TP Hồ Chí Minh, tháng 04 năm 2022 TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGÂN HÀNG TPHCM Khoa Kinh tế quốc tế Bộ môn Tài chính hành vi Giảng viên Bùi Đan Thanh Đề tài Tự nghiệm và lệch lạc BẢNG PHÂN CÔNG CÔNG VIỆC STT Thành viên Công việc Đánh giá 1 Neo quyết định Sự bất hợp lý và thích nghi Hoàn thành 2 Nhận thức, trí nhớ và tự nghiệm Hoàn thành 3 Sự quen thuộc và các tự nghiệm có liên quan Hoàn thành 4 Tổng hợp Word + Powerpoint Hoàn thành 5 Tình huống điển hình và những lệch lạc có liên quan Hoàn thành MỤC LỤC Giới.
Trang 1TP Hồ Chí Minh, tháng 04 năm 2022
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGÂN HÀNG TPHCM
Khoa Kinh tế quốc tế
- -Bộ môn: Tài chính hành vi Giảng viên: Bùi Đan Thanh
Đề tài: Tự nghiệm và lệch lạc
Trang 2BẢNG PHÂN CÔNG CÔNG VIỆC
Sự bất hợp lý và thích nghi Hoàn thành
5 Tình huống điển hình và những
lệch lạc có liên quan Hoàn thành
Trang 3MỤC LỤC
1 Giới thiệu 1
2 Nhận thức, trí nhớ và tự nghiệm 1
2.1 Nhận thức 1
2.2 Trí nhớ 2
2.3 Tác động của bối cảnh 3
2.4 Dễ dàng xử lý thông tin (ease of processing) và quá tải thông tin (information overload) 5
2.5 Tự nghiệm (heuristic) 5
3 Sự quen thuộc và các tự nghiệm có liên quan 6
3.1 Sự quen thuộc (familiar) 6
3.2 E ngại sự mơ hồ (ambiguity aversion) 6
3.3 Tự nghiệm đa dạng hóa (diversification heuristic) 7
3.4 Không thích sự thay đổi và hiệu ứng coi trọng tài sản sở hữu (status quo bias – endowment effect) 7 3.5 Tự nghiệm các lệch lạc, lý thuyết triển vọng và cảm xúc 7
4 Tình huống điển hình (Representativeness) và những lệch lạc có liên quan ( Related biases) 8
4.1 Ảo tưởng liên kết (Conjunction Fallacy) 8
4.2 Phớt lờ xác suất cơ sở (Base Rate Neglect) 10
4.3 Ảo tưởng con bạc (Gamble’s fallacy) 13
4.4 Ước lượng quá cao khả năng dự báo (Overestimating Predictability ) 15
4.5 Sự sẵn có, tức thì và nổi trội 16
5 Neo quyết định 17
5.1 Điều gì giải thích cho việc neo quyết định ? 18
5.2 Neo quyết định so với tính đại diện 19
6 Sự bất hợp lý và thích nghi 19
6.1 Các tự nghiệm nhanh chóng và ít tốn kém (fast and frugal heuristics) 19
6.2 Phản ứng trước những chỉ trích 19
TÀI LIỆU THAM KHẢO 20
Trang 41 Giới thiệu
Trong các mô hình cổ điển trong kinh tế và tài chính, người ta chỉ trích rằng là đôikhi chúng được xây dựng như người ra quyết định có tất cả thông tin không giới hạn mộtngười ra quyết định như vậy luôn xem xét tất cả những thông tin liên quan và đưa ra được
sự lựa chọn tốt nhất trong mọi tình huống của quá trình được gọi là tối ưu hóa có ràng
buộc.Tuy nhiên, con người bình thường là không hoàn hảo và một số mô hình thì đòihỏi quá nhiều thông tin Mô hình định giá CAPM là một ví dụ Mô hình này giả định rằngcác nhà đầu tư có thể nghiên cứu tất cả các chứng khoán để có được tất cả các dữ liệu đầuvào của mô hình: tỷ suất sinh lời mong đợi , phương sai của các chứng khoán và hệ sốtương quan của các chứng khoán Chỉ khi đó nhà đầu tư mới có thể lựa chọn một danhmục đầu tư thích hợp
Vậy câu hỏi đặt ra rằng nếu con người trong bối cảnh bị giới hạn về thông tin vàthời gian, họ sẽ ra quyết định như thế nào? Chương này sẽ tập trung trả lời cho câu hỏiđó
Ví dụ 1: Một phụ nữ đẹp, ăn mặc sang trọng, hở hang đi vào một sàn nhảy vào
buổi tối thì chúng ta có thể nghĩ cô ta là một cô gái không tốt
Ví dụ 2: (ngụ ý của hình 2.1)
4
Trang 5Hình 2.1 Hình ảnh minh họa cho ví dụ 2
Đôi khi nhận thức bị bóp méo bởi ý muốn bản thân – xung đột nhận thức Trongcác trường hợp này, mọi người đều có xu hướng giảm thiểu hoặc né tránh những suy nghĩtiêu cực trong tâm lý, và thường gia tăng những hình ảnh tích cực mà bản thân mongmuốn
Ví dụ 3: Khi đầu tư vào cổ phiếu trên thị trường chứng khoán, nhà đầu tư tin rằng
cổ phiếu mình đang sở hữu sẽ tăng giá so với trước khi đầu tư Cụ thể, hôm nay khi bạn đầu tư vào HPG, bạn luôn tin rằng giá HPG sẽ tăng so với hiện tại.
2.2 Trí nhớ
Trí nhớ sẽ được bộ não tái tạo lại và có sự biến đổi mạnh mẽ - đây là cách bộ nãocủa chúng ta vận hành Điều này giải thích vì sao sai lệch càng tăng khi một người cốgắng nhớ lại những hành động, quan điểm, nhận thức của mình trong quá khứ; do mọingười tin rằng những gì mình trải qua sẽ được ghi nhận vào “ổ cứng” của não bộ
Khi cảm xúc dâng trào (rất vui hoặc rất buồn), khả năng chúng ta sẽ nhớ lại nhiềuhơn các sự kiện hơn mức bình thường
Ví dụ 4: Ký ức rất tốt hoặc rất xấu dễ dàng ghi sâu vào trong tâm trí Chẳng hạn,
bạn cá độ nợ 10 tỷ hoặc nhận ra bạn trúng được 10 tờ giấy số giải đặc biệt.
Trang 6Hình 2.4 Ảo giác màu của 2 chiếc váy
Hình 2.2 Hồi ức đôi bạn trẻ có ý
định tự sát khi biết mình mắc nợ
do cá độ đá banh số tiền quá lớn
Hình 2.3 Hồi ức bạn trẻ mắc nợ cá độ đang suy nghĩ nên mua gì hậu trúng
số khi đã có tiền trả hết nợ
Đối với con người, ký ức đẹp sẽ mang lại nhiều sự hạnh phúc hơn ký ức buồn, chonên đôi lúc chúng ta có xu hướng “viết lại quá khứ” Điều đó làm cho ta lạc quan hơn khithấy mình có khả năng kiểm soát tốt một số tình huống hơn so với năng lực thực tế hayphán đoán đúng những gì có thể xảy ra trong tương lai
2.3 Tác động của bối cảnh
Khả năng nhận thức và trí nhớ của con người bị ảnh hưởng bởi bối cảnh hay cáchtrình bày Đây là nguyên nhân chủ yếu giải thích những ảnh hưởng của bối cảnh đến cácquyết định tài chính
− Hiệu ứng tương phản ( Contrast Effect) Ví
dụ 5: Ảo giác về màu của váy ở hình 2.4
Trang 7Giải thích:
− Hiệu ứng ban đầu ( Primacy Effect)
Khi hỏi ấn tượng về một ai đó dựa trên một loạt các yếu tố tượng trưng thì yếu tốđầu tiên thường chi phối suy nghĩ của mình về người đó
Ví dụ 6: Bạn gặp 2 người có 2 tính cách như sau
Người thứ 1 Thông minh – siêng năng – bốc đồng – bướng
bỉnh Người thứ 2 Bướng bỉnh – bốc đồng – siêng năng – thông
minh
Người thứ 1 gây ấn tượng hơn người thứ 2 dù cho có cùng tính cách Vì người thứ 1 có ấn tượng đầu tiên là thông minh Đây là ấn tượng tốt so với ấn tượng ban đầu của người thứ 2 là bướng bỉnh.
− Hiệu ứng tức thì (Recency Effect)
Ngược lại hiệu ứng ban đầu, hiệu ứng tức thì thể hiện yếu tố xuất hiện cuối cùng
sẽ gây tác động mạnh hơn
Ví dụ 7: Chiến lược marketing phổ biến hiện nay Các video quảng cáo khuyến
mãi sản phẩm trên các phương tiện truyền thông, thường đặt logo của mình vào những giây cuối của video giúp cho người xem nhanh chóng nhận diện logo sản phẩm của doanh nghiệp hơn Đây là một chiến lược marketing của các doanh nghiệp trên thị trường
Vậy giữa hiệu ứng ban đầu và hiệu ứng tức thì, hiệu ứng nào gây tác động mạnhhơn? Câu trả lời đó là khi có sự khác biệt đáng kể về thời gian hiệu ứng tức thì thườngchi phối hơn là hiệu ứng ban đầu
Ví dụ 8: Sự kiện xảy ra cuối tuần qua sẽ có tác động mạnh hơn so với một sự kiện
xảy ra vào năm ngoái Nhưng nếu một trong hai sự kiện có liên quan liên tiếp với nhau,
sự kiện sau nối tiếp sự kiện đầu, thì sự kiện đầu (hiệu ứng ban đầu) có tác động mạnh hơn.
− Hiệu ứng danh tiếng (Halo Effect)
Ví dụ 9: Một cuốn sách có bìa đẹp sẽ có nhiều cơ hội được người đọc cầm lên
xem nội dung bên trong hơn một cuốn sách có bìa kém hấp dẫn hơn.
Trang 8Ví dụ 10: Khi thuyết trình chúng ta hay chú trọng đến trang phục, nhóm sẽ mặc
đồ lịch sử (mặc áo sơ mi trắng, quần tây đen…) vì họ tin rằng khi ăn mặc chỉnh tề thì người xem sẽ ấn tượng, có thiện cảm và chú ý lắng nghe nội dung thuyết trình hơn.
Trang 9Ví dụ 11 : Khi mua một sản phẩm, nếu có 2 loại sản phẩm cùng giá và có chức
năng như nhau, khách hàng thường chọn sản phẩm có thương hiệu uy tín hay thương hiệu họ biết.
2.4 Dễ dàng xử lý thông tin (ease of processing) và quá tải thông tin (information overload)
Chúng ta thường ưa thích các tình huống mà có thể dễ dàng xử lý thông tin – tức làhiểu tình huống đó một cách nhanh chóng Thông tin dễ hiểu thường được cho là chắcchắn đúng
Con người sẽ gặp khó khăn trong việc đánh giá thông tin do có quá nhiều thông tin
mà chúng ta có thể sử dụng Dẫn đến tình trạng quá tải thông tin, tức tình trạng bối rối và
né tránh đưa ra quyết định
Ví dụ 12: Khi có quá nhiều người tỏ tình với bạn, bạn sẽ ko biết đồng ý với ai là
tốt hơn (quá tải thông tin) Tuy nhiên, khi chỉ có 1 người tỏ tình, bạn sẽ đưa ra lựa chọn nhanh chóng (dễ dàng xử lý thông tin).
Ví dụ 13: Trong một thí nghiệm, người mua hàng tại siêu thị được dùng thử các
loại bánh và nước trái cây Trong lần thử nghiệm đầu tiên, cho khách nếm 1 lượng nhỏ, trong lần thử nghiệm thứ 2 thì cho khách nếm thử 1 lượng lớn hơn Mặc dù mọi người thường thích bàn ăn có nhiều món hơn để lựa chọn, thực tế là khi có nhiều sản phẩm ta
có thể thu hút đám đông hơn nhưng lại bán được ít sản phẩm hơn Ngược lại bàn ăn có ít sản phẩm hơn lại bán được nhiều hơn Vì có quá nhiều sản phẩm để lựa chọn khiến con người quá tải thông tin, và cảm giác khó đưa ra quyết định Sự chần chừ khiến cho hành động thực hiện không được dứt khoát.
2.5 Tự nghiệm (heuristic)
Trong bối cảnh bị hạn chế về thông tin và khả năng xử lý nhưng chúng ta phải đưa
ra các quyết định một cách nhanh chóng và không được trì hoãn, thì chúng ta thường sửdụng đường tắt hoặc tự nghiệm
Trang 10Tự nghiệm là quy tắc đưa ra quyết định sử dụng một tập hợp con trong tất cả thôngtin Nguyên nhân dẫn đến việc tự nghiệm: tiết kiệm chi phí, không thể phân tích tất cảbiến cố bất ngờ và không thể trì hoãn việc đưa ra quyết định Nên chúng ta thường thựchiện tự nghiệm một cách vô thức và không nhận ra điều đó.
Tự nghiệm được phân loại thành 2 nhóm:
− Nhóm 1 (phản thân (reflexive), tự trị (autonomic), không nhận thức (noncognitive) và tiếtkiệm chi phí): thích hợp khi cần nhanh chóng đưa ra quyết định hoặc khi số tiền đặt cược
là nhỏ
Ví dụ 14: Hà thích chơi đánh đề hơn đánh bài bởi vì Hà thích chơi đánh đề thôi.
− Nhóm 2 (nhận thức): cần nhiều nỗ lực và thích hợp khi số tiền đặt cược lớn
Ví dụ 15: Hôm nay Hà không chơi đánh đề nữa, vì Hà nghĩ đánh bài hôm nay
chơi cùng cả lớp sẽ vui hơn.
Trong một số trường hợp những phản ứng ban đầu dựa trên tự nghiệm dạng 1 cóthế bác bỏ hoặc củng cố tự nghiệm dạng 2
3 Sự quen thuộc và các tự nghiệm có liên quan
3.1 Sự quen thuộc (familiar)
Con người dễ dàng chấp nhận tham gia một cuộc chơi nếu họ cảm thấy am hiểu về
nó, hay nói cách khác là cảm thấy đủ khả năng Do chúng ta cảm thấy an tâm hơn đối vớinhững gì mà mình đã quen thuộc
Ví dụ 16: Trong tất cả các loại chứng khoán trên thị trường, một nhà đầu tư sẽ
cảm thấy đủ khả năng quản lý danh mục đầu tư các loại giấy tờ có giá của các công ty, doanh nghiệp mà họ cảm thấy quen thuộc hơn những công ty chỉ mới niêm yết chưa có quá nhiều thông tin tiếp cận.
3.2 E ngại sự mơ hồ (ambiguity aversion)
Bắt nguồn từ việc con người ưu thích rủi ro hơn là sự không chắc chắn Khôngthích sự mơ hồ, né tránh các rủi ro không được bù đắp, và tìm kiếm sự an tâm trong quyếtđịnh
Trang 11Hay nói cách khác, khi ra quyết định về sự không chắc chắn người ta thường thíchcác lựa chọn liên quan đến xác suất rõ ràng (rủi ro) hơn là các lựa chọn liên quan đến xácsuất mơ hồ, không rõ ràng.
Ví dụ 17: Minh họa cổ điển, người chơi thích đặt cược vào việc rút ra quả bóng
màu đỏ trong trường hợp biết bình đựng 50 quả bóng đen và 50 quả bóng đỏ hơn là trường hợp biết trong bình có 100 quả bóng màu đen và màu đỏ Điều dễ hiểu là ở trường hợp một, người chơi sẽ biết được xác suất anh ta rút được quả bóng màu đỏ là 50%, xác định một các rõ ràng hơn là trường hợp hai Đó là một biểu hiện của sự ưu thích rủi ro hơn là sự không chắc chắn.
3.3 Tự nghiệm đa dạng hóa (diversification heuristic)
Con người thường ít cố gắng khi đứng trước các lựa chọn không loại trừ lẫn nhau.Yếu tố tác động đến hành vi: giảm thiểu rủi ro, yêu thích sự đa dạng và dễ dàng lựa chọnhơn
Ví dụ 18: Khi mua vé trọn gói ở công viên Đầm Sen, một hành vi chắc chắn
thường thấy là bạn sẽ lựa chọn chơi nhiều trò chơi khác nhau, bởi vì việc chỉ chơi 1 hay
2 trò nhất định có rủi ro bạn sẽ không thích nó hoặc bỏ sót các trò chơi hay còn lại.
3.4 Không thích sự thay đổi và hiệu ứng coi trọng tài sản sở hữu (status quo bias – endowment effect)
Con người thường có xu hướng giữ nguyên trạng thái hiện tại hơn là chủ độngthực hiện thay đổi nó Lý giải cho hiện tượng là do ta luôn tìm kiếm cảm giác an toàn,chống lại những sự thay đổi (kể cả khi nó mang lại kết quả tích cực), lo sợ sẽ hối tiếc nếuthay đổi hiện tại Điều này, dẫn đến khuynh hướng chúng ta tiếp tục nắm giữ những gì màmình đang có hay luôn coi trọng những cái mình đang sở hữu
Ví dụ 19:
3.5 Tự nghiệm các lệch lạc, lý thuyết triển vọng và cảm xúc
Lệch lạc không thích sự thay đổi được xem như một hàm ý của lý thuyết triểnvọng hoặc một tự nghiệm có tiềm năng lệch lạc
Trang 12Trong thực tế, tất cả tự nghiệm trong phần này ở một mức độ nào đó là bắt nguồn
từ sự tìm kiếm cảm giác thoải mái Nhưng thực sự quan điểm thật sự ở đây là phân biệtgiữa lý thuyết triển vọng, tự nghiệm, cùng các lệch lạc, và cảm xúc đôi khi không rõràng
Ví dụ 20:
4 Tình huống điển hình (Representativeness) và những lệch lạc có liên quan (Related biases).
Trong ấn phẩm nghiên cứu của Amos Tversky và Daniel Kahneman, Judgment
under uncertainty: Heuristics and biases (1982) (Sự đánh giá trong bối cảnh không chắc chắn: tự nghiệm và lệch lạc) đã đưa ra 3 loại tự nghiệm điển hình dẫn đến việc đưa con
người đi đến những quyết định sai lầm, bao gồm: tình huống điển hình (representativeness),
sự sẵn có (availability) và neo quyết định (anchoring) Nguyên nhân gây ra của nhữngquyết định gắn với các yếu tố tâm lý kể trên chủ yếu là việc đánh giá sai khả năng xácsuất xảy ra gắn với những tình huống liên quan tới quyết định đó Hay nói cách khác,đánh giá xác suất khả năng sự kiện xảy ra cao hơn bản chất thực tế của nó
Trên thị trường tài chính, giá cả của các tài sản tài chính trong quá khứ có thể ảnhhưởng đến kỳ vọng của nhà đầu tư trong tương lai về xu hướng giá của tài sản theo 2 hướng
kỳ vọng giá lên (trend projection) và kỳ vọng giá xuống (trend reversal) ( Joseph Johnson
& J.Tellis, 2005) Hai sự phản ứng này đến từ sự thiếu hiểu biết của nhà đầu tư về các sựkiện ngẫu nhiên Nhà đầu tư tính toán sai lầm khi anh ta tin rằng một nhóm nhỏ mẫu dữliệu (sample) có thể đại diện cho một tình huống tổng quát Sự lệch lạc này được gọi làrepresentativeness (tình huống điển hình)
4.1 Ảo tưởng liên kết (Conjunction Fallacy)
Hội chứng ảo tưởng liên kết là một trong những biểu hiện của tình huống điển hình
Ví dụ 21: TCHV 10.0 là một quỹ đầu tư đầu tư chuyên đầu tư vào các cổ phiếu vốn
hóa vừa và nhỏ trên TTCKVN Xem xét 2 tình huống sau:
(1) : TCHV 10.0 sẽ đạt tỷ suất sinh lời gấp 5 lần VNINDEX vào năm 2021
(2) : TCHV 10.0 sẽ đạt tỷ suất sinh lời gấp 5 lần VNINDEX vào năm 2021 và TCHV 10.0 trong năm 2021 sẽ tuyển dụng thêm nhiều nhà phân tích giỏi nhất từ Morgan Stanley
Trang 13để áp dụng những mô hình định giá hiện đại tìm kiếm những cổ phiếu bị đánh giá thấp trên thị trường.
Giải thích: Ảo tưởng liên kết xảy ra khi bạn đánh giá xác suất (2) xảy ra cao hơn
xác suất (1).Nguyên nhân do lựa chọn thứ (2) gợi ý quan hệ nhân quả (causual explaination)(khả năng tăng trưởng lợi tức của quỹ đầu tư tăng lên theo cùng với số lượng nhà phântích giỏi) Nhận định một cách tự nhiên thì thoạt nhiên có vẻ hợp lý, nhưng xét về mặtđịnh lượng thì (1) lại có xác suất cao hơn (2)
Giả sử:
− Xác suất tình huống (1) xảy ra là Pr(A) = 50%,
− Xác suất của tình huống “TCHV 10.0 trong năm 2021 sẽ tuyển dụng thêm nhiều
nhà phân tích giỏi nhất từ Morgan Stanley” là Pr(B) = 50%.
− Tình huống (2) là xác suất kết hợp giữa Pr(A) và Pr(B)
Xác suất tình huống (2) xảy ra là Pr(2) = Pr(A) x Pr(B) = 50% x 50%= 25% < Pr(A)
Kết luận ta thấy xác suất (2) xảy ra thấp hơn xác suất (1)
Việc hiểu lầm giữa xác suất đơn lẻ (simple probability) và xác suất kết hợp (jointprobability) được gọi là Ảo tưởng liên kết (Conjunction Fallacy) Để hiểu hơn, chúng ta sẽcùng xem xét một tình huống gắn với quyết định đầu tư chứng khoán Tương lai là vôđịnh, vì thế các nhà phân tích xem xét cơ hội và đưa ra quyết định đầu tư dựa trên việcphân tích xác suất khả năng xảy ra những sự kiện mà họ cho là nảy sinh ra cơ hội đầu tư.Chẳng hạn như, xác suất là bao nhiêu để Công ty Thuỷ điện Vĩnh Sơn - Sông Hinh(VHC) thắng trong vụ kiện với nhà thầu Trung Quốc ? , xác suất là bao nhiêu để NHNNtăng 100 điểm lãi suất vào quý tới để cải thiện NIM cho các NHTM ? Vấn đề ở chỗ, cómột sự khó khăn lớn trong việc hiểu và đánh giá các phân phối xác suất như thế này
Case study: Ảo tưởng liên kết giải thích cho hiện tượng ưa thích các quỹ tương hỗ
Hội chứng conjunction fallacy có thể giải thích được nguyên nhân tại sao các quỹtương hỗ (mutual funds) vẫn hoạt động được trong khi tỷ suất sinh lời công ty suy thoáikhông mấy hấp dẫn và chi phí giao dịch lại cao Trở lại ví dụ về quỹ đầu tư TCHV 10.0,trên thực tế các nhà đầu tư cho rằng tình huống (2) có khả năng xảy ra nhiều hơn tình