ĐẶT VẤN ĐỀSuy dinh dưỡng ở trẻ em dưới 5 tuổi trên thế giới hiện vẫn còn chiếm tỉ lệ rất cao và có ý nghĩa sức khỏe cộng đồng, đồng thời suy dinh dưỡng ở trẻ emcũng là một trong
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ
VIỆN DINH DƯỠNG
HIỆU QUẢ MÔ HÌNH SẢN XUẤT THỨC ĂN BỔ SUNG ĐẾN
AN NINH THỰC PHẨM HỘ GIA ĐÌNH VÀ TÌNH TRẠNG DINH DƯỠNG TRẺ DƯỚI 24 THÁNG TUỔI TẠI MỘT SỐ TỈNH MIỀN NÚI PHÍA BẮC
LUẬN ÁN TIẾN SĨ
Chuyên ngành: Dinh dưỡng
Mã số:
Hà Nội, 2022
Trang 2VIỆN DINH DƯỠNG
HIỆU QUẢ MÔ HÌNH SẢN XUẤT THỨC ĂN BỔ SUNG
ĐẾN AN NINH THỰC PHẨM HỘ GIA ĐÌNH VÀ TÌNH TRẠNG DINH DƯỠNG
TRẺ DƯỚI 24 THÁNG TUỔI TẠI MỘT SỐ TỈNH MIỀN NÚI PHÍA BẮC
LUẬN ÁN TIẾN SĨ
Chuyên ngành: Dinh dưỡng
Mã số: 9 72 04 01
Người hướng dẫn khoa học:
Hà Nội, 2022
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi là Lê Thế Trung, nghiên cứu sinh khóa 11, Viện Dinh dưỡng - Bộ Y tế,chuyên ngành Dinh dưỡng, xin cam đoan:
1 Đây là luận án do bản thân tôi trực tiếp xây dựng kế hoạch triển khai canthiệp, thu thập số liệu, phân tích kết quả và viết báo cáo dưới sự hướng dẫn củaPGS TS - Giảng viên cao cấp, Nguyên Phó Trưởng Bộ môn Dinh dưỡng-An toànthực phẩm; Trường Đại học Y Hà Nội và PGS TS - Giám đốc Trung tâm Đào tạo,Viện Dinh dưỡng - Bộ Y tế
2 Số liệu và kết quả nêu trong luận án hoàn toàn chính xác, trung thực vàchưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tác giả luận án
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Tôi xin trân trọng cảm ơn GS TS - Viện trưởng Viện Dinh dưỡng, các thầy
cô lãnh đạo Viện, Trung tâm Đào tạo Dinh dưỡng và Thực phẩm - Viện DinhDưỡng, Ban Giám hiệu Trường Đại học Điều dưỡng Nam Định, Khoa Y tế côngcộng đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi thực hiện luận án này
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất với PGS TS và PGS TS nhữngngười thầy tâm huyết, đã dành nhiều thời gian và công sức để hướng dẫn, hỗ trợ tậntình, giúp đỡ và động viên tôi trong quá trình thực hiện luận án
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban quản lý dự án Cải thiện an ninh thực phẩm
hộ gia đình, phụ nữ nông thôn nghèo, thông qua mô hình chế biến thực phẩm dinh dưỡng quy mô nhỏ ở Việt Nam, Đại học Ryerson-Canada, lãnh đạo UBND, Sở Y
tế, Trung tâm Sức khỏe sinh sản các tỉnh Hà Giang, Lai Châu, Lào Cai, trạm y tếcác xã Đạo Đức, Trung Thành, Việt Lâm (huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang); trạm y
tế các xã Bản Vược, Quang Kim, Trịnh Tường (huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai)vàtrạm y tế các xã Bản Hon, Bản Giang, Thèn Sin (huyện Tam Đường, tỉnh LaiChâu) đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi tiến hành nghiên cứu và ủng hộ tôi nhiệt tìnhtrong quá trình thu thập số liệu nghiên cứu
Cuối cùng, tôi xin gửi lời cám ơn đến đồng nghiệp, những người bạn và giađình đã quan tâm, động viên, chia sẻ, giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và hoànthành luận án này
Hà Nội, ngày tháng năm 2022
Tác giả luận án
Trang 5DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
ANTP An ninh thực phẩm
ANTPHGĐ An ninh thực phẩm hộ gia đình
ECOSUN Cải thiện An ninh thực phẩm hộ gia đình phụ nữ nông thôn
nghèo thông qua mô hìnSh chế biến thực phẩm dinh dưỡngqui mô nhỏ ở Việt Nam
FANTA III Food and Nutrition Technical Assistance III Project
FAO Food and Agriculture Organization of the United Nations/ Tổ
chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hiệp QuốcFIES Food Insecurity Experience Scale
HAZ Height for Age Z-score/Z-score chiều cao theo tuổi
HFIAS Household Food Insecurity Access Scale/Thang đánh giá
thiếu an ninh thực phẩm hộ gia đìnhIDRC The International Development Research Centre
PRA Participatory Rapid Appraisal
RRA Renewable Readiness Assessment
SD Standard deviation/Độ lệch chuẩn
SDGS Sustainable Development Goals/Mục tiêu phát triển thiên
niên kỉ TTXH Tiếp thị xã hội
UNICEF United Nations Children's Fund/ Quĩ Nhi đồng Liên hiệp quốcWAZ Weight for Age Z-score/Z-score cân nặng theo tuổi
WB World Bank/ Ngân hàng thế giới
WHO World Health Organization/ Tổ chức Y tế thế giới
WHZ Wheight for Height Z-score/Z-score cân nặng theo chiều cao
Trang 6MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT iii
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
MỤC TIÊU 4
Chương 1 5
TỔNG QUAN 5
1 1 TÌNH TRẠNG DINH DƯỠNG Ở TRẺ DƯỚI 24 THÁNG TUỔI 5
1 1 1 Khái niệm 5
1 1 2 Thực trạng suy dinh dưỡng ở trẻ em 6
1 1 3 Nguyên nhân suy dinh dưỡng 13
1 1 4 Giải pháp phòng chống suy dinh dưỡng ở trẻ em 17
1 2 AN NINH THỰC PHẨM HỘ GIA ĐÌNH 20
1 2 1 Khái niệm 20
1 2 2 Các cấp độ của an ninh thực phẩm 21
1 2 3 Các thành tố của an ninh thực phẩm 21
1 2 4 Các phương pháp đánh giá an ninh thực phẩm hộ gia đình 22
1 2 5 Thực trạng an ninh thực phẩm hộ gia đình 25
1 2 6 Một số mô hình cải thiện an ninh thực phẩm hộ gia đình 29
1 3 TIẾP THỊ XÃ HỘI VÀ ÁP DỤNG TRONG CAN THIỆP SỨC KHỎE 32
1 3 1 Khái niệm 32
1 3 2 Mục đích 32
1 3 3 Đặc điểm của tiếp thị xã hội 33
1 3 4 Nguyên tắc và thành phần của tiếp thị xã hội 34
1 3 5 Một số chương trình tiếp thị xã hội phòng chống suy dinh dưỡng 35
1 4 GIỚI THIỆU MÔ HÌNH CAN THIỆP 37
1 4 1 Tên mô hình 37
1 4 2 Mục tiêu 37
Trang 71 4 3 Tổ chức thực hiện 37
1 4 4 Kết quả của mô hình 38
Chương 2 41
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 41
2 1 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU 41
2 2 THỜI GIAN VÀ ĐỊA ĐIỂM NGHIÊN CỨU 41
2 2 1 Thời gian nghiên cứu 41
2 2 2 Địa điểm 42
2 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 42
2 3 1 Thiết kế nghiên cứu 42
2 3 2 Cỡ mẫu nghiên cứu 43
2 3 3 Phương pháp chọn mẫu 45
2 3 4 Các số liệu và thời điểm thu thập 47
2 3 5 Phương pháp và công cụ thu thập thông tin 48
2 3 6 Biến số, chỉ số nghiên cứu 49
2 4 SAI SỐ VÀ PHƯƠNG PHÁP HẠN CHẾ SAI SỐ 61
2 4 1 Sai số hệ thống 61
2 4 2 Sai số ngẫu nhiên 62
2 5 XỬ LÝ VÀ PHÂN TÍCH SỐ LIỆU 62
2 6 ĐẠO ĐỨC TRONG NGHIÊN CỨU 64
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 65
3 1 TÌNH TRẠNG DINH DƯỠNG Ở TRẺ DƯỚI 24 THÁNG TUỔI 65
3 1 1 Tình trạng dinh dưỡng của trẻ dưới 24 tháng tuổi tại 3 tỉnh 65
3 1 2 Thực hành nuôi con của các bà mẹ có con dưới 24 tháng tuổi 71
3 1 3 Tình trạng an ninh thực phẩm hộ gia đình có trẻ dưới 24 tháng tuổi 72
3 1 4 Một số yếu tố liên quan đến tình trạng dinh dưỡng ở trẻ 76
3 2 KẾT QUẢ TRIỂN KHAI CAN THIỆP 81
3 3 CẢI THIỆN AN NINH THỰC PHẨM HỘ GIA ĐÌNH 84
3 3 1 Cải thiện tình trạng thiếu thực phẩm tại hộ gia đình 84
3 3 2 Cải thiện khả năng tiếp cận thực phẩm của hộ gia đình 89
Trang 83 3 3 Cải thiện an ninh thực phẩm hộ gia đình theo điểm 90
3 3 4 Cải thiện an ninh thực phẩm hộ gia đình theo mức độ 91
3 4 CẢI THIỆN TÌNH TRẠNG DINH DƯỠNG Ở TRẺ 92
Chương 4: BÀN LUẬN 95
4 1 1 Tình trạng dinh dưỡng ở trẻ dưới 24 tháng tuổi 95
4 1 2 Thực hành nuôi dưỡng, chăm sóc con của các bà mẹ 101
4 1 3 An ninh thực phẩm hộ gia đình năm 2016 103
4 1 4 Liên quan đến suy dinh dưỡng ở trẻ dưới 24 tháng tuổi 111
4 2 KẾT QUẢ TRIỂN KHAI MÔ HÌNH CAN THIỆP 114
4 3 CẢI THIỆN AN NINH THỰC PHẨM HỘ GIA ĐÌNH 119
4 3 1 Cải thiện tình trạng thiếu thực phẩm tại hộ gia đình 119
4 3 2 Cải thiện khả năng tiếp cận thực phẩm của hộ gia đình 123
4 4 CẢI THIỆN SUY DINH DƯỠNG Ở TRẺ DƯỚI 24 THÁNG TUỔI 125
4 4 1 Cải thiện suy dinh dưỡng thể nhẹ cân 126
4 4 2 Cải thiện suy dinh dưỡng thể thấp còi 127
KẾT LUẬN 133
1 Tình trạng dinh dưỡng và yếu tố liên quan đến suy dinh dưỡng 133
2 An ninh thực phẩm hộ gia đình tại địa bàn nghiên cứu năm 2016 133
3 Cải thiện tình trạng dinh dưỡng ở trẻ dưới 24 tháng tuổi 134
KHUYẾN NGHỊ 135 DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 9DANH MỤC BẢNG
Bảng 2 1 Thời điểm và các loại số liệu cần thu thập 48
Bảng 2 2 Phân loại suy dinh dưỡng các thể ở trẻ theo WHO-2006 50
Bảng 2 3 Phân loại tình trạng dinh dưỡng của mẹ theo chỉ số BMI 50
Bảng 2 4 Cách tính mức độ thiếu an ninh thực phẩm hộ gia đình 54
Bảng 2 5 Minh họa các mức độ thiếu an ninh thực phẩm hộ gia đình 55
Bảng 3 1 Đặc điểm trẻ dưới 24 tháng tuổi theo giới tính, dân tộc 65
Bảng 3 2 Trung bình cân nặng, chiều cao của trẻ dưới 24 tháng tuổi 66
Bảng 3 3 Trung bình chỉ số Z-score của trẻ dưới 24 tháng tuổi 67
Bảng 3 4 Tỉ lệ suy dinh dưỡng ở trẻ dưới 24 tháng tuổi 68
Bảng 3 5 Tỉ lệ suy dinh dưỡng ở trẻ theo nhóm tuổi 70
Bảng 3 6 Thực hành nuôi dưỡng trẻ ở bà mẹ có con dưới 24 tháng tuổi 71
Bảng 3 7 Tỉ lệ thiếu an ninh thực phẩm hộ gia đình 72
Bảng 3 8 Tỉ lệ thiếu an ninh thực phẩm hộ gia đình 73
Bảng 3 9 Trung bình điểm an ninh thực phẩm hộ gia đình -HFIAS 73
Bảng 3 10 Tỉ lệ thiếu an ninh thực phẩm hộ gia đình 74
Bảng 3 11 Tỉ lệ thiếu an ninh thực phẩm hộ gia đình 75
Bảng 3 12 Liên quan giữa suy dinh dưỡng thể nhẹ cân với một số yếu tố 76
Bảng 3 13 Liên quan giữa suy dinh dưỡng thể thấp còi với một số yếu tố 77
Bảng 3 14 Một số yếu tố liên quan tới suy dinh dưỡng thể gầy còm 78
Bảng 3 15 Hồi quy đa biến xác định yếu tố liên quan tới suy dinh dưỡng 79
Bảng 3 16 Hồi quy đa biến xác định yếu tố liên quan tới suy dinh dưỡng 79
Bảng 3 17 Số buổi truyền thông-giáo dục và lượng người tiếp cận 81
Bảng 3 18 Số lượng các sản phẩm thức ăn bổ sung đã bán 82
Bảng 3 19 Thay đổi tỉ lệ thiếu an ninh thực phẩm hộ gia đình 84
Bảng 3 20 Thay đổi tỉ lệ thiếu an ninh thực phẩm hộ gia đình 86
Bảng 3 21 Thay đổi tỉ lệ thiếu an ninh thực phẩm hộ gia đình 87
Bảng 3 22 Thay đổi tỉ lệ thiếu an ninh thực phẩm hộ gia đình 89
Bảng 3 23 Thay đổi trung bình điểm đánh giá thiếu an ninh thực phẩm 90
Bảng 3 24 Thay đổi trung bình điểm đánh giá thiếu an ninh thực phẩm 90
Bảng 3 25 Thay đổi tỉ lệ thiếu an ninh thực phẩm hộ gia đình 91
Bảng 3 26 Thay đổi trung bình chỉ số Z-score ở trẻ dưới 24 tháng tuổi 92
Trang 10DANH MỤC HÌNH
Hình 1 1 Tỉ lệ trẻ em bị suy dinh dưỡng thể 6
Hình 1 2 Diễn biến chỉ số Z-scores ở trẻ 1 đến 59 tháng tuổi trên thế giới 7
Hình 1 3 Diễn biến suy dinh dưỡng ở trẻ dưới 5 tuổi tại Việt Nam 8
Hình 1 4 Tỉ lệ suy dinh dưỡng thể thấp còi theo giới và nơi ở 9
Hình 1 5 Tỉ lệ suy dinh dưỡng theo nhóm tuổi 11
Hình 1 6 Mô hình nguyên nhân – hậu quả của suy dinh dưỡng trẻ em 14
Hình 1 7 Vòng xoắn bệnh lý: Bệnh tật - Suy dinh dưỡng - Nhiễm khuẩn 15
Hình 1 8 Con đường từ thiếu an ninh thực phẩm hộ gia đình 19
Hình 1 9 Khung phân tích an ninh thực phẩm hộ gia đình (Maxwell-1996) 22
Hình 1 10 Thiếu an ninh thực phẩm trên thế giới giai đoạn 2014-2017 25
Hình 1 11 Mô hình sản xuất thức ăn bổ sung từ sản phẩm tại địa phương 39
Hình 1 12 Mô hình tiếp thị - đưa thức ăn bổ sung ở địa bàn nghiên cứu 40
Hình 2 1 Bản đồ địa bàn nghiên cứu (nguồn: Cục bản đồ Việt Nam) 42
Hình 2 2 Sơ đồ qui trình nghiên cứu 46
Hình 3 1 Tỉ lệ suy dinh dưỡng các thể theo mức độ ở trẻ dưới 24 tháng tuổi 69
Hình 3 2 Tỉ lệ thiếu an ninh thực phẩm hộ gia đình 75
Hình 3 3 Sự thay đổi thực hành chăm sóc thai và nuôi con 83
Hình 3 4 Sự thay dổi mức độ và tần suất thiếu an ninh thực phẩm 85
Hình 3 5 Tần suất xảy ra thiếu an ninh thực phẩm hộ gia đình 87
Hình 3 6 Tần suất xảy ra thiếu an ninh thực phẩm hộ gia đình 88
Hình 3 7 Thay đổi tỉ lệ thiếu an ninh thực phẩm hộ gia đình 91
Hình 3 8 Thay đổi tỉ lệ suy dinh dưỡng các thể ở trẻ dưới 24 tháng tuổi 93
Hình 3 9 Thay đổi tỉ lệ suy dinh dưỡng thể nhẹ cân ở trẻ 93
Hình 3 10 Thay đổi tỉ lệ suy dinh dưỡng thể thấp còi ở trẻ 94
Trang 11ĐẶT VẤN ĐỀ
Suy dinh dưỡng ở trẻ em dưới 5 tuổi trên thế giới hiện vẫn còn chiếm tỉ
lệ rất cao và có ý nghĩa sức khỏe cộng đồng, đồng thời suy dinh dưỡng ở trẻ emcũng là một trong những nguyên nhân gây ra gánh nặng đối với hệ thống y tế
và kìm hãm sự phát triển kinh tế - xã hội [1] Hiện nay, trên toàn thế giới vẫncòn khoảng 162 triệu (chiếm 25%) trẻ dưới 5 tuổi bị suy dinh dưỡng thể thấpcòi; khoảng 99 triệu trẻ nhẹ cân và gần 55 triệu trẻ suy dinh dưỡng thể gầy còm[1] Tình trạng suy dinh dưỡng phổ biến khi trẻ được 6 tháng tuổi và có xuhướng tăng theo tuổi, suy dinh dưỡng ở trẻ em dưới 5 tuổi cao, có ý nghĩa sứckhỏe cộng đồng ở các nước đang phát triển trong đó có Việt Nam [2],[3]
Ở nước ta, trong những năm gần đây tỉ lệ suy dinh dưỡng trẻ em dưới
5 tuổi (nhất là nhóm trẻ dưới 24 tháng tuổi) đã có chiều hướng giảm Tuynhiên, tỉ lệ suy dinh dưỡng ở trẻ dưới 24 tháng tuổi vẫn còn cao và có ý nghĩasức khỏe cộng đồng theo phân loại của Tổ chức Y tế thế giới [4] Tỉ lệ suydinh dưỡng đặc biệt cao ở nhóm trẻ là người dân tộc thiểu số, sống ở vùngsâu, vùng xa, vùng khó khăn, những nơi thường xuyên chịu ảnh hưởng nặng
nề do thiên tai và biến đổi khí hậu [4],[5]
Suy dinh dưỡng ở trẻ em có nguyên nhân cơ bản là do cơ thể khôngđược cung cấp đầy đủ năng lượng, chất dinh dưỡng cần thiết vì thiếu thức ăn,thức ăn không đảm bảo vệ sinh và thiếu an ninh thực phẩm hộ gia đình Trẻ em
bị suy dinh dưỡng có nguy cơ cao bị nhiễm khuẩn, ảnh hưởng xấu tới sự pháttriển thể lực và trí tuệ Cùng với đó suy dinh dưỡng cùng là yếu tố nguy cơ củamột số bệnh không lây nhiễm khi trẻ đến tuổi trưởng thành Giai đoạn đầu đờicủa trẻ từ 0-24 tháng tuổi là thời điểm trẻ dễ bị tổn thương nhất, đặc biệt là khigia đình của chúng bị thiếu an ninh thực phẩm hộ gia đình [6],[7]
Thiếu an ninh thực phẩm hộ gia đình là vấn đề thường xuyên xảy ra ởhầu hết các nước trên thế giới và đặc biệt nghiêm trọng ở các nước đang và
Trang 12chậm phát triển Theo Tổ chức Nông lương thế giới-FAO (2015), trên thế giới
cứ 9 người thì có một người không có đủ thực phẩm để duy trì một cuộc sốngkhỏe mạnh [8] Trong những năm gần đây, số người thiếu an ninh thực phẩmtrên toàn thế giới giảm không đáng kể năm 2014 khoảng 647 triệu người; năm
2015 khoảng 618,4 triệu người Những khu vực thường xuyên bị mất an ninhthực phẩm hộ gia đình ở mức độ nặng, đó là Mỹ la tinh và Caribe; khu vựcchâu Phi, khu vực Nam Á và Đông Nam Á [8]
Tình trạng nghèo đói và thiếu an ninh thực phẩm hộ gia đình ở nước tavẫn thường xuyên xảy ra ở các vùng khó khăn, đặc biệt là ở khu vực TâyNguyên và vùng núi phía Bắc Theo niên giám thống kê (2015) cho thấy, tỉ lệ
hộ gia đình nghèo chung trên toàn quốc là 7%, trong đó khu vực trung du vàmiền núi phía Bắc là 16,0%; các tỉnh Lào Cai là 25,3%, Hà Giang là 28,2%
và Lai Châu là 35,3% [9] Số người thiếu ăn trên toàn quốc còn phổ biến vàchiếm tỉ lệ cao, đặc biệt ở các khu vực khó khăn, những vùng có điều kinh tế-
xã hội chậm phát triển Nghèo đói là nguyên nhân dẫn đến mất an ninh thựcphẩm hộ gia đình, nhất là những hộ gia đình có con nhỏ, người dân tộc thiểu
số và người có trình độ học vấn thấp [10]
Trong thời gian vừa qua, ở nước ta đã có nhiều chương trình can thiệp
về phòng chống suy dinh dưỡng trẻ em và đảm bảo an ninh thực phẩm hộ giađình đã được triển khai thành công và đem lại sự cải thiện đáng kể về giảm tỉ
lệ suy dinh dưỡng và đảm bảo an ninh thực phẩm hộ gia đình [11],[12],[13]Tuy nhiên trên thực tế, tình trạng đói nghèo, thiếu ăn và suy dinh dưỡng ở trẻ
em vẫn còn phổ biến và khá nghiêm trọng ở nhiều vùng trên toàn quốc, đặcbiệt là ở khu vực miền núi phía Bắc Câu hỏi đặt ra ở đây cho các nhà khoahọc, nhà quản lý là vì sao tỉ lệ suy dinh dưỡng giảm trong thời kì có chươngtrình can thiệp nhưng lại tăng cao sau khi chương trình can thiệp kết thúc? Vìsao tình trạng thiếu ăn, nghèo và tái nghèo ở hộ gia đình tại khu vực khó khăn
Trang 13không giảm? Mô hình can thiệp nào sẽ giúp giảm tỉ lệ suy dinh dưỡng ở trẻ
em, cải thiện tình trạng thiếu an ninh thực phẩm hộ gia đình, giảm ngheo đóigiảm một cách bền vững?
Với mong muốn cung cấp thêm bằng chứng khoa học góp phần tìm
ra mô hình can thiệp hiệu quả, bền vững hơn để cải thiện an ninh thực phẩm
hộ gia đình và giảm suy dinh dưỡng ở trẻ em Đề tài “ Hiệu quả mô hình sản xuất thức ăn bổ sung đến an ninh thực phẩm hộ gia đình và tình trạng dinh dưỡng trẻ em dưới 24 tháng tuổi tại một số tỉnh miền núi phía Bắc" được thực hiện nhằm mục tiêu
Trang 15Chương 1 TỔNG QUAN
1 1 TÌNH TRẠNG DINH DƯỠNG Ở TRẺ DƯỚI 24 THÁNG TUỔI
1 1 1 Khái niệm
Tình trạng dinh dưỡng là tập hợp các đặc điểm về chức phận, cấu trúc
sinh hóa, phản ánh mức đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng của cơ thể [14] Ở tất cảcác lứa tuổi, đặc biệt là ở trẻ dưới 24 tháng tuổi, tình trạng dinh dưỡng phảnánh rõ và chính xác nhất về mức độ đảm bảo đầy đủ và hợp lý về chất dinhdưỡng thông qua thức ăn của gia đình trẻ Ngoài ra tình trạng dinh dưỡng cònphản ánh khả năng chăm sóc sức khoẻ, y tế, trình độ dân trí, điều kiện giáodục… và sự phát triển của kinh tế - xã hội [14],[15]
Suy dinh dưỡng (SDD) là khi trẻ có cân nặng, chiều cao thấp hơn so
với cân nặng và chiều cao trung bình ở quần thể tham khảo Ở cộng đồngSDD trẻ em được chia thành 3 thể: SDD thể nhẹ cân (đánh giá dựa vào z-score cân nặng theo tuổi WAZ); SDD thể thấp còi (thể nhẹ cân (đánh giá dựavào z-score chiều dài nằm theo tuổi - HAZ); và SDD thể gầy còm (thể nhẹcân (đánh giá dựa vào z-score cân nặng theo chiều dài nằm - WHZ) [14],[16]
Phân loại ý nghĩa sức khỏe cộng đồng của suy dinh dưỡng theo Tổchức Y tế thế giới (WHO) Thể thấp còi dưới 2,5% rất thấp; từ 2,5-10% mức
độ thấp; từ 10-20% mức độ trung bình; từ 20-30% mức độ cao; ≥ 30% mức
độ rất cao Thể gầy còm < 2,5% rất thấp; từ 2,5-5% thấp; từ 5-10% mức độtrung bình; từ 10-15% mức độ cao; ≥ 15% mức độ rất cao [17]
Trang 161 1 2 Thực trạng suy dinh dưỡng ở trẻ em
1 1 2 1 Trên thế giới
Trong 20 năm trở lại đây, tỉ lệ SDD trẻ em, đặc biệt là trẻ dưới 24tháng tuổi trên toàn thế giới đã giảm đáng kể, SDD thể thấp còi giảm 10,1%,
từ 33,1% năm 2000 xuống còn 22,0% năm 2020 [3] Tuy nhiên tỉ lệ SDD trẻ
em vẫn ở mức cao, có ý nghĩa sức khỏe cộng đồng, nhất là ở các nước đangphát triển [18],[19],[20]
Hình 1 1 Tỉ lệ trẻ em bị suy dinh dưỡng thể gầy còm trên thế giới giai đoạn
2010-2020 (nguồn: who int)
Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO)-2021 cho thấy, tỉ lệ trẻ em dưới 5 tuổi bịSDD thể thấp còi là 21,3% (khoảng 149,2 triệu trẻ); SDD thể gầy còm là 6,9%(khoảng 45,4 triệu trẻ) Tại châu Phi, tỉ lệ SDD thể thấp còi là 30,7% thấp hơn10,8% so với năm 2000 là 41,5% Các nước Guinea, Ethiopia, Cameroon, Cộnghòa Công gô, Trung Phi là những nước có tỉ lệ SDD thể thấp còi và gầy còm caolần lượt là 29,4% và 5,7%; 35,3% và 7,2%; 27,2% và 4,3%; 40,8% và 6,4%;40,1% và 5,2% [18]
Trang 17Châu Á là khu vực có số trẻ em dưới 5 tuổi bị SDD cao nhất thế giới với42,2 triệu trẻ Tỉ lệ SDD thể thấp còi chung cho cả khu vực là 21,8% và thể gầycòm là 8,9% Khu vực Nam Á có tỉ lệ SDD thể thấp còi và gầy còm trẻ dưới 2tuổi cao nhất, lần lượt là 30,7% và 14,1%; tỉ lệ này ở khu vực Đông Nam Á lầnlượt là 27,4% và 8,2% Các quốc gia trong khu vực như Bangladesh, Ấn Độ,Myanmar, Malaysia, Indonexia, Lào, Campuchia và Việt Nam là những nước có
tỉ lệ trẻ em bị SDD cao [18]
Tỉ lệ trẻ em bị SDD thể thấp còi và gầy còm tại Bangladesh (2020) là30,2% và 9,8% (2019); tại Malaysia (2020) là 20,9% và 9,7% (2019); tạiIndonexia là 31,8% và 10,2%; tại Lào là (2020) 30,2% và 9,0% (2017); và tạiCamphuchia (2020) là 29,9% và 9,7% (2014) [18] Mặc dù tỉ lệ SDD thể thấpcòi có chiềuhướng giảm ở tất cả các nước trên thế giới nhưng nó vẫn chiếm tỉ lệcao có ý nghĩa sức khỏe cộng đồng, đặc biệt là ở các nước nghèo, chậm pháttriển và ở những chủng tộc ít người
Ở trẻ em, SDD thể thấp còi luôn có xu hướng tăng dần theo tuổi của trẻSuy dinh dưỡng bắt đầu phổ biến khi trẻ được 6 tháng tuổi, tỉ lệ SDD tăng dầntheo thời gian, cao nhất ở giai đoạn trẻ từ 12-35 tháng tuổi, và tiếp tục duy trìmức độ cao ở các nhóm tuổi tiếp sau đó [21]
Trang 18Hình 1 2 Diễn biến chỉ số Z-scores ở trẻ 1 đến 59 tháng tuổi trên thế giới
Chỉ số z-score chiều cao theo tuổi (HAZ) theo chuẩn WHO bắt đầugiảm từ tháng tuổi thứ 5, giảm nhanh từ tháng thứ 10 sau sinh, tăng nhẹ sau
24 tháng, duy trì mức thấp của những tháng tiếp theo [7],[20],[22]
Ở hầu hết các vùng trên thế giới, z-score trung bình chiều cao theo tuổicủa trẻ 24 tháng tuổi có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với quần thể thamkhảo Các can thiệp nhằm cải thiện cân nặng và chiều cao của trẻ đặc biệt chútrọng vào giai đoạn từ khi sinh đến 24 tháng tuổi [9],[27] Trong cùng lứa tuổi,
tỉ lệ suy dinh dưỡng thể thấp còi ở trẻ trai thường cao hơn ở trẻ gái, sự khácbiệt có ý nghĩa thống kê (p<0,05) [23] [24]
1 1 2 2 Tại Việt Nam
Ở nước ta, trong 20 năm trở lại đây tỉ lệ SDD ở trẻ em nói chung cómức độ giảm rõ rệt
2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008 2009 2010 2011 2012 2013 2014 2015 2016 201905
23.4 21.2 19.9 18.9
Hình 1 3 Diễn biến suy dinh dưỡng ở trẻ dưới 5 tuổi tại Việt Nam
(nguồn: Viện Dinh dưỡng)
Trang 19SDD thể nhẹ cân giảm 21,6%, giảm từ 33,8% năm 2000 xuống còn12,2% năm 2016, thể thấp còi giảm 19,6%, giảm từ 36,5% năm 2000 xuốngcòn 19,6% năm 2019 Cho dù tỉ lệ SDD ở trẻ có giảm, tuy nhiên tỉ lệ này vẫncòn cao và có ý nghĩa sức khỏe cộng đồng theo tiêu chuẩn đánh giá của WHO[25] [4] Tỉ lệ SDD ở trẻ có sự khác biệt giữa tuổi, giới tính, dân tộc, nơi ởsinh sống và giữa các vùng sinh thái [26]
23.3
5.7 7
10.2
4.8 16.1
26.7
6.7
Trẻ trai Trẻ gái Thành thị Nông thôn
Thể suy dinh dưỡng
Hình 1 4 Tỉ lệ suy dinh dưỡng thể thấp còi theo giới và nơi ở
(Nguồn niêm giám thống kê-2019)
Số liệu Niên giám thống kê năm 2019 cho thấy, tỉ lệ SDD thể thấp còicao nhất là ở vùng Tây Nguyên với 29,8% tiếp đến là vùng Trung du và miếnnúi phía Bắc 27,1%; vùng Bắc Trung bộ và duyên hải miền Trung 24,8%;Đồng bằng song Cửu Long 21,2% Các tỉnh có tỉ lệ trẻ thấp còi cao là BạcLiêu 23,6%, Kon Tum 33,4%, Gia Lai 32,0%, Quảng Bình 27,9%, Sơn La30,9%, Cao Bằng 30,4%, Hà Giang 31,7%, Lào Cai 31,0% và Lai Châu là32,1% [26]
Trang 20Tỉ lệ SDD thể thấp còi cũng có sự khác biệt rõ ràng ở trẻ người Kinh với trẻngười dân tộc thiểu số, cụ thể: trẻ người Kinh 23,3%, Nùng 38,5%, Dao 46,2%,Thái 46%, H’Mông 55,1% [27], Vân Kiều 67,1% [28], Pakor 66,5% trẻ dưới 5 tuổi,nhóm 12-17 tháng tuổi là 53,3% và nhóm 18-23 tháng tuổi là 64,2% [29]
Kết quả nghiên cứu của Phan Thị Bích Hồng (2019) ở trẻ dưới 5 tuổidân tộc Mông tại Hà Giang cho thấy tỉ lệ SDD thể nhẹ cân 24,1%; thấp còi45,1%; gầy còm 8,2% Tỉ lệ SDD thể thấp còi mức độ vừa là 25,7%, mức độnặng là 19,4% Tỉ lệ trẻ bị SDD có xu hướng tăng theo tuổi ở nhóm dưới 12tháng tuổi là 39,1%, nhóm từ 12-23 tháng là 32,0%; từ 24-35 tháng là 42,3%;36-47 tháng là 50,3%; 48-59 tháng là 62,8% Các yếu tố có liên quan đếnSDD thể thấp còi ở trẻ có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p<0,05) đó làtrình độ học vấn của người mẹ (dưới lớp 10 và trên lớp 10), tình trạng kinh tếcủa hộ gia đình (nghèo và không nghèo), số con của mẹ trong gia đình, thờiđiểm cho trẻ bú sau đẻ, và tình trạng mắc bệnh của trẻ [30]
Nghiên cứu của Trần Thị Lan (2013) tại Quảng Trị, một tỉnh miền núitrung Trung bộ cho thấy tỉ lệ SDD thấp còi ở trẻ 12 - 36 tháng tuổi là 66,5%[29] Nghiên cứu của Nguyễn Thanh Hà tại Bắc Ninh thuộc vùng đồng bằngBắc bộ năm 2007 chỉ là 34,4% cũng cho thấy sự khác biệt về tỉ lệ thấp còi giữahai vùng miền này
Điều này được lý giải bởi sự bất cập trong việc tiếp cận dịch vụ y tế,trình độ dân trí và khoảng cách giàu nghèo ngày càng lớn giữa khu vực nôngthôn, miền núi so với các thành phố lớn và các khu đô thị Tỉ lệ SDD giảm,nhưng vẫn còn cao tại các vùng núi, nông thôn trong khi tại các thành phố, khu
đô thị có xu hướng tăng tỉ lệ trẻ thừa cân béo phì [29]
Theo nhóm tuổi, kết quả nghiên cứu cho thấy tỉ lệ SDD nhẹ cân tănglên lúc trẻ 12 tháng tuổi, duy trì đều ở các tháng tuổi sau đó, trong khi đó tỉ lệ
Trang 21SDD thấp còi của trẻ tăng dần theo độ tuổi, tăng nhanh từ lúc trẻ 12 tháng tuổi
và cao nhất ở trẻ từ 12-36 tháng tuổi, đặc biệt ở độ tuổi 24-36 tháng [31]
Hình 1 5 Tỉ lệ suy dinh dưỡng theo nhóm tuổi
(Viện Dinh dưỡng-2011)
Một số nghiên cứu khác cũng chỉ ra rằng tỉ lệ SDD thấp còi ở nhóm trẻdưới 6 tháng là thấp nhất, sau đó tăng nhanh vào thời kỳ trẻ 6-23 thángNguyên nhân giai đoạn này trẻ có nguy cơ bị SDD cao hơn vì đây là thờiđiểm cai sữa cho trẻ, ăn bổ sung, có nhiều ảnh hưởng đến lượng thức ăn củatrẻ và đồng thời trẻ có nhu cầu dinh dưỡng rất cao Khả năng miễn dịch tựnhiên giảm, dễ mắc các bệnh truyền nhiễm hơn và mẹ bắt đầu đi làm cũng lànhững lý do dẫn đến tỉ lệ SDD tại nhóm 6-23 tháng tuổi cao Trẻ bị SDD thấpcòi ở lứa tuổi này sẽ làm giảm quá trình tăng trưởng về chiều cao ở giai đoạntiếp theo Vì vậy, các nghiên cứu can thiệp dinh dưỡng cần tập trung tác độngvào giai đoạn 1000 ngày vàng đầu đời (đặc biệt trẻ từ 6-23 tháng tuổi) [32]
Thiếu vi chất dinh dưỡng (VCDD) đặc biệt là thiếu máu và thiếu kẽm cóliên quan chặt chẽ với SDD thấp còi Nhiều nghiên cứu đã chứng minh, chậmphát triển sau khi sinh có liên quan chủ yếu tới sự thiếu hụt dinh dưỡng, trong
Trang 22đó quan trọng nhất là các thiếu hụt liên quan tới thiếu năng lượng, protein vàcác vi chất dinh dưỡng như sắt, kẽm và các vitamin D, A, C
Kẽm có vai trò quan trọng trong quá trình phát triển của hệ tiêu hóa vàtăng cường quá trình chuyển hóa, giúp cải thiện chiều cao của trẻ thấp còiNgoài ra, kẽm còn làm tăng khả năng miễn dịch và tổng hợp protein đối với cơthể [33],[34],[35] Nghiên cứu của Nguyễn Thanh Hà cho thấy trẻ từ 6-36 thángtuổi bị SDD thấp còi có tỉ lệ thiếu máu và thiếu kẽm rất cao (lần lượt là 40,9% và40,0%) [36] Nghiên cứu của Lê Danh Tuyên năm 2009 đã chỉ ra có mối liênquan giữa tình trạng thấp còi và thiếu máu (với OR = 3,39, p<0,05) [37] Nghiêncứu của các tác giả Berger J (2006) về kết hợp bổ sung sắt và kẽm cho trẻ sơsinh cũng đã cho thấy hiệu quả lên việc cải thiện tình trạng vi chất dinh dưỡng vàtốc độ phát triển của trẻ [38]
Thiếu máu: Tỉ lệ thiếu máu ở nhóm trẻ 6-59 tháng trên toàn quốc là
19,6% Các khu vực có tỉ lệ trẻ em bị thiếu máu cao có ý nghĩa sức khoẻ cộngđồng là miền núi phía Bắc 23,4% và Tây nguyên 26,3% [25] Tỉ lệ trẻ trongnăm đầu tiên của cuộc đời bị thiếu máu do thiếu sắt vẫn còn ở mức rất cao tới60-80%, đặc biệt ở những trẻ đẻ thiếu cân tỉ lệ này còn cao hơn [39]
Thiếu kẽm: Tỉ lệ thiếu kẽm ở trẻ em 6-59 tháng tuổi trên toàn quốc là
58,0%, trong đó khu vực miền núi phía Bắc là 67,7%; Tây Nguyên là 66,6%
Tỉ lệ thiếu kẽm ở trẻ em có ý nghĩa sửa khoẻ cộng đồng ở mức nặng theo đánhgiá của Tổ chức Y tế thế giới [25] Tỉ lệ thiếu vi chất dinh dưỡng mức nặng về
ý nghĩa sức khỏe cộng đồng có thể giảm xuống song song với mức cải thiệnđiều kiện kinh tế xã hội (khu vực miền núi và Tây Nguyên) Tuy nhiên nếukhông có các can thiệp đặc hiệu thì khó có thể giảm tiếp xuống mức trung bình
về ý nghĩa sức khỏe cộng đồng
Thiếu Vitamin A: Kết quả điều tra dinh dưỡng năm 2019 cho thấy tỉ lệ
thiếu vitamin A tiền lâm sàng ở nhóm trẻ 6-59 trên toàn quốc là 9,5%, khu vực
Trang 23miền núi phía Bắc là 13,8% và Tây nguyên là 11,0% có ý nghĩa sức khoẻ cộngđồng ở mức nhẹ [25] Can thiệp uống viên nang vitamin A liều cao đã đượctriển khai nhiều thập kỷ qua nhưng tỉ lệ thiếu vitamin A tiền lâm sàng ở trẻ em6-59 tháng tuổi vẫn còn ở mức nhẹ và giảm chậm trong những năm gần đâyĐiều này cho thấy cần có can thiệp hỗ trợ mang tính trung hạn và dài hạn đểduy trì thành tích đã đạt được và thanh toán tình trạng thiếu vitamin A tiền lâmsàng Tỉ lệ thiếu vitamin A tiền lâm sàng ở trẻ em có thể nặng thêm nếu dừnghoàn toàn chương trình uống vitamin A liều cao trên toàn quốc
Kết quả điều tra quốc gia về vi chất dinh dưỡng cho thấy tình trạngthiếu chung đa vi chất dinh dưỡng ở trẻ nhỏ tại các vùng nông thôn ViệtNam Tỉ lệ thiếu Kẽm, Selenium, Magnesium, và Đồng theo thứ tự là 86,9%,62,3%, 51,9%, và 1,7% Mặt khác 55,6% trẻ bị thiếu máu và 11,3% số trẻ bịthiếu vitamin A Thiếu đồng thời từ 2 vi chất dinh dưỡng trở lên chiếm tới79,4% trẻ [39]
Cho dù đã có nhiều cố gắng trong việc giảm tình trạng SDD thấp còi ởtrẻ nhưng tình trạng SDD chỉ giảm sau khi có các chương trình can thiệp, đặcbiệt là ở những khu vực khó khăn, người dân tộc thiểu số Khi các chươngtrình can thiệp kết thúc, người dân không còn sự giám sát và hỗ trợ củachương trình thì tình trạng SDD của trẻ lại tái diễn và duy trì ở tỉ lệ cao Vìvậy, can thiệp giảm tỉ lệ SDD nói chung là công việc không đơn giản, cầnphải có sự tham gia của toàn xã hội, nỗ lực từ nhiều ngành, có hướng tiếp cận
đa diện từ nhiều phía mới có thể giảm được một cách bền vững
1 1 3 Nguyên nhân suy dinh dưỡng
Mô hình nguyên nhân và hậu quả suy dinh dưỡng ở trẻ em của Quĩnhi đồng Liên hiệp quốc (UNICEF-1997) cho thấy SDD có nguyên nhântrực tiếp, nguyên nhân gián tiếp và nguyên nhân cơ bản SDD không chỉ gây
Trang 24ra hậu quả trực tiếp, tức thì tới sức khỏe của trẻ mà nó còn ảnh hưởng đếntâm lý, trí tuệ, thể lực khi trẻ ở tuổi trưởng thành và đến thế hệ sau [40]
Trang 25Hình 1 6 Mô hình nguyên nhân – hậu quả của suy dinh dưỡng trẻ em
(nguồn: Unicef)
H u quả tức thời: ậu quả tức thời:
tàn t t, tử vong ật, tử vong
H u quả lâu dài: ậu quả tức thời: phát triển thể
lực và trí tu ở tuổi trương ệ % thành, năng lực sản xuất, khả
năng sinh sản, các b nh mãn ệ %
tính
Suy dinh dưỡng trẻ em
Khẩu phần ăn
của trẻ em B nh t tệ % ật, tử vong
An ninh thực phẩm
h gia đình ộ gia đình
Chăm sóc bà
mẹ và trẻ em
Môi trường sức khỏe
Nguồn lực cho
an ninh thực
phẩm
- Sản xuất thực
phẩm
- Thu nh p ật, tử vong
Nguồn lực cho chăm sóc sức khỏe
- Kiểm soát nguồn lực và tự quyết của người chăm sóc
- Tình trạng sức khỏe thể chất và
tinh thần của người chăm sóc trẻ
Kiến thức và niềm tin của người dân
Nguồn lực cho chăm sóc sức khỏe
- Cung cấp nước sạch
- V sinh đầy đủ ệ %
- Chăm sóc y tế
- An toàn môi trường
ĐÓI NGHÈO
- Cấu trúc chính trị-xã h i-kinh tế ộ gia đình
- Môi trường văn hóa-xã h i ộ gia đình Các nguồn tiềm năng (Môi trường, công ngh , ệ % con người)
Nguyên nhân gốc rễ
Nguyên nhân tiềm tàng
Nguyên nhân trực tiếp
H u ật, tử vong quả
Trang 261 1 3 1 Nguyên nhân trực tiếp
Nguyên nhân của suy dinh dưỡng là do trẻ bị thiếu chất dinh dưỡng, thiếunăng lượng do khẩu phần ăn thiếu hoặc thức ăn khi ăn vào cơ thể không có khảnăng được hấp thu hoặc bị ký sinh trùng chiếm mất
Hình 1 7 Vòng xoắn bệnh lý: Bệnh tật - Suy dinh dưỡng - Nhiễm khuẩn
(nguồn: Unicef)
- Khẩu phần ăn: Khẩu phần ăn thiếu về số lượng hoặc kém về chất
lượng là yếu tố quan trọng ảnh hưởng trực tiếp đến SDD: Trẻ không được búsữa mẹ đầy đủ; cho trẻ ăn bổ sung quá sớm hoặc quá muộn; số lượng thức ănkhông đủ; năng lượng và protein trong khẩu phần ăn thấp [41]
- Bệnh nhiễm khuẩn: nhiễm khuẩn ảnh hưởng tới sự phát triển về thể lực
ngay trong giai đoạn mắc bệnh mà nó còn ảnh hưởng lâu dài tới sức khỏe củatrẻ Cùng với tiêu chảy, nhiễm khuẩn hô hấp cấp, SDD là một trong nhữngnguyên nhân hàng đầu gây tử vong ở trẻ em Theo Tổ chức Y tế Thế giới, quaphân tích 11,6 triệu trường hợp tử vong trẻ dưới 5 tuổi ở các nước đang pháttriển cho thấy có đến 54% (6,3 triệu trẻ) có liên quan đến SDD [20] Tại ViệtNam, kết quả nghiên cứu của tác giả Hoàng Văn Thìn tại Hiệp Hòa, Bắc Giang
Ăn vào không đủ
- Giảm cân
- Tăng trưởng chậm
- Giảm miễn dịch
- Tổn thương niêm mạc
Giảm ngon mi ngệ %
Thiếu các chất dinh dưỡng
Giảm hấp thu
Rối loạn chuyển hóa
Bệnh tật:
- Tăng tỉ lệ mắc mới
- Mức độ trầm trọng hơn
- Thời gian mắc kéo dài hơn
Trang 27(2017) cho thấy tỉ lệ trẻ dưới 5 tuổi mắc nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính là 39,5%;
ở nhóm tuổi 12-35 tháng là 43,8% [42] Tác giả Ngô Viết Lộc và cs (2017)nghiên cứu tại huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị cho thấy có 23,5% trẻ dưới 5tuổi bị nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính [43] Nghiên cứu cũng chỉ ra các yếu tốliên quan có ảnh hưởng đến tỉ lệ nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính là học vấn của
mẹ, nghề nghiệp của mẹ, trẻ mắc tiêu chảy, kiến thức thực hành dự phòngnhiễm khuẩn của mẹ [44] Tỉ lệ nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính ở trẻ dưới 5 tuổitại huyện Chương Mỹ, Hà Nội theo nghiên cứu của Trần Thị Nhị Hà và cs(2016) cho thấy có 30,6% trẻ bị nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính, 31,0% trẻ nam bịmắc, trẻ nữ ;à 30,1% [45]
- Nhiễm ký sinh trùng đường ruột cũng là nguyên nhân quan trọng gây ra
tình trạng SDD, thiếu máu ở trẻ em Một nghiên cứu về nhiễm giun cho thấy tỉ
lệ nhiễm giun ở trẻ em lên đến 60%, chủ yếu là giun đũa và giun móc Nhiễmgiun làm cho trẻ chán ăn, giảm hấp thu các chất dinh dưỡng, thiếu máu, từ đóảnh hưởng đến tình trạng dinh dưỡng của trẻ [29],[46]
1 1 3 2 Nguyên nhân tiềm tàng
Nguyên nhân gián tiếp của SDD trẻ em đó là sự yếu kém trong dịch vụchăm y tế cho bà mẹ và trẻ em; kiến thức của người chăm sóc trẻ, yếu tố chămsóc của gia đình, vấn đề nước sạch, vệ sinh môi trường và tình trạng nhà ởkhông đảm bảo vệ sinh, tình trạng đói nghèo, lạc hậu về các mặt phát triển nóichung bao gồm cả mất bình đẳng về kinh tế An ninh thực phẩm hộ gia đình,thiếu sự chăm sóc y tế và bệnh tật có tác động lớn nhất tới TTDD của trẻ SDD
ở trẻ em có liên quan chặt chẽ với học vấn, điều kiện kinh tế và tình trạng sứckhỏe của người mẹ [47],[48]
Những người sống trong gia đình có trình độ học vấn thấp, sức khỏe hạnchế thường rơi vào cảnh nghèo đói Khi nghèo đói, trình độ thấp người dân ít
có cơ hội tiếp cận với dịch vụ chăm sóc sức khỏe cũng như dịch vụ về thức ăn
và dinh dưỡng Phần lớn các hộ gia đình nghèo ở nước ta chủ yếu tập trung ở
Trang 28khu vực miền núi, vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số vàthường sinh nhiều con [10],[13] Gia đình đông con thì chế độ dinh dưỡng,khẩu phần ăn của trẻ không được đảm bảo Đây là nguyên nhân chính của vòngluẩn quẩn của đói nghèo-suy dinh dưỡng-bệnh tật ở trẻ em nói riêng và ngườidân nói chung [3],[49]
1 1 3 3 Nguyên nhân cơ bản
Nguyên nhân gốc rễ dẫn đến SDD đó là kiến trúc thượng tầng, chế độ xãhội, chính sách, tiềm năng phát triển kinh tế của mỗi quốc gia Cấu trúc chínhtrị - xã hội - kinh tế, môi trường sống, các điều kiện văn hóa - xã hội là nhữngyếu tố ảnh hưởng đến SDD ở tầm vĩ mô Trong quá trình phát triển kinh tế hiệnnay của các nước phát triển, khoảng cách giàu nghèo ngày càng gia tăng tácđộng đến xã hội ngày càng sâu sắc; đặc biệt là khủng hoảng kinh tế toàn cầutrong thời gian này làm cho việc đảm bảo an ninh lương thực ở các nước đangphát triển ngày càng trở nên khó khăn [50],[51]
1 1 4 Giải pháp phòng chống suy dinh dưỡng ở trẻ em
Một trong 2 nguyên nhân trực tiếp dẫn đến SDD trẻ em là việc thiếunăng lượng và chất dinh dưỡng được cung cấp từ thức ăn Vấn đề này có thể
là do thức ăn của trẻ không đủ về số lượng và/ hoặc kém về chất lượng do giađình của trẻ nghèo, thiếu an ninh thực phẩm Vấn đề quan trọng hàng đầu đểgiải quyết vấn đề SDD trẻ em là cung cấp thức ăn bổ sung và đảm bảo an ninhthực phẩm hộ gia đình
mà còn làm giảm các nguy cơ do người mẹ chưa hiểu biết hoặc không chú ýđến các chỉ dẫn, cách sử dụng, hạn sử dụng của sản phẩm [52] TạiCamphuchia, các tác giả Sanne Sigh và CS (2017) sử dụng thực phẩm được
Trang 29sản xuất bằng thực phẩm sẵn có tại địa phương, kết hợp giáo dục kiến thức,thực hành, kỹ năng cho bà mẹ đã cho kết quả cao trong điều trị SDD cấp tính[53] Tác giả Bindi Borg và CS (2017) sử dụng phương pháp cho trẻ ăn thựcphẩm bổ sung acid béo sản xuất từ nguyên liệu địa phương cho trẻ SDD cũngcho kết quả tốt đồng thời tạo được thói quen tiêu dùng của người dân qua giáthành và đáp ứng thị hiếu [54]
Tại Việt Nam, nghiên cứu về thực hành ăn bổ sung của tác giả PhạmHoàng Hưng (2008) cho thấy, đa số bà mẹ và những người chăm sóc trong giađình trẻ chưa thực hiện đúng quy cách cho trẻ ăn bổ sung cả về thời điểm, sốlượng, chất lượng và tính chất vật lý của thức ăn [55] Nghiên cứu trên một sốnhóm người dân tộc thiểu số khu vực Tây Nguyên cho thấy, tập quán cho ăn bổsung sớm rất phổ biến, có tới 34,1% bà mẹ cho trẻ trước 3 tháng tuổi Có tới8,8% trẻ được ăn bổ sung trong tháng đầu tiên, 25,3% trẻ được ăn bổ sungtrong tháng thứ 2 hoặc thứ 3 và 65,9% trẻ được ăn bổ sung từ tháng thứ 4 [56]
Tác giả Lê Thị Hương và cs nghiên cứu tại Quảng Trị (2008) cũng chothấy hầu hết trẻ ăn bột khi được khoảng 5 tháng tuổi, ăn cháo lúc 9 tháng tuổi và
ăn cơm khi được khoảng 13 tháng Có 53,7% trẻ được ăn bổ sung trước khiđược 4 tháng tuổi, 27,9% trẻ được ăn bổ sung khi được 4 - 6 tháng và 18,4% trẻđược ăn bổ sung sau khi được 6 tháng tuổi Loại thức ăn đầu tiên phổ biến nhấtcủa trẻ là cơm nhai 47,9% và bột gạo 46,3% Số bữa ăn trung bình của trẻ là 3,1
± 0,6 Số bữa ăn trung bình của trẻ tăng dần theo tuổi [57]
Tỉ lệ cho trẻ ăn chưa đúng thời điểm (trước 6 tháng) của các bà mẹ theonghiên cứu của tác giả Lương Ngọc Trương và CS (2011) tại Thanh Hóa là39,8% Tỉ lệ nuôi con hoàn toàn bằng sữa mẹ trong 6 tháng đầu chiếm tỉ lệ rấtthấp chỉ đạt 5% [58] Tại Thái Nguyên theo kết quả nghiên cứu của NguyễnLân cũng cho thấy, tỉ lệ các bà mẹ cho con ăn bổ sung sớm rất cao Tỉ lệ mẹcho con ăn bổ sung trong tháng đầu là 4,5%; khi trẻ từ 1-2 tháng tuổi là13,5%, trong 4 tháng đầu là 88,9% Chỉ có 2/322 bà mẹ (0,7%) cho con ăn bổsung trong thời gian từ 5-6 tháng tuổi [59]
Kết quả nghiên cứu của tác giả Huỳnh Văn Dũng (2019) cũng sử dụngphương pháp truyền thông giáo dục dinh dưỡng sử dụng thực phẩm giàu vi
Trang 30chất sẵn có tại địa phương để cải thiện dinh dưỡng của trẻ cho thấy thực hànhchế biến thức ăn bổ sung của người mẹ được cải thiện, năng lượng khẩu phầntăng, tiêu thụ thực phẩm tối thiểu tăng và các thực phẩm giàu sắt, vitamin A,vitamin D tăng mạnh sau khi được truyền thông, giáo dục dinh dưỡng [60]
Như vậy, từ kết quả của các nghiên cứu cho thấy can thiệp về thức ăn
bố sung cho trẻ giúp cải thiện tình trạng dinh dưỡng Để trẻ có sức khỏe vàphát triển hoàn hảo nhất, từ những ngày đầu đời, việc cung cấp thức ăn đầy
đủ, hợp lý có vai trò hết sức quan trọng
1 1 4 2 An ninh thực phẩm với tình trạng dinh dưỡng
Tình trạng thiếu an ninh thực phẩm (ANTP) hiện vẫn còn là vấn đề rất lớnđối với toàn nhân loại Thiếu thực phẩm dẫn đến cơ thể thiếu năng lượng, cácchất dinh dưỡng và suy dinh dưỡng làm cho việc thực hiện các hoạt động sống
và hoạt động xã hội không được bình thường Hậu quả của suy dinh dưỡngkhông chỉ làm ảnh hưởng tới sức khỏe, thể lực của trẻ ngay trước mắt mà nó cònảnh hưởng sức khỏe khi trẻ lớn lên và đến thế hệ tiếp theo [50],[51]
Hình 1 8 Con đường từ thiếu an ninh thực phẩm hộ gia đình tới các vấn
đề về dinh dưỡng (nguồn FAO)
- Số lượng -Chất lượng
Thiếu ăn và rối loạn chuyển hóa Trẻ thừa
cân, béo phì
Lo lắng, stress, trầm cảm
Con đường dẫn tới thừa cân
Trang 31Đối với trẻ dưới 24 tháng tuổi, việc cho ăn đúng số lượng thức ăn, đầy đủ
và cân đối chất dinh dưỡng (chất sinh năng lượng và không sinh năng lượng)
có vai trò quyết định đến cả thể lực lẫn trí lực của trẻ khi lớn lên [61] Ngoài ra,đảm bảo dinh dưỡng đầy đủ cho trẻ còn có vai trò dự phòng bệnh tật, làm giảmgánh nặng bệnh tật cho xã hội
Để làm được điều này, vai trò của sự sẵn có của thức ăn là rất quantrọng Bên cạnh đó kiến thức, kỹ năng thực hành chăm sóc của bà mẹ cũng làyếu tố quyết định tới sự phát triển toàn diện của trẻ và dự phòng SDD Từ cácyếu tố nguy cơ cũng như nguyên nhân gây ra SDD trẻ em (Hình 1 5) cho thấycần phải có các biện pháp tổng thể, thống nhất và có sự kết nối đồng bộ giữacác giải pháp thì tỉ lệ SDD ở trẻ mới có thể giảm một cách bền vững
1 2 AN NINH THỰC PHẨM HỘ GIA ĐÌNH
1 2 1 Khái niệm
Theo Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hiệp Quốc-2001: “An
ninh thực phẩm là tình trạng khi tất cả mọi người lúc nào cũng tiếp cận được về mặt vật lý, xã hội và kinh tế đối với nguồn thực phẩm đầy đủ, an toàn và đảm bảo dinh dưỡng để đáp ứng nhu cầu bữa ăn và sở thích nhằm đảm bảo một cuộc sống năng động và khoẻ mạnh [62] Thiếu an ninh thực phẩm hộ gia
đình (ANTPHGĐ) là các thành viên hộ gia đình không có hoặc có mà thiếuhoặc có một cách thất thường các loại thực phẩm có giá trị dinh dưỡng để ăn
ANTPHGĐ là yếu tố quan trọng để đảm bảo khẩu phần ăn đáp ứng nhucầu sinh trưởng, phát triển, duy trì sự sống và hoạt động hàng ngày của tất cảmọi người trong đó có trẻ nhỏ ANTPHGĐ không được đảm bảo sẽ làm chocác thành viên trong gia đình có ít đồ ăn hoặc không có đồ ăn
Khả năng dự trữ, phân phối, lưu thông cung cấp ổn định và đặc biệt làsức mua có tầm quan trọng ngang với sản xuất Nghĩa là không chỉ dừng lại ởkhâu sản xuất, ANTP cần được xem xét một cách cụ thể và triệt để trên cơ sở
Trang 32hệ thống thực phẩm Đặc biệt là mối liên quan giữa dinh dưỡng với nôngnghiệp, kinh tế và phát triển hệ thống phân phối sản phẩm [63]
1 2 2 Các cấp độ của an ninh thực phẩm
ANTP được chia thành nhiều các cấp độ khác nhau từ vĩ mô đến vi mô,bao gồm: cấp toàn cầu, cấp quốc gia, cấp hộ gia đình, và cấp cá thểANTPHGĐ hộ gia đình được đảm bảo đồng nghĩa với việc các cá nhân tronggia đình cũng được đảm bảo về thực phẩm ANTPHGĐ nhằm thoả mãn nhucầu thực phẩm, thực phẩm đảm bảo vệ sinh, đầy đủ chất dinh dưỡng, phù hợpvới tâm, sinh lý để có một cuộc sống khoẻ mạnh và phát triển giống nòiANTPHGĐ là tiêu chí đánh giá việc đảm bảo quyền con người của mọi thànhviên trong xã hội [63] Vì vậy, việc đảm bảo ANTPHGĐ cho người dân là đảmbảo cho an ninh dinh dưỡng, an ninh con người và an ninh quốc gia Tuy nhiên,
để ANTPHGĐ được đảm bảo một cách bền vững cần phải có sự kết hợp đangành, đa chiều và tổng thể từ chế độ chính sách đến hạ tầng kỹ thuật
- Tiếp cận với nguồn thực phẩm
- Sự ổn định của nguồn cung thực phẩm
- Sự an toàn, chất lượng của nguồn thực phẩm cung ứng
Vấn đề ANTP không đơn giản là sản xuất ra lượng thực phẩm để đápứng nhu cầu tiêu dùng của người dân mà còn phải quan tâm đến các vấn đềkhác như: khả năng phân phối, mức thu nhập của người dân, [63]
Trang 33Hình 1 9 Khung phân tích an ninh thực phẩm hộ gia đình (Maxwell-1996)
Vấn đề sản xuất: phải có đủ thực phẩm để cung cấp cho toàn xã hội
trong mọi hoàn cảnh, ở tất cả các vùng địa lý khác nhau trên toàn quốc, tại mọithời điểm khác nhau
Về phân phối: cần phải có hệ thống cung ứng thực phẩm đến tận tay
người tiêu dùng với mức giá mà cả người mua và người bán chấp nhận được
Về thu nhập, nhà nước phải tạo điều kiện để người dân có việc làm, có
thu nhập để có đủ tiền mua thực phẩm đáp ứng nhu cầu của cá nhân vàgia đình
1 2 4 Các phương pháp đánh giá an ninh thực phẩm hộ gia đình
Trên thực tế có nhiều phương pháp đánh giá tình trạng ANTPHGĐ cũngnhư ANTP của cá thể Từ những phương pháp đánh giá thông qua tổng nănglượng được cung cấp cho cơ thể đến đánh giá mức độ sẵn có của thực phẩm tại
Điều kiện tự nhiên, kinh tế-xã hội và
những rủi ro bất ngờ
Nguồn lực Khả năng tiếp cận của hộ Cơ hội việc
làm và thu nhậpSinh kế hộ gia đình
An ninh thực phẩm
hộ gia đình
Trang 34địa phương, phương pháp đánh giá mức độ và khả năng tiếp cận thức ăn của hộgia đình, cụ thể:
1 2 4 1 Đánh giá nhanh nông thôn
Phương pháp đánh giá nhanh nông thôn (Rapid Rural Appraisals) được
phát triển đáp ứng yêu cầu cho các phương pháp thu thập và phân tích thông tinnhằm tăng hiểu biết tối đa về một cộng đồng với thời gian và kinh phí tối thiểu[65] Phương pháp RRA có thể định nghĩa tóm tắt là: “một nghiên cứu sử dụngnhư là một khởi điểm để tìm hiểu tình huống ở địa phương; thực hiện bởi mộtnhóm liên ngành; thực hiện trong một thời gian ngắn ít nhất 4 ngày, nhưngkhông quá 3 tuần; và dựa trên các thông tin thu thập từ trước quan sát trực tiếp
và phỏng vấn khi cần thiết trong trường hợp những câu hỏi khôngthể xác định được trước đó”
PRA có nguồn gốc từ RRA, nó là một trong các phương pháp tiếp cận
để thiết kế, thực hiện, theo dõi và đánh giá nhanh của sự phát triển nông thôn
Sử dụng của PRA cũng giống như RRA, Khảo sát thăm dò bằng PRA, theo dõibằng PRA, đánh giá bằng PRA và lập kế hoạch bằng PRA
1 2 4 2 Đánh giá nhanh có sự tham gia của cộng đồng
Phương pháp đánh giá nhanh có sự tham gia của cộng đồng(Participatory Rapid Appraisal) là phương pháp để tìm hiểu tối đa về các vấn
đề dinh dưỡng và thực phẩm cũng như các nguyên nhân và nguồn tiềm năngsẵn có của địa phương với thời gian và kinh phí tối thiểu Phương pháp đánhgiá nhanh có sự tham gia của cộng đồng bao gồm một loạt các công cụ để thuthập và phân tích thông tin (số liệu thứ cấp và số liệu thực địa) Các công cụbao gồm: Xem xét số liệu thứ cấp (sẵn có); quan sát trực tiếp; vẽ bản đồ (tàinguyên, cơ sở hạ tầng, xã hội…); sơ đồ mặt cắt; sơ lược lịch sử thôn bản; biểuđồ xu hướng (biến động theo thời gian)… [66]
Trang 351 2 4 3 Đánh gia, đo lường thông qua kinh nghiệm của người dân
Thang đo lường thông qua kinh nghiệm của người dân-FIES làmột thước đo dựa trên kinh nghiệm về mức độ nghiêm trọng của tình trạng mất
an toàn thực phẩm Nó dựa trên câu trả lời trực tiếp của mọi người đối với cáccâu hỏi về trải nghiệm của họ khi đối mặt với việc tiếp cận thực phẩm bị hạnchế Phát triển từ kinh nghiệm tích lũy với các công cụ tương tự ở một số quốcgia, FIES đã phát triển các quy trình phân tích cần thiết để thực hiện đo lường
an ninh lương thực toàn cầu dựa trên kinh nghiệm, giúp có thể so sánh tỷ lệphổ biến giữa các quốc gia và thậm chí cả các nhóm dân số dưới các quốc gia[67]
Thang đo lường này được FAO (2015) khuyến nghị sử dụng, bao gồm
230 chỉ số để theo dõi kiểm soát các mục đích và đánh giá tiến trình đạt được
17 mục tiêu phát triển bền vững mới (SDGs) Bằng cách hỏi trực tiếp ngườidân về sự mất an ninh thực phẩm đã trải qua để xác định tình trạng thiếuANTPHGĐ FIES là thước đo mức độ nghiêm trọng của tình trạng mất an ninhlương thực ở hộ gia đình hoặc cá nhân Căn cứ vào câu trả lời có/không củangười dân trong 8 câu hỏi ngắn về sự tiếp cận với đầy đủ lương thực
1 2 4 4 Sử dụng thang đánh giá an ninh thực phẩm hộ gia đình
Phương pháp sử dụng thang đánh giá ANTPHGĐ (HFIAS) là phươngpháp được áp dụng rộng rãi để đánh giá mức độ thiếu ANTPHGĐ ở nhiều nướctrên thế giới Bộ công cụ bao gồm có 9 câu hỏi chính hỏi về mức độ thiếu và 9câu hỏi phụ về tần suất thiếu thức ăn [68]
Trên cơ sở phỏng vấn mức độ thiếu từ các thực phẩm thiết yếu đến cácthực phẩm yêu thích để xác định được tình trạng thiếu ANTPHGĐ Phươngpháp này giúp đánh giá được mức độ tiếp cận với thức ăn về số lượng lẫn chất
Trang 36lượng Đồng thời phương pháp này cũng cho biết mức độ thiếu ANTPHGĐ củacác gia đình tham gia nghiên cứu theo mức độ từ an toàn đến nghiêm trọng
1 2 5 Thực trạng an ninh thực phẩm hộ gia đình
1 2 5 1 Trên thế giới
Hiện nay, trên thế giới cứ 9 người thì có một người không có đủ thựcphẩm để duy trì một cuộc sống khỏe mạnh [8] Số liệu thống kê của FAOtrong giai đoạn 2014-2017 cho thấy, số lượng hộ gia đình bị thiếu ANTP vẫnkhông giảm mà còn có xu hướng gia tăng Tình trạng thiếu ANTPHGĐ khôngchỉ xảy ra ở các nước nghèo, khu vực có khí hậu khắc nghiệt như khu vựcchâu Phi, Mỹ La tinh, Nam Á, Đông Nam Á mà còn phổ biến ở các nước pháttriển ở khu vực Bắc Mỹ và Châu Âu (Hình 1 6) [69]
Thế giới
Châu Phi
Châu Á
Trung và nam Á
Đông á và đông nam Á
Bắc Mỹ và châu Âu
647.3 260.1
319.3 243.5 53.5
16.2
618.9 267
291.4 219.3 48.9
16.3
665.7 311.2
287.9 188.1
75.1
13.5
769.4 374.9
311.9 201.7
Trang 37Năm 2017 trên toàn thế giới có tới 769,4 triệu người thiếu ANTP, trong
đó khu vực châu Phi với 374,9 triệu, khu vực châu Á 311,9 triệu người trong
đó khi vực Đông Nam Á và Đông Á là 82,2 triệu người Ở các quốc gia thuộckhu vực châu Á, tình trạng thiếu ANTPHGĐ cũng thường xuyên xảy ra vớitình trạng rất trầm trọng [61]
Tại Iran theo kết quả nghiên cứu của Abdurahman và CS (2016) chothấy, điểm số trung bình thang điểm thiếu ANTPHGĐ là 3,34 và 39,7% hộ giađình bị thiếu an ninh thực phẩm [70]
Tác giả Aatish Kumar Sahu và CS (2017) đánh giá chỉ số an ninh lươngthực hộ gia đình của bộ lạc Nagaland ở vùng cao Ấn Độ dựa trên bộ câu hỏiHFIAS cho thấy Có sự tương quan cao và đáng kể của các chỉ số điểm đa dạng
và điểm tiêu thụ thực Có liên quan giữa các chỉ số thu nhập hộ gia đình, sốlượng người trong gia đình với tình trạng mất ANTPHGĐ [71]
Tại Bangladesh, Andrew L Thorne-Lyman và CS (2009) nghiên cứu vềảnh hưởng của khủng hoảng tài chính đến chi tiêu, đa dạng thực phẩm cũng chỉ
ra mức độ đa dạng của thực phẩm có liên quan với việc chi tiêu theo bình quânđầu người và tổng số tiền chi trong hộ gia đình Kết quả nghiên cứu cũng chothấy có mối liên quan giữa tiền sử có chế độ ăn kém trước khi thực phẩm tănggiá với nguy cơ, mức độ nghiêm trọng của SDD và thiếu vi chất dinh dưỡng ởtrẻ em Bangladesh [72]
Tác giả Ali và CS (2013), sử dụng thang điểm HFIAS để đánh giá tìnhtrạng thiếu ANTPHGĐ tại Bangladesh, Ethiopia cho thấy điểm trung bình từ2,7 ± 5,0 điểm; trong đó có 26,9% lo lắng không có đủ thức ăn, 27,8% khôngthể ăn các loại thực phẩm ưa thích, 24,4% chỉ ăn một vài loại thực phẩm ngàynày qua ngày khác, 20,1% ăn thực phẩm mà trẻ không thích ăn, 19,7% ăn íthơn so với nhu cầu, 12,3% ăn ít bữa hơn trong 1 ngày, 12,1% không ăn thức ănnào cả, 8,1% nhịn đói khi đi ngủ [73]
Trang 38Khu vực Đông Nam Á cũng là nơi có tình trạng ANTPHGĐ thường
xuyên không được đảm bảo như ở Malaysia, Campuchia, Philipin và Việt NamTác giả M Mohamadpour và CS (2012) nghiên cứu về ANTPHGĐ và sứckhoẻ, dinh dưỡng ở trẻ em tại Malaysia cho thấy có 85,2% hộ gia đình bị thiếuANTPHGĐ, trong đó 24,9% thiếu ở cấp độ hộ gia đình, 19,5% thiếu ở cấp độ
cá thể và 40,8% trẻ bị thiếu thức ăn [74] Cũng tại Malaysia, Farhadian và CS(2015) đã sử dụng thang đánh giá thiếu ANTPHGĐ (HFIAS) nghiên cứu trên
hộ gia đình nghèo có con nhỏ từ 1-5 tuổi tại Sabah Kết quả cho thấy có 35,3%
hộ gia đình đảm bảo được ANTPHGĐ, 28,4% số hộ gia đình bị thiếu ở mức độnhẹ, 27,5% thiếu ở mức độ vừa phải và có 8,8% thiếu ở mức độ trầm trọng Cómối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa thiếu ANTPHGĐ với số lượng con, sốngười gia đình, trình độ học vấn và công việc của cha/mẹ [75]
Tác giả McDonald và CS (2015) nghiên cứu về ANTPHGĐ tạiCampuchia cho thấy điểm trung bình HFIAS và HDDS lần lượt là 5,3±3,9 và4,7±1,6% Tỉ lệ thiếu ANTPHGĐ mức độ nhẹ, trung bình và nghiêm trọngtương ứng là 33%, 37% và 12%; tỉ lệ trẻ bị SDD thể thấp còi và gầy còm lượt
là 25,4 và 8,1% [76] Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy có mối liên quan giữacác chỉ số về tình trạng kinh tế - xã hội, quyền sở hữu đất nông nghiệp với tìnhtrạng ANTPHGĐ Bên cạnh đó, nghiên cứu cũng chỉ ra các yếu tố sở hữu đấtnông nghiệp, nhà ở có liên quan đến đa dạng trong khẩu phần ăn [77]
Như vậy, an ninh thực phẩm là vấn đề được đặc biệt quan tâm ở tất cả
các nước trên thế giới đặc biệt là ở các nước nghèo, kém phát triển Thực phẩm
là yếu tố quyết định sự sống còn, khỏe - yếu của con người Khi thực phẩmđược đáp ứng đầy đủ và đảm bảo chất lượng thì mỗi người sẽ có được cuộcsống khỏe mạnh và xã hội ổn định Đảm bảo ANTPHGĐ là điều kiện cần thiết
và quan trọng trong việc dự phòng SDD cũng như đảm bảo an ninh dinh dưỡngmột cách bền vững cho mọi người, đặc biệt là trẻ em
Trang 391 2 5 2 Tại Việt Nam
Ngay từ những năm 80 của thế kỷ 20, ANTPHGĐ đã được xem xét ởmức hộ gia đình và cá thể, phân tích khả năng tiếp cận với đầy đủ thực phẩm
đa dạng và an toàn cho mọi thành viên gia đình ở mọi nơi mọi lúc để đảm bảodinh dưỡng và sức khỏe tốt
Thiếu an ninh thực phẩm hộ gia đình chính là nguyên nhân làm choSDD trở thành gánh nặng sức khỏe ở nhiều nước đang phát triển trong đó cóViệt Nam “Xây dựng mô hình phát triển kinh tế và tạo nguồn thực phẩm tạichỗ nhằm đảm bảo an ninh lương thực thực phẩm thích hợp cho từng vùng” làmục tiêu được chiến lược dinh dưỡng giai đoạn 2011-2020 đưa ra nhằm đápứng lương thực - thực phẩm và dinh dưỡng cho trẻ nhỏ [78]
Hiện nay ở tầm quốc gia, nước ta đã có được an ninh lương thực/thựcphẩm Tuy nhiên, vấn đề an ninh thực phẩm hộ gia đình và cá thể đặc biệt là anninh dinh dưỡng còn chưa được đảm bảo [13],[79] Khu vực Trung du và miềnnúi phía Bắc, Bắc Trung Bộ và duyên Hải miền Trung và Tây Nguyên lànhững nơi có tỉ lệ thiếu ANTPHGĐ còn phổ biến [26],[80],[81]
Kết quả nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thị Bé Ba cho thấy tình trạng thức
ăn mới chỉ đảm bảo đủ về số lượng nhưng còn thiếu về chất lượng [82] Tác giảNguyễn Viết Đăng và CS (2014) nghiên cứu về ANTP tại Mai Châu, Hoà Bìnhcũng cho thấy tỉ lệ hộ gia đình nghèo thiếu ăn ở tháng giáp hạt là 24,1%; các hộnghèo thường rất khó khăn trong việc tiếp cận với thực phẩm do giao thông vàkinh tế kém phát triển [64] Thiên tai, lũ lụt là nguyên nhân chính làm tăng số hộgia đình bị thiếu ANTPHGĐ [83]
Kết quả nghiên cứu của một số tác giả cũng cho thấy có sự liên quanchặt chẽ giữa trình độ học vấn, việc làm, kiến thức chăm sóc trẻ của mẹ, vệ sinhmôi trường với tình trạng SDD, nghèo đói, nghèo đa chiều [2],[30]
Tóm lại, ở nước ta, ANTPHGĐ tại những khu vực miền núi, vùng sâu,vùng xa, khu vực khó khăn và ở người dân tộc thiểu số vẫn còn là chủ đề cần
Trang 40đặc biệt quan tâm Những khu vực này có địa hình khó khăn trong phát triểnsản xuất nông nghiệp và chăn nuôi Đây cũng là nơi thường xuyên bị tổnthương do thiên tai, biến đổi khí hậu Người dân sống ở khu vực này đa số cótrình độ học vấn thấp, thiếu kiến thức và kỹ năng cơ bản về cuộc sống Đặc biệt
là thiếu kỹ năng trong việc sử dụng thức ăn và cách làm ra sản phảm giá trị giatăng từ nguyên liệu tại địa phương
1 2 6 Một số mô hình cải thiện an ninh thực phẩm hộ gia đình
Đảm bảo ANTPHGĐ là một công việc cần có sự tham gia hành động từcác chính sách vĩ mô, kết hợp với những giải pháp đồng bộ, liên ngành và củatoàn xã hội Những giải pháp đó nhằm tăng năng suất lao động, tăng sảnlượng lương thực/ thực phẩm, tạo sinh kế bền vững, nâng cao kiến thức, kỹnăng sản xuất nông nghiệp, nâng cao giá trị nông sản, ứng phó với thiên tai,biến đổi khí hậu và tạo việc làm cho người dân
1 2 6 1 Trên thế giới
Để đảm bảo nguồn thức ăn ổn định cho người dân, các chính sách thúcđẩy sản xuất nông nghiệp, chính sách về giá cả cũng được các quốc gia trênthế giới thường xuyên ban hành Ngoài ra, còn có các chính sách khác nhằmthúc đẩy khả năng sản xuất, truyền thông - tiếp thị xã hội giúp cho người dân
có nhận thức đúng về thực phẩm và dinh dưỡng
Tại khu vực Trung và Tây Phi, các giải pháp đảm bảo ANTP đượckhuyến nghị thực hiện tại các nước trong khu vực theo hướng xây dựng hệsinh thái trong sản xuất nông nghiệp có sự tham gia của Nhà nước - Doanhnghiệp - Khoa học công nghệ - Con người Các giải pháp đảm bảm ANTPđều đề cao vai trò của người dân, coi người dân là trung tâm hành động [84]
Kết quả nghiên cứu của tác giả Maurice Mutisya và CS (2016) tạiKenya cho thấy truyền thông giáo dục có vai trò rất lớn đối với việc đảm bảoANTPHGĐ đồng thời có tính bền vững cao [85]
Tác giả Bishnu Dulal và CS (2017) tại Nepal nghiên cứu về mô hình