1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

QR bai Dien dan TCVN 2021

122 12 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 122
Dung lượng 2,63 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

I DIỄN ĐÀN TÀI CHÍNH VIỆT NAM NĂM 2021 CHIẾN LƯỢC TÀI CHÍNH GIAI ĐOẠN 2021 2030 VÀ CÁC GIẢI PHÁP PHỤC HỒI, PHÁT TRIỂN KINH TẾ VIỆT NAM 2 MỤC LỤC TÀI LIỆU DIỄN ĐÀN TÀI CHÍNH VIỆT NAM 2021 STT BÀI VIẾT[.]

Trang 1

DIỄN ĐÀN TÀI CHÍNH VIỆT NAM

NĂM 2021

CHIẾN LƯỢC TÀI CHÍNH GIAI ĐOẠN

2021 - 2030 VÀ CÁC GIẢI PHÁP PHỤC HỒI, PHÁT TRIỂN KINH TẾ VIỆT NAM

Trang 2

MỤC LỤC TÀI LIỆU DIỄN ĐÀN TÀI CHÍNH VIỆT NAM 2021

BÀI THAM LUẬN

5

NHỮNG ĐỘT PHÁ VÀ ĐỊNH HƯỚNG LỚN CỦA CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN KINH TẾ XÃ HỘI GIAI ĐOẠN 2021 - 2030 VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA ĐỐI VỚI CHIẾN LƯỢC TÀI CHÍNH ĐẾN NĂM 2030

Trang 3

8 DỰ BÁO BỐI CẢNH KINH TẾ - TÀI CHÍNH TRONG NƯỚC VÀ QUỐC TẾ

Hà Huy Tuấn

11

KẾT QUẢ THỰC HIỆN CÁC MỤC TIÊU, NHIỆM VỤ VỀ CÂN ĐỐI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC VÀ NỢ CÔNG CỦA VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2011 - 2020 VÀ NHỮNG KHUYẾN NGHỊ CHÍNH SÁCH TRONG GIAI ĐOẠN TIẾP THEO

Trang 4

NỀN TÀI CHÍNH VIỆT NAM SAU 10 NĂM THỰC HIỆN CHIẾN LƯỢC TÀI CHÍNH ĐẾN NĂM 2020 VÀ ĐỊNH HƯỚNG ĐẾN NĂM 2030

TS Nguyễn Như Quỳnh

Phó Viện trưởng Phụ trách Viện Chiến lược và Chính sách tài chính, Bộ Tài chính

Sau 10 năm thực hiện Chiến lược tài chính đến năm 2020, nền tài chính quốc gia đã có nhiều chuyển biến rõ nét, thể chế tài chính - ngân sách nhà nước (NSNN) theo nguyên tắc thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đã hỗ trợ quá trình tái cơ cấu nền kinh tế và chuyển đổi mô hình tăng trưởng, phù hợp với các điều kiện cụ thể của đất nước trong từng giai đoạn và từng bước tiệm cận với thông lệ quốc tế, tiềm lực tài chính quốc gia tiếp tục được củng cố; cơ chế, chính sách tài chính - NSNN đã góp phần tích cực huy động mọi nguồn lực cho đầu tư phát triển Quá trình sắp xếp, đổi mới các doanh nghiệp nhà nước (DNNN) đạt được các kết quả quan trọng, hiệu quả hoạt động của khu vực DNNN có những cải thiện Thị trường tài chính tiếp tục phát triển ổn định, quá trình tái cơ cấu thị trường được thực hiện đồng bộ, đảm bảo tiến độ

đề ra Cải cách hành chính trong lĩnh vực tài chính được tăng cường và đạt được nhiều kết quả tích cực, quan trọng; ứng dụng công nghệ thông tin và hiện đại hóa ngành tài chính được nâng cao Hội nhập và hợp tác tài chính quốc tế tiếp tục được tăng cường

Key words: Chiến lược tài chính, chính sách tài chính, ngân sách nhà nước,

tiềm lực tài chính

After 10 years of implementing the Finance Development Strategy to 2020, the national finance has achieved obvious improvements The State budget-finance institutions complying with the socialist-oriented market principles have supported the process of economic restructuring and growth model transformation, in accordance with the specific conditions of the country in each period and gradually approaching international practices; national financial potentials have continued to be strengthened; State budget - finance mechanisms and policies have actively contributed to mobilize all resources for development The reorganization and renewal process of SOEs has achieved important results, and the performance of the SOEs has been improved The financial market has continued to develop stably; the process of market restructuring has been carried out synchronously, ensuring the set progress Administrative reform in the financial sector has been strengthened and achieved many positive and important results The application of information technology and modernization in the financial sector has been improved Financial integration and international cooperation have continued to be enhanced

Trang 5

Keywords: Finance Development Strategy, financial policies, state budget,

financial potential

1 Những kết quả đạt được

Quá trình xây dựng và triển khai thực hiện Chiến lược tài chính đến năm 2020 diễn ra trong bối cảnh nền kinh tế trong nước có những thay đổi sâu, rộng trên nhiều mặt, thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa không ngừng được phát triển và hoàn thiện Đây cũng là giai đoạn mà nền tài chính quốc gia phải đối mặt và giải quyết không ít khó khăn do các biến động bất lợi của tình hình kinh tế - xã hội (KT-XH) trong nước và quốc tế Những năm đầu thực hiện Chiến lược tài chính đến năm 2020, kinh tế trong nước nói chung và ngành Tài chính nói riêng tiếp tục chịu tác động của cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu năm 2008 - 2009; khủng hoảng nợ công diễn ra trầm trọng ở nhiều quốc gia, kinh tế thế giới phục hồi chậm, rủi ro trên thị trường tài chính, tiền tệ quốc tế gia tăng Vào những năm cuối thực hiện Chiến lược (kể từ năm 2018), căng thẳng thương mại giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc đã làm cho hoạt động thương mại toàn cầu chững lại, nhiều nước tăng cường bảo hộ thương mại

và điều chỉnh chính sách phát triển dựa nhiều hơn vào nhu cầu tiêu dùng nội địa Đặc biệt, dịch Covid-19 xảy ra trên toàn cầu ảnh hưởng nghiêm trọng đến hầu hết các quốc gia và khu vực Là một nước có độ mở thương mại cao trong khi sức chống chịu của nền kinh tế còn thấp, các biến động từ bên trong và bên ngoài nền kinh tế đã tác động đáng kể đến tình hình phát triển KT-XH cũng như các mục tiêu Chiến lược tài chính của Việt Nam

Chiến lược tài chính đến năm 2020 xác định mục tiêu tổng quát là “Xây dựng nền tài chính quốc gia lành mạnh, đảm bảo giữ vững an ninh tài chính, ổn định kinh tế

vĩ mô, tài chính - tiền tệ, tạo điều kiện thúc đẩy tăng trưởng kinh tế gắn với đổi mới

mô hình tăng trưởng và tái cấu trúc nền kinh tế, giải quyết tốt các vấn đề an sinh xã hội; huy động, quản lý, phân phối và sử dụng các nguồn lực tài chính trong xã hội hiệu quả, công bằng; cải cách hành chính đồng bộ, toàn diện; đảm bảo tính hiệu quả và hiệu lực của công tác quản lý, giám sát tài chính”

Để cụ thể hóa mục tiêu tổng quát, Chiến lược tài chính cũng đề ra 06 nhiệm vụ

cụ thể được xác định như sau:

(i) Tiếp tục xử lý tốt mối quan hệ giữa tích lũy và tiêu dùng, giữa tiết kiệm và đầu tư; có chính sách khuyến khích tăng tích lũy cho đầu tư phát triển, hướng dẫn tiêu dùng; thu hút hợp lý các nguồn lực xã hội để tập trung đầu tư cho hạ tầng KT-XH, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, tạo tiền đề đẩy mạnh cơ cấu lại nền kinh tế và đổi mới mô hình tăng trưởng; tỷ trọng đầu tư toàn xã hội giai đoạn 2011 - 2015 khoảng 33,5 - 35% GDP

(ii) Tổng thu từ thuế và phí giai đoạn 2011 - 2015 là 22 - 23% GDP, giai đoạn

2016 - 2020 là 21 - 22% GDP; trong đó thu nội địa (không kể thu từ dầu thô) đến năm

2015 đạt trên 70% tổng thu NSNN và đến năm 2020 đạt trên 80% tổng thu NSNN

(iii) Nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn lực tài chính công, đặc biệt nguồn vốn từ NSNN; tiếp tục cơ cấu lại chi NSNN và thực hiện tái cấu trúc đầu tư công, tăng cường đầu tư phát triển con người; cải cách cơ chế tài chính đối với lĩnh vực sự nghiệp

Trang 6

công, tài chính DNN; cải cách tiền lương; củng cố hệ thống an sinh xã hội

(iv) Phát triển đồng bộ các loại thị trường, tái cấu trúc thị trường tài chính và dịch vụ tài chính; mở rộng và đa dạng hóa các hình thức hoạt động trên thị trường để động viên các nguồn lực trong và ngoài nước cho phát triển KT-XH Quy mô vốn hóa thị trường cổ phiếu đạt khoảng 50% GDP vào năm 2015 và đạt khoảng 70% GDP vào năm 2020; dư nợ thị trường trái phiếu đạt khoảng 30% GDP vào năm 2020; tổng doanh thu ngành bảo hiểm đạt 2 - 3% GDP vào năm 2015 và 3 - 4% GDP vào năm

2020 Phát triển bộ máy giám sát tài chính đồng bộ, có khả năng phân tích, đánh giá, cảnh báo trung thực mức độ rủi ro của toàn bộ hệ thống tài chính và từng phân đoạn trong hệ thống tài chính

(v) Giảm mức bội chi NSNN xuống dưới 4,5% GDP vào năm 2015 (tính cả trái phiếu chính phủ) và giai đoạn 2016 - 2020 tương đương 4% GDP; nợ công (bao gồm

nợ chính phủ, nợ được Chính phủ bảo lãnh và nợ chính quyền địa phương) đến năm

2020 không quá 65% GDP; dư nợ nước ngoài quốc gia không quá 50% GDP; dư nợ chính phủ không quá 55% GDP; phấn đấu đến năm 2015 tổng mức dự trữ nhà nước đạt 0,8 - 1% GDP và năm 2020 đạt khoảng 1,5% GDP, đồng thời cơ cấu lại mặt hàng

dự trữ đảm bảo đáp ứng kịp thời các nhu cầu đột xuất, cấp bách của Nhà nước

(vi) Tiếp tục hoàn thiện thể chế tài chính đảm bảo tính đồng bộ, ổn định theo nguyên tắc thị trường có sự điều tiết của Nhà nước Đổi mới tổ chức bộ máy ngành Tài chính theo hướng hiện đại, hiệu lực, hiệu quả

Trên cơ sở đánh giá các mục tiêu và nhiệm vụ đặt ra trong Chiến lược tài chính đến năm 2020, có thể thấy ngành Tài chính đã đạt được một số kết quả cụ thể như sau:

Thể chế tài chính - NSNN được đẩy mạnh hoàn thiện theo nguyên tắc thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, hỗ trợ tích cực cho quá trình tái cơ cấu nền kinh tế và chuyển đổi mô hình tăng trưởng

Việc hoàn thiện thể chế trong lĩnh vực tài chính - NSNN trong giai đoạn vừa qua luôn gắn với yêu cầu về cơ cấu lại ngân sách và nợ công, đổi mới khu vực sự nghiệp, tinh gọn bộ máy hành chính hiệu lực, hiệu quả; đẩy mạnh cơ chế khoán, đấu thầu, đặt hàng, triển khai các kế hoạch trung hạn, tăng cường công khai, minh bạch tài chính, hướng tới phát triển bền vững Trong giai đoạn 2011 - 2020, ngành Tài chính đã chủ trì soạn thảo trình Chính phủ để trình Quốc hội thông qua 21 luật, 11 nghị quyết, trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội thông qua 13 nghị quyết; trình Chính phủ ban hành

258 nghị định; trình Thủ tướng Chính phủ ban hành 151 quyết định và ban hành theo thẩm quyền 1.899 thông tư, thông tư liên tịch Nhờ đó, hệ thống thể chế trong lĩnh vực tài chính ngày càng được hoàn thiện, phù hợp với quá trình phát triển của kinh tế thị trường và yêu cầu hội nhập quốc tế Bộ Tài chính đã tham mưu trình Chính phủ, trình Quốc hội sửa đổi đồng bộ hệ thống chính sách thu ngân sách, ban hành Luật NSNN năm 2015, Luật Phí, Lệ phí năm 2015, Luật Thuế xuất - nhập khẩu năm 2016, Luật

Trang 7

sửa đổi bổ sung một số điều của Luật thuế Giá trị gia tăng, thuế tiêu thụ đặc biệt và Luật Quản lý thuế năm 2016, Luật Quản lý, sử dụng tài sản công năm 2017, Luật Quản lý nợ công 2017, Luật Quản lý thuế năm 2019, Luật Chứng khoán năm 2019, các nghị quyết của Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội về chính sách thuế và lĩnh vực tài chính… tạo nền tảng quan trọng cho việc nâng cao hiệu quả, hiệu lực của công tác quản lý tài chính - NSNN cũng như trong việc thực hiện cơ cấu lại NSNN theo hướng lành mạnh, bền vững, đảm bảo an ninh, an toàn nền tài chính quốc gia

Trước những tác động tiêu cực của dịch Covid-19, ngành Tài chính đã tiên phong trong đề xuất và trình cấp có thẩm quyền các giải pháp về chính sách tài khóa

để tháo gỡ khó khăn cho sản xuất - kinh doanh, đảm bảo an sinh xã hội, cụ thể: Bộ Tài chính đã lãnh đạo chỉ đạo kịp thời việc nghiên cứu và trình Chính phủ ban hành Nghị định số 41/2020/NĐ-CP về gia hạn thời hạn nộp thuế và tiền thuê đất hỗ trợ các doanh nghiệp, cá nhân chịu thiệt hại do dịch Covid-19, Nghị quyết số 116/2020/QH14 về giảm thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp năm 2020 đối với doanh nghiệp, hợp tác

xã, đơn vị sự nghiệp và tổ chức khác với mức giảm là 30% số thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp năm 2020 đối với trường hợp doanh nghiệp có tổng doanh thu năm

2020 không quá 200 tỷ đồng; trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội thông qua Nghị quyết

số 954/2020/UBTVQH14 ngày 02/6/2020 về điều chỉnh mức giảm trừ gia cảnh của thuế thu nhập cá nhân Ngoài ra, Bộ Tài chính cũng đẩy mạnh triển khai thực hiện Nghị quyết số 42/NQ-CP hỗ trợ trực tiếp cho người dân, người lao động, hộ kinh doanh gặp khó khăn do dịch Covid-19; phối hợp với các bộ, cơ quan ngang bộ rà soát

để ban hành theo thẩm quyền hoặc trình Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ban hành các văn bản miễn, giảm một số khoản phí, lệ phí; miễn giảm thuế nhập khẩu đối với các mặt hàng vật tư và thiết bị y tế phục vụ phòng chống dịch Covid -19, điều chỉnh biểu thuế nhập khẩu để tháo gỡ khó khăn cho các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực da giầy, dệt may, chế biến nông, lâm, thủy sản, cơ khí, công nghiệp phụ trợ, công

nghiệp ô tô…

Tiềm lực tài chính quốc gia được tăng cường và củng cố

Tiềm lực tài chính của Nhà nước tiếp tục được tăng cường, quy mô NSNN đã được mở rộng Chính sách động viên NSNN đã được rà soát, sửa đổi, bổ sung để hoàn thiện, đảm bảo tính thống nhất, đồng bộ, hiệu lực, hiệu quả Công tác quản lý thu được đơn giản hóa thủ tục, dễ thực hiện; nâng cao ý thức tự giác tuân thủ pháp luật của người nộp thuế; đẩy mạnh hội nhập, tiếp cận các thông lệ quốc tế tốt Nhờ đó, quy mô thu NSNN giai đoạn 2011 - 2020 cao gấp 3,8 lần so với giai đoạn 2001-2010 Tỷ lệ huy động vào NSNN bình quân giai đoạn 2011 - 2020 đạt khoảng 24,5% GDP, vượt mục tiêu đề ra tại Nghị quyết số 07-NQ/TW (20 - 21% GDP) và Nghị quyết số 25/2016/QH14 (23,5% GDP) Tỷ lệ huy động từ thuế, phí giai đoạn 2011 - 2015 đạt khoảng 20,7% GDP; giai đoạn 2016-2020 đạt xấp xỉ 21% GDP, đạt mục tiêu Chiến lược đề ra (21% GDP)

Trang 8

Cơ cấu thu NSNN bền vững hơn, đảm bảo theo đúng định hướng Chiến lược cải cách hệ thống thuế là tăng dần tỷ trọng từ nguồn thu trong nước để bù đắp thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu giảm do tham gia hội nhập quốc tế ngày càng sâu và sự biến động của giá dầu thế giới; phù hợp với mục tiêu định hướng sắp xếp, cổ phần hóa DNNN, tăng cường thu hút các nguồn lực trong và ngoài nước cho đầu tư phát triển

Cụ thể, tỷ trọng thu nội địa giai đoạn 2011 - 2020 đạt 76,7%, riêng năm 2020 là 85,6%, vượt mục tiêu của CLTC (trên 80%) và Nghị quyết số 07-NQ/TW (đạt 84 - 85%) Theo phân cấp thu NSNN, thu ngân sách địa phương có xu hướng tăng dần theo các giai đoạn cả về quy mô và tỷ trọng, số địa phương tự cân đối được thu - chi ngân

nhiệm vụ phát triển KT-XH

Giai đoạn 2011 - 2020, tổng mức, quy mô dự trữ quốc gia (DTQG) tiếp tục được phát triển và củng cố; đến cuối năm 2020, tổng mức DTQG đã tăng gấp 1,22 lần năm 2015 và gấp khoảng 1,47 lần so với năm 2010 Việc tăng dần quy mô DTQG đã góp phần tạo sự chủ động cho Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ trong việc quản lý, điều hành, xuất cấp, phân phối, sử dụng hàng DTQG Các quỹ tài chính nhà nước như quỹ bảo hiểm xã hội, quỹ bảo hiểm y tế được cải thiện cả về tổng số dư và số người tham gia

Tiềm lực tài chính doanh nghiệp cũng được phát triển Số lượng doanh nghiệp thành lập mới và vốn đăng ký tăng dần qua các năm Theo số liệu thống kê, tổng số doanh nghiệp thành lập mới trong năm 2019 là 138,1 nghìn doanh nghiệp với tổng số vốn đăng ký hơn 1,7 triệu tỷ đồng và tổng số lao động đăng ký hơn 1,2 triệu lao động, tăng 5,2% về số doanh nghiệp, tăng hơn 17% về vốn đăng ký và tăng 13,3% về số lao động so với năm 2018 Trong năm 2020, do ảnh hưởng từ dịch Covid-19 nên số doanh nghiệp thành lập mới chỉ đạt 134,9 nghìn doanh nghiệp, giảm 2,3% so với cùng kỳ năm trước Tuy nhiên, tổng số vốn đăng ký năm 2020 đạt trên 2,2 triệu tỷ đồng, tăng 29,2%; vốn đăng ký bình quân một doanh nghiệp thành lập mới đạt 16,6 tỷ đồng, tăng 32,3% so với cùng kỳ năm 2019

Quá trình tích tụ và tập trung vốn của các doanh nghiệp cũng diễn ra nhanh Quy mô vốn chủ sở hữu của các tập đoàn, tổng công ty nhà nước không ngừng được

mở rộng Cơ cấu lại DNNN được đẩy mạnh và thực chất hơn DNNN đã giảm mạnh

về số lượng, đặc biệt là những doanh nghiệp quy mô nhỏ, kém hiệu quả, doanh nghiệp

ở các lĩnh vực Nhà nước không cần nắm giữ Về cơ bản, DNNN tập trung vào 11 ngành, lĩnh vực then chốt, cung cấp sản phẩm, dịch vụ công ích thiết yếu cho xã hội và quốc phòng, an ninh Hiệu quả hoạt động của DNNN và doanh nghiệp sau cổ phần hóa

1 Số lượng các địa phương có số thu NSNN trên địa bàn vào nhóm trên 10.000 tỷ đồng, từ 5.000 nghìn đến dưới 10.000 tỷ đồng và từ 1.000 tỷ đồng đến dưới 5.000 tỷ đồng không ngừng tăng, cụ thể: năm 2006 tương ứng là 4 địa phương, 3 địa phương và 29 địa phương; năm 2011 tương ứng là 10 địa phương, 9 địa phương và 36 địa phương; năm 2016 tương ứng là 15 địa phương, 11 địa phương và 37 địa phương; thì đến năm 2020 tương ứng

là 25 địa phương, 19 địa phương và 18 địa phương

Trang 9

(CPH) được nâng lên Phần lớn DNNN sản xuất, kinh doanh có lãi; các DNNN sau CPH sản xuất, kinh doanh có hiệu quả

Khu vực kinh tế tập thể, hợp tác xã có bước phát triển cả về số lượng và chất lượng, xuất hiện nhiều mô hình mới, hiệu quả Kinh tế tư nhân đạt được tốc độ tăng trưởng khá, chiếm tỷ trọng 43% GDP, thu hút khoảng 85% lực lượng lao động, góp phần quan trọng trong huy động các nguồn lực xã hội, chuyển dịch cơ cấu kinh tế và tạo việc làm, thu nhập cho người lao động Tăng trưởng kinh tế cả nước bình quân giai

người dân và tiềm lực tài chính của khu vực dân cư Nếu như GDP bình quân đầu người năm 2010 đạt khoảng 1.332 USD thì đến năm 2020 đạt khoảng 2.779 USD (nếu tính theo quy mô GDP tính lại, thu nhập bình quân đầu người dự kiến còn cao hơn nữa), tạo điều kiện cho việc gia tăng tích luỹ đầu tư của khu vực này, bao gồm cả đầu

tư qua kênh gián tiếp và trực tiếp Ngoài ra, nhờ chính sách cởi mở trong việc thu hút kiều hối như không bị hạn chế số lượng, thủ tục thông thoáng, chính sách thuế và phí

ưu đãi nên nguồn kiều hối đã tăng khá và trở thành một trong những nguồn lực quan trọng của đất nước

An ninh tài chính quốc gia được đảm bảo

Cân đối ngân sách tích cực, nợ công đảm bảo trong giới hạn an toàn và được quản lý chặt chẽ Giai đoạn 2011 - 2015, chính sách tài khóa đã được điều hành một cách linh hoạt để phù hợp với tình hình KT-XH trong từng giai đoạn, chấp nhận bội chi cao ở một số thời điểm để có thêm nguồn lực cho ĐTPT Giai đoạn 2016-2020, thực hiện các giải pháp cơ cấu lại NSNN theo Nghị quyết số 07-NQ/TW và Nghị quyết số 25/2016/QH14, bội chi NSNN giảm còn bình quân 3,45% GDP, đảm bảo mục tiêu của CLTC và Nghị quyết 07-NQ/TW là đến năm 2020 xuống dưới 4% GDP

và mục tiêu không quá 3,9% GDP theo Nghị quyết số 25/2016/QH14

Các chỉ tiêu an toàn nợ công, nợ Chính phủ và nợ nước ngoài quốc gia nằm trong ngưỡng được Quốc hội phê duyệt và đạt mục tiêu đề ra trong Chiến lược Đến cuối năm 2020, tỷ lệ nợ công so với GDP khoảng 55,2%, nợ Chính phủ khoảng 49,1% GDP, nợ nước ngoài của quốc gia khoảng 47,2% GDP Nghĩa vụ trả nợ trực tiếp của Chính phủ so với thu NSNN nằm trong giới hạn Quốc hội phê duyệt (không quá 25%)

Cơ chế tự chủ tài chính đối với các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp công lập được đẩy mạnh

Trong giai đoạn 2011 - 2020, việc đẩy mạnh cơ chế tự chủ tài chính đối với các

cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp công lập (SNCL) đã góp phần nâng cao hiệu quả chi tiêu công và chất lượng dịch vụ công; tăng cường xã hội hóa cung cấp dịch vụ công Đến hết năm 2016 đã có 56.367 đơn vị được giao tự chủ tài chính, đạt tỷ lệ 98,5% tổng số đơn vị SNCL đang hoạt động; trong đó, số lượng đơn vị SNCL được NSNN đảm bảo toàn bộ chi hoạt động vẫn chiếm tỷ trọng lớn, gần 73,5% tổng số đơn

Trang 10

vị SNCL được giao tự chủ tài chính (41.539 đơn vị); các đơn vị tự bảo đảm một phần chi hoạt động thường xuyên chỉ chiếm 23% (12.841 đơn vị); các đơn vị SNCL tự bảo đảm chi thường xuyên và chi đầu tư vận dụng cơ chế tài chính như doanh nghiệp, đơn

vị tự bảo đảm chi thường xuyên và chi đầu tư; đơn vị tự bảo đảm chi thường xuyên chiếm tỷ lệ nhỏ, chỉ 3,5% (1.987 đơn vị) Các đơn vị được giao tự chủ tài chính ổn định trong giai đoạn 03 năm nên về cơ bản đến năm 2020 chưa có sự thay đổi lớn về cơ cấu

đơn vị SNCL theo mức độ tự chủ tài chính nêu trên

Hình thành đồng bộ các loại hình thị trường tài chính và dịch vụ tài chính

Cấu trúc của thị trường tài chính và dịch vụ tài chính đã từng bước được hoàn chỉnh phù hợp với khả năng quản lý, giám sát của Nhà nước Trong những năm qua, thị trường chứng khoán đã trở thành kênh huy động vốn trung hạn quan trọng cho nền kinh tế, hỗ trợ cho việc thực hiện công tác cổ phần hóa các DNNN được thuận lợi, bảo đảm công khai, minh bạch; thúc đẩy phát triển kinh tế tư nhân; tạo điều kiện thuận lợi cho người dân, doanh nghiệp, đặc biệt trong giai đoạn phòng chống dịch Covid-19, góp phần quan trọng trong phát triển KT-XH của đất nước Quy mô vốn hóa thị trường

cổ phiếu năm 2020 đạt 84,1% GDP, vượt mục tiêu đề ra tại Chiến lược (khoảng 70% GDP), tăng trưởng giá trị vốn hóa thị trường cổ phiếu niêm yết giai đoạn 2011 - 2020

là 29,5% Thanh khoản thị trường tăng trưởng mạnh mẽ với giá trị giao dịch bình quân phiên trên thị trường cổ phiếu đạt 7.359 tỷ đồng/phiên vào năm 2020, tăng gấp hơn 7 lần so với năm 2011 Tổng giá trị vốn huy động qua thị trường chứng khoán trong giai đoạn 2016 - 2020 đạt 1,53 triệu tỷ đồng, tăng gấp 1,2 lần với giai đoạn 2010 - 2015 Thị trường được điều hành linh hoạt, phù hợp, kịp thời, đặc biệt là vào những lúc khó khăn do bối cảnh quốc tế, tình hình dịch Covid-19, qua đó giúp đảm bảo sự an toàn, bền vững Thị trường trái phiếu có bước phát triển vượt bậc, tăng trưởng bình quân 22%/năm trong giai đoạn 2011 - 2020; trong đó, thị trường TPCP tăng trưởng bình quân 24,4%/năm

Thị trường bảo hiểm và dịch vụ tài chính tiếp tục mở rộng về quy mô và phạm vi hoạt động, góp phần quan trọng trong việc thực hiện các mục tiêu về phát triển KT-XH của đất nước Trong đó, các cấu phần của thị trường vốn (thị trường cổ phiếu, thị trường trái phiếu, thị trường chứng khoán phái sinh) có sự tăng trưởng và phát triển nhanh Thị trường bảo hiểm ngày càng phát triển, chất lượng dịch vụ bảo hiểm được nâng cao, đóng góp vào hỗ trợ doanh nghiệp, tái đầu tư cho nền kinh tế Tổng doanh thu ngành bảo hiểm tăng từ 84.506 tỷ đồng năm 2015 (khoảng 2% GDP) lên 220.705 tỷ đồng năm 2020 (khoảng 3,55% GDP) Tổng số tiền đầu tư trở lại nền kinh tế của các doanh nghiệp bảo hiểm (DNBH) năm 2015 là 160.466 tỷ đồng, tăng hơn 2 lần so với năm 2011; năm 2020 đạt 468.563 tỷ đồng, gấp 2,9 lần so với năm

2015 và gấp 5,7 lần so với năm 2011, hoàn thành chỉ tiêu đặt ra tại CLTC đến năm

2020 và Chiến lược phát triển thị trường bảo hiểm giai đoạn 2011 - 2020

Chủ động hội nhập quốc tế; đa dạng hóa nội dung, hình thức và các đối tác

Trang 11

hợp tác quốc tế về tài chính

Trong thời gian qua, Bộ Tài chính đã chủ động hội nhập quốc tế thông qua tham gia đàm phán, ký kết các hiệp định thương mại tự do (FTA) trong các lĩnh vực thuế quan và dịch vụ tài chính Theo đó, đã đóng góp quan trọng vào việc Việt Nam trở thành thành viên của 16 hiệp định thương mại tự do đa phương và song phương với hơn 60 đối tác thương mại hàng đầu trên thế giới Việc tham gia vào các hiệp định thế

hệ mới như Hiệp định Đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương và Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam - Liên minh châu Âu (EVFTA) đã giúp Việt Nam hội nhập sâu rộng vào kinh tế quốc tế, mở ra nhiều thị trường rộng lớn cho doanh nghiệp trong nước, đồng thời đa dạng hóa đối tác quốc tế, giúp giảm dần sự lệ thuộc vào một số thị trường truyền thống như Trung Quốc hay Hoa Kỳ, qua đó góp phần cải thiện an ninh kinh tế, giảm tác động của những biến động từ môi trường quốc tế tới nền kinh tế trong nước Bên cạnh đó, việc tiếp tục đàm phán, củng cố chất lượng hợp tác trong mối quan hệ với các đối tác truyền thống quan trọng như ASEAN, Hoa Kỳ, Trung Quốc cũng giúp làm sâu sắc thêm các quan hệ đối tác, giảm bớt chênh lệch trong cán cân thương mại, tăng cường tin cậy lẫn nhau và giảm các nguy cơ ảnh hưởng tới an ninh kinh tế quốc gia

Hợp tác tài chính trong các khuôn khổ đa phương và song phương được chú trọng tăng cường Trong thời gian qua, thực hiện chỉ đạo của Chính phủ, Bộ Tài chính

đã đăng cai chủ trì các tiến trình hợp tác tài chính đa phương như Tiến trình Bộ trưởng Tài chính APEC 2017, chủ trì tiến trình Hội nghị Bộ trưởng Tài chính ASEAN 2020, góp phần nâng cao vị thế của Việt Nam trong khu vực, qua đó thúc đẩy các lĩnh vực hợp tác tài chính đa phương Các nỗ lực thúc đẩy hợp tác tài chính đã đóng góp tích cực vào tăng cường quan hệ đối ngoại, chia sẻ kinh nghiệm, phối hợp chính sách, góp phần tăng cường vị thế quốc gia và hỗ trợ cho các chính sách của ngành Tài chính Cùng với đó, công tác vận động và điều phối tài trợ nước ngoài cho lĩnh vực cải cách quản lý tài chính công được thực hiện chủ động Việc quản lý thực hiện dự án hỗ trợ

kỹ thuật đã được nâng cao, trong đó đã tích cực vận động các đối tác hỗ trợ hoàn thiện

hệ thống chính sách thuế và quản lý thuế, phát triển thị trường vốn, quản lý ngân sách

và rủi ro tài khóa, quản lý ngân quỹ, quản lý nợ công, tài chính cho biến đổi khí hậu, tăng cường năng lực cán bộ tài chính thông qua các chương trình đào tạo, hội thảo chia

sẻ kinh nghiệm trong lĩnh vực quản lý tài chính công

Đẩy mạnh cải cách hành chính trong lĩnh vực tài chính

Công tác CCHC đã đạt được nhiều kết quả tích cực Các TTHC thuế, hải quan, Kho bạc Nhà nước (KBNN) đã được rà soát, cắt giảm và rút ngắn số giờ thực hiện

Mở rộng áp dụng nộp thuế điện tử, thực hiện thủ tục hải quan điện tử, cơ chế một cửa quốc gia, một cửa ASEAN Ứng dụng CNTT, xây dựng và vận hành một số hệ thống CNTT hiện đại, theo chuẩn quốc tế lớn như hệ thống tích hợp thông tin quản lý ngân sách và kho bạc (TABMIS), hệ thống thông quan tự động (VNACCS/VCIS), hệ thống

Trang 12

thông tin Quản lý nợ (DMFAS), hệ thống quản lý thuế TNCN (PIT), trang dịch vụ công trực tuyến

Bộ máy tổ chức quản lý tài chính và chất lượng nguồn nhân lực được đổi mới, sắp xếp theo hướng tinh gọn, hiệu quả, hiện đại, đáp ứng yêu cầu thực thi nhiệm vụ theo định hướng của Nghị quyết số 18-NQ/TW ngày 25/10/2017 của Trung ương Thực hiện rà soát, sắp xếp lại chức năng, nhiệm vụ của các đơn vị, đảm bảo nguyên tắc phân định rõ trách nhiệm, quyền hạn; kết hợp phân định chức năng nhiệm vụ gắn với chủ trương CCHC, nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động quản lý nhà nước Tăng cường công tác và kiện toàn đội ngũ công chức, viên chức cả về số lượng, chất lượng

lý hoàn chỉnh cho việc kiểm soát chi tiêu NSNN theo kết quả thực hiện nhiệm vụ tại từng bộ, ngành, đơn vị sử dụng ngân sách nên việc đánh giá hiệu quả chi tiêu còn hạn chế Công tác báo cáo, đặc biệt là báo cáo tài chính nhà nước vẫn còn đang trong quá trình hoàn thiện, nên chất lượng và hiệu quả còn khoảng cách so với các nước phát triển Nghĩa vụ trả nợ công hàng năm ở mức cao và có xu hướng tăng trong khi khả năng tiếp cận nguồn vốn vay ưu đãi giảm… Quản lý tài sản công và các quỹ tài chính nhà nước ngoài ngân sách còn nhiều bất cập Đối với một số dịch vụ công (y tế, giáo dục ) việc thực hiện lộ trình giá thị trường còn chậm do việc điều chỉnh giá các dịch

vụ theo lộ trình này cần đảm bảo phù hợp với tình hình KT-XH, mục tiêu ổn định kinh

tế vĩ mô, an sinh xã hội từng giai đoạn

Đổi mới khu vực sự nghiệp công lập chậm, chưa đạt yêu cầu theo các nghị quyết Trung ương Hệ thống tổ chức các đơn vị sự nghiệp còn cồng kềnh, manh mún, phân tán, chồng chéo ở một số lĩnh vực, địa bàn; quản trị nội bộ còn nhiều yếu kém, chất lượng, hiệu quả dịch vụ còn thấp Các đơn vị sự nghiệp ngoài công lập phát triển còn hạn chế, chủ yếu tập trung vào ở khu vực địa phương có kinh tế phát triển, các thành phố lớn Các dịch vụ sự nghiệp công chưa đáp ứng được nhu cầu phát triển của nền kinh tế; xóa đói, giảm nghèo còn chưa bền vững Việc xã hội hóa các dịch vụ sự nghiệp công và tham gia của khu vực ngoài nhà nước chưa tích cực

Công tác cổ phần hóa DNNN còn chậm và không đạt tiến độ đề ra, số doanh nghiệp thua lỗ lớn, có nguy cơ mất vốn còn cao Quá trình thoái vốn đầu tư ngoài ngành còn gặp khó khăn Tình hình tài chính và hiệu quả sản xuất - kinh doanh của các tập đoàn, tổng công ty chưa tương xứng với nguồn lực nắm giữ (quy mô vốn, tài sản),

Trang 13

chưa phát huy tiềm năng, lợi thế, nguồn lực được nhà nước, xã hội giao, vẫn còn một

số doanh nghiệp, tập đoàn, tổng công ty sản xuất kém hiệu quả, thua lỗ làm ảnh hưởng đến hiệu quả của nền kinh tế - tài chính quốc gia

Thị trường tài chính chưa thực sự cân đối; phát triển chưa ổn định; chi phí vốn cho nền kinh tế cao; thị trường vốn quy mô còn nhỏ so với tiềm năng và quy mô thị trường của các nước trong khu vực Quy mô thị trường còn hạn chế so với các nước trên thế giới; năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp bảo hiểm trong nước còn thấp

so với các tập đoàn lớn của nước ngoài, chưa có đủ nguồn nhân lực chất lượng cao

Hệ thống thanh tra, giám sát tài chính vẫn còn chưa đáp ứng được yêu cầu thực tế; sự phối kết hợp giữa các cơ quan chức năng trong giám sát tài chính trong một số khâu còn yếu và chậm có giải pháp khắc phục Công tác cải cách hành chính, bộ máy trong lĩnh vực quản lý tài chính ở một số khâu còn thiếu tính đột phá và chưa theo kịp với thực tiễn phát sinh trong điều hành KT-XH

3 Định hướng của Chiến lược tài chính giai đoạn 2021 - 2030

Giai đoạn 2021 - 2030, diễn biến tình hình kinh tế - chính trị trên thế giới và khu vực trong giai đoạn tới sẽ còn phức tạp, khó lường Hòa bình, hợp tác, liên kết và phát triển là xu thế chủ đạo song vẫn tồn tại sự cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn; chủ nghĩa bảo hộ có xu hướng tăng lên; triển vọng tăng trưởng kinh tế tiềm ẩn nhiều bất định với các rủi ro có thể gia tăng do hoạt động thương mại, đầu tư giảm sút,

nợ công cao Đặc biệt, đại dịch Covid-19 còn diễn biến phức tạp, khó lường, khả năng kéo dài nhiều năm sẽ tiếp tục ảnh hưởng đến kinh tế toàn cầu, làm thay đổi cấu trúc, trật tự kinh tế và tổ chức xã hội của nhiều quốc gia Các xu hướng phát triển mới như phát triển bền vững, kinh tế số, kinh tế tuần hoàn, tăng trưởng xanh…, KH&CN, đổi mới sáng tạo và cuộc CMCN 4.0 sẽ ảnh hưởng sâu rộng và đa chiều trên phạm vi toàn cầu Xu thế đô thị hóa và phát triển đô thị thông minh ngày càng gia tăng Những vấn

đề an ninh phi truyền thống ngày càng đa dạng, phức tạp Tình hình biển Đông diễn biến ngày càng phức tạp, khó lường, đe dọa nghiêm trọng đến hòa bình, ổn định của khu vực và môi trường đầu tư phát triển của nước ta

Ở trong nước, sau gần 35 năm đổi mới, thế và lực của đất nước đã được cải thiện mạnh mẽ Việc duy trì môi trường hòa bình, ổn định chính trị, đảm bảo các cân đối vĩ mô vẫn là những yếu tố thuận lợi căn bản, tạo niềm tin của cộng đồng doanh nghiệp và người dân Tuy nhiên, nền kinh tế vẫn còn tồn tại, hạn chế và tiềm ẩn nhiều rủi ro, nguy cơ tụt hậu còn lớn; hiệu quả và sức cạnh tranh còn thấp, độ mở nền kinh tế cao, khả năng chống chịu, thích ứng với tác động bên ngoài còn yếu Già hóa dân số tăng nhanh dẫn đến áp lực lên hệ thống an sinh xã hội và tác động đến tăng trưởng kinh tế Bên cạnh đó, tác động của biến đổi khí hậu, thiên tai, dịch bệnh, ô nhiễm môi trường, các rủi ro về quốc phòng, an ninh cũng là những lực cản cho phát triển kinh tế, tạo sức ép lớn về tài chính - ngân sách Chiến lược phát triển KT-XH giai đoạn 2021 -

2030 đặt ra mục tiêu đến năm 2030 nước ta trở thành nước công nghiệp theo hướng

Trang 14

hiện đại, thuộc nhóm trên của các nước có thu nhập trung bình cao do vậy để phục vụ tích cực cho các mục tiêu này, Chiến lược tài chính giai đoạn 2021 - 2030 đưa ra các quan điểm, mục tiêu và định hướng chủ đạo sau:

Quan điểm của Chiến lược tài chính giai đoạn 2021 - 2030

Một là, chính sách tài chính quốc gia phải đóng vai trò tiên phong trong việc

huy động, giải phóng, phân bổ và sử dụng hiệu quả các nguồn lực trong và ngoài nước, gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng theo chiều sâu, nâng cao chất lượng tăng trưởng trên cơ sở phát triển nguồn nhân lực, KH&CN, đổi mới sáng tạo gắn với chuyển đổi số góp phần định hướng, dẫn dắt các nguồn lực xã hội vào các mục tiêu ưu tiên phát triển KT-XH trong từng giai đoạn

Hai là, cải cách, nâng cao chất lượng thể chế tài chính theo hướng đồng bộ,

minh bạch và hội nhập là điều kiện tiên quyết thúc đẩy nền tài chính quốc gia phát triển lành mạnh; đồng thời, coi trọng việc phát triển đồng bộ, hài hòa các loại thị trường, các khu vực kinh tế và các loại hình doanh nghiệp; phát triển kinh tế tư nhân thực sự là một động lực quan trọng của nền kinh tế

Ba là, cơ cấu lại NSNN và quản lý nợ công phải đặt trong tổng thể cơ cấu lại

nền kinh tế, đảm bảo vai trò chủ đạo của NSTƯ và tính chủ động của NSĐP; phát huy tối đa lợi thế của các vùng, miền; cân đối nguồn lực phát triển hài hòa giữa kinh tế với

xã hội và BVMT, thích ứng với biến đổi khí hậu

Bốn là, quản lý tài chính bằng pháp luật, tăng cường kỷ cương, kỷ luật tài

chính; nâng cao chất lượng hoạt động thanh tra, kiểm tra, phòng, chống tham nhũng, lãng phí; đẩy mạnh ứng dụng CNTT và nền tảng tài chính số, tiếp tục hiện đại hóa ngành tài chính

Mục tiêu của Chiến lược tài chính giai đoạn 2021 - 2030

Chiến lược tài chính giai đoạn 2021 - 2030 hướng đến xây dựng nền tài chính quốc gia phát triển bền vững, hiện đại và hội nhập nhằm góp phần thúc đẩy tăng trưởng, tăng cường khả năng chống chịu của nền kinh tế, bảo đảm ổn định kinh tế vĩ

mô và an ninh tài chính quốc gia Thực hiện chính sách động viên hợp lý, cải thiện dư địa chính sách tài khóa, tạo điều kiện thuận lợi để huy động, phân bổ và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực tài chính, giải quyết hài hòa các vấn đề phát triển kinh tế, xã hội và môi trường, đảm bảo an ninh, quốc phòng và ASXH gắn với các mục tiêu, nhiệm vụ của Chiến lược phát triển KT-XH 10 năm 2021 - 2030

Định hướng giải pháp của Chiến lược tài chính giai đoạn 2021 - 2030

Với các quan điểm và mục tiêu trên, để thực hiện tốt nhiệm vụ của ngành Tài chính trong thời gian tới, giải pháp CLTC giai đoạn 2021 - 2030 cần chú trọng triển khai các nhóm giải pháp sau:

- Hoàn thiện chính sách huy động các nguồn lực tài chính quốc gia nhằm huy

Trang 15

động có hiệu quả các nguồn lực cho phát triển; nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý thu NSNN, hướng tới một hệ thống thu NSNN đồng bộ, hiệu lực, hiệu quả; tiếp tục cơ cấu lại thu NSNN theo hướng bền vững, đảm bảo nguồn thu NSNN thực hiện chức năng, nhiệm vụ của nhà nước và cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh; tăng cường huy động các nguồn lực tài chính ngoài NSNN

- Nâng cao hiệu quả phân bổ, quản lý và sử dụng các nguồn lực tài chính gắn với việc thúc đẩy quá trình tái cơ cấu kinh tế và phát triển bền vững; nâng cao vai trò định hướng của nguồn lực tài chính nhà nước trong đầu tư phát triển KT-XH; đổi mới

cơ chế phân cấp, phân bổ và cơ cấu lại chi NSNN

- Quản lý chặt chẽ, hiệu quả bội chi NSNN, nợ công phù hợp với các mục tiêu phát triển KT-XH, khả năng vay - trả nợ của nền kinh tế; từng bước cải thiện dư địa tài khóa, nâng cao khả năng chống chịu của nền tài chính quốc gia

- Đổi mới cơ chế, chính sách tài chính đối với đơn vị SNCL, trọng tâm là đẩy mạnh giao tự chủ tài chính cho đơn vị SNCL cùng với đa dạng hóa nguồn lực xã hội phát triển dịch vụ công

- Đẩy mạnh việc cơ cấu lại và nâng cao hiệu quả hoạt động của DNNN; đổi mới quản lý vốn nhà nước đầu tư tại DN

- Phát triển thị trường tài chính và dịch vụ tài chính hiện đại, minh bạch và bền vững; đẩy nhanh việc hoàn thiện cơ sở hạ tầng, công nghệ thông tin đảm bảo thị trường hoạt động thông suốt, an toàn và ổn định

- Hoàn thiện thể chế, tăng cường công tác quản lý giá theo cơ chế thị trường đối với giá các hàng hóa, dịch vụ thiết yếu, giá các dịch vụ công, dịch vụ chuyển từ cơ chế quản lý phí sang cơ chế giá thị trường

- Tăng cường hiệu quả hợp tác tài chính và chủ động hội nhập quốc tế về tài chính

- Tăng cường năng lực, hiệu quả quản lý, giám sát tài chính; đẩy mạnh công tác thanh tra, kiểm tra, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí

- Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, thiết lập nền tảng tài chính số; cải cách hành chính, nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước

- Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và kiện toàn bộ máy ngành Tài chính hiện đại, tinh gọn, hiệu lực và hiệu quả./

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIII, Chiến lược phát triển kinh

tế - xã hội 10 năm 2021 - 2030

2 Nghị quyết số 16/2021/QH15 ngày 27/7/2021 của Quốc hội về Kế hoạch phát triển KT-XH 05 năm 2021 - 2025

Trang 16

3 Nghị quyết số 23/2021/QH15 ngày 28/7/2021 của Quốc hội về Kế hoạch tài chính quốc gia và vay, trả nợ công 05 năm giai đoạn 2021 - 2025

4 Nghị quyết số 50/NQ-CP ngày 20/5/2021 về chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIII

5 Quyết định số 283/QĐ-TTg ngày 19/02/2020 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt Đề án Kế hoạch cơ cấu lại ngành dịch vụ đến năm 2020, định hướng đến năm 2025

6 Quyết định số 450/QĐ-TTg ngày 18/4/2012 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Chiến lược tài chính đến năm 2020

7 Tổng cục Thống kê, Niên giám Thống kê hằng năm giai đoạn 2011 - 2020

Trang 17

GIẢI PHÁP TÀI CHÍNH - NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC CHO PHỤC HỒI

VÀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ VIỆT NAM THỜI GIAN QUA

TS Nguyễn Minh Tân

Phó Vụ trưởng

Vụ Ngân sách nhà nước, Bộ Tài chính

Thời gian qua, để ứng phó với dịch bệnh COVID-19, Quốc hội, Ủy ban Thường

vụ Quốc hội, Chính phủ đã ban hành nhiều chính sách kịp thời về phòng chống dịch bệnh, hỗ trợ nền kinh tế

Tuy nhiên, nền kinh tế nước ta vẫn chịu tác động nghiêm trọng, tăng trưởng GDP quý 3/2021 giảm sâu kỷ lục (-6,17%) Theo dự báo của Quỹ tiền tệ quốc tế (tháng 10, năm 2021), tăng trưởng GDP Việt Nam năm 2021 khoảng 3,8% Trong khi

đó, nhiều quốc gia trên thế giới đối mặt với sự bùng phát của dịch bệnh COVID-19 sớm hơn nên đã đưa ra các gói hỗ trợ với quy mô lớn, chưa có tiền lệ; đặc biệt một số nước có tiềm lực kinh tế lớn trên thế giới đã thực hiện chính sách siêu nới lỏng cả về tài khóa và tiền tệ…

Để đảm bảo vừa phòng, chống dịch, vừa phục hồi, phát triển kinh tế - xã hội, cần tiếp tục nghiên cứu, xây dựng và triển khai thực hiện nhiều giải pháp Ở góc độ chính sách tài khóa phòng chống dịch, hỗ trợ nền kinh tế, xin trình bày một số nội dung cụ thể như sau:

1 Giải pháp, chính sách về thu

Trong năm 2020, Bộ Tài chính đã trình cấp có thẩm quyền ban hành và ban hành theo thẩm quyền nhiều chính sách gia hạn, miễn giảm thuế, phí, lệ phí nhằm hỗ trợ doanh nghiệp, hộ, cá nhân kinh doanh đối phó với dịch bệnh COVID-19 Cụ thể:

- Các chính sách gia hạn thuế, tiền thuê đất, thuế tiêu thụ đặc biệt: Trình Chính phủ ban hành các Nghị định số 41/2020/NĐ-CP ngày 08/4/2021 về gia hạn thời gian nộp thuế và tiền thuê đất và số 109/2020/NĐ-CP ngày 15/9/2020 về gia hạn nộp thuế tiêu thụ đặc biệt đối với xe ô tô sản xuất, lắp ráp trong nước

- Các chính sách miễn, giảm thuế, phí lệ phí:

+ Trình Chính phủ báo cáo Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội ban hành: Các Nghị quyết của Quốc hội số 107/2020/QH14 ngày 10/6/2020 về tiếp tục miễn thuế

sử dụng đất nông nghiệp và số 116/2020/QH14 ngày 19/6/2020 của Quốc hội về việc giảm thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp của năm 2020 đối với doanh nghiệp hợp tác

xã, đơn vị sự nghiệp và tổ chức khác; các Nghị quyết của UBTVQH số 954/2020/UBTVQH14 ngày 02/6/2020 về điều chỉnh mức giảm trừ gia cảnh của thuế

Trang 18

thu nhập cá nhân, số 979/2020/QHTVQH14 ngày 27/7/2020 và số 1148/2020/UBTVQH14 ngày 21/12/2020 về sửa đổi, bổ sung tiểu mục 2 mục I biểu thuế bảo vệ môi trường quy định tại khoản 1 điều 1 Nghị quyết số 579/2018/UBTVQH14 ngày 26 tháng 9 năm 2018 của UBTVQH về biểu thuế bảo vệ môi trường đã được sửa đổi, bổ sung theo Nghị quyết số 979/2020/UBTVQH14;

+ Trình Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ban hành: các Nghị định của Chính phủ số 57/2020/NĐ-CP ngày 25/5/2020 về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định

số 122/2016/NĐ-CP ngày 01 tháng 9 năm 2016 của Chính phủ về Biểu thuế xuất khẩu, Biểu thuế nhập khẩu ưu đãi, Danh mục hàng hóa và mức thuế tuyệt đối, thuế hỗn hợp, thuế nhập khẩu ngoài hạn ngạch thuế quan và Nghị định số 125/2017/NĐ-CP ngày 16 tháng 11 năm 2017 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 122/2016/NĐ-CP,

số 70/2020/NĐ-CP ngày 28/6/2020 về mức thu lệ phí trước bạ đối với ô tô sản xuất, lắp ráp trong nước đến ngày 31/12/2020; Quyết định số 22/2020/QĐ-TTg ngày 10/8/2020 của Thủ tướng Chính phủ về việc giảm 15% tiền thuê đất phải nộp của năm

2020 đối với các đối tượng trả tiền thuê đất hằng năm bị ảnh hưởng bởi dịch bệnh COVID-19 phải ngừng sản xuất kinh doanh từ 15 ngày trở lên

+ Ban hành theo thẩm quyền Quyết định số 155/QĐ-BTC ngày 07/02/2020 của

Bộ Tài chính về danh mục các mặt hàng được miễn thuế nhập khẩu phục vụ phòng chống dịch viêm đường hô hấp cấp do chủng mới của Virus Corona gây ra và 21 Thông tư để sửa đổi 31 Thông tư thu phí, lệ phí hiện hành theo hướng miễn hoặc giảm mức thu nhiều khoản phí, lệ phí

Kết quả triển khai các giải pháp trên: Tổng số tiền thuế và thu NSNN đã gia

hạn, miễn, giảm theo các chính sách đã ban hành thực hiện năm 2020 đạt khoảng 129

nghìn tỷ đồng (trong đó: số tiền thuế và tiền thuê đất được gia hạn khoảng 97,5 nghìn

tỷ đồng cho hơn 130 nghìn doanh nghiệp và hơn 55,5 nghìn hộ, cá nhân kinh doanh;

số tiền thuế, tiền thuê đất, phí và lệ phí được miễn, giảm khoảng 31,5 nghìn tỷ đồng)

Năm 2021, tiếp tục thực hiện một số chính sách đã ban hành trong năm 2020 và ban hành thêm nhiều chính sách miễn giảm, gia hạn thuế và các khoản thu NSNN để

hỗ trợ doanh nghiệp và hộ kinh doanh tháo gỡ khó khăn, với quy mô dự kiến khoảng

140 nghìn tỷ đồng, trong đó gia hạn thời hạn nộp thuế, tiền thuê đất (làm giảm thu

NSNN trong thời gian được gia hạn) khoảng 115 nghìn tỷ đồng; miễn, giảm thuế, phí, tiền thuê đất, tiền chậm nộp thuế, phí và tiền thuê đất trên 25 nghìn tỷ đồng Cụ thể:

- Tiếp tục giảm thuế bảo vệ môi trường đối với nhiên liệu bay đến hết ngày 31/12/2021 (Nghị quyết số 1148/2020/UBTVQH14 ngày 21/12/2020, Nghị quyết có hiệu lực thi hành từ ngày 1/1/2021);

- Tiếp tục thực hiện giảm mức thu hơn 30 khoản phí, lệ phí nhằm hỗ trợ, tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh, bảo đảm an sinh xã hội ứng phó với dịch COVID-19

Trang 19

đến hết ngày 31/12/2021 (Thông tư số 47/2021/TT-BTC ngày 24/6/2021 của Bộ Tài chính);

- Trình Chính phủ ban hành Nghị định số 44/2021/NĐ-CP ngày 31/3/2021 hướng dẫn thực hiện về chi phí được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế thu nhập doanh nghiệp đối với khoản chi ủng hộ, tài trợ của doanh nghiệp, tổ chức cho các hoạt động phòng, chống dịch COVID-19, áp dụng trong năm 2020 và 2021;

- Trình Chính phủ ban hành Nghị định số 52/2021/NĐ-CP ngày 19/4/2021 về gia hạn thời hạn nộp thuế (thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế thu nhập cá nhân), tiền thuê đất trong năm 2021 cho các đối tượng gặp khó khăn do ảnh hưởng của dịch COVID-19;

- Trình Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 27/2021/QĐ-TTg ngày 25/9/2021 về việc giảm tiền thuê đất của năm 2021 đối với các đối tượng bị ảnh hưởng bởi dịch COVID-19;

- Ngày 9/9/2021, Bộ Tài chính đã có công văn số 10348/BTC-TCT tham gia ý kiến với Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội về dự thảo Nghị quyết sửa đổi Nghị quyết số 68/NQ-CP và Quyết định sửa Quyết định số 23/2021/QĐ-TTg

Trong tổ chức thực hiện, cơ quan Thuế, Hải quan đã tập trung triển khai với phương châm đơn giản, thuận tiện, tạo điều kiện cho doanh nghiệp, hộ kinh doanh sớm được thụ hưởng chính sách; đồng thời, tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, tránh việc lợi dụng chính sách để trục lợi Qua đó đã có tác động tích cực, được cộng đồng doanh nghiệp, người dân đánh giá cao

Đến ngày 31/10/2021, số tiền thuế, tiền thuê đất, phí và lệ phí được miễn,

giảm, gia hạn đạt khoảng 96,9 nghìn tỷ đồng trong đó: (i) 80,63 nghìn tỷ đồng gia

hạn thời hạn nộp thuế và tiền thuê đất theo Nghị định số 52/2021/NĐ-CP ngày

Đối với gói chính sách miễn, giảm, gia hạn vừa được Ủy ban Thường vụ Quốc hội thông qua tại Nghị quyết số 406/NQ-UBTVQH15, một số giải pháp lần đầu được

áp dụng kể từ khi dịch COVID-19 xảy ra, như: giảm mức thuế GTGT đối với hàng hóa, dịch vụ trong các ngành nghề chịu ảnh hưởng của dịch COVID-19; miễn thuế phải nộp phát sinh trong quý III và quý IV đối với hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh; miễn tiền chậm nộp phát sinh trong năm 2020 và năm 2021 đối với doanh nghiệp, tổ chức phát sinh lỗ trong năm 2020, trong đó giảm thuế GTGT có tác động và phạm vi rộng, bao quát các đối tượng bị ảnh hưởng Quy mô ước tính khoảng 20 nghìn tỷ đồng

Trang 20

đời sống nhân dân

- Đối với công tác phòng, chống dịch: Chính phủ đã ban hành các quy định về chi phí cách ly, khám, chữa bệnh; chi hỗ trợ tiền ăn và bồi dưỡng chống dịch COVID-19; chi mua sắm thuốc, hóa chất, vật tư, trang thiết bị, phương tiện phục vụ phòng,

- Đối với hoạt động mua vắc-xin và thuốc điều trị COVID-19, Chính phủ đã ban

về điều kiện, thủ tục để có thể tiếp cận các nguồn vắc-xin nhanh nhất, gần nhất có thể

Để có kinh phí cho công tác phòng, chống dịch, bên cạnh nguồn NSNN, Chính phủ cũng đã thành lập Quỹ vắc-xin phòng COVID-19 để huy động nguồn tài trợ, hỗ trợ của

- Về hỗ trợ người lao động và người sử dụng lao động: Chính phủ đã ban hành

bảo nguồn lực (ngân sách trung, ngân sách địa phương, tín dụng chính sách, ) để thực hiện các chế độ hỗ trợ này; ban hành chính sách hỗ trợ cho khoảng 14,95 triệu

trong đó: chi từ NSNN khoảng 2,15 nghìn tỷ đồng; nguồn tái cấp vốn qua Ngân hàng Chính sách xã hội khoảng 7,45 nghìn tỷ đồng; 3 Quỹ Bảo hiểm là 16,65 nghìn tỷ đồng

Bên cạnh đó, UBTVQH đã ban hành Nghị quyết số 03/2021/UBTVQH15 ngày 24/9/021 về chính sách hỗ trợ người lao động, người sử dụng lao động bị ảnh hưởng bởi đại dịch COVID-19 từ Quỹ Bảo hiểm thât nghiệp, trogn đó cho phép sử dụng khoảng 30 nghìn tỷ đồng kết dư Qũy để hỗ trợ người lao động và cho phép giảm mức đóng vào Quỹ từ 1% xuống 0% quỹ tiền lương tháng của người lao động thuộc đối tượng tham gia bảo hiểm thất nghiệp trong thời gian 12 tháng từ 01/10/2021 đến 30/9/2022

Kết quả thực hiện như sau:

Đến ngày 10/11/2021, tổng số trung ương đã quyết định chi là 35,47 nghìn tỷ đồng, trong đó chi 32,98 nghìn tỷ đồng để bổ sung cho các Bộ và hỗ trợ các địa

3

Nghị quyết số 37/NQ-CP ngày 29/3/2020; số 16/NQ-CP ngày 08/02/2021, số 17/NQ-CP ngày 09/02/2021 của Chính phủ và Quyết định số 482/QĐ-TTg ngày 29/3/2021 của Thủ tướng Chính phủ 4

Nghị quyết số 21/NQ-CP ngày 26/02/2021 của Chính phủ về mua và sử dụng vắc xin phòng COVID-19; Nghị quyết số 53/NQ-CP của Chính phủ ngày 26/5/2021 về thành lập Quỹ vắc-xin phòng COVID-19 và Quyết định số 779/QĐ-TTg ngày 26/5/2021 của Thủ tướng Chính phủ về thành lập Quỹ vắc-xin phòng COVID-19

5

Bao gồm 47,7 tỷ đồng tiền lãi gửi ngân hàng

6 Nghị quyết của Chính phủ số 42/NQ-CP ngày 09/4/2020 của Chính phủ về các biện pháp hỗ trợ người dân gặp khó khăn do đại dịch COVID-19 và Nghị quyết số 154/NQ-CP ngày 19/10/2020 sửa đổi, bổ sung Nghị quyết số 42/NQ-CP ngày 09/4/2020 của Chính phủ về các biện pháp hỗ trợ người dân gặp khó khăn do đại dịch COVID-

19

7 Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 68/NQ-CP ngày 01/7/2021, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định

số 23/2021/QĐ-TTg ngày 07/07/2021 quy định về việc thực hiện một số chính sách hỗ trợ người lao động và người sử dụng lao động gặp khó khăn do đại dịch COVID-19 trên cơ sở Tờ trình Chính phủ số 45/TTr- BLĐTBXH ngày 28/6/2021 của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội

Trang 21

phương chi cho phòng, chống dịch (bao gồm cả mua vắc-xin), hỗ trợ người dân gặp khó khăn do dịch COVID-19 (bao gồm cả kinh phí mua bù gạo dự trữ quốc gia đã xuất cấp để hỗ trợ người dân gặp khó khăn do dịch COVID-19), cụ thể:

(1) Nguồn NSTW: Đã quyết định chi 27.521,9 tỷ đồng, trong đó chi cho phòng, chống dịch và hỗ trợ người dân bị ảnh hưởng của dịch COVID-19 là 25.026,6 tỷ đồng

(2) Nguồn Quỹ vắc-xin: Thủ tướng Chính phủ đã có quyết định sử dụng là 7.948,9 tỷ đồng8;

Đến hết tháng 10/2021, các địa phương đã sử dụng các nguồn lực của địa phương khoảng 45,09 nghìn tỷ đồng, để chi cho công tác phòng, chống dịch, hỗ trợ người lao động và người sử dụng lao động gặp khó khăn do dịch COVID-19 theo Nghị quyết số 68/NQ-CP ngày 01/7/2021 của Chính phủ và các chính sách của địa phương ban hành

(ii) Đảm bảo chi đầu tư phát triển, hỗ trợ nền kinh tế

Trong bối cảnh hoạt động đầu tư khu vực tư nhân giảm sút thì việc tăng cường đầu tư công sẽ góp phần quan trọng kích cầu đầu tư xã hội, duy trì đà tăng trưởng của nền kinh tế

Mặc dù thu NSNN khó khăn, thực hiện thu NSTW năm 2020 hụt khoảng 91 nghìn tỷ đồng so với dự toán; đánh giá năm 2021, thu NSTW hụt khoảng 28-29 nghìn

tỷ đồng so với dự toán; trong khi nhiều nhiệm vụ chi phòng, chống dịch COVID-19 phát sinh; nhưng trong điều hành NSNN luôn đảm bảo nguồn cho chi đầu tư phát triển Đồng thời, đã áp dụng hàng loạt các giải pháp đẩy mạnh giải ngân Số vốn chi đầu tư công thực hiện năm 2020 (bao gồm cả số chuyển nguồn, nguồn tăng thu ngân sách địa phương và dự phòng ngân sách các cấp) đạt 550 nghìn tỷ đồng (dự toán 497,26 nghìn

tỷ đồng); đối với năm 2021, dự toán chi đầu tư phát triển là 477,3 nghìn tỷ đồng, trong

đó NSTW là 222 nghìn tỷ đồng, tiếp tục được đảm bảo nguồn để thực hiện

3 Giải pháp, chính sách về cân đối NSNN

Để cân đối ngân sách trong bối cảnh thu ngân sách chịu tác động tiêu cực, chi ngân sách phát sinh lớn, đã thực hiện triệt để tiết kiệm chi thường xuyên Trong đó:

- Năm 2020: Thực hiện cắt giảm tối thiểu 70% kinh phí hội nghị, công tác trong

và ngoài nước còn lại; tiết kiệm thêm 10% chi thường xuyên khác còn lại của năm

2020, đặc biệt là các khoản chi mua sắm chưa thực sự cần thiết Theo đó, các bộ, cơ

Trang 22

quan trung ương đã thực hiện cắt giảm, tiết kiệm chi NSNN năm 2020 theo Nghị quyết

số 84/NQ-CP ngày 29/5/2020 về các nhiệm vụ, giải pháp tiếp tục tháo gỡ khó khăn cho sản xuất khoảng 1,5 nghìn tỷ đồng

- Năm 2021: Thực hiện cắt giảm tối thiểu 50% kinh phí hội nghị, công tác trong

và ngoài nước còn lại; tiết kiệm thêm 10% kinh phí chi thường xuyên khác còn lại của năm 2021; thu hồi các khoản chi thường xuyên chưa thực sự cần thiết, chậm triển khai Theo đó, các bộ, cơ quan trung ương và địa phương đã thực hiện cắt giảm, tiết kiệm chi NSNN năm 2021 theo Nghị quyết số 30/2021/QH15 của Quốc hội, Nghị quyết

số 58/NQ-CP và Nghị quyết số 86/NQ-CP của Chính phủ khoảng 20,67 nghìn tỷ đồng (trong đó: NSTW khoảng 14,62 nghìn tỷ đồng, NSĐP khoảng 6,05 nghìn tỷ đồng)

4 Đánh giá hiệu quả chính sách

a) Những mặt được

Khi dịch COVID-19 bùng phát ở nước ta, chính sách tài khóa đã được điều chỉnh linh hoạt, kịp thời, đồng bộ với các chính sách tiền tệ và vĩ mô khác, nhằm một mặt tập trung ưu tiên nguồn lực cho công tác phòng chống dịch, mặt khác hỗ trợ giảm chi phí cho các chủ thể kinh tế, hỗ trợ người lao động, người dân bị giảm sâu thu nhập, các đối tượng yếu thế; hỗ trợ tổng cầu, thúc đẩy phục hồi và phát triển kinh tế trên cơ

sở vẫn đảm bảo kiểm soát tốt cân đối NSNN, đảm bảo an ninh nền tài chính quốc gia, góp phần ổn định kinh tế vĩ mô

(1) Đối với chính sách thu, trong tổ chức thực hiện, quán triệt nguyên tắc đơn giản, thuận tiện, tạo điều kiện cho doanh nghiệp, hộ kinh doanh sớm được thụ hưởng chính sách; đồng thời, tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, tránh việc lợi dụng chính sách để trục lợi; phối hợp chặt chẽ với cấp ủy, chính quyền địa phương, các Bộ ngành liên quan như: Cơ quan Công an, Ngân hàng Nhà nước, Toà án, Quản lý thị trường, Kế hoạch đầu tư, Tài nguyên và môi trường trong việc thu hồi nợ đọng thuế, đặc biệt là xử lý thu hồi các khoản nợ đọng liên quan đến đất đai, tiền cấp quyền khai thác khoáng sản, đảm bảo nguồn thu cho NSNN

Các giải pháp hỗ trợ về thu ngân sách đã tập trung vào các mặt hàng phục vụ phòng chống dịch; các nhóm ngành, đối tượng chịu ảnh hưởng nặng của dịch (hàng không, du lịch, lưu trú, vận tải kho bãi; giáo dục và đào tạo; y tế và hoạt động trợ giúp

xã hội; công nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản; sản xuất ô tô trong nước; xây dựng, văn hóa, phim ảnh ); các khoản chi ủng hộ, tài trợ của doanh nghiệp, tổ chức cho các hoạt động phòng, chống dịch Covid-19

(2) Các chính sách về chi ngân sách cũng được ban hành kịp thời, bao phủ hầu hết các nhóm đối tượng như lực lượng tuyến đầu chống dịch; người bị nhiễm Covid-19; bị cách ly; người lao động, người sử dụng lao động, hộ kinh doanh bị giảm sâu thu nhập; các đối tượng yếu thế (đối tượng bảo trợ xã hội, hộ nghèo ); người có công với

Trang 23

cách mạng Đồng thời, rút kinh nghiệm từ thực hiện hỗ trợ người dân theo Nghị quyết số 42/NQ-CP năm 2020, Chính phủ đang tích cực chỉ đạo các Bộ, ngành, địa phương tập trung triển khai các chính sách, đặc biệt là các khoản hỗ trợ trực tiếp cho người dân và người sử dụng lao động theo Nghị quyết 68-NQ/CP đảm bảo kịp thời, đúng đối tượng

(3) Chính phủ cũng đảm bảo đủ nguồn lực để mua, tiếp nhận viện trợ, đầu tư

2 liều), là tiền đề cho việc khẩn trương mở cửa các hoạt động kinh tế xã hội

(4) Chi đầu tư phát triển từ NSNN luôn được đảm bảo nguồn thực hiện, qua đó,

hỗ trợ tổng cầu nền kinh tế (nhất là trong điều kiện đầu tư khu vực ngoài nhà nước chịu tác động mạnh của dịch bệnh), thúc đẩy tăng trưởng kinh tế

(5) Do kinh tế suy giảm (quý 3 năm 2021 đánh giá tăng trưởng kinh tế ở mức 6,16% so với cùng kỳ) và thực hiện nhiều chính sách miễn, giảm, gia hạn thu; trong khi tăng chi liên quan tới phòng chống dịch, hỗ trợ các đối tượng khó khăn do bị tác động bởi dịch Covid-19, nên các giải pháp về cắt, giảm, triệt để tiết kiệm chi để kiểm soát cân đối NSNN, giữ ổn định vĩ mô là cần thiết, phù hợp

-Nhờ đó, đã đạt được các kết quả tích cực năm 2020, trong đó trật tự an toàn xxa hội được duy trì, kinh tế tăng trưởng 2,91% là 1 điểm sáng trên thế giới, các cân đối lớn của nền kinh tế được đảm bảo

b) Một số tồn tại, hạn chế

(i) Các chính sách hoãn, giảm thuế chủ yếu mới hỗ trợ các doanh nghiệp, chủ thể kinh tế vẫn có doanh thu, lợi nhuận Gần đây, với gói chính sách miễn, giảm, gia hạn tại Nghị quyết số 406/NQ-UBTVQH15, đã thực hiện giảm mức thuế GTGT đối với hàng hóa, dịch vụ trong các ngành nghề chịu ảnh hưởng của dịch COVID-19; miễn thuế phải nộp phát sinh trong quý III và quý IV đối với hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh; miễn tiền chậm nộp phát sinh trong năm 2020 và năm 2021 đối với doanh nghiệp, tổ chức phát sinh lỗ trong năm 2020, có tác động và phạm vi rộng, bao quát các đối tượng bị ảnh hưởng

(ii) Đối với gói hỗ trợ theo Nghị quyết số 42/NQ-CP ngày 09/4/2020 và Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 15/2020/QĐ-TTg ngày 24/4/2020 quy định

về việc thực hiện các chính sách hỗ trợ người dân gặp khó khăn do đại dịch

cầu chi NSNN khoảng 36 nghìn tỷ đồng), Chính phủ đã trình và ngày 5/5/2020

UBTVQH đã có Nghị quyết số 936/NQ-UBTVQH14 quyết nghị: “Thực hiện chính

9

Đến nay, đã tiếp nhận 92,5 triệu liều vắc-xin từ nguồn kinh phí mua và nguồn viện trợ, tài trợ

10 Ngày 19/10/2020 Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 154/NQ-CP sửa đổi, bổ sung Nghị quyết số 42/NQ-CP

và Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 32/2020/QĐ-TTg sửa đổi, bổ sung Quyết định số TTg

Trang 24

15/2020/QĐ-sách hỗ trợ người dân gặp khó khăn do đại dịch Covid-19: 20 nghìn tỷ đồng theo quy

định của Chính phủ”

Thực tế thực hiện hỗ trợ thấp hơn nhiều so với quy mô dự kiến và thời gian triển khai kéo dài

Báo cáo kết quả thực hiện của các địa phương và tổng hợp qua hệ thống KBNN,

số lượng đối tượng thuộc diện được hỗ trợ thấp hơn nhiều so với dự kiến khi đề xuất

xây dựng chính sách, theo đó nhu cầu hỗ trợ từ NSTW khoảng 9,73 nghìn tỷ đồng

(trong tổng số 20 nghìn tỷ đồng) thực hiện chính sách hỗ trợ người dân bị ảnh hưởng

do đại dịch Covid-19, số đã hỗ trợ cho 50 địa phương là 5,19 nghìn tỷ đồng; số còn phải hỗ trợ là 4,54 nghìn tỷ đồng sẽ chuyển nguồn sang năm 2021 cấp tiếp sau khi địa phương có báo cáo quyết toán số thực hiện với trung ương

Đến nay, Bộ Tài chính đã bổ sung 5.718 tỷ đồng cho 55 địa phương, dự kiến bổ sung tiếp khoảng 1.012 tỷ đồng, vì vậy dự kiến dư nguồn khoảng 3.000 tỷ đồng

Lý do là:

- Việc rà soát, lập danh sách phê duyệt đối với các nhóm lao động, hộ kinh doanh, nhất là lao động không có giao kết hợp đồng lao động, chủ yếu do việc xác nhận gặp khó khăn và tâm lý sợ trục lợi chính sách

- Việc thông tin, tuyên truyền, giải thích cho người dân hiểu rõ về các chính sách cũng như điều kiện hỗ trợ ban đầu chưa cụ thể, nhất là tại cấp xã, phường

- Số lao động có giao kết hợp đồng lao động, hộ kinh doanh được hỗ trợ; người

sử dụng lao động được vay tiền để trả lương đạt thấp so với dự kiến Công tác triển khai việc tạm dừng đóng vào quỹ hưu trí và tử tuất còn chậm đến với doanh nghiệp

- Việc cấp phát kinh phí tại một số địa phương còn chậm, chưa chủ động trong việc chuẩn bị, bố trí kinh phí, ảnh hưởng đến tiến độ chung của cả nước

(iii) Đối với hỗ trợ theo Nghị quyết số 68/NQ-CP ngày 01/7/2021, Quyết định số 23/2021/QĐ-TTg ngày 07/07/2021 về việc thực hiện một số chính sách hỗ trợ người lao động và người sử dụng lao động gặp khó khăn do đại dịch Covid-19

Theo báo cáo của Bộ LĐ-TB&XH, nhu cầu thực hiện chính sách khoảng 26.252

tỷ đồng, trong đó: NSNN khoảng 2.150 tỷ đồng (bao gồm cả NSTW và NSĐP); nguồn tái cấp vốn qua Ngân hàng CSXH khoảng 7.456 tỷ đồng; Quỹ Bảo hiểm TNLĐ, Quỹ BHXH, Quỹ BHTN khoảng 16.646 tỷ đồng

Theo báo cáo của các địa phương đến ngày 27/10/2021, nhu cầu chi NSNN khoảng 15.122 tỷ đồng, cho khoảng 9,76 triệu đối tượng; 63 địa phương đã thực rút tiền

từ KBNN tổng kinh phí là 6.630 tỷ đồng để hỗ trợ cho khoảng 7 triệu đối tượng (trong

đó đối tượng đặc thù riêng của địa phương khoảng 5,75 triệu đối tượng, kinh phí khoảng 5.135 tỷ đồng do NSĐP đảm bảo) Trên cơ sở báo cáo kết quả thực hiện chính sách của

Trang 25

các địa phương, Bộ Tài chính xem xét, bổ sung từ NSTW cho NSĐP thực hiện chính

sách theo chế độ quy định

(iv) Dư địa chính sách tài khóa, tiền tệ đã giảm đáng kể Trong đó:

Bội chi NSNN năm 2021 đang phấn đấu ở mức 4%GDP theo dự toán; dự kiến năm 2022 đang trình Quốc hội cũng ở mức 4%GDP (tương ứng khoảng 5,1%GDP chưa điều chỉnh), đang tạo áp lực lớn trong việc cân đối NSNN các năm tới để đảm bảo mức bội chi ngân sách bình quân giai đoạn 2021-2025 trong phạm vi 3,7%GDP theo Văn kiện Đại hội Đảng XIII và Nghị quyết số 23/2021/QH15 của Quốc hội về Kế hoạch tài chính quốc gia, vay, trả nợ công 05 năm giai đoạn 2021-2025

Thu NSNN khó khăn, một mặt do tác động của dịch Covid19 là nghiêm trọng

và có thể kéo dài, sự đứt gãy các chuỗi cung ứng đòi hỏi phải có thời gian để kinh tế phục hồi (IMF dự báo tốc độ tăng trưởng kinh tế thế giới năm 2022 thấp hơn năm

hỗ trợ nền kinh tế

Trong khi đó, nhu cầu chi phòng chống dịch bệnh lớn; khả năng điều chỉnh, cắt giảm các nhiệm vụ chi còn lại hạn chế (do tỷ trọng chi con người lớn, khoảng 50-55% tổng chi thường xuyên NSNN; bên cạnh đó, một số lĩnh vực phải đảm bảo tỷ lệ chi theo các nghị quyết, kết luận của Trung ương, theo các Luật chuyên ngành (ví dụ: chi cho giáo dục đào tạo12, khoa học công nghệ13, môi trường14 ), nên áp lực gia tăng đối với cân đối NSNN, nhất là NSTW

Về vấn đề huy động nguồn lực cho cân đối NSNN: Nghị quyết

số 23/2021/QH15 về Kế hoạch tài chính quốc gia, vay, trả nợ công 5 năm phê duyệt tổng mức vay cả giai đoạn khoảng 3,068 triệu tỷ đồng Mức huy động này đã gấp 1,7 lần quy mô huy động giai đoạn 2016-2020 Trường hợp bội chi ngân sách tăng (do thu

bị tác động tiêu cực, trong khi nhu cầu chi tăng) và triển khai Chương trình phục hồi kinh tế - xã hội thì yêu cầu huy động tăng tương ứng; cần phải chủ động đa dạng hóa các hình thức huy động và có các giải pháp phù hợp để phát triển thị trường vốn; đồng thời cũng phải tính toán kỹ lưỡng các phương án huy động để đảm bảo an toàn an ninh

nợ công, nền tài chính quốc gia./

11

Quỹ tiền tệ thế giới (tháng 10 năm 2021) dự báo khoảng 4,9%, giảm so với mức 5,9% năm 2021; Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (tháng 9 năm 2021) dự báo ở mức 4,5%, giảm so với mức 5,7% năm 2021

Trang 26

CHÍNH SÁCH TÀI KHÓA THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM TRONG VÀ SAU ĐẠI

DỊCH VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ

TS Cấn Văn Lực và Nhóm tác giả

Viện Đào tạo và Nghiên cứu BIDV

“Nới lỏng chưa có tiền lệ” được coi là thông điệp chủ đạo trong điều hành chính sách tài khóa (CSTK) toàn cầu trong và sau đại dịch (từ đầu năm 2020 đến nay) nhằm ứng phó với dịch Covid-19 và thúc đẩy phục hồi kinh tế Bài viết tập trung vào 4 nội dung chính: (i) CSTK thế giới và Việt Nam giai đoạn 2020-10T/2021; (ii) Dư địa

và triển vọng CSTK trong năm 2022-2023 và dài hạn và (iii) Một số kiến nghị

1 Chính sách tài khóa trên thế giới và Việt Nam giai đoạn 2020 - 10/2021

1.1 Chính sách tài khóa trên thế giới

Từ đầu năm 2020 đến nay trong bối cảnh đại dịch Covid-19, điểm nổi bật trong CSTK của các nước là đồng loạt đưa ra các gói hỗ trợ thông qua chính sách tài khóa và tiền tệ (gọi tắt là “hỗ trợ tài khóa và tiền tệ”) quy mô lớn, chưa từng có tiền lệ để phòng chống dịch bệnh, khắc phục hậu quả của Covid -19 và hỗ trợ phục hồi kinh tế -

xã hội

Về quy mô, theo IMF, tính đến hết tháng 10/2021, các gói hỗ trợ tài khóa và tiền tệ toàn cầu đã lên tới 18.272 tỷ USD, tương đương 16,4% GDP toàn cầu năm

2020, trong đó khoảng 11.281 tỷ USD (10,2% GDP, chiếm 61,7% tổng các gói hỗ trợ)

là các gói hỗ trợ tài khóa, còn lại 6.991 tỷ USD (6,2% GDP, chiếm 38,3%) là các giải pháp tiền tệ Các gói hỗ trợ tài khóa và tiền tệ được công bố và triển khai với quy mô khác nhau (bình quân khoảng 19,4% GDP đối với các nước phát triển; 7,51% GDP với các nước đang phát triển và mới nổi; và 4,3% GDP với các nước thu nhập thấp), tùy thuộc vào thể chế, khả năng ngân sách và mức độ thiệt hại do dịch Covid-19 gây ra.Trong đó, tổng giá trị các gói hỗ trợ của Trung Quốc đến nay khoảng 6,1% GDP,

EU (10,5%), Mỹ là (27,9%) hay Nhật Bản lên tới 44,8%; Indonesia (5,4%), Malaysia (8,8%), Thái Lan (15,6% GDP)

Bảng 1 Quy mô các gói hỗ trợ tài khóa và tiền tệ từ đầu năm 2020 đến hết quý

Trang 27

Các nước thu nhập thấp 55,4 3,8 7 0,48

Nguồn: IMF (tháng 10/2021); Viện ĐT & NC BIDV tổng hợp

Về mục đích và cơ cấu các gói hỗ trợ tài khóa, chính sách tài khoá gần 2 năm qua chủ yếu dành cho các mục tiêu: (i) Tăng chi y tế cho phòng dịch và điều trị Covid-

19, nghiên cứu vaccine, chương trình tiêm chủng, hỗ trợ người nhiễm bệnh cách ly, (ii) Tăng chi bảo đảm an sinh xã hội, trợ cấp bằng tiền mặt cho người dân bị ảnh hưởng bởi Covid-19 và trợ cấp thất nghiệp, trợ cấp tiền điện, nước cho các hộ gia đình; (iii) Hỗ trợ vốn vay cho doanh nghiệp (cho vay ưu đãi, hỗ trợ lãi suất, trong đó

ưu tiên DNNVV, hộ kinh doanh); (iv) Giãn, hoãn nộp thuế, (v) đẩy mạnh đầu tư hạ tầng cho các lĩnh vực và dự án ưu tiên; (vi) Giảm thuế thu nhập doanh nghiệp và thuế VAT, (vii) Cho DN sử dụng nhiều lao động được vay vốn từ các quỹ Nhà nước thông qua ngân hàng

Theo IMF (2021), các nước đã giành khoảng 15% cho các hoạt động y tế; 85% cho các biện pháp hỗ trợ và kích thích kinh tế (trợ cấp người lao động phải tạm nghỉ việc, thất nghiệp; chia tiền mặt cho người dân thu nhập trung bình và thấp; cho vay lãi suất thấp đối với DNNVV và DN kiệt quệ tài chính); và các biện pháp, giãn hoãn thuế chiếm khoảng 6,7% Cùng với đó là các biện pháp, gói hỗ trợ tiền tệ có sử dụng nguồn

từ ngân sách (thông qua Bộ Tài chính hoặc NHTW) như bảo lãnh tín dụng, hỗ trợ bù lãi suất, mua tài sản (trái phiếu, các khoản vay) để hỗ trợ thanh khoản cho các TCTD

Cùng với các gói hỗ trợ khổng lồ và tiến trình bao phủ vaccine, triển vọng phục hồi kinh tế toàn cầu tương đối khả quan dù còn bất định và không đồng đều giữa các quốc gia, khu vực Trong báo cáo cập nhật triển vọng kinh tế của một số tổ chức quốc

tế như WB, IMF, OECD, ADB… kinh tế thế giới dự báo tăng trưởng từ 5,7-5,9% năm

2021 và tăng 4,2-4,9% năm 2022 Tuy nhiên, áp lực lạm phát, gánh nặng nợ ngày càng tăng đang thách thức dư địa mở rộng tài khóa và tiền tệ (lạm phát toàn cầu dự kiến khoảng 3,2% năm 2021 và 3,3% năm 2022 và trở về mức 2,5% giai đoạn 2023 - 2025,

so với mức 2% năm 2020; nợ công/GDP toàn cầu ở mức 98% GDP năm 2021, tăng 14 điểm % so với năm 2019 và dự báo duy trì ở mức 97% GDP trong giai đoạn 2022 - 2025)

Một số bài học kinh nghiệm từ các chính sách/gói hỗ trợ tài khóa trên thế giới,

đó là: (i) cơ cấu các gói hỗ trợ khác Việt Nam (các gói hỗ trợ tài khóa lớn hơn nhiều so với các gói hỗ trợ tiền tệ - ngoài việc giảm lãi suất điều hành của NHTW; và tập trung nhiều vào hỗ trợ tiền mặt, bảo lãnh tín dụng, cho vay ưu đãi, hỗ trợ lãi suất; ít tập trung vào giãn hoãn thuế, nghĩa vụ trả nợ); (ii) triển khai nhanh, gọn, ứng dụng mạnh CNTT

và dùng các kênh chuyển tiền khác nhau; (iii) có kế hoạch phục hồi kinh tế gắn với

Trang 28

tăng trưởng xanh, bao trùm, đổi mới sáng tạo; và (iv) chấp nhận thâm hụt ngân sách tăng trong giai đoạn cao điểm phòng chống dịch bệnh sau đó giảm dần khi nền kinh tế phục hồi bền vững hơn (bình quân thế giới từ 3,6% GDP lên 10,2% GDP năm 2020 và 8% GDP năm 2021 sau đó giảm dần); nợ công tăng (bình quân thế giới từ 84% GDP năm 2019 lên 99% GDP năm 2020 và 98% GDP năm 2021, sau đó giảm dần)

1.2 CSTK Việt Nam giai đoạn 2020 - 10/2021

CSTK Việt Nam thể hiện xu hướng mở rộng rõ nét trong giai đoạn

2020-10/2021 Với chủ trương điều hành NSNN chủ động, hiệu quả, chặt chẽ, tiết kiệm; CSTK đã thể hiện vai trò quan trọng trong đảm bảo an toàn tài chính - ngân sách quốc gia, vừa phòng chống dịch vừa đảm bảo an sinh xã hội và hỗ trợ phục hồi, phát triển kinh tế Một số điểm nhấn nổi bật của CSTK là: (i) Tăng cường kỷ luật tài khóa, kiểm soát thâm hụt NSNN và nợ công Các chỉ tiêu thâm hụt NS/GDP, nợ công/GDP, nợ chính phủ/GDP năm 2020 lần lượt ở mức 3,5%, 43,5% và 38,6% (theo GDP điều chỉnh), đều giảm từ năm 2016 và trong tầm kiểm soát

Bảng 2 Thâm hụt NSNN, nợ công, nợ Chính phủ và nợ quốc gia giai đoạn

Theo GDP điều chỉnh

Theo GDP chưa điều chỉnh

Theo GDP điều chỉnh

17,1

17,4 - - 32,1

24,8

Nguồn: Bộ Tài chính, IMF, tính toán của Viện ĐT&NC BIDV

Năm 2021, dự kiến, với các biện pháp tài khóa được tăng cường cho phòng, chống dịch và phục hồi kinh tế, thâm hụt NSNN và nợ công sẽ tăng cao hơn ở mức 4,1%, 43,7% và 39,5% GDP điều chỉnh; (ii) Đảm bảo hoạt động ổn định, chất lượng của TTCK, ngày càng khẳng định vai trò kênh huy động vốn cho nền kinh tế, giảm bớt

Trang 29

sự phụ thuộc vào tín dụng ngân hàng; (iii) Tăng cường các gói hỗ trợ tài khóa cùng với các gói hỗ trợ tiền tệ, tín dụng nhằm hỗ trợ doanh nghiệp và người dân vượt qua ảnh hưởng tiêu cực của dịch Covid-19, thiên tai như miễn giảm, gia hạn thuế TNDN, TNCN, thuế VAT, thuế sử dụng đất nông nghiệp, phí trước bạ ôtô sản xuất trong nước, tiền thuê đất; xuất gạo và đồ cứu hộ cho người dân vùng lũ từ Quỹ dự trữ quốc gia…v.v

- Các gói hỗ trợ tài khóa năm 2020: Giá trị thực chi của các gói hỗ trợ tài khóa

năm 2020 đạt khoảng 100.000 tỷ đồng, tương đương 1,26% GDP, đạt gần 61% kế hoạch ban đầu Trong đó, chính sách miễn giảm, gia hạn thuế được cộng đồng DN đánh giá cao, giá trị hỗ trợ thực chính là phần lãi của phần thuế chưa phải nộp, góp phần tạo thêm nguồn vốn lưu động cho DN trong giai đoạn khó khăn (Bảng 3)

Bảng 3: Tổng hợp các gói hỗ trợ năm 2020 và kết quả thực hiện

Giá trị công bố Giá trị hỗ trợ

thực tế Kết quả thực hiện

Giá trị tuyệt đối (tỷ đồng)

% GDP

2020

Giá trị tuyệt đối (tỷ đồng)

% GDP

2020

Giá trị tuyệt đối (tỷ đồng)

% thực hiện kế hoạch

1 Miễn giảm thuế, phí, lệ phí 69.280 1,1 69.280 1,1 31.500 45,5

GDP)

60,8

Nguồn: Viện Đào tạo và Nghiên cứu BIDV tổng hợp (theo GDP đã điều chỉnh)

Trang 30

- Các gói hỗ trợ tài khóa (gồm cả an sinh xã hội) từ đầu năm 2021 đến nay:

+ Ngày 19/4/2021, Chính phủ ban hành Nghị định số 52/2021/NĐ-CP về việc giãn, hoãn thuế và tiền thuê đất năm 2021 (quy mô 115 nghìn tỷ đồng) với giá trị thực ước tính 1.917 tỷ đồng, tương đương 0,25% GDP năm 2020 Đây thực chất là việc cho phép DN, người dân được hoãn trả thuế và tiền thuê đất (giá trị hỗ trợ thực ở đây chính

là phần không tính lãi khi gia hạn), gồm: (i) gia hạn nộp thuế GTGT trong 5 tháng (quy mô 68.800 tỷ đồng) với giá trị thực hỗ trợ khoảng 1.147 tỷ đồng; (ii) gia hạn tiền thuế TNDN 3 tháng (quy mô 40.500 tỷ đồng) với giá trị thực hỗ trợ ước tính 354 tỷ đồng; (iii) gia hạn nộp thuế thu nhập hộ kinh doanh, cá thể năm 2021 (quy mô 1.300 tỷ đồng) với giá trị thực ước tính 18 tỷ đồng; (iv) gia hạn tiền thuê đất trong 5 tháng (quy

mô 4.400 tỷ đồng), với giá trị thực ước tính 39 tỷ đồng Theo Tổng Cục thuế, tính đến cuối tháng 10/2021, đã có tổng số 139.066 đơn đề nghị và tổng số tiền thuế, tiền thuê đất được gia hạn đạt 80.576 tỷ đồng

+ Cho vay tái cấp vốn 4.000 tỷ đồng, lãi suất 0%, thời hạn 1 năm (quay vòng tối

đa 2 lần) hỗ trợ Vietnam Airlines; đã ký kết hợp đồng tín dụng ngày 7/7/2021; tổng giá trị ngân sách hỗ trợ (thông qua NHNN) là 480 tỷ đồng (giả định quay vòng tối đa)

+ Ngày 24/6/2021 Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư số 47/2021/TT-BTC về vệc giảm 30 khoản phí, lệ phí, có hiệu lực từ ngày 1/7 đến 31/12/2021 để tiếp nối chính sách giảm phí, lệ phí quy định tại Thông tư 112/2020/TT-BTC sẽ hết hạn vào ngày 30/6/2021 Theo đó, ước tính quy mô hỗ trợ của gói hỗ trợ này là 1.000 tỷ đồng

+ Ngày 1/7/2021, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết 68/NQ-CP về một số chính sách hỗ trợ người lao động và người sử dụng lao động gặp khó khăn do đại dịch Covid-19 (quy mô 26 nghìn tỷ đồng (thực tế khoảng 19 nghìn tỷ đồng, gồm 18,5 nghìn

tỷ đồng hỗ trợ tiền mặt và 7,5 nghìn tỷ đồng cho vay 0% lãi suất tối đa 12 tháng – tương đương hỗ trợ 450 tỷ đồng)

+ Ngày 22/9/2021, UBTVQH nhất trí thông qua việc chuyển 14,62 nghìn tỷ đồng từ cắt giảm, tiết kiệm chi vào dự phòng NSTW, tập trung chi cho phòng, chống dịch

+ Ngày 1/10/2021, Chính phủ ký Quyết định số 28/2021/QĐ-TTg hỗ trợ người lao động và người sử dụng lao động từ Quỹ bảo hiểm thất nghiệp, giá trị 30.000 tỷ đồng

+ Ngày 19/10/2021, UBTVQH đã ký ban hành Nghị quyết số UBTVQH15 về ban hành một số giải pháp nhằm hỗ trợ doanh nghiệp, người dân chịu tác động của dịch Covid-19, giá trị khoảng 21.300 tỷ đồng; và ngày 27/10/2021, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 92/2021/NĐ-CP hướng dẫn thực hiện Nghị quyết này

406/NQ-+ Tổng chi NSNN cho phòng chống dịch trong 9TT/2021 khoảng 29.100 tỷ đồng (cả NSTW và NS địa phương)

Trang 31

+ Các gói hỗ trợ khác: với tổng giá trị 13.150 tỷ đồng, gồm: (i) giảm 10-15% giá điện và miễn tiền điện cho khách hàng (trong tháng 8 và 9/2021) và các cơ sở cách

ly y tế tập trung phục vụ phòng, chống dịch của EVN (Nghị quyết 83/NQ-CP) và Nghị quyết 97/NQ-CP ngày 28/8/2021); tổng giá trị 2 đợt giảm này khoảng 3.150 tỷ đồng; (ii) gói hỗ trợ cước viễn thông trong vòng 3 tháng với giá trị gần 10.000 tỷ đồng

Như vậy, tổng giá trị của các gói hỗ trợ tài khóa (gồm cả ASXH) nêu trên năm

2021 khoảng 130.570 tỷ đồng, tương đương 1,64% GDP năm 2020 (đã điều chỉnh)

1.3 Đánh giá kết quả triển khai chính sách, gói hỗ trợ tài khóa giai đoạn 2020-hết tháng 10/2021

Với sự nỗ lực, quyết tâm của ngành tài chính trong việc triển khai kịp thời và sự phối hợp các biện pháp hỗ trợ tài khóa và tiền tệ giữa các bộ, ngành, địa phương đã đạt được kết quả bước đầu đáng khích lệ trong giai đoạn 2020-10T/2021

- Một là, kết hợp giữa hỗ trợ tài khóa và tiền tệ gián tiếp và hỗ trợ tiền mặt trực tiếp, bước đầu đem lại hiệu quả tích cực, kịp thời ổn định đời sống và hỗ trợ phục hồi kinh tế Sự kết hợp, lồng ghép các chính sách, gói hỗ trợ được thực hiện linh hoạt dù chưa từng có tiền lệ tại Việt Nam và được quốc tế ghi nhận Theo số liệu của IMF và tổng hợp của Viện ĐT&NC BIDV, tính từ đầu năm 2020 đến nay, tổng các gói hỗ trợ tài khóa của Việt Nam đạt khoảng 231 nghìn tỷ đồng (gần 3% GDP năm 2020 đã điều chỉnh) Kết quả này thể hiện nỗ lực rất lớn, sự quyết liệt của Quốc hội, Chính phủ, sự phối hợp giữa CSTK và CSTT và sự đồng lòng, tinh thần chia sẻ, hỗ trợ của cộng đồng; vừa đảm bảo sức khỏe người dân vừa tạo nền tảng quan trọng cho phục hồi, phát triển kinh tế

- Thứ hai, vừa đảm bảo ổn định vĩ mô và ổn định tài chính quốc gia, vừa tạo dư địa mở rộng chính sách trong trung hạn: (i) Mặt bằng lãi suất thấp tạo điều kiện cho tăng trưởng tín dụng và huy động TPCP với mức chi phí vốn rẻ, thời hạn dài Nhờ mặt bằng lãi suất thấp nhất trong vòng 20 năm (bình quân ở mức 2,86-3,5%), kỳ hạn phát hành bình quân TPCP tăng lên 13,4 năm, gấp 5,5 lần năm 2011, việc tăng vay nợ trong nước với kỳ hạn dài, lãi suất thấp góp phần giảm phụ thuộc vào vốn nước ngoài, giảm

áp lực trả nợ cho NSNN; (ii) Thâm hụt ngân sách và nợ công tăng song vẫn trong tầm kiểm soát và ở mức thấp hơn hầu hết các nước mới nổi Châu Á Mặc dù nhiều khoản thu NSNN đang được giãn, hoãn và các khoản chi NSNN được huy động tối đa cho phòng, chống dịch bệnh và hỗ trợ phục hồi kinh tế, song thâm hụt NSNN và nợ công vẫn trong tầm kiểm soát và thấp hơn mức nhiều so với mức trung bình của thế giới (thâm hụt NS/GDP toàn cầu là 10,2% năm 2020 và ước tính 8% năm 2021; nợ công/GDP toàn cầu ở mức 99% năm 2020 và 98% năm 2021) và các nước mới nổi Châu Á (thâm hụt NS/GDP là 10,8% năm 2020 và 9,2% năm 2021; nợ công/GDP là 67,6% năm 2020 và ước tính 70% năm 2021); (iii) Lạm phát ở mức thấp nhất trong vòng 6 năm (năm 2021 khoảng 2,2-2,4%) – vừa là kết quả của việc kiểm soát cung

Trang 32

tiền, phối hợp CSTK và CSTT, vừa tạo dư địa mở rộng CSTK và CSTT trong trung hạn, hỗ trợ nền kinh tế phục hồi nhanh hơn

Tuy nhiên, việc triển khai hỗ trợ tài khóa còn một số hạn chế, thách thức:

- Thứ nhất, các gói hỗ trợ tài khóa chưa đủ lớn và rộng: theo TCTK, 29,3 triệu lao động tự do (chiếm 53,7% lực lượng lao động) bị giảm việc làm do tác động của đại dịch; tỷ lệ thất nghiệp trong độ tuổi lao động trong 9T/2021 là 2,99%, tăng 0,35 điểm

% so với cùng kỳ năm trước; số DN tạm ngừng kinh doanh và DN giải thể lũy kế 10 tháng đầu năm 2021 lần lượt tăng 16% và 15,7% …v.v Trong khi tổng các gói hỗ trợ của Việt Nam còn khiêm tốn và việc thực hiện các gói hỗ trợ còn chậm (nhất là gói cho vay hỗ trợ trả lương…); tỷ lệ hỗ trợ tiền mặt (nhất là đối với lao động tự do) còn thấp; DN ở một số lĩnh vực như vận tải, du lịch, giáo dục – đào tạo, bán lẻ và DNNVV còn rất khó khăn…v.v

- Thứ hai, sự phối hợp chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ có nhiều tiến bộ nhưng còn dư địa cải thiện: việc tồn dư nguồn vốn đầu tư công lớn do tiến độ giải ngân đầu tư công chậm, gây lãng phí phần nào do phải trả lãi suất TPCP; dòng luân chuyển

và liều lượng luân chuyển vốn giữa KBNN và NHNN chưa thực sự linh hoạt…/

- Thứ ba, kinh tế thế giới nói chung, các nước mới nổi và Việt Nam nói riêng đang đứng trước thách thức lớn: tung ra các gói hỗ trợ nhiều, tín dụng tăng, nợ xấu tiềm ẩn tăng, áp lực lạm phát tăng, trong khi ngân sách còn hạn hẹp và nền kinh tế có dấu hiệu “lỡ nhịp”, “tụt hậu” trong quá trình phục hồi Vì thế bài toán phối hợp và tối ưu chính sách là rất quan trọng

2 Dư địa và triển vọng CSTK trong giai đoạn tới (năm 2022 và dài hạn)

Triển vọng phục hồi kinh tế được dự báo tương đối tích cực cùng với tiến trình bao phủ vaccine và thay đổi chiến lược phòng chống dịch phù hợp hơn (từ “zero Covid” sang “sống chung an toàn với Covid”) Hiện nay, làn sóng dịch thứ 4 cơ bản đã được kiểm soát, Việt Nam đang tiến tới trạng thái “sống chung an toàn với Covid” từ đầu quý 4/2021 tại hầu hết các tỉnh, thành; tiêm chủng được đẩy mạnh và kỳ vọng đạt

tỷ lệ 70% dân số được tiêm đủ 2 mũi vào cuối quý 1/2022, nhờ đó tăng trưởng GDP cả năm 2021 dự báo đạt 2% (khả năng cao); lạm phát được kiểm soát ở mức thấp 2,2-2,4% Với năm 2022, kinh tế Việt Nam có thể phục hồi ấn tượng, đạt mức tăng trưởng khoảng 6,5-7% và lạm phát tăng so với năm 2020 nhưng được kiểm soát ở mức 3,4-3,7%, nhằm hỗ trợ đà phục hồi kinh tế Mức tăng trưởng này chỉ có thể xảy ra khi Việt Nam thiết kế và thực hiện tốt Chiến lược phòng, chống dịch phù hợp, linh hoạt, thích ứng và Chương trình phục hồi và phát triển KTXH năm 2022-2023

- Dư địa mở rộng chính sách tài khóa còn khá lớn và có phần thuận lợi hơn CSTT nhờ: (i) Thâm hụt NSNN và nợ công được kiểm soát tốt giai đoạn trước, hiện vẫn trong tầm kiểm soát và thấp hơn các nước trong khu vực trong khi cơ hội tăng vay

nợ trong nước (qua phát hành TPCP) với lãi suất thấp, rủi ro thấp, tạo dư địa gia tăng

Trang 33

chi tiêu ngân sách cho phòng, chống dịch và phục hồi kinh tế; (ii) Quy mô hỗ trợ tài khóa còn khá khiêm tốn (như nêu trên); (iii) các cân đối lớn (thâm hụt NS/GDP, nợ công/GDP, nghĩa vụ trả nợ/thu NSNN, lạm phát…) vẫn trong ngưỡng an toàn (Bảng 2); (iv) Việc triệt để tiết kiệm chi thường xuyên và cơ cấu lại nợ công là những kinh nghiệm quý báu, tạo không gian chính sách, tạo nguồn tích lũy ngân sách để duy trì xu hướng mở rộng trong giai đoạn 2022-2023 Tuy nhiên, cơ cấu thu NSNN đang bộc lộ

sự thiếu bền vững khi thu từ đất, kinh doanh chứng khoán, chuyển nhượng vốn và một

số khoản thu một lần khác tăng đột biến; trong khi chi đầu tư phát triển và giải ngân đầu tư công chậm vẫn là thách thức lớn cần tính đến khi mở rộng tài khóa

- Dư địa các gói hỗ trợ khác còn tương đối lớn: với nhu cầu rất lớn để giải quyết vấn đề phòng chống dịch, thu nhập - việc làm - tăng trưởng; các gói hỗ trợ khác như an sinh xã hội, gói hỗ trợ tiền điện, nước, viễn thông…vẫn còn dư địa triển khai tiếp trong năm 2022 do tỷ lệ thực hiện còn thấp và độ rộng, độ bao phủ còn tương đối hạn chế

- Triển vọng phối hợp hiệu quả hơn, nhịp nhàng hơn với CSTT trong điều kiện thị trường tiền tệ - ngân hàng khả quan hơn: Dư địa CSTT không còn nhiều trong điều kiện ưu tiên đảm bảo ổn định vĩ mô, kiểm soát lạm phát và đảm bảo an toàn, bền vững

hệ thống TCTD (lãi suất đã ở mức thấp trong vòng 20 năm; áp lực lạm phát vẫn luôn tiềm ẩn trong điều kiện áp lực lạm phát toàn cầu gia tăng, nợ xấu gia tăng - dự báo nợ xấu nội bảng khoảng trên 2% cuối năm 2021 và 2,3-2,5% năm 2022, nợ xấu gộp có thể tăng cao tới 7,1-7,7%, đặc biệt là nửa cuối năm 2022 (khi mà các quy định về cơ cấu lại thời hạn trả nợ theo Thông tư 14 hết hiệu lực) Tuy nhiên, ngành ngân hàng có thể mở rộng có chọn lọc tín dụng, tăng khoảng 12-13% năm 2021 và 13-14% năm 2022-2023 (bao gồm cả tín dụng từ gói hỗ trợ lãi suất); tiếp tục tiết giảm chi phí, chấp nhận giảm chênh lệch lãi suất để tiếp tục giảm thêm lãi suất hỗ trợ người dân, doanh nghiệp như đã cam kết, đồng thuận

4 Một số kiến nghị

Nhằm tăng cường hiệu quả của các chính sách tài khóa và các gói hỗ trợ góp phần sớm phục hồi kinh tế, đảm bảo an sinh xã hội, nuôi dưỡng nguồn thu và tạo động lực tăng trưởng mới trong dài hạn, chúng tôi có 8 kiến nghị như sau:

Một là, tham khảo kinh nghiệm của quốc tế trong việc thiết kế và triển khai chính sách, gói hỗ trợ tài khóa: (i) Cần chấp nhận nợ công tăng, thâm hụt ngân sách

tăng và tăng khả năng tiếp cận vốn cho DN trong tầm kiểm soát Với tiềm lực, dư địa tài khóa và tiền tệ - tín dụng hiện nay, Việt Nam hoàn toàn có thể tăng chi ngân sách ở mức độ hợp lý và từ năm 2024 có thể quay lại quỹ đạo, kiểm soát những cán cân này lành mạnh hơn khi kinh tế phục hồi vững chắc; (ii) Tập trung nhiều vào hỗ trợ tiền mặt, giảm phí/chi phí, bảo lãnh tín dụng, cho vay ưu đãi, hỗ trợ lãi suất hơn là giãn hoãn thuế, nghĩa vụ trả nợ; (ii) Triển khai nhanh, gọn, hiệu quả trên cơ sở ứng dụng mạnh CNTT và dùng các kênh chuyển tiền khác nhau; (iii) gắn chương trình phục hồi

Trang 34

kinh tế với chiến lược phòng, chống dịch bệnh, đề án cơ cấu lại nền kinh tế, phát triển kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn… nhằm huy động và phân bổ nguồn lực phù hợp và phát triển bao trùm, bền vững

Hai là, xác định rõ mục tiêu và tăng cường hiệu quả phối hợp CSTK với CSTT

và các chính sách vĩ mô khác: (i) Cần xác định mục tiêu rõ ràng và thống nhất trong

quá trình phối hợp CSTK và CSTT lúc này là đẩy nhanh phục hồi, tăng trưởng ổn định

và lạm phát vừa phải, theo đó CSTT theo hướng linh hoạt nhưng không hoàn toàn nới lỏng, ưu tiên hỗ trợ phục hồi song vẫn đảm bảo kiểm soát lạm phát, CSTK theo hướng

mở rộng thận trọng, vừa hỗ trợ tăng trưởng vừa vẫn đảm bảo kiểm soát lạm phát; (ii) Phối hợp CSTK và CSTT trong việc thiết kế và thực thi gói hỗ trợ lãi suất; trogng kiểm soát rủi ro hệ thống tài chính (rủi ro lan truyền giữa ngân hàng – chứng khoán – bảo hiểm); (iii) Nâng cao năng lực phân tích, dự báo, hệ thống chia sẻ thông tin, dữ liệu phục vụ hiệu quả phối hợp chính sách từ hoạch định đến khâu thực thi (như liều lượng, thời điểm điều chỉnh lãi suất, phát hành TPCP…), tiến tới liên thông, thực hiện khung “Lập trình tài chính quốc gia” để có thể nhanh chóng đánh giá tác động chính sách…v.v

Ba là, nghiên cứu triển khai hỗ trợ tài khóa và hỗ trợ khác như là một cấu phần quan trọng trong Chương trình phục hồi và phát triển KT-XH, chú trọng hiệu quả, kịp thời ở khâu thực thi:

+ Về gói hỗ trợ tài khóa: xem xét một số chính sách: (i) Giảm thuế GTGT

(khoảng 1-2%) nhằm thúc đẩy tiêu dùng trong nước (trong năm 2022); (ii) Thúc đẩy bảo lãnh vay DNNVV qua các quỹ bảo lãnh vay vốn DNNVV tại các địa phương (phối hợp tốt hơn với Quỹ phát triển DNNVV và NHTM); (iii) Gói tín dụng hỗ trợ lãi suất (thấp hơn khoảng 2-3% so với lãi suất thị trường): điều kiện tiếp cận là các đối tượng đủ điều kiện tín dụng hoặc các đối tượng không đủ điều kiện tín dụng nhưng có khả năng phục hồi (cần lưu ý đây không phải là hạ mức chuẩn tín dụng) hoặc lĩnh vực

ưu tiên phát triển thời gian tới (kinh tế tuần hoàn, năng lượng tái tạo, y tế, giáo dục, hạ tầng số…); (iv) Tiếp tục giảm 1 số loại thuế, phí như đã thực hiện năm 2021; (v) Hỗ trợ 1 phần chi phí đầu vào cho DN (như giảm phí BHXH, phí công đoàn, hỗ trợ chi phí xét nghiệm, chi phí “3 tại chỗ”, chi phí tuyển dụng, đào tạo…); (vi) Đầu tư nâng cao năng lực y tế; (vii) Thiết lập quỹ phòng chống dịch bệnh, tiến tới có quỹ khẩn cấp quốc gia; (vii) Tăng đầu tư cho giáo dục, đào tạo nghề, CSHT, năng lượng tái tạo, xử

lý rác thải, chống biến đổi khí hậu…v.v Tổng các gói hỗ trợ này chúng tôi ước tính khoảng 400.000 tỷ đồng, ước thực chi khoảng 240.000 tỷ đồng (3% GDP); chưa kể phần hỗ trợ an sinh xã hội, phần tăng đầu tư CSHT và đầu tư của SCIC (như Bộ KH-

ĐT đang đề xuất) do bản chất các khoản đầu tư này là khác

+ Về gói an sinh xã hội: (i) Chú trọng hỗ trợ lao động tự do, lao động khu vực

phi chính thức; (ii) Hỗ trợ lao động của những DN bị phá sản, thua lỗ (và DN này không thuộc diện được hỗ trợ); (iii) Hỗ trợ đào tạo nghề: hỗ trợ chi phí đào tạo nghề

Trang 35

cho lao động chuyển nghề do mất, thay đổi việc làm, nâng cao tay nghề để có thể tận dụng cơ hội dịch chuyển vốn đầu tư, chuỗi sản xuất…v.v Theo đó, cần linh hoạt, rút gọn quy trình, thủ tục và tăng cường ứng dụng CNTT khi triển khai

+ Về các chính sách khác: (i) Xem xét giảm 10% tiền điện, cước viễn thông

trong năm 2022; (ii) Hỗ trợ doanh nghiệp chuyển đổi số (hỗ trợ 50% chi phí tư vấn chiến lược, tư vấn triển khai chuyển đổi số, chi phí mua giải pháp chuyển đổi số cho các DNNVV…); (iii) Tài trợ (20-30%) cho các dự án nâng cấp đổi mới công nghệ của

DN trong lĩnh vực công nghiệp chế biến, chế tạo và 1 số lĩnh vực ưu tiên khác…v.v + Với các gói hỗ trợ này, theo tính toán sơ bộ của chúng tôi, nợ công/GDP chỉ tăng khoảng 1-2 điểm %, thâm hụt ngân sách/GDP tăng và có thể khoảng 5,5-6% GDP năm 2022 và 2023 Tuy nhiên, tỷ lệ này sẽ giảm khá nhanh khi kết thúc Chương trình phục hồi và kinh tế lấy lại đà tăng trưởng tích cực (6,5-7%) sau đó

Bốn là, gia tăng hiệu quả đầu tư công, hỗ trợ thúc đẩy đầu tư của các khu vực kinh tế khác: (i) Đẩy nhanh tiến độ giải ngân đầu tư công như là một giải pháp bù

đắp thiếu hụt động lực tăng trưởng trong năm 2021 và cũng là động lực tăng trưởng trong trung, dài hạn, theo đó ưu tiên các dự án lan tỏa, triển khai được ngay, đầu tư phát triển hạ tầng số, năng lượng tái tạo, y tế, giáo dục, khu vực nông thôn (nhất là khu vực ĐBSCL bị ảnh hưởng nặng nề bởi biến đổi khí hậu)…v.v.; (ii) Củng cố vị thế thu hút vốn FDI và tạo điều kiện kinh tế tư nhân bứt phá sau đại dịch trên cơ sở cải cách thể chế, cải thiện môi trường đầu tư – kinh doanh

Năm là, có kế hoạch, giải pháp đảm bảo ổn định kinh tế vĩ mô (nhất là kiểm soát lạm phát, giá cả, nợ xấu…), đảm bảo ổn định tài khóa, đưa về quỹ đạo ổn định, bền vững hơn sau khi kết thúc Chương trình phục hồi KT-XH 2022-2023

Sáu là, đồng bộ các giải pháp khác: (i) Đẩy mạnh tiến trình cơ cấu lại nền kinh

tế nhằm huy động và phân bổ nguồn lực hiệu quả hơn; (ii) Tiếp tục cải thiện mạnh mẽ, thực chất môi trường đầu tư - kinh doanh, để vừa tháo gỡ khó khăn cho người dân, doanh nghiệp, vừa tận dụng cơ hội thu hút đầu tư nước ngoài (cả trực tiếp và gián tiếp); Việt Nam còn nhiều dư địa ở khâu này; (iii) Đẩy mạnh phát triển kinh tế số, vừa

là để tăng năng suất lao động, vừa là theo kịp xu thế và giảm rủi ro lây lan dịch bệnh

do tương tác trực tiếp; (iv) Phát huy thế mạnh các trụ cột, đầu tàu tăng trưởng, lan tỏa nhất là Hà Nội và TP HCM, cùng với thúc đẩy phát triển liên kết vùng, chuỗi giá trị; (v) Gia cố năng lực chống chịu của nền kinh tế đối với các rủi ro, cú sốc bên ngoài…v.v

Bảy là, về huy động nguồn lực, có thể tính đến các nguồn lực quan trọng sau:

(i) Tiết giảm chi phí tương tự như năm 2021; (ii) đẩy mạnh việc cổ phần hóa, thoái vốn DNNN (phấn đấu đạt 80-90% kế hoạch), có thể thu về khoảng 30-35.000 tỷ đồng mỗi năm; (iii) phát hành trái phiếu Chính phủ trong nước (với mức lãi suất khá thấp hiện nay và có thể chỉ tăng nhẹ 1-2 năm tới, kênh huy động này là khả quan); (iv) Rà

Trang 36

soát các quỹ ngoài ngân sách, các quỹ tại địa phương; (v) vay các tổ chức tài chính quốc tế (ADB, WB…), nếu cần Các tổ chức này đều đang có chương trình, gói hỗ trợ phục hồi, với điều kiện vay không quá khắt khe, lãi suất đang ở mức thấp, nên đây cũng là một kênh đáng xem xét

Cuối cùng, một nguồn lực rất quan trọng khác là đẩy mạnh cải cách thể chế, cải thiện mạnh mẽ, thực chất môi trường đầu tư - kinh doanh, để vừa tháo gỡ khó

khăn cho người dân, doanh nghiệp, vừa tận dụng cơ hội thu hút đầu tư nước ngoài (cả trực tiếp và gián tiếp) trong bối cảnh xu thế dịch chuyển vốn đầu tư vẫn còn, trong đó Việt Nam vẫn là một ưu tiên lựa chọn của các nhà đầu tư nước ngoài Việc giải tỏa các vướng mắc pháp lý cho các dự án bất động sản, các dự án BT, BOT dở dang; đất đai, tài sản công bỏ hoang, vừa góp phần tiết giảm chi phí quản lý, chi phí tuân thủ; tăng thu ngân sách từ tiền thuê đất, tăng niềm tin và động lực cho DN, tạo việc làm và thu

nhập cho người lao động…v.v Việt Nam còn nhiều dư địa ở khâu này và đây là

thời cơ thuận lợi để đẩy nhanh, thực chất việc này

Trang 37

ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG TÀI CHÍNH VIỆT NAM

GIAI ĐOẠN 2021 - 2030

TS Vũ Nhữ Thăng

Phó Chủ tịch

Ủy ban Giám sát tài chính Quốc gia

Sau 30 năm đổi mới, Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng trong

phát triển nền kinh tế, trong đó có thị trường tài chính (TTTC) Đến nay, TTTC Việt

Nam đã được hình thành về cơ bản, có vai trò đặc biệt quan trọng đối với việc huy động tiết kiệm và phân bổ các nguồn vốn Đặc biệt, giai đoạn 2011 - 2020, TTTC Việt Nam đã có những bước phát triển vượt bậc về cả chất và lượng, bảo đảm tốt chức năng cung ứng vốn cho nền kinh tế, hỗ trợ tăng trưởng và khu vực doanh nghiệp, đồng thời phục vụ hiệu quả tái cấu trúc nền kinh tế Tuy nhiên, TTTC được đánh giá là vẫn chưa phát triển tương xứng so với tiềm năng, chưa hội nhập sâu rộng vào thị trường quốc tế và tiềm ẩn một số rủi ro, hạn chế cần giải quyết, đặt ra yêu cầu định hướng phát triển TTTC giai đoạn 2021 - 2030 theo hướng lành mạnh, hiện đại, bảo đảm cơ cấu hợp lý giữa thị trường tiền tệ, thị trường vốn và thị trường bảo hiểm, bắt kịp những xu hướng mới của TTTC quốc tế, góp phần thực hiện tốt các đột phá chiến lược, cơ cấu lại nền kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao năng suất, hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế Bài viết phân tích, đánh giá thực trạng TTTC giai đoạn 2011 - 2020; xu hướng phát triển TTTC của các quốc gia và bài học cho Việt Nam, từ đó đề xuất định hướng phát triển TTTC Việt Nam giai đoạn 2021 - 2030

Từ khóa: Tài chính, TTTC, ngân hàng, chứng khoán, bảo hiểm

After 30 years of renovation, Vietnam has made several important achievements in economic development, including the financial market Currently, Vietnam's financial market has been fundamentally formed, playing a particularly important role in saving mobilization and capital allocation In the period of 2011 -

2020, Vietnam's financial market particularly has made great progress in both quality and quantity, well ensuring the function of providing capital to the economy, supporting economic growth as well as the business sector, and at the same time effectively serving economic restructuring The financial market, however is considered to be underdeveloped relative to its potential, has not deeply integrated into the international market, and has potential risks and limitations that need to be addressed Therefore the development orientation of the financial market in the period

of 2021-2030 need to be set in a healthy and modern direction, ensuring a reasonable structure between the money market, capital market and insurance market, and in consistent with the new trends of the international financial market, contributing to the implementation of strategic breakthroughs, restructuring the economy in association

Trang 38

with growth model innovation, improving productivity, efficiency and competitiveness

of the economy The article analyzes and evaluates the current situation of financial market in the period of 2011 - 2020; financial market development trends of relevant countries and lessons for Vietnam, therefore proposing development orientation of the financial market in Vietnam for the period of 2021 - 2030

Keywords: Finance, financial market, banking, securities, insurance

1 Thực trạng thị trường tài chính giai đoạn 2011 - 2020

Trong bối cảnh kinh tế tài chính thế giới biến động phức tạp, liên tục và đa chiều, kinh tế Việt Nam giai đoạn 2011 - 2020 vẫn đạt được những kết quả đáng ghi nhận Đó là ổn định kinh tế vĩ mô được duy trì, lạm phát được kiểm soát, tỷ giá ổn định, dự trữ ngoại hối tăng cao, tăng trưởng kinh tế đạt kết quả tích cực so với các nước trong khu vực nhờ vào nỗ lực cải cách thể chế, cải thiện môi trường kinh doanh, trong đó TTTC được đánh giá phát triển lành mạnh và an toàn, phát huy tốt vai trò

“huyết mạch kinh tế”, đảm bảo tốt chức năng cung ứng vốn cho nền kinh tế, hỗ trợ tăng trưởng và khu vực doanh nghiệp, đồng thời phục vụ hiệu quả tái cấu trúc nền kinh

tế Tuy nhiên, qua hơn một thập kỷ phát triển, TTTC cũng bộc lộ một số tồn tại, hạn chế cần nhận diện và khắc phục để thực sự trở thành kênh dẫn vốn hiệu quả, góp phần quan trọng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và ổn định kinh tế vĩ mô trong giai đoạn tới

1.1 Những kết quả đạt được

Quy mô TTTC không ngừng gia tăng, đáp ứng nhu cầu cung ứng vốn cho nền kinh tế, trong đó quy mô thị trường vốn tăng trưởng mạnh, giảm bớt gánh nặng cung ứng vốn của khu vực ngân hàng

hơn 2 lần so với năm 2011, trong đó quy mô tín dụng ngân hàng đạt 142,4% GDP, quy

mô thị trường vốn đạt 129% GDP16, vượt kế hoạch 100% GDP đến năm 2020 của Chính phủ Quy mô thị trường vốn tăng nhanh (3,7 lần), giúp thu hẹp chênh lệch cơ cấu giữa thị trường vốn và thị trường tiền tệ17, hỗ trợ tiếp cận nguồn lực tài chính cho doanh nghiệp để ổn định và phát triển sản xuất, đặc biệt là có thêm nguồn lực mở rộng quy mô hoặc đầu tư vào công nghệ, giảm rủi ro phụ thuộc vào nguồn vốn tín dụng

ngắn hạn của hệ thống (NHTM)

15 Bao gồm tín dụng ngân hàng và thị trường vốn

16

Quy mô vốn hóa thị trường cổ phiếu đạt mục tiêu đề ra, năm 2020 tương đương 84% GDP, cao gấp 4 lần con

số của năm 2011; dư nợ thị trường TPDN đạt mức 14,5% GDP, cao gấp 3,5 lần so với con số của năm 2011 Trên thị trường bảo hiểm, doanh thu phí bảo hiểm có mức tăng gần 20%/năm trong giai đoạn 2011-2020, cao hơn nhiều nước trong khu vực

17 Tính theo giá trị vốn hóa thị trường, tỷ trọng cung ứng vốn của thị trường vốn đến cuối năm 2020 tăng lên 41,3% (năm 2011 là 22%), trong khi tỷ trọng cung ứng vốn từ tín dụng ngân hàng giảm xuống 58,7% (năm 2011

là 78%)

Trang 39

Hình 1 Quy mô thị trường chứng khoán và tín dụng ngân hàng,

2011 - 2020

Nguồn: Nguồn tổng hợp từ số liệu Bộ Tài chính, Ngân hàng Nhà nước,

Ủy ban Giám sát tài chính Quốc gia (UBGSTCQG) Thị trường tiền tệ ngày càng phát triển và đi vào ổn định, tín dụng tăng trưởng

và chuyển dịch cơ cấu hợp lý, chất lượng tín dụng được cải thiện hỗ trợ tích cực cho tăng trưởng kinh tế và ổn định vĩ mô

9,2 triệu tỷ đồng (tăng bình quân 14,03%/năm giai đoạn 2011 - 2020), tốc độ tăng trưởng tín dụng hằng năm được điều chỉnh nhằm đáp ứng vai trò cung ứng vốn cho

dụng tập trung vào các ngành sản xuất, lĩnh vực ưu tiên và giảm tín dụng vào những ngành rủi ro; tỷ trọng tín dụng trung, dài hạn20 và ngoại tệ21 giảm dần trong giai đoạn

2016 - 2020 do tác động của việc cơ cấu nợ theo Quyết định số 780/QĐ-NHNN năm

2012 và định hướng hạn chế đô la hóa và cho vay ngoại tệ của Ngân hàng Nhà nước

soát và chấm dứt hiện tượng chạy đua lãi suất huy động của các ngân hàng, đưa mặt

18

Không bao gồm Ngân hàng Phát triển Việt Nam, Ngân hàng Chính sách xã hội và các quỹ tín dụng nhân dân

19 Giai đoạn 2012 - 2013, tăng trưởng tín dụng giảm xuống nhằm kiềm chế lạm phát (năm 2011 lạm phát khoảng 18%), giai đoạn 2015 - 2017 tín dụng được nới lỏng nhằm hỗ trợ tăng trưởng kinh tế và hiện nay được kiểm soát

để đảm bảo ổn định kinh tế vĩ mô Tuy nhiên, năm 2018 - 2020, tăng trưởng tín dụng được điều chỉnh chậm lại

13 - 14%, góp phần kiểm soát lạm phát, phù hợp với cân đối vĩ mô, nhưng vẫn đáp ứng nhu cầu vốn của nền kinh tế

20 Tỷ trọng tín dụng trung và dài hạn trên tổng tín dụng cuối năm 2020 là 50,4% (năm 2011: 44,5%, năm 2015: 55,4%)

21 Tỷ trọng tín dụng ngoại tệ trên tổng dư nợ tín dụng giảm từ 20,7% cuối năm 2011 xuống 5,7% năm 2020

22 Cuối năm 2020, tỷ lệ tín dụng/huy động (LDR) toàn hệ thống TCTD là 83,7%, giảm so với mức gần 100% năm 2011

23 Lãi suất thị trường liên ngân hàng giảm mạnh từ 14 - 20% (năm 2011) xuống 0,85% (năm 2020) Mặt bằng lãi suất huy động bằng VND giảm mạnh từ 14% (năm 2011) xuống 5,48% (năm 2020); lãi suất cho vay bằng VND

Trang 40

trưởng kinh tế Tỷ giá được điều hành chủ động, linh hoạt, ngày càng ổn định, dự trữ

đạt được kết quả khả quan, tỷ lệ nợ xấu nội bảng của hệ thống giảm từ mức 3,1% năm

2011 xuống còn 1,8% cuối năm 2020, hướng tới mục tiêu cơ cấu lại hệ thống các tổ chức tín dụng gắn với xử lý nợ xấu giai đoạn 2016 - 2020

Trên TTCK, các công ty chứng khoán cũng được tái cấu trúc trên cơ sở nâng cao tiêu chuẩn an toàn và quản trị của các định chế, phù hợp với thông lệ quốc tế, chú trọng giám sát tuân thủ và giám sát rủi ro Theo đó, số lượng và quy mô của các công

quá trình thoái vốn của các tập đoàn, tổng công ty nhà nước tiếp tục triển khai Thị trường TPCP được tái cấu trúc mạnh mẽ nhờ hoàn thiện khung pháp lý, tái cấu trúc hiệu quả kỳ hạn TPCP trong danh mục Trong khi đó, thị trường trái phiếu doanh

từ 18 - 20% (năm 2011) xuống 9,65% (năm 2020) Lãi suất cho vay bằng USD giảm từ 6 - 9% (năm 2011) xuống 3,78% (năm 2020) Hoạt động cho vay bằng ngoại tệ của các ngân hàng được kiểm soát chặt chẽ hơn

24

Khoảng 100 tỷ USD vào cuối năm 2020

25 Tới 31/12/2020, có 82 CTCK đang hoạt động với tổng tài sản đạt 209 nghìn tỷ đồng, tăng 157% so với cuối năm 2011, tổng vốn chủ sở hữu đạt 94 nghìn tỷ đồng, tăng 156%

Ngày đăng: 30/04/2022, 02:38

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
3. Bộ Kế hoạch và Đầu tư (2009, 2015), Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2011 - 2015 và 2016 - 2020, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2011 - 2015 và 2016 - 2020
1. Bộ Kế hoạch và Đầu tư (2019), Báo cáo đánh giá gữa kỳ thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2016 - 2020 Khác
2. Bộ Kế hoạch và Đầu tư (2016, 2017, 2018), Báo cáo tình hình thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội các năm 2016, 2017, 2018 Khác
4. Bộ Kế hoạch và Đầu tư (từ 2001 - 2018), Sổ tay kế hoạch hằng năm Khác
5. Bộ Tài chính (2019), Số liệu dự toán NSNN các năm từ 2011 - 2019 Khác
6. Bộ Tài chính (2019), Kế hoạch vay, trả nợ công trung hạn giai đoạn 2019 - 2021 Khác
8. Chính phủ (2016), Báo cáo kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn 2016 - 2020, số 472/BC-CP trình Quốc hội ngày 19/10/2016 Khác
9. Chính phủ (2018), Báo cáo Đánh giá giữa kỳ thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2016 - 2020 Khác
10. Chính phủ (2001 - 2018), Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội hằng năm Khác
11. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ XI (2001), Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2001 - 2010 Khác
12. Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ XII, Chiến lược Phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2011 - 2020 Khác
13. Ngân hàng Thế giới và Bộ Kế hoạch và Đầu tư (2016), Việt Nam 2035 hướng tới thịnh vượng, sáng tạo, công bằng và dân chủ Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1. Quy mô các gói hỗ trợ tài khóa và tiền tệ từ đầu năm2020 đến hết quý III/2021 - QR bai Dien dan TCVN 2021
Bảng 1. Quy mô các gói hỗ trợ tài khóa và tiền tệ từ đầu năm2020 đến hết quý III/2021 (Trang 26)
1.2. CSTK Việt Nam giai đoạn 2020- 10/2021 - QR bai Dien dan TCVN 2021
1.2. CSTK Việt Nam giai đoạn 2020- 10/2021 (Trang 28)
Bảng 2. Thâm hụt NSNN, nợ công, nợ Chính phủ và nợ quốc gia giai đoạn 2016- 2016-2021   TT    Chỉ tiêu    Mục tiêu  hằng  năm    2016   2017   2018   2019 - QR bai Dien dan TCVN 2021
Bảng 2. Thâm hụt NSNN, nợ công, nợ Chính phủ và nợ quốc gia giai đoạn 2016- 2016-2021 TT Chỉ tiêu Mục tiêu hằng năm 2016 2017 2018 2019 (Trang 28)
Bảng 3: Tổng hợp các gói hỗ trợ năm2020 và kết quả thực hiện - QR bai Dien dan TCVN 2021
Bảng 3 Tổng hợp các gói hỗ trợ năm2020 và kết quả thực hiện (Trang 29)
Hình 1. Quy mô thị trường chứng khoán và tín dụng ngân hàng, 2011 - 2020 - QR bai Dien dan TCVN 2021
Hình 1. Quy mô thị trường chứng khoán và tín dụng ngân hàng, 2011 - 2020 (Trang 39)
đạt được kết quả khả quan, tỷ lệ nợ xấu nội bảng của hệ thống giảm từ mức 3,1% năm 2011 xuống còn 1,8% cuối năm 2020, hướng tới mục tiêu cơ cấu lại hệ thống các tổ  chức tín dụng gắn với xử lý nợ xấu giai đoạn 2016 - 2020 - QR bai Dien dan TCVN 2021
t được kết quả khả quan, tỷ lệ nợ xấu nội bảng của hệ thống giảm từ mức 3,1% năm 2011 xuống còn 1,8% cuối năm 2020, hướng tới mục tiêu cơ cấu lại hệ thống các tổ chức tín dụng gắn với xử lý nợ xấu giai đoạn 2016 - 2020 (Trang 40)
Bảng 1. Tổng hợp các chỉ tiêu phát triển kinh tế - QR bai Dien dan TCVN 2021
Bảng 1. Tổng hợp các chỉ tiêu phát triển kinh tế (Trang 92)
1. Kết quả thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ về cân đối ngân sách nhà nước và nợ công của Việt Nam giai đoạn 2011 - 2020 - QR bai Dien dan TCVN 2021
1. Kết quả thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ về cân đối ngân sách nhà nước và nợ công của Việt Nam giai đoạn 2011 - 2020 (Trang 92)
Hình 1. Tình hình thu NSNN, 2011-2020 - QR bai Dien dan TCVN 2021
Hình 1. Tình hình thu NSNN, 2011-2020 (Trang 94)
Hình 2. Cơ cấu thu NSNN, giai đoạn 2011-2020 - QR bai Dien dan TCVN 2021
Hình 2. Cơ cấu thu NSNN, giai đoạn 2011-2020 (Trang 95)
Bảng 2. Cơ cấu thu NSNN theo sắc thuế, phí - QR bai Dien dan TCVN 2021
Bảng 2. Cơ cấu thu NSNN theo sắc thuế, phí (Trang 95)
2.2. Thực trạng chi ngân sách - QR bai Dien dan TCVN 2021
2.2. Thực trạng chi ngân sách (Trang 96)
Bảng 3. Cơ cấu các khoản chi trong tổng chi cân đối NSNN - QR bai Dien dan TCVN 2021
Bảng 3. Cơ cấu các khoản chi trong tổng chi cân đối NSNN (Trang 98)
Hình 6. Quy mô, tốc độ tăng GDP (giá hiện hành) và nợ công, 2011-2020 - QR bai Dien dan TCVN 2021
Hình 6. Quy mô, tốc độ tăng GDP (giá hiện hành) và nợ công, 2011-2020 (Trang 101)
Hình 7. Cấu trúc nợ của Việt Nam tính đến cuối năm 2017 - QR bai Dien dan TCVN 2021
Hình 7. Cấu trúc nợ của Việt Nam tính đến cuối năm 2017 (Trang 102)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN