ích vật chất trực tiếp mà còn đóng góp vào những nhu cầu lớn hơn của xã hội Các HST có tính ĐDSH cao cung cấp giá trị vô cùng to lớn cho các ngành giải trí ở Việt Nam với các loại hình du lịch sinh thái, hứa hẹn đem lại nhiều giá trị kinh tế và góp phần quan trọng vào việc nâng cao nhận thức của người dân về tầm quan trọng
Trang 5của ĐDSH và công tác bảo tồn thiên nhiên (BTTN) Khoảng 70% tăng trưởng du lịch là từ các vùng duyên hải có các HST tự nhiên giàu ĐDSH Theo báo cáo của 14/30 VQG và các khu BTTN, năm 2011 đã đón tiếp 728.000 lượt khách, với tổng doanh thu trên 30 tỷ đồng
Dịch vụ điều tiết: Dịch vụ điều tiết bao gồm: sự điều hòa khí hậu thông qua lưu trữ cacbon và kiểm soát lượng mưa, lọc không khí và nước, phân hủy các chất thải trong môi trường, giảm nhẹ những tác hại của thiên tai như lở đất hay bão lũ Giá trị lưu giữ và hấp thụ cacbon của rừng Việt Nam là rất đáng kể, đặc biệt là rừng tự nhiên Giá trị này tỷ lệ thuận với trữ lượng và sinh khối rừng Kết quả nghiên cứu đã xác định: giá trị lưu giữ cacbon của rừng tự nhiên là 35-85 triệu đồng/ha/năm và giá trị hấp thụ cacbon hàng năm khoảng 0,4-1,3 triệu đồng/ha/năm đối với Miền Bắc Ở Miền Trung, giá trị lưu giữ cacbon trong khoảng 37- 91 triệu đồng/ha/năm và giá trị hấp thụ cacbon là 0,5- 1,5 triệu đồng/ha/năm Ở Miền Nam, giá trị lưu giữ cacbon là 46-91 triệu đồng/ha/năm và giá trị hấp thụ cacbon là 0,6-1,5 triệu đồng/ha/năm
Dịch vụ hỗ trợ: Đây là yếu tố thiết yếu trong các chức năng của HST và gián tiếp ảnh hưởng đến tất cả các loại dịch vụ khác Có thể ví dụ về di ̣ch vu ̣ hỗ trơ ̣ như sự hình thành đất hay quá trình sinh trưởng của thực vật Việt Nam nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa, hàng năm phải chịu từ 5 đến 8 cơn bão và áp thấp nhiệt đới kèm theo mưa lớn Nghiên cứu của Trung tâm Nghiên cứu HST rừng ngập mặn (MERC) cho thấy, hệ thống rễ dày đặc của các loài cây rừng ngập mặn có tác dụng rất lớn trong việc bảo vệ đất ven biển và vùng cửa sông Chúng vừa ngăn chặn hiệu quả
sự công phá bờ biển của sông, vừa làm vật cản cho trầm tích lắng đọng như giữ hoa lá, cành rụng trên mặt bùn và phân hủy tại chỗ nên bảo vệ được đất Một số loài cây tiên phong như Mắm biển, Mắm trắng, Bần trắng sinh trưởng trên đất bồi non có khả năng giữ đất phù sa, mở rộng đất liền ra phía biển như ở vùng Tây Nam mũi Cà Mau, dọc sông Đồng Tranh, Cần Giờ, TP Hồ Chí Minh, các bãi bồi ở cửa sông Hồng
Các nghiên cứu cho thấy, các dải rừng ngập mặn ven biển Việt Nam góp phần giảm ít nhất 20 – 50% thiệt hại do bão, nước biển dâng và sóng thần gây ra Đặc biệt, hệ thống rừng ngập mặn trồng ven đê còn đóng vai trò là tấm là chắn xanh, giảm 20 – 70% năng lượng của sóng biển, đảm bảo an toàn cho các con đê biển, giúp tiết kiệm hàng nghìn tỷ đồng cho việc duy tu, sửa chữa đê biển
2.2 Hiện trạng đa dạng sinh học
2.2.1 Hiện trạng các hệ sinh thái ở Việt Nam
a) Các hệ sinh thái quan trọng
HST ở Việt Nam rất đa dạng, trong đó có 3 nhóm chính: HST trên cạn, HST đất ngập nước và HST biển
Trang 6– HST trên cạn: Trên phần lãnh thổ vùng lục địa ở Việt Nam, có thể phân biệt các kiểu HST trên cạn đặc trưng như: rừng, đồng cỏ, savan, đất khô hạn, đô thị, nông nghiệp, núi đá vôi Trong các kiểu HST ở cạn, thì HST rừng có tính đa dạng về thành phần loài cao nhất, đồng thời đây cũng là nơi cư trú của nhiều loài động vật, thực vật hoang dã có giá trị kinh tế và khoa học Tổng diện tích hệ sinh rừng khoảng 32 triệu ha và tập trung nhiều ở các vùng Đông Bắc, Tây Bắc, Bắc Trung Bộ, Nam Trung Bộ và Tây Nguyên Mục tiêu trong thời gian tới là sẽ tăng độ che phủ rừng lên 42 – 43% vào năm 2015 và 44 – 45% vào năm 2020, góp phần đáp ứng các yêu cầu về môi trường cho quá trình phát triển bền vững của đất nước
Theo báo cáo tổng kết Dự án “Trồng mới 5 triệu ha rừng” và kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng giai đoạn 2001 – 2010 của Chính phủ (báo cáo số 1328/CP – ngày 09 tháng 8 năm 2011), năm
2005, tổng trữ lượng gỗ cả nước là 811,6 triệu m3 (chiếm 6,5% tổng trữ lượng gỗ) Đến năm
2010, tổng trữ lượng gỗ của cả nước là 935,3 triệu m3, trong đó, gỗ rừng tự nhiên chiếm 92,8%
và 8,5 tỷ cây tre nứa, trữ lượng gỗ rừng trồng là 74,8 triệu m3 (chiếm 7,9% tổng trữ lượng gỗ)
So với năm 2006, trữ lượng gỗ của cả nước tăng được 123,7 triệu m3 (chiếm 15,24%) Tuy nhiên, chất lượng rừng của một số trạng thái rừng giàu, trung bình, rừng ngập mặn thuộc rừng tự nhiên tiếp tục giảm Theo thống kê của Cục Kiểm lâm và Viện Điều tra Quy hoạch Rừng thì độ che phủ của rừng năm 2010 đã đạt 39,5%
– HST đất ngập nước (ĐNN): ĐNN Việt Nam rất đa dạng về kiểu loại với hơn 10 triệu ha, phân
bố ở hầu hết các vùng sinh thái của nước ta, gắn bó lâu đời với cộng đồng dân cư và có vai trò to lớn đối với đời sống nhân dân và phát triển kinh tế – xã hội
ĐNN được chia thành 2 nhóm chính là ĐNN ven biển và ĐNN nội địa ĐNN ven biển Việt Nam
đa dạng về kiểu, gồm 20 kiểu (Hệ thống phân loại ĐNN Việt Nam, Cục Bảo vệ Môi trường, 2007) với tổng diện tích khoảng 1,9 triệu ha (Theo bản đồ ĐNN ven biển Việt Nam tỷ lệ
1:100.000, Trung tâm Viễn thám – Bộ TN&MT, 2007) phân bố trên phạm vi 126 huyện ven biển (29 tỉnh, thành phố có biển) có đường ranh giới tiếp giáp với biển và phần đất ven biển chịu tác động của nước biển
HST thuỷ vực nước ngọt rất đa dạng bao gồm các thuỷ vực nước đứng như hồ, hồ chứa, ao, đầm, ruộng lúa nước; các thuỷ vực nước chảy như suối, sông, kênh rạch Trong đó, một số kiểu có tính ĐDSH cao như suối vùng núi đồi, đầm lầy than bùn với nhiều loài động vật mới cho khoa học đã được phát hiện Các HST sông, hồ ngầm trong hang động cát tơ còn ít được nghiên cứu
Việt Nam có 2 vùng ĐNN nội địa quan trọng là vùng cửa sông Đồng bằng sông Hồng và Đồng bằng sông Cửu Long: (i) ĐNN ở vùng cửa sông Đồng bằng sông Hồng có diện tích 229.762 ha (Hội khoa học đất Việt Nam, 2009) Đây là nơi tập trung các HST nước lợ và mặn với thành phần loài thực vật, động vật phong phú của các vùng rừng ngập mặn, đặc biệt đây là nơi cư trú của nhiều loài chim nước; (ii) ĐNN Đồng bằng sông Cửu Long có diện tích đất ngập nước 4.939.684 ha Đây là bãi đẻ quan trọng của nhiều loài thủy sản di cư từ phía thượng nguồn sông
Mê Kông Những khu rừng ngập nước và đồng bằng ngập lũ cũng là những vùng có tiềm năng
Trang 7sản xuất cao Có 3 HST tự nhiên chính ở Đồng bằng sông Cửu Long là HST ngập mặn ven biển, HST rừng tràm ở vùng ngập nước nội địa và HST cửa sông
– HST biển: Theo thống kê, Việt Nam có 20 kiểu HST biển điển hình Dựa trên kết quả những kết quả nghiên cứu và phân tích các kiểu HST biển với các đặc trung về điều kiện tự nhiên và môi trường biển, đặc biệt tính ĐDSH của rạn san hô, có thể phân chia vùng biển Việt Nam thành
6 vùng ĐDSH Các kết quả nghiên cứu cho thấy các kiểu HST rạn san hô, thảm cỏ biển quanh các đảo ven bờ là nơi có mức ĐDSH biển cao nhất đồng thời cũng rất nhạy cảm với những biến đổi của môi trường Trong các vùng biển của Việt Nam, quần đảo Trường Sa là vùng có tính đa dạng của rạn san hô cao nhất thế giới
Theo dẫn liệu điều tra, nghiên cứu trong giai đoa ̣n 2008 – 2010 của Viê ̣n Tài nguyên và Môi trường biển, tổng diê ̣n tích thâ ̣t có của ra ̣n san hô Viê ̣t Nam chỉ còn khoảng 14.130 ha Hiê ̣n nay,
các ra ̣n san hô chủ yếu đang ở trong tình tra ̣ng xấu Các điều tra từ năm 2004 đến 2007 ta ̣i 7
vù ng ra ̣n san hô tro ̣ng điểm của Viê ̣t Nam cho thấy chỉ có 2,9% diê ̣n tích ra ̣n san hô được đánh giá là trong điều kiê ̣n phát triển rất tốt, 11,6% ở trong tình tra ̣ng tốt, 44,9% ở trong tình tra ̣ng xấu
và rất xấu Các ra ̣n san hô phân bố ở vùng ven bờ có nguy cơ suy giảm nhanh theo thời gian Điều này thể hiê ̣n qua đô ̣ phủ giảm đi mô ̣t cách đáng kể Theo kết quả nghiên cứu của Viê ̣n Hải dương ho ̣c Nha Trang, từ năm 1994 – 2007, đô ̣ phủ ra ̣n san hô giảm trong khoảng 2,8 – 29,7% (trung bình là 10,6%), đă ̣c biê ̣t ở vùng biển Côn Đảo, vùng ven bờ Ninh Hải – Ninh Thuâ ̣n và
vịnh Nha Trang Ra ̣n san hô Cô Tô – Quảng Ninh vốn được xem là phát triển rất tốt, tỷ lê ̣ phủ
đa ̣t 60 – 80%, có nơi đa ̣t đô ̣ phủ gần 100% Năm 2007, các quan trắc và theo dõi hiê ̣n tra ̣ng ra ̣n san hô đươ ̣c Viê ̣n Tài nguyên và Môi trường biển thực hiê ̣n, kết quả cho thấy ra ̣n san hô ở đây đã
bị chết khá nhiều, có nơi đô ̣ phủ của san hô chết của toàn đảo lên đến 90% Nguyên nhân gây chết phần lớ n các loài san hô ở xung quanh quần đảo Cô Tô một phần có thể là do một số ngư dân đánh bắt cá trong các ra ̣n san hô này
Cũng như rạn san hô, HST thảm cỏ biển của nước ta cũng đang bị giảm dần diện tích một phần
do tai biến thiên nhiên, phần khác là do lấn biển để làm các ao nuôi thủy sản và xây dựng công trình ven biển Theo thống kê chung trên cả nước thì hiện nay diện tích các thảm cỏ biển của Việt Nam bị giảm từ 40 – 70% Diện tích thảm cỏ biển Cửa Đại (Quảng Nam) giảm gần 70% (2009); các thảm cỏ biển ở nam mũi Đá Chồng (Đồng Nai) giảm từ 45 – 60% xuống dưới 19% (2009) và ở Hàm Ninh (Quảng Bình) giảm từ 30% (2004) xuống còn 15% (2009) Như vậy, độ phủ của thảm cỏ biển ở những khu vực này chỉ còn bằng một nửa so với 5 năm trước Chất lượng môi trường biển suy giảm làm môi trường sống của hầu hết các loài sinh vật biển bị phá hủy, gây nhiều tổn thất về ĐDSH: nhiều loài sinh vật biển giảm số lượng, thậm chí có loài có thể đã tuyệt chủng cục bộ
Theo thống kê, tính đến năm 2012, 56% tổng diện tích rừng ngập mặn trên toàn quốc là rừng mới trồng, thuần loại, chất lượng rừng kém cả về kích cỡ, chiều cao cây và đa dạng thành phần loài Những cánh rừng ngập mặn nguyên sinh hầu như không còn Sự suy thoái này thể hiện rõ nét nhất qua sự suy giảm nhanh chóng về diện tích và chất lượng các khu rừng ngập mặn Năm
Trang 81943, nước ta có hơn 408.500 ha rừng ngập mặn, tuy nhiên đến năm 1990, diện tích rừng ngập mặn chỉ còn khoảng 255.000 ha, năm 2006 là 209.741 ha[2], đến 2010 là 140.000 ha và tính đến cuố i năm 2012 chỉ còn la ̣i 131.520 ha[3]
b) Quy hoạch các hệ sinh thái quan trọng ở Việt Nam
Quy hoạch tổng thể bảo tồn ĐDSH của cả nước đến năm 2020 và định hướng đến năm 2030 (ban hành kèm theo Quyết định số 45/QĐ-TTg ngày 08/01/2014 của Thủ tướng Chính phủ) (sau đây gọi tắt là Quy hoạch tổng thể) đã quy hoạch các HST tự nhiên, quan trọng trên cả nước như sau: – Vùng Đông Bắc: Bảo vệ các HST rừng tự nhiên lưu vực sông Hồng, sông Lô, sông Gâm; HST núi đá vôi tại Tuyên Quang, Hà Giang, Lạng Sơn, Bắc Kạn, Cao Bằng, Quảng Ninh; HST đất ngập nước tại Đầm Hà, Yên Hưng (Quảng Ninh)
– Vùng Tây Bắc: Bảo vệ các HST rừng tự nhiên lưu vực sông Đà, sông Mã; rừng ở các đai cao trên 1.500 m tại Lào Cai, Sơn La
– Vùng Đồng bằng sông Hồng: – Bảo vệ HST rừng ngập mă ̣n tự nhiên tại Hải Phòng, Thái Bình; các HST đất ngập nước quan trọng tại Ninh Bình, Nam Định
– Vùng Bắc Trung Bộ: Bảo vệ HST rừng nguyên sinh tại Nghệ An, Hà Tĩnh; rừng tự nhiên lưu vực sông Mã, sông Cả, sông Gianh; rừng ngập mặn ven biển tại Nghệ An, Hà Tĩnh, Thanh Hóa; HST núi đá vôi ở Thanh Hoá và Quảng Bình; HST đầm phá Tam Giang – Cầu Hai tại Thừa Thiên Huế
– Vùng Nam Trung Bộ: Bảo vệ các hê ̣ sinh thái rừng tự nhiên lưu vực sông Cái (tỉnh Phú Yên, Ninh Thuận, Khánh Hòa), sông Côn, sông Đà Rằng, sông Ba, sông Trà Khúc, sông Thu Bồn; HST rừng khộp tại Ninh Sơn (Ninh Thuận), Hoàn Giao (Khánh Hòa); các rạn san hô, thảm cỏ biển tại Cù Lao Chàm, Ninh Hải, vịnh Vĩnh Hy, vịnh Cam Ranh, đầm Thủy Triền, vịnh Vân Phong; HST đất ngập nước khu vực đầm Thị Nại, Trà Ổ, Cù Mông, Ô Loan, Nha Phu
– Vùng Tây Nguyên: Bảo vệ HST rừng nguyên sinh gồm: rừng trên núi trung bình (Ngọc Linh, Chư Yang Sin), rừng nửa rụng lá (rừng bằng lăng), rừng rụng lá cây họ Dầu (rừng khộp); rừng tự nhiên lưu vực sông Sê San, sông Ba, sông Đồng Nai
– Vùng Đông Nam Bộ: Bảo vệ HST rừng nguyên sinh; các HST rạn san hô, thảm cỏ biển tại Cà
Ná, Côn Đảo; HST đất ngập nước tại đầm Thị Nại, rừng ngập mặn Cần Giờ
– Vùng Đồng bằng sông Cửu Long: Bảo vệ và phát triển bền vững 30.000 ha HST rừng ngập mặn tự nhiên; HST các rạn san hô, thảm cỏ biển tại Phú Quốc; các HST rừng ngập mặn và HST rừng tràm tại Tràm Chim, U Minh, Trà Sư
Trang 9c) Đánh giá thực trạng hệ sinh thái ở Việt Nam
Báo cáo quốc gia về ĐDSH năm 2011 (Bộ Tài nguyên và Môi trường) đã chỉ ra xu hướng suy thoái của hầu hết các HST tự nhiên, quan trọng do các hoạt động chặt phá rừng, xây dựng các công trình thủy điện, khai thác quá mức tài nguyên và nuôi trồng không đúng cách Hệ quả của quá trình suy thoái các HST tự nhiên này cũng kéo theo sự mất sinh cảnh của loài, đặc biệt là các loài thú lớn như voi, hổ…, dẫn đến suy giảm cả các loài
Hiện nay, phần lớn các HST nằm trong các khu bảo tồn được bảo vệ theo quy định của pháp luật Phần còn lại nằm ngoài khu bảo tồn, đã được chỉ ra trong Quy hoạch tổng thể, chiếm diện tích không nhỏ và cũng đóng vai trò quan trọng trong bảo tồn ĐDSH trên cả nước Thực tế cho thấy, việc suy thoái HST xảy ra cả trong khu bảo tồn và ngoài khu bảo tồn Ngoài ra, các HST ngoài khu bảo tồn còn có tính nhậy cảm cao trước những tác động của môi trường nếu không được khoanh vùng bảo vệ
2.2.2 Hiện trạng thành lập và quản lý khu bảo tồn ở Việt Nam
a) Hiện trạng thành lập các khu bảo tồn ở Việt Nam
Năm 1962, khu bảo tồn (KBT) đầu tiên được thành lập trong hệ thống KBT của Việt Nam có tên gọi là khu “rừng cấm” Cúc Phương Từ đó đến nay, hệ thống các KBT trên cạn đã được thiết lập
và quản lý theo Luật Bảo vệ và Phát triển rừng với 180 khu bao gồm: 30 vườn quốc gia, 58 khu
dự trữ thiên nhiên, 16 KBT loài – sinh cảnh, 56 khu bảo vệ cảnh quan và 20 khu rừng nghiên cứu thực nghiệm Các HST ở vùng ĐNN và vùng biển có giá trị ĐDSH cao đã được Chính phủ quy hoạch thành 45 KBT vùng nước nội địa tại Quyết định số 1479/QĐ-TTg ngày 13/10/2008, 16 KBT biển tại Quyết định số 742/QĐ-TTg ngày 26/5/2010 và 47 KBT ĐNN tại Quyết định số 45/QĐ-TTg ngày 08/01/2014 Tuy nhiên, đến nay chỉ có sáu (06) KBT biển được thành lập với mục tiêu bảo tồn ĐDSH biển Một số KBT vùng nước nội địa đã được quy hoạch chi tiết nhưng chưa được thành lập Các KBT ĐNN đã hình thành và nhiều khu tồn tại dưới hình thức là KBT rừng đặc dụng như VQG Xuân Thuỷ, Mũi Cà Mau, U Minh Thượng; KBT thiên nhiên Tiền Hải, Thạnh Phú, Láng Sen Các KBT trên được thành lập và quản lý theo cả Luật Thuỷ sản và Luật Bảo vệ và Phát triển rừng Năm 2008, Luật ĐDSH ra đời đã bổ sung thêm hành lang pháp lý quan trọng cho công tác quản lý ĐDSH và KBT của Việt Nam Đây cũng là văn bản pháp lý cao nhất quy định trực tiếp về phân cấp, phân hạng KBT thống nhất trên toàn quốc
Căn cứ vào tiêu chí KBT theo quy định của Luật ĐDSH, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã xây dựng báo cáo Thủ tướng Chính phủ về kết quả rà soát KBT và ban hành danh mục KBT của Việt Nam tại Quyết định số 1107/QĐ-BTNMT ngày 12/5/2015 của Bộ trưởng Bộ TNMT, bao gồm
166 khu được phân hạng như sau: 31 vườn quốc gia, 64 khu dự trữ thiên nhiên, 16 khu bảo tồn loài – sinh cảnh và 55 khu bảo vệ cảnh quan Trong đó, đề xuất nâng cấp 01 khu dự trữ thiên nhiên Núi Phia Oắc thành Vườn quốc gia Phia Đén – Phia Oắc; nâng cấp 01 KBT loài sinh cảnh Lung Ngọc Hoàng và 02 KBT biển Bạch Long Vĩ và Cù Lao Chàm thành khu dự trữ thiên nhiên b) Hiện trạng thể chế, chính sách quản lý khu bảo tồn ở Việt Nam
Trang 10Hệ thống thể chế chính sách về quản lý KBT ở Việt Nam đang ngày càng được hoàn thiện và góp phần quan trọng trong công tác bảo tồn ĐDSH của Việt Nam như: Quyết định số 1250/QĐ-TTg ngày 31/7/2013 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược quốc gia về ĐDSH đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030, Quyết định số 218/QĐ-TTg ngày 07/02/2014 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược quản lý hệ thống rừng đặc dụng, khu bảo tồn biển, khu bảo tồn vùng nước nội địa Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030, Quyết định số 1216/QĐ-TTg ngày 5/9/2012 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược Bảo vệ môi trường quốc gia đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 và nhiều văn bản, Nghị định hướng dẫn Luật có liên quan Tuy nhiên, quá trình thực thi các chính sách và văn bản này còn gặp nhiều khó khăn, bất cập Nguyên nhân chủ yếu là sự khác biệt về quy định phân hạng, phân khu chức năng trong khu bảo tồn và các bất cập trong quy định quản lý khu bảo tồn
Hiện nay, một số KBT đất ngập nước tồn tại trong hệ thống rừng đặc dụng và đang được điều chỉnh bởi cả 03 Luật (Luật Thuỷ sản năm 2003, Luật Bảo vệ và phát triển rừng năm 2004, Luật ĐDSH năm 2008) Mặc dù, vùng nước nội địa là một hợp phần của vùng đất ngập nước (đất ngập nước bao gồm đất ngập nước nội địa và đất ngập nước ven biển) nhưng các quy định về quản lý vùng nước nội địa, vùng đất ngập nước và các KBT của loại hình HST này khác biệt nhau trong Luật Thuỷ sản, Luật ĐDSH và các Nghị định hướng dẫn các Luật này
Như vậy, cùng một đối tượng là các KBT thuộc các HST trên cạn, đất ngập nước, biển nhưng đều được quản lý bởi các Bộ, ngành khác nhau và văn bản khác nhau, đặc biệt là chưa thống nhất trong loại hình KBT vùng nước nội địa và KBT đất ngập nước, dẫn đến việc thành lập KBT đất ngập nước trên thực tế gặp rất nhiều khó khăn và do vậy, các giá trị ĐDSH tại các vùng đất ngập nước đã và đang có nguy cơ suy thoái rất nhanh
Qua thực tế nêu trên cho thấy, đến nay các quy định về KBT và quản lý KBT vẫn chưa được thực hiện thống nhất trong các Luật và văn bản hướng dẫn Luật có liên quan
c) Một số khó khăn, vướng mắc trong quản lý khu bảo tồn
Mặc dù Việt Nam đã có nhiều thành công trong việc quy hoạch, thiết lập và quản lý hệ thống KBT nhằm đẩy mạnh công tác bảo tồn ĐDSH trên cả nước Tuy nhiên, công tác quản lý KBT hiện nay đang gặp nhiều thách thức:
– Các KBT được phân hạng và quản lý theo loại hình HST khác nhau, nên dẫn tới sự chồng chéo
và mâu thuẫn về phân hạng trong hệ thống các KBT, sự không thống nhất về phân khu chức năng và vùng đệm của các KBT Qua đó, cho thấy việc xây dựng và ban hành các quyết định quản lý, đặc biệt cơ chế, chính sách cho từng kiểu loại KBT là việc không thể thực hiện được, đặc biệt trong điều kiện kinh tế-xã hội Việt Nam
– Về tiêu chí, tiêu chuẩn để xác lập các KBT thiên nhiên thiếu và chưa rõ ràng, khó áp dụng
Trang 11– Hệ thống các văn bản điều chỉnh các KBT thiếu, chưa đồng bộ và có những quy định chưa rõ ràng, khó khả thi và việc phân công, phân cấp quản lý KBT thiên nhiên còn chia cắt, chưa rõ về quyền hạn, trách nhiệm
– Việc thành lập các KBT còn nặng về quy mô diện tích mà chưa cân đối được khả năng quản lý, đáp ứng các nguồn lực tương ứng
– Tổ chức bộ máy quản lý KBT còn nhiều bất cập, đây là một trong những nguyên nhân chính hạn chế hiệu quả quản lý các KBT hiện nay ở Việt Nam
– Việc quản lý, vận hành các KBT chưa hoặc ít tiếp cận phương pháp, kỹ thuật bảo tồn hiện đại – Nhận thức về tầm quan trọng của các KBT chưa thực sự đầy đủ do thiếu thông tin về giá trị của ĐDSH và dịch vụ HST của KBT
– Nguồn lực đầu tư cho KBT hạn chế
2.2.3 Hiện trạng loài tại Việt Nam
a) Nơi cư trú của động vật hoang dã vẫn bị thu hẹp do thay đổi phương thức sử dụng đất và số lượng cá thể các loài quý, hiếm có nguy cơ tuyệt chủng giảm
Trên cạn, các HST rừng tự nhiên, trong đó, các loại rừng giàu, trung bình thường xanh là nơi cư trú của nhiều loài động vật hoang dã do vậy ĐDSH ở đây cao Nếu hoạt động chặt phá rừng tự nhiên còn tiếp tục cho các mục đích khác thì nơi cư trú của động vật hoang dã càng bị thu hẹp hoặc mất đi Hiện tượng quần thể voi rừng hung dữ phá hoại nhà cửa, mùa màng và nghiêm trọng hơn là giết hại dân ở một số địa phương miền Đông Nam Bộ và Tây Nguyên có thể xem là phản ứng tự nhiên của bầy voi hoang dã khi nơi cư trú của chúng đã bị xâm hại và thu hẹp Hầu hết các loài thú hoang dã khác như hổ chỉ còn thấy dấu vết phân bố ở các khu bảo tồn Theo một
số nguồn thông tin, hiện Việt Nam chỉ còn khoảng 30 cá thể hổ trong tự nhiên
Tổng số các loại động-thực vật được ghi vào Sách Đỏ Việt Nam 2007 là 882 loài (418 loài động vật và 464 loại thực vật), tăng 161 loài so với giai đoạn 1992-1996 (Lần xuất bản thứ nhất của các tập Sách Đỏ Việt Nam) Trong giai đoạn này mức độ bị đe dọa của các loài chỉ mới dừng lại
ở hạng “nguy cấp-EN”, thì hiện nay đã có tới 10 loài động vật được xem đã tuyệt chủng ngoài tự nhiên (EW) tại Việt Nam
Số lượng các loài thuỷ sinh vật, đặc biệt các loài tôm, cá có giá trị kinh tế bị giảm sút nhanh chóng Số lượng cá thể các loài cá nước ngọt quý hiếm, có giá trị kinh tế, các loài có tập tính di
cư bị giảm sút
Thống kê về hiện trạng các loài động vật nguy cấp, quý hiếm cho thấy nhiều loài đang ở mức báo động, đứng trước nguy cơ bị tuyệt chủng cao do nguyên nhân chính là việc khai thác quá mức và mất môi trường sống, đặc biệt trong đó có nhiều loài đặc hữu như: Voọc mũi hếch
Trang 12(Rhinopithecus avunculus) ước tính chỉ còn khoảng 190 cá thể Đầu thế kỷ 20, loài này phân bố
ở rừng núi của 4 tỉnh: Hà Giang, Tuyên Quang, Bắc Cạn và Thái Nguyên Hay loài voọc mông trắng (Trachypithecus delacouri) chỉ phân bó ở VQG Cúc Phương, khu BTTN Văn Long (Ninh Bình) và hiện chỉ còn khoảng 100 cá thể Tê giác Java Việt Nam (Rhinoceros sondaicus
annamiticus) là một trong hai quần thể tê giác duy nhất còn sót lại trên Trái đất đã đươ ̣c xác nhâ ̣n
bị tuyê ̣t chủng ta ̣i Viê ̣t Nam vào năm 2010
b) Các kết quả chính đã đạt được trong công tác bảo vệ các loài hoang dã, loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ của Tổng cục Môi trường:
Bảo tồn loài nguy cấp, quý hiếm được ưu tiên bảo vệ là một trong những nhiệm vụ quan trọng đã được quy định trong Luật ĐDSH năm 2008.Để thực hiện quy định của Luật, Tổng cục Môi trường đã triển khai nhiều giải pháp cụ thể như: kiện toàn khung pháp lý, tăng cường giáo dục, tuyên truyền nâng cao nhận thức, tăng cường hợp tác quốc tế và thu hút sự quan tâm của các Bộ, ngành hữu quan đối với hoạt động bảo tồn các loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ Tổng cục Môi trường đã xây dựng và trình phê duyệt nhiều văn bản quan trọng nhằm tăng cường bảo tồn và quản lý, bảo vệ hiệu quả các loài hoang dã, loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo
vệ như Nghị định số 160/2013/NĐ-CP[4], Chiến lược quốc gia về ĐDSH[5], Quy hoạch tổng thể bảo tồn ĐDSH trên cả nước, Thông tư liên tịch số 160/2014/TTLT-BTC-BTNMT[6]; Góp ý kiến sửa đổi các văn bản luật quan trọng như Nghị định số 179/2013/NĐ-CP[7], Nghị định số 157/2013/NĐ-CP[8], Điều 190 của Bộ Luật hình sự sửa đổi năm 2009; Thực hiện rà soát hệ thống pháp luật hiện hành về quản lý, bảo tồn các loài nguy cấp, quý, hiếm nhằm xác định lộ trình chỉnh sửa và kiện toàn khung pháp lý và chính sách về bảo tồn các loài hoang dã, đặc biệt
là loài nguy cấp, quý, hiếm
Tổng cục Môi trường đã tích cực huy động sự hợp tác, hỗ trợ về tài chính và kỹ thuật từ các tổ chức quốc tế và các tổ chức bảo tồn trong công tác bảo tồn các loài nguy cấp, quý, hiếm, cụ thể:
từ năm 2012-2015, Tổng cục Môi trường đã xây dựng, trình phê duyệt và triển khai thành công
dự án “Tăng cường công tác bảo tồn ĐDSH thông qua cải cách chính sách và thay đổi thực trạng tiêu thụ các loài động vật hoang dã ở Việt Nam” Dự án đã huy động được sự tham gia của nhiều
Bộ, ngành, cơ quan đoàn thể và các tổ chức chính trị xã hội, phi chính phủ thông qua việc thành lập diễn đàn hợp tác vì động vật hoang dã (Vietnam- BCA- Wildlife Partnership) Trong khuôn khổ dự án, Tổng cục Môi trường đã phối hợp, hỗ trợ các Bộ, ngành liên quan ban hành nhiều văn bản chỉ đạo nhằm tăng cường bảo tồn các loài hoang dã như Công văn số 79/YDCT-QLHN ngày
31 tháng 3 năm 2015 của Cục Quản lý Y dược, cổ truyền, Bộ Y tế về tăng cường bảo vệ động vật, thực vật hoang dã nguy cấp, quý, hiếm trong y học cổ truyền và Hướng dẫn số 98-
HD/BTGTW của Ban tuyên giáo Trung ương về tăng cường công tác tuyên truyền không buôn bán, tiêu thụ bất hợp pháp các loài động vật hoang dã; đồng thời tổ chức nhiều văn bản quy phạm pháp luật trong quản lý các loài nguy cấp đã nêu trên
Tổng cục Môi trường cũng triển khai nhiều chương trình hội thảo tập huấn, nâng cao kiến thức cho các cán bộ quản lý địa phương, vườn quốc gia, khu BTTN trong công tác quản lý các loài