1 1 MA TR 01 NHÀ NƯỚC PHÚC LỢI VÀ SỰ "XÓI MÒN" TRÁCH NHIỆM Nima Sanadaji 2 © 2017 Chương trình Lan tỏa tri thức về kinh tế thị trường thuộc MASSEI MA TR 01 Trung tâm Nghiên cứu Giải pháp Thị trường ch[.]
Trang 2© 2017 Chương trình Lan tỏa tri thức về kinh tế thị trường thuộc MASSEI MA.TR - 01 Trung tâm Nghiên cứu Giải pháp Thị trường cho các vấn đề Kinh tế - Xã hội (MASSEI)
Nhà nước phúc lợi và sự "xói mòn" trách nhiệm1
1 Bài dịch này là chương 8 trong bản dịch của cuốn sách Self-Control or State Control? You Decide biên tập bởi tiến
sĩ Tom.G.Palmer Bản dịch đã được cấp bản quyền bởi Atlas Network và tiến sĩ Tom G Palmer Bản gốc tiếng Anh của cuốn sách tại: https://www.atlasnetwork.org/assets/uploads/misc/atlas-network_self-control_t7p2.pdf
2 Viện trưởng, European Centre for Entrepreneurship and Policy Reform
3 Giám đốc nghiên cứu, Trung tâm Nghiên cứu Giải pháp Thị trường cho các vấn đề Kinh tế - Xã hội (MASSEI)
4 Dịch giả, Chương trình Lan tỏa tri thức về kinh tế thị trường thuộc MASSEI
Trang 3Nhà nước phúc lợi và sự "xói mòn" trách nhiệm
Nima Sanadaji
Liệu rằng các nhà nước phúc lợi có tạo ra sự tin tưởng, sự gắn kết xã hội, và các chuẩn mực về trách nhiệm ở mức độ cao, hay là chúng đòi hỏi phải sẵn có trước đó sự tin tưởng, sự gắn kết xã hội, và các chuẩn mực về trách nhiệm ở mức độ cao để tránh gây ra xung đột và rối loạn xã hội một cách có hệ thống? Một nghiên cứu về các nhà nước phúc lợi của các nước Bắc Âu cho thấy vai trò không thể thay thế của các chuẩn mực về trách nhiệm trong việc tránh rối loạn xã hội Trách nhiệm có trước phúc lợi, không phải ngược lại Hơn nữa, các bằng chứng thu thập được qua nhiều thập kỷ cho thấy các nhà nước phúc lợi làm suy yếu một cách có hệ thống chuẩn mực trách nhiệm cùng với sự tin tưởng và sự gắn kết xã hội Tiến sĩ Nima Sanandaji là một cộng sự Thụy Điển của Trung tâm nghiên cứu cải cách thị trường giáo dục Ông là tác giả của tác phẩm Scandinavian Unexceptionalism: Culture, Markets, and the Failure of Third-Way Socialism
[Scandinavia không phải là ngoại lệ: Văn hoá, Thị trường, và sự thất bại của Chủ nghĩa dân chủ
xã hội] (London: Institute of Economic Affairs, 2015) và nhiều tác phẩm khác Ông nhận bằng tiến sĩ tại Học viện Công nghệ Hoàng gia ở Stockholm
Chính sách kinh tế mới mà Tổng thống Franklin D Roosevelt khởi xướng có thể được coi là
sự ra đời của nhà nước phúc lợi Hoa Kỳ Chính những đạo luật và sắc luật hành pháp đã tạo ra các thể chế và chương trình chính yếu, hình thành nên nhà nước phúc lợi hiện đại như ngày nay Tuy nhiên, vị kiến trúc sư của nhà nước phúc lợi Hoa Kỳ này lại quan ngại về khả năng tồn tại lâu dài của các chương trình mà chính ông tạo ra, bởi vì ông tin rằng các khoản thanh toán phúc lợi có thể ảnh hưởng đến các quy tắc xã hội
Sau hai năm nhiệm kì của mình, Roosevelt đã phát biểu tại Quốc hội Hoa Kỳ và ca ngợi việc
mở rộng các chương trình phúc lợi Tuy nhiên, trong cùng bài phát biểu, ông lưu ý rằng nhiều cá nhân đã mất việc làm trong thời kỳ Đại Suy thoái vẫn còn thất nghiệp Roosevelt bình luận rằng
Trang 4"Gánh nặng cho chính phủ liên bang đã tăng lên nhanh chóng." Mặc dù vậy, mối quan tâm lớn nhất của ông không phả là tính bền vững của tài chính công mà là nguy cơ rằng sự phụ thuộc của công chúng có thể tạo ra một vấn đề sâu sắc về đạo đức và tinh thần Với tầm nhìn xa rộng, Tổng thống đã đi đến kết luận:
Trên phương diện nhân đạo, người Mỹ cho họ, tức những người thất nghiệp, được hưởng quyền ưu tiên Những bài học lịch sử, với những bằng chứng xác thực rõ ràng, chỉ ra một cách chắc chắn rằng phụ thuộc liên tục vào cứu trợ gây ra sự tan rã về đạo đức và tinh thần,
và về cơ bản là hủy hoại cấu trúc quốc gia Cứu trợ theo cách này chẳng khác gì phân phát một liều thuốc ngủ, hủy diệt tinh vi tinh thần con người Điều đó làm tổn hại đến sức mạnh của chính sách tốt Điều đó cũng vi phạm các truyền thống của Mỹ.152
Trong bầu không khí chính trị hiện tại, quan điểm của Roosevelt về lợi ích công cộng có thể
bị lên án là khá cực đoan Tuy nhiên, lịch sử đã xác minh những cảnh báo của ông Không chỉ những người ủng hộ việc thu nhỏ các khu vực công mà còn cả - có lẽ thậm chí còn nhiều hơn - những người ủng hộ xây dựng các quốc gia phúc lợi lớn nên cân nhắc kỹ lưỡng các chính sách
có thể thay đổi chuẩn mực và hành vi của con người như thế nào trong thời gian dài
Mối quan ngại của Roosevelt
Quan điểm của Tổng thống Roosevelt vào thời điểm đó phổ biến hơn ngày nay người ta tưởng Vào đầu thế kỷ XX, ngay cả những người đề xuất về nhà nước phúc lợi cũng lo lắng rằng việc xây dựng các chương trình phúc lợi có thể làm căng thẳng kết cấu xã hội Để hiểu tại sao, bạn phải nhớ rằng để nhà nước phúc lợi hoạt động đúng đắn thì việc hầu hết các cá nhân tuân thủ nghĩa vụ đóng thuế là chưa đủ Cũng là chưa đủ khi mà hầu hết các cá nhân tuân thủ các tiêu chuẩn không lạm dụng các dịch vụ phúc lợi Thay vào đó, để hệ thống tồn tại lâu dài, phần lớn các cá nhân phải tuân theo cả hai tiêu chuẩn trên và phải tin rằng những người khác cũng tuân thủ như vậy Nói cách khác, họ phải tuân theo khế ước xã hội
Trang 5Tuy nhiên, khi các chương trình trợ cấp trở nên "hào phóng" hơn và thuế được tăng lên, thì chuyển từ làm việc và đóng thuế sang không làm việc (hoặc làm việc ít hơn) và hưởng trợ cấp sẽ
có lợi hơn Nếu tất cả mọi người trong xã hội đều tuân thủ các quy tắc về làm việc và đóng thuế, chỉ dựa vào các chương trình phúc lợi khi cần thiết, thì thậm chí vẫn có thể duy trì được một hệ thống tái phân phối quy mô lớn Tuy nhiên, nếu một số cá nhân bắt đầu gạt bỏ quy tắc, những người khác có thể sẽ làm theo Nếu có một lượng đủ lớn số người thay đổi hành vi của họ, hoặc bằng cách né tránh thuế hoặc lạm dụng trợ cấp, sự xói mòn các chỉ tiêu phúc lợi có thể tăng tốc
do khế ước xã hội bắt đầu tan vỡ.153
Đây không chỉ là suy đoán dựa trên lập luận lý thuyết trò chơi trừu tượng Các nhà nghiên cứu Erns Fehr và Urs Fischbacher đã phát hiện ra rằng các quy tắc pháp luật và cơ chế thực thi pháp luật thường thiếu hiệu lực nếu không phù hợp với các chuẩn mực xã hội Các chuẩn mực xã
hội có thể được xem như là các quy tắc "hợp tác có điều kiện" Nói một cách cực đoan hơn, “sự
bội ước của những người khác là biện minh chính đáng cho sự bội ước cá nhân”154 Nói cách khác, nếu một cá nhân nhận thức được rằng hàng xóm của mình tuân theo chuẩn mực, cô ấy cũng sẽ làm như vậy Nếu những người hàng xóm bắt đầu gạt bỏ các chuẩn mực, cô ấy cũng có thể thay đổi hành vi của mình Sự xói mòn nền tảng hợp tác có điều kiện của một nhà nước phúc lợi bền vững có thể gây ra những ảnh hưởng xã hội nghiêm trọng Kết quả có thể làm suy giảm đạo đức công việc, gia tăng sự phụ thuộc của công chúng và làm gay gắt thêm xung đột xã hội Xem xét vấn đề này ở mức độ sâu hơn thì việc thi hành các quy tắc chặt chẽ hơn để khôi phục hệ thống các chuẩn mực bền vững là chưa đủ Các biện pháp hành chính để kiểm soát việc
sử dụng các chương trình công cộng có thể là tín hiệu cho các công dân tuân thủ luật pháp rằng các vi phạm đã trở nên phổ biến Friedrich Heinemann đã nghiên cứu xem bằng cách nào mà một
hệ thống phúc lợi "hào phóng" có thể - theo thời gian - làm suy yếu chính các chuẩn mực giúp cho chính hệ thống phúc lợi đó có thể tồn tại Ông giải thích rằng việc áp đặt lệnh trừng phạt đối với việc nhận hoặc sử dụng các khoản trợ cấp không đúng cách có thể "được coi là hạn chế sự tự quyết định của người dân và sau đó sẽ làm mất đi động lực nội tại để tôn trọng pháp luật"155 Nếu xã hội đến một điểm mà tại đó việc sử dụng các chương trình phúc lợi trở thành thông
lệ, sự xuống cấp của các chuẩn mực sẽ khó có thể dừng lại Áp đặt các quy định hạn chế hoặc các biện pháp hành chính có thể là không thích hợp để ngăn chặn sự xói mòn các chuẩn mực và thực tế có thể đẩy nhanh quá trình Rõ ràng, người ta có thể hiểu hơn tại sao chính Tổng thống
Trang 6Roosevelt lại coi việc cứu trợ là "một chất gây nghiện, một kẻ hủy diệt tinh vi tinh thần con người.”
Hệ quả khôn lường
Theo thời gian, những người đề xướng nhà nước phúc lợi đã quên lời cảnh báo của Roosevelt Những người ủng hộ chính sách phúc lợi ngày càng tự tin rằng có thể đưa ra các dịch
vụ và trợ giúp "hào phóng" của chính phủ, với sự tài trợ bởi các mức thuế cao, mà không làm xói mòn các chuẩn mực xã hội vốn đóng vai trò quan trọng giúp cho hoạt động tái phân phối được bền vững Tuy nhiên, sự phát triển xã hội hiện tại cho thấy có lý do thực sự để lo lắng về những ảnh hưởng lâu dài của chính sách phúc lợi Các chính sách phúc lợi nhằm mục đích giảm bớt tình trạng nghèo đói – và ở một chừng mực nào đó là thành công – đều vô tình tạo ra tình trạng "xã hội đói nghèo" dai dẳng Những lo ngại về sự lệ thuộc vào phúc lợi nảy sinh trong các cộng đồng bên lề dẫn đến sự thay đổi trong tư duy chính trị156 Tổng thống Ronald Reagan nhấn mạnh mối quan tâm này vào năm 1986, trong bài phát biểu của mình về vấn đề cải cách phúc lợi cho quốc gia:
Từ những năm 1950, tình trạng nghèo đói ở Mỹ đã giảm Xã hội Mỹ, một xã hội của những cơ hội, đã làm được những điều kỳ diệu Tăng trưởng kinh tế đã tạo ra những nấc thang cho hàng triệu người leo lên thoát khỏi đói nghèo và trở nên thịnh vượng Năm 1964, chính sách Cuộc chiến chống đói nghèo (War on Poverty) đã được khởi xướng và một điều hài hước đã xảy ra Nghèo đói, được đánh giá bởi sự phụ thuộc, đã không thu hẹp và sau đó thực sự trở nên tồi tệ hơn Tôi đoán bạn có thể nói, nghèo đói đã thắng cuộc chiến Nghèo đói thắng một phần bởi vì thay vì giúp đỡ người nghèo, các chương trình của chính phủ đã làm đứt sợi dây liên kết các gia đình nghèo với nhau157
Tổng thống Reagan cung cấp một ví dụ căn bản về vấn đề vốn xã hội của các gia đình có thể
bị xói mòn bởi các chương trình phúc lợi (có vẻ như) nhằm giúp họ:
Trang 7Có lẽ hệ quả tệ nhất của phúc lợi là sự chiếm đoạt vai trò của nhà cung cấp Ở những bang
có mức chi trả cao nhất, ví dụ như trợ cấp xã hội cho một người mẹ đơn thân có thể cao hơn thu nhập của một công việc có mức lương tối thiểu Nói cách khác, cô ấy có thể được trả đủ
để không làm gì cả Nhiều gia đình đủ điều kiện để nhận được nhiều lợi ích hơn khi người cha "vắng mặt" Phải làm gì để một người đàn ông biết rằng con cái của mình sẽ khấm khá hơn nếu không bao giờ ông ta được công nhận hợp pháp là cha của chúng? Theo các quy định về phúc lợi hiện tại, một cô gái vị thành niên mang thai có thể có đủ tiêu chuẩn để nhận trợ cấp phúc lợi, khoản trợ cấp đó cho cô ấy có một căn hộ riêng của mình, cung cấp chăm sóc y tế, đồ ăn và quần áo Cô ấy chỉ phải đáp ứng một điều kiện: không kết hôn hoặc xác nhận cha đứa trẻ158
Bài phê bình của Ronald Reagan rất có ý nghĩa với công chúng Người Mỹ ủng hộ các chính sách để giới hạn phạm vi các chương trình phúc lợi, với động lực hạn chế những hậu quả không mong đợi của sự phụ thuộc vào phúc lợi Không chỉ đảng viên Cộng hòa, mà còn một số đảng viên Dân chủ, ủng hộ chính sách đó Quan trọng hơn cả là vào năm 2006, Tổng thống Bill Clinton đã ký Đạo luật Hài hòa Trách nhiệm Cá nhân và Cơ hội Việc làm (Personal Responsibility and Work Opportunity Reconciliation Act) Ông đã hứa "biến phúc lợi thành cơ hội thứ hai, chứ không phải là một cách sống." Trong một bài báo được công bố 10 năm sau đó
trên tờ New York Times, Bill Clinton lập luận rằng đạo luật được hai đảng ủng hộ thực sự thành
công:
10 năm qua đã cho thấy rằng chúng ta đã thực sự chấm dứt chế độ phúc lợi trước đây, tạo ra một khởi đầu mới cho hàng triệu người Mỹ Trong thập kỷ qua, các khoản phúc lợi đã giảm đáng kể, từ 12,2 triệu người năm 1996 xuống còn 4,5 triệu người hiện nay Đồng thời, những người phụ thuộc vào trợ cấp xã hội giảm 54% 60% các bà mẹ ngừng nhận phúc lợi đã đi làm việc, những con số này vượt xa dự đoán của các chuyên gia159
Trang 8Hoa Kỳ không phải là quốc gia duy nhất mà các quy tắc xã hội bị xói mòn, đã khiến người ta phải xem xét lại các chương trình phúc lợi Đây là vấn đề đã nhận được sự quan tâm ở nhiều nơi khác trên thế giới Tuy nhiên, có một niềm tin dai dẳng giữa những người ủng hộ chế độ nhà nước phúc lợi trong thời đại hiện nay rằng bằng cách nào đó có thể tạo ra các hệ thống ổn định kết hợp giữa phúc lợi lớn và thuế cao Những người đề xướng thường chỉ ra các nước Bắc Âu - Thụy Điển, Na Uy, Đan Mạch, và Phần Lan - như là bằng chứng Các nhà nước phúc lợi ở khu vực này dường như đã thành công trong việc cung cấp các dịch vụ rộng khắp và trợ cấp tiền mà không làm giảm đi trách nhiệm cá nhân, ít nhất là nhìn thoáng qua Nếu phúc lợi "hào phóng" thành công ở Bắc Âu, vậy tại sao không phải ở phần còn lại của thế giới?
Vấn đề này khá thú vị đối với tôi Một lý do là tôi đã viết khoảng 20 cuốn sách và hơn 100 bản báo cáo về chính sách, chủ yếu là giải quyết các vấn đề xã hội khác nhau ở Thụy Điển và các nước Bắc Âu khác Một lý do khác là bản thân tôi đã lớn lên trong một gia đình nhập cư ở Thụy Điển, chủ yếu được hỗ trợ phúc lợi Vì vậy, tôi đã có kinh nghiệm trực tiếp về các lợi ích ngắn hạn mà các chương trình như vậy cung cấp cho các gia đình kém may mắn Tôi cũng đã nhìn thấy những bất lợi dài hạn của một hệ thống khiến cho toàn bộ các gia đình và cộng đồng rơi vào
“bẫy” phụ thuộc
Khu vực phía bắc theo đạo Tin lành
Bốn quốc gia Bắc Âu - Thụy Điển, Đan Mạch, Phần Lan và Na Uy - thường được những người ủng hộ nhà nước phúc lợi đánh giá là những mô hình thành công với các chính sách, có thể trở thành khuôn mẫu cho các quốc gia khác Nhà kinh tế học thương mại đoạt giải Nobel,
đồng thời là nhà phê bình của tờ New York Times, Paul Krugman đã viết: "Mỗi lần tôi đọc một
câu chuyện ai đó nói về "sự sụp đổ của các quốc gia phúc lợi ở châu Âu", tôi thấy có động lực để đưa người đó đi bộ du lịch ở Stockholm."160 Các nước Bắc Âu được nhiều người cho là đã thực hiện thành công các mô hình nhà nước phúc lợi quy mô lớn, với các chương trình hào phóng và nhiều loại hình dịch vụ công cộng, đồng thời tránh được các rủi ro về đạo đức liên quan đến chính sách phúc lợi161
Thực tế là không chỉ chính sách mà nền văn hoá cũng tạo nên một phần của thế giới này Các quốc gia Bắc Âu - và một số quốc gia phía Bắc châu Âu khác như Đức và Hà Lan - có đặc
Trang 9điểm là các chuẩn mực xã hội coi trọng một cách lạ thường vào trách nhiệm cá nhân chứ không
phải việc hưởng lợi tiền chùa (free riding) dựa trên những nỗ lực của người khác Tôn giáo, khí
hậu và lịch sử dường như đã đóng một vai trò trong việc hình thành những nền văn hoá độc đáo này
Hơn một trăm năm trước, nhà xã hội học Max Weber đã quan sát thấy rằng các quốc gia theo đạo Tin Lành ở Bắc Âu có xu hướng có mức sống cao hơn, có các tổ chức giáo dục chất lượng hơn và có sự gắn kết xã hội nhìn chung tốt hơn các nước Công giáo và Chính thống giáo Weber tin rằng nguyên nhân của sự thành công của các quốc gia Tin Lành đã được thiết lập trong "Nền đạo đức Tin Lành" tốt hơn162 Nhà nghiên cứu kinh tế và phúc lợi người Thụy Điển, Assar Lindbeck, sau này đã phát triển lý thuyết đó bằng cách xem xét các yếu tố khác ngoài tôn giáo Lindbeck giải thích trên phương diện lịch sử rằng người nông dân thật khó có thể sống sót nếu không làm việc cần cù trong môi trường đầy khắc nghiệt như Bắc Âu Bởi vậy, cộng đồng dân
cư do túng thiếu đã tạo ra một nền văn hoá chú trọng đặc biệt đến trách nhiệm cá nhân và công việc cần mẫn.163
Điều đặc biệt ở các quốc gia Bắc Âu không chỉ là lạnh mà còn cả phần lớn lịch sử gần đây của họ là những nông dân độc lập Xét về mặt lịch sử, làm việc cần cù, chăm chỉ là một điều cần thiết ở vùng phía Bắc lạnh giá Phần thưởng của việc cần mẫn làm việc cũng được tích luỹ cho
các cá nhân và gia đình của họ do chế độ sở hữu tư về đất đai rộng khắp Ngoài ra, các xã hội đồng nhất (homogeneous society) Bắc Âu đã phổ biến văn hoá dựa trên sự gắn kết xã hội mạnh
mẽ và mức độ tin tưởng cao nhất trên thế giới164. Một nghiên cứu với 60 quốc gia thực hiện bởi Jan Delhey và Kenneth Newton cho thấy rằng các nước Bắc Âu165 có các đặc điểm truyền thống gắn liền với mức độ tin tưởng cao Các tác giả này đã viết: "Các nước có văn hóa tin tưởng cao được đặc trưng bởi sự đồng nhất về sắc tộc, truyền thống tôn giáo Tin Lành, chính phủ tốt, sự giàu có (sản phẩm GDP bình quân đầu người) và sự bình đẳng về thu nhập" Và Delhey và Newton giải thích rằng: "Sự kết hợp các nét đặc trưng này được ghi nhận nhiều nhất ở các nước Bắc Âu có nền văn hóa tin tưởng cao, nhưng mô thức kết hợp tương tự cũng được tìm thấy ở 55 quốc gia còn lại, mặc dù ở dạng yếu hơn.”166
Trang 1010
Nhà nước phúc lợi dựa vào các chuẩn mực xã hội
Mức độ tin tưởng cao, đạo đức nghề nghiệp tốt và sự gắn kết xã hội là những điểm khởi đầu hoàn hảo cho một nền kinh tế thịnh vượng Đây cũng là nền tảng của chính sách phúc lợi dân chủ xã hội bền vững; mức độ gắn kết xã hội cao đã có từ trước cho phép các chương trình phúc lợi và các loại thuế phí cao được thực thi mà không tác động đến thói quen làm việc gây ra bởi các chính sách như vậy ở mức độ giống như có thể xảy ra trong một môi trường khác Do đó, các nước Bắc Âu và các khu vực khác của Bắc Âu đã có những điều kiện tối ưu để đưa ra các chính sách của nhà nước phúc lợi167
Thước đo mức độ miễn cưỡng trong việc yêu cầu trợ cấp của chính phủ khi không có quyền
lợi hợp pháp được gọi là "nhuệ khí trước cám dỗ phúc lợi" (benefit morale) Nhuệ khí trước cám
dỗ phúc lợi được đo trong Khảo sát các giá trị Thế giới (World Value Survey), một nghiên cứu
về thái độ toàn cầu, trong đó những người tham gia được hỏi rằng, liệu họ có tin rằng việc đòi hỏi từ chính phủ những lợi ích mà họ không sở hữu (entitled) có đôi khi là chính đáng Bằng cách xem xét 31 nền kinh tế phát triển khác nhau trong khoảng thời gian từ năm 1981 đến năm
2010, Daniel Arnold đã chứng minh rằng nhuệ khí trước cám dỗ phúc lợi cao làm giảm tần suất yêu cầu trợ cấp nghỉ phép và ốm đau.168
Một khi chúng ta nhận ra rằng nhuệ khí trước cám dỗ phúc lợi ảnh hưởng đến các nhà nước phúc lợi, sự hiểu biết của chúng ta về các chính sách phúc lợi hiện đại có thể được mở rộng Một khái niệm phổ biến là các chính trị gia ở Hoa Kỳ đã chọn đưa ra các chương trình công cộng ít hào phóng, có lẽ vì họ ít quan tâm đến nhu cầu của người nghèo, trong khi các chính trị gia ở các nước Bắc Âu đã chọn một con đường hào phóng hơn Tuy nhiên, sự khác biệt về hệ tư tưởng không phải là toàn bộ sự thật Chúng ta phải tính đến sự thực là các chính sách phúc lợi của nhà nước phù hợp cho các xã hội Bắc Âu hơn là đối với Mỹ Sự tiến hóa lịch sử của các chính sách hiện nay ủng hộ khái niệm đó Các nước Bắc Âu đã đưa ra các dự án nhà nước phúc lợi sớm Nhưng những người theo Dân chủ Xã hội Bắc Âu vào thời đó đã có một cách tiếp cận thực tế và cẩn thận không làm gián đoạn hệ thống chính phủ nhỏ thành công đang tổn tại Do đó quy mô của chính phủ vẫn duy trì ở mức nhỏ trong một thời gian dài
Trang 11Vào cuối năm 1955, gánh nặng thuế ở Thụy Điển ở mức tương đương như ở Hoa Kỳ (thuế ở mức 24% GDP ở cả hai nước) trong khi ở Đan Mạch thấp hơn một chút (23% GDP)169 Khi cuộc Đại suy thoái đã bao trùm toàn thế giới, các chính trị gia như Franklin D Roosevelt đã phản ứng lại bằng cách đưa ra các chương trình công cộng khổng lồ, xem sự tham gia của nhà nước như là kích thích tốt nhất Và có chút bất ngờ khi các nước Bắc Âu phản ứng theo một cách khác Những quốc gia phụ thuộc vào thương mại này ban đầu bị ảnh hưởng nặng nề trong cuộc Đại suy thoái Tuy nhiên, họ đã phục hồi nhanh chóng bằng cách dựa vào cách tiếp cận theo định hướng thị trường Trong suốt những năm khủng hoảng, các động cơ của Nohab Flight (nay là Volvo Aero) đã ra đời Ngay sau cuộc khủng hoảng, Securitas và SAAB được thành lập Một phương pháp mới để tạo ra bột giấy đã được phát minh, dẫn đến việc tạo ra Sunds Defibrator (nay là Metso Paper, một nhà phát triển hàng đầu về thiết bị ngành công nghiệp giấy)170
Câu chuyện rằng từ rất sớm Hoa Kỳ đã chọn con đường thị trường tự do trong khi các nước Bắc Âu nhanh chóng chuyển sang các chế độ phúc lợi qui mô lớn chỉ là hư cấu Trên thực tế, hệ thống phúc lợi của Mỹ phát triển song song với hệ thống phúc lợi của các nước Bắc Âu Nhưng
có một sự khác biệt lớn: hệ thống phúc lợi của Mỹ sớm gặp phải những lời chỉ trích, chính vì những hậu quả khôn lường đã diễn ra một cách rõ ràng như các chuẩn mực xã hội bị xói mòn và gia đình bị tan vỡ Ở những nước Bắc Âu thuần nhất, hệ thống này không vấp phải những lời chỉ trích ở giai đoạn đầu tiên - ít nhất là không ở quy mô tương tự [như ở Mỹ]
Các chuẩn mực mạnh mẽ, mang tính đặc thù, liên quan đến trách nhiệm cá nhân và thói quen làm việc chăm chỉ ở Bắc Âu đã làm cho những xã hội đặc biệt thích hợp để tránh nguy cơ về đạo đức khi mở rộng các khu vực công Mối quan hệ văn hoá Bắc Âu với các chính sách tập thể hoàn toàn khác so với môi trường văn hóa đa dạng của người Mỹ Lý do tương tự cũng có thể giải thích tại sao các nước Bắc Âu lại thành công hơn trong việc giới thiệu các nhà nước phúc lợi so với các nước láng giềng phía Nam của họ, và lý do này không hẳn là đặc biệt gì; lòng tin và đạo đức liên quan đến trách nhiệm cá nhân cũng đóng vai trò tương tự
Con gà hay quả trứng có trước?
Trước khi các học giả đưa ra mối quan hệ này, Franklin D Roosevelt và Ronald Reagan
đã biết lo xa khi hiểu rằng các chuẩn mực và khả năng tồn tại các chế độ phúc lợi đi đôi với nhau Câu hỏi quan trọng nảy sinh rằng đâu là chiều hướng của quan hệ nhân quả Cái gì có
Trang 12trước, con gà hay quả trứng? Từ quan điểm lý thuyết, người ta có thể lập luận chắc chắn rằng
một nhà nước phúc lợi hào phóng thậm chí có thể củng cố các chuẩn mực như nhuệ khí trước
cám dỗ phúc lợi và lòng tin Nếu công chúng mong muốn chính sách phúc lợi và biết rằng các chương trình phúc lợi nhà nước dựa vào các chuẩn mực như lòng tin rộng khắp thì mọi người có thể hành động để củng cố các chuẩn mực này Tương tự như vậy, nhà nước có thể khởi động nhiều chương trình nhằm thúc đẩy việc tuân thủ hệ thống Trong trường hợp con gà và quả trứng, không hề dễ dàng để phân biệt cái nào có trước cái nào Nhà nghiên cứu Thụy Điển, Andreas Bergh và cộng sự người Đan Mạch, Christian Bjørnskov áp dụng các phương pháp nghiên cứu tinh vi để kiểm tra vấn đề bằng cách nhìn vào mức độ tin tưởng
Như Bergh và Bjørnskov lưu ý, một truyền thống lâu đời trong tâm lý cho thấy rằng từ thủa ấu thơ các cá nhân đã hình thành được thái độ tin tưởng người lạ ở một mức độ nhất định Cảm nhận cơ bản đó vẫn tương đối ổn định cho phần còn lại của cuộc đời của mỗi cá nhân, nếu
nó không bị xáo trộn bởi các sự kiện lớn Thật vậy, mức độ tin tưởng cao dường như trải dài qua các thế hệ, vì chúng được truyền từ cha mẹ sang con cái Một quan sát quan trọng chỉ ra rằng mức độ tin tưởng của công dân Mỹ gần với các mức độ tin tưởng của các quốc gia nơi tổ tiên họ
đã từng sinh sống Và quả như vậy, không một nhóm nào ở Hoa Kỳ có mức độ tin tưởng cao như những người có nguồn gốc Bắc Âu171 Người Mỹ gốc Bắc Âu thậm chí có mức độ tin tưởng cao hơn so với người anh em của họ hiện đang sống tại các quốc gia Bắc Âu172 Điều đó cho thấy rằng nền văn hoá tin tưởng Bắc Âu bắt rễ trước khi các quốc gia phúc lợi hiện đại hình thành Cuối cùng, hiện tượng di cư quy mô lớn từ các nước Bắc Âu sang Hoa Kỳ vào cuối thế kỷ XIX
và đầu thế kỷ XX diễn ra trước khi các quốc gia Bắc Âu này chuyển sang chế độ nhà nước có các khu vực công rộng lớn
Bergh và Bjørnskov sử dụng một số kỹ thuật thống kê khác nhau để kiểm tra mức độ tin tưởng trong lịch sử Họ đi đến đến kết luận rằng mức độ tin tưởng trong lịch sử không phải do chính nhà nước phúc lợi gây ra, vì các quốc gia phúc lợi là hiện tượng tương đối gần đây và mức
độ tin tưởng trong lịch sử có trước khi hình thành các nhà nước phúc lợi Các tác giả đã đưa ra một kết luận rõ ràng: "Sự tin tưởng cao trong các nhà nước có chế độ phúc lợi phổ quát, không phải vì sự phổ quát của nhà nước phúc lợi tạo ra niềm tin, mà bởi vì cộng đồng dân cư có mức độ tin tưởng cao có vẻ như đem đến và duy trì các nhà nước phúc lợi phổ quát rộng lớn."173
Trang 13Vì vậy, trên thực tế, chúng ta có thể tách quả trứng ra khỏi con gà Mức độ tin tưởng cao trong số cộng đồng dân cư Bắc Âu tồn tại trước khi các chế độ phúc lợi đương đại hình thành Ngoài ra, các chuẩn mực tương tự đã dẫn đến mức sống cao và giảm nghèo đói ở Bắc Âu, thậm chí còn nhiều hơn so với Hoa Kỳ Các chỉ số khác về đạo đức làm việc không được đo theo cùng cách như mức độ tin tưởng Tuy nhiên, rất ít người tranh cãi với tuyên bố rằng người Mỹ gốc Bắc Âu cũng có những chuẩn mực rất mạnh liên quan đến công việc và trách nhiệm cá nhân Kết quả là, con cháu Mỹ gốc Bắc Âu tại Hoa Kỳ hiện nay có tỷ lệ nghèo đói thấp hơn một nửa so với mức trung bình nước Mỹ, một hình trạng đã giữ liên tục trong nhiều thập kỷ Người Mỹ gốc Bắc
Âu thậm chí còn có tỷ lệ đói nghèo thấp hơn người anh em họ của họ ở Bắc Âu Dường như các chuẩn mực của Bắc Âu cùng với chủ nghĩa tư bản Mỹ khiến đói nghèo thậm chí thấp hơn các chuẩn mực của Bắc Âu cùng với chủ nghĩa xã hội dân chủ kiểu Bắc Âu174 Cuối cùng, Điều tra dân số Hoa Kỳ cho thấy những cá nhân có nguồn gốc Bắc Âu có thu nhập trung bình hàng năm cao hơn mức trung bình của người Mỹ và cũng cao hơn đáng kể so với các nước Bắc Âu.175
So sánh đơn giản này hy vọng cho thấy sự sai lầm khi cố gắng sao chép một nhà nước phúc lợi Bắc Âu ở Hoa Kỳ và niềm tin sai lầm rằng các chính sách này sẽ mang lại cùng một mức nghèo đói thấp như ở các nước Bắc Âu Nếu người Mỹ gốc Bắc Âu đã đạt được thành công về mặt xã hội tương tự (hoặc trên thực tế còn cao hơn) so với ở Bắc Âu, có lẽ yếu tố văn hoá cũng nên được đưa vào Tương tự, như Philipp Doerrenberg và các đồng tác giả của ông cho thấy, khi xem xét đến vấn đề thuế, người tuân thủ lại được hưởng lợi sau cùng Các tác giả thấy rằng các chính phủ khai thác các nhóm sẵn sàng đóng thuế cao bằng cách đánh thuế nhiều hơn176 Không phải ngẫu nhiên mà thuế cao hơn ở các nước có thái độ tuân thủ chính sách thuế cao hơn Tóm lại, chỉ cần sao chép chính sách thuế hoặc chính sách phúc lợi của Bắc Âu sẽ không dẫn đến những kết quả tương tự như ở Bắc Âu nếu không có sự hỗ trợ của văn hoá cho những chính sách như vậy
Lý thuyết nhà nước phúc lợi tự hủy diệt
Cho đến nay, chúng ta đã chứng minh rằng nhà nước phúc lợi dựa trên các chuẩn mực đã có
từ trước, và các nhà nước phúc lợi lớn đã được triển khai tại các quốc gia hình thành được các chuẩn mực vững chắc trong suốt chiều dài dịch sử Nhưng chính sách phúc lợi tự nó ảnh hưởng
Trang 14đến các quy tắc như thế nào? Và lời cảnh báo của Franklin D Roosevelt rằng sự phụ thuộc vào phúc lợi là "một kẻ hủy diệt tinh vi của tinh thần con người” thì sao?
Trước đó, học giả Friedrich Heinemann đã nghiên cứu liệu rằng cảnh báo của Roosevelt về
"sự băng hoại đạo đức là kết quả của việc phụ thuộc vào phúc lợi" có được ủng hộ bởi bằng chứng nào không Nghiên cứu này dựa vào Khảo sát các giá trị Thế giới mà Daniel Arnold đã sử dụng trong công việc của mình Heinemann xác minh liệu nhuệ khí trước cám dỗ phúc lợi có bị ảnh hưởng trong một thời gian dài bởi các chính sách phúc lợi không Ông đã đưa ra kết luận rằng cơ chế tự hủy diệt hiện hữu trong nhà nước phúc lợi: việc chi trả phúc lợi hào phóng theo thời gian làm suy giảm sự miễn cưỡng chấp nhận đối với việc sử dụng quá mức sự hỗ trợ công cộng Cũng có thể nói, việc chi trả phúc lợi hào phóng có thể làm suy thoái các chuẩn mực tương
tự mà nhà nước phúc lợi đó phụ thuộc Nạn thất nghiệp tăng cao, mà là kết quả của những chính sách làm cản trở thị trường lao động vận hành, có thể dẫn đến cùng hệ quả Heinemann giải thích: "Trong dài hạn, sự gia tăng phúc lợi từ chính phủ và nạn thất nghiệp liên quan đến sự suy giảm nền tảng đạo đức của nhà nước phúc lợi"177
Khảo sát các giá trị Thế giới đã cung cấp bằng chứng ủng hộ mạnh mẽ về sự suy giảm các chuẩn mực xã hội ở Bắc Âu Ví dụ, trong khảo sát 1981-1984, 82% người Thụy Điển và 80% người Na Uy đồng ý với tuyên bố: "việc đòi hỏi từ chính phủ những phúc lợi mà họ không có quyền hợp pháp được hưởng không bao giờ là điều chính đáng” Công dân của hai nước này vẫn
có quan điểm đạo đức mạnh mẽ đối với phúc lợi của chính phủ cho đến những năm 1980 Tuy nhiên, khi người dân điều chỉnh văn hóa của họ theo các chính sách kinh tế mới, nhuệ khí trước cám dỗ phúc lợi có xu hướng giảm đều đều Khảo sát năm 2005-2008 cho thấy chỉ 56% người
Na Uy và 61% người Thụy Điển tin rằng họ không có quyền đòi các phúc lợi mà họ không có chính danh Khảo sát năm 2010-2014 chỉ tiến hành tại Thụy Điển trong số các nước Bắc Âu Nó cho thấy rằng nhuệ khí trước cám dỗ phúc lợi tiếp tục tụt dốc ở Thụy Điển: chỉ 55% người trả lời rằng lạm dụng phúc lợi không bao giờ là điều đúng đắn.178
Các chuẩn mực thay đổi chậm, mất hàng thế hệ
Những người kiến thiết nhà nước phúc lợi tin rằng có thể tránh được các rủi ro đạo đức gây
ra bởi các các khoản trợ cấp cao và thuế cao, ít nhất là trong xã hội dân chủ không tưởng mà các
Trang 15nước Bắc Âu hướng đến Tại sao lời cảnh báo của Roosevelt không được coi trọng? Câu trả lời đơn giản là vì các chuẩn mực thay đổi từ từ, thậm chí qua nhiều thế hệ Khi chính phủ tăng thuế hoặc khiến việc sống dựa vào phúc lợi trở nên hấp dẫn, hầu hết mọi người vẫn tiếp tục hành xử như trước đây Do đó, ít nhất là giai đoạn ban đầu, có vẻ như các chính sách đã không làm thay đổi hành vi của người dân Nhưng các chuẩn mực không cố định Theo thời gian, ngay cả dân số Bắc Âu cũng đã điều chỉnh các chuẩn mực của mình để phù hợp với các ưu đãi do các nhà nước phúc lợi đương thời tạo ra
Jean-Baptiste Michau đã nghiên cứu mối liên hệ giữa phúc lợi của chính phủ và việc lan truyền văn hoá về đạo đức nghề nghiệp Ông lưu ý rằng cha mẹ có những lựa chọn hợp lý liên quan đến "nỗ lực nhiều như thế nào để nuôi dạy con cái làm việc chăm chỉ", dựa trên "sự kỳ vọng của họ về chính sách sẽ được thực hiện bởi thế hệ tiếp theo" Do đó, tồn tại một độ trễ đáng
kể từ thời điểm các chính sách cụ thể được đưa ra, hoặc thậm chí là từ thời điểm diễn ra một cuộc tranh luận về những chính sách tương lai, cho đến khi có những thay đổi về quan niệm đạo đức Xây dựng nên một mô hình với độ trễ giữa 2 yếu tố đó, Michau cho rằng những chính sách cung cấp quyền lợi bảo hiểm thất nghiệp hào phóng có thể là lời giải thích cho sự tồn tại của tỷ lệ thất nghiệp đáng kể trong lịch sử thất nghiệp tại châu Âu sau chiến tranh Thế giới thứ hai.179 Trong một nghiên cứu khác, Martin Halla, Mario Lackner, và Friedrich G Schneider tiến hành một phân tích thực nghiệm về tính động của nhà nước phúc lợi Các tác giả đặt giả thuyết rằng các cá nhân không phản ứng ngay lập tức trước những thay đổi về khuyến khích kinh tế Lý
do là các cá nhân chịu sự ràng buộc bởi các chuẩn mực xã hội trong một thời gian "Do đó, các tác động làm giảm động lực phải mất một khoảng thời gian trễ nhất định thì mới thành hiện thực" Điều thú vị là các tác giả nhận thấy rằng chi tiêu xã hội công cộng ở mức cao thậm chí tạo
ra tác động tích cực, dù ở mức nhỏ, đến nhuệ khí trước cám dỗ phúc lợi Điều này phù hợp với lý thuyết cho rằng các cá nhân trước hết điều chỉnh các chuẩn mực của họ để đáp ứng mục đích của các chương trình phúc lợi công cộng Tuy nhiên, trong trung hạn và dài hạn, mức chi tiêu cao dẫn tới giảm nhuệ khí trước cám dỗ phúc lợi Điều đó phù hợp với lý thuyết cho rằng các cá nhân theo thời gian điều chỉnh hành vi của họ theo các khuyến khích kinh tế Halla, Lackner và Schneider cảnh báo: "kết quả của chúng tôi cho thấy nhà nước phúc lợi có nguy cơ phá hủy nền tảng (kinh tế) của chính mình và ủng hộ giả thuyết về nhà nước phúc lợi tự phá hủy"180
Trang 16Ngay cả các chuẩn mực phúc lợi của Bắc Âu cũng tuân theo dự đoán của Roosevelt
Các nước Bắc Âu vẫn duy trì được nhiều chuẩn mực độc nhất của mình Tuy nhiên, rõ ràng
là các chuẩn mực thực sự đã xấu đi khi người dân dần dần điều chỉnh hành vi của mình để đáp lại chế độ thuế cao và phúc lợi hào phóng Lý thuyết về quá trình tự phá hủy của các nhà nước phúc lợi đã được phát triển bởi Assar Lindbeck, một trong những nhà kinh tế học hàng đầu của Thụy Điển Lindbeck đã tuyên bố rằng những thay đổi trong đạo đức nghề nghiệp có liên quan đến sự phụ thuộc ngày càng nhiều vào các định chế nhà nước phúc lợi181 Ngoài ra, ông tin rằng bằng chứng gian lận phúc lợi rõ ràng ở Thụy Điển, ví dụ như - một số cá nhân nhận trợ cấp thất nghiệp hoặc tiền nghỉ ốm trong khi làm việc trong nền kinh tế ngầm - dẫn đến làm suy yếu các chuẩn mực chống lạm dụng các chế độ phúc lợi khác nhau Do đó cần cải cách để hạn chế gian lận và duy trì hệ thống phúc lợi182
Một số nghiên cứu ở Thụy Điển cho thấy một phần đáng kể dân số bày tỏ thái độ cho rằng cuộc sống sống dựa vào trợ cấp ốm đau mặc dù không bị bệnh là có thể chấp nhận được Ví dụ, một khảo sát từ năm 2001 cho thấy 41% nhân viên Thụy Điển tin rằng trợ cấp ốm đau là có thể chấp nhận được đối với những người không bị bệnh nhưng cảm thấy căng thẳng trong công việc Thêm vào đó, 44% - 48% đáp lại rằng có thể chấp nhận yêu cầu trợ cấp ốm đau ngay cả đối với những người không bị ốm, nếu những người đó không hài lòng với môi trường làm việc hoặc gặp vấn đề trong gia đình họ183
Các nghiên cứu khác đã chỉ ra rằng sự vắng mặt vì lý do ốm đau gia tăng trong các sự kiện thể thao Ví dụ, đối với nam giới tỷ lệ nghỉ ốm tăng gần 7% vào Thế vận hội mùa đông năm
1988, và 16% liên quan đến chương trình truyền hình của Giải vô địch thế giới ở bộ môn trượt tuyết xuyên quốc gia năm 1987184 Tại Giải Bóng đá thế giới năm 2002, tỷ lệ nghỉ ốm tăng đến mức độ đáng kinh ngạc ở nam giới là 41% Sự khác nhau rõ rệt giữa các sự kiện trong cuối những năm 1980 và đầu những năm 2000 có thể được xem như một dấu hiệu cho thấy sự suy giảm đạo đức nghề nghiệp theo thời gian - mặc dù cả ba con số đều cao lạ thường185
Trong những năm gần đây, chính phủ cánh tả và cánh hữu ở Thụy Điển đã giảm sự hào phóng của hệ thống phúc lợi Ngoài ra, các chức năng “gác cổng” đã được đưa ra, chủ yếu đối với quy định thời gian nghỉ ốm để hạn chế việc lạm dụng Thật thú vị, một bài báo gần đây cho thấy những cải cách này có thể cần phải tốn thời gian khá dài để đảo ngược tác động dài hạn mà