Tai nguyen nuoc T9 2009 Layout 1 qxd B ÖÅ T AÂ I N G U Y Ï N V AÂ M Ö I T R Û ÚÂ N G CUÅC QUAÃN LYÁ TAÂI NGUYÏN NÛÚÁC Söë 01 (2009) I VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT �Trình Quốc hội Luật Tài nguyên nước (s[.]
Trang 1B ÖÅ T AÂ I N G U Y Ï N V AÂ M Ö I T R Û ÚÂ N G
CUÅC QUAÃN LYÁ TAÂI NGUYÏN NÛÚÁC
Söë 01 (2009)
Trang 2I VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT
Trình Quốc hội Luật Tài nguyên nước (sửa đổi) trong năm 2010
Chính phủ chỉ đạo một số giải pháp cấp bách trong công tác quản lý Nhà nước về tài nguyên nước
Hoàn thiện công tác cấp giấy phép tài nguyên nước
Quảng Ninh: Ban hành quy định quản lý tài nguyên nước
Tuyên Quang: Tăng cường quản lý Nhà nước về tài nguyên nước
Yên Bái: Ban hành Chỉ thị tăng cường công tác quản lý tài nguyên nước
Trà Vinh: Triển khai một số biện pháp bảo vệ nguồn nước dưới đất
Sóc Trăng: Tăng cường công tác quản lý nước dưới đất
II HOẠT ĐỘNG QUẢN LÝ
Công bố và trao Quyết định bổ nhiệm Thứ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường
Bộ trưởng Bộ TN & MT giao nhiệm vụ phụ trách Cục Quản lý tài nguyên nước
Cục Quản lý tài nguyên nước cơ bản hoàn thành kế hoạch
6 tháng đầu năm 2009
Tiếp tục tập trung cao độ vào “Xây dựng chương trình mục tiêu quốc gia khai thác, sử dụng bền vững và bảo vệ tài nguyên nước”
Bộ TN&MT công bố Bộ thủ tục hành chính
III NGHIÊN CỨU - THẢO LUẬN
Những định hướng chính sẽ sửa đổi trong Luật Tài nguyên nước
Đánh giá và quy hoạch phân bổ nước dưới đất - giải pháp quan trọng để quản lý, bảo vệ và khai thác bền vững tài nguyên nước
Biến đổi khí hậu: Thách thức mới cho quản lý tài nguyên nước
ở Việt Nam
Cục Quản lý Tài nguyên nước: 6 năm nhìn lại
Công tác quản lý tài nguyên nước trên địa bàn tỉnh Hòa Bình
IV KHOA HỌC CÔNG NGHỆ -HỢP TÁC QUỐC TẾ
Đẩy mạnh chương trình nghiên cứu khoa học trong lĩnh vực tài nguyên nước
Cơ hội hợp tác về quản lý tài nguyên nước với Hungary, Slovakia và Anh
Châu Á: Xây dựng các con đập dọc sông Mê Kông có thể châm ngoài cho một cuộc về nước
Bạn đọc thân mến!
Bn tin Tài nguyên nc ca Cc
Qun lý tài nguyên nc, B Tài nguyên
và Môi trng đ c B Thông tin và
ngày 01 tháng 7 nm 2009 Bn tin đ c
phát hành đnh k hng tháng nhm
nguyên nc, đc bit là các vn bn có
tính thi s, mi đ c ban hành; các t
nghiên cu thuc lnh vc qun lý tài
nguyên nc; cung cp các thông tin,
đang đ c xã hi quan tâm.
nguyên nc, Cc Qun lý tài nguyên
nc trân trng kính mi các Quý v tham
S cng tác ca Quý v s góp phn
làm tng cht l ng ni dung, uy tín ca
Bn tin Tài nguyên nc Đng thi góp
phn nâng cao nhn thc cng đng
trong khai thác, s! dng, bo v và phát
Xin trân trng cm #n!
BAN BIÊN TP BN TIN
Nội dung
số 01 (2009)
Trưởng ban biên tập: PGS.TS Lê Bắc Huỳnh Giấy phép xuất bản số: 33/GP-XBBT Bộ Thông tin và Truyền thông cấp ngày 01 -7-2009
Trụ sở: số 68 - Bùi Thị Xuân - Hai Bà Trưng - Hà Nội
Trang 3BẢN TIN TÀI NGUYÊN NƯỚC 3
Tại kỳ họp thứ 5, Quốc hội khóa XII, Quốc hội đã thông qua Nghị quyết về Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2010 và bổ sung Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh của Quốc hội nhiệ m kỳ khóa XII (2007-2011) Trong đó, Luật Tài nguyên nước (sửa đổi) đã được đưa vào Chương trình chuẩn bị cùng với 19 dự án luật khác như: Luật Ngân sách Nhà nước (sửa đổi), Luật Ðất đai (sửa đổi), Luật Xử
lý vi phạm hành chính, Luật Thủ đô, Luật Bầu cử đại biểu hội đồng nhân dân,…
TRÌNH QUC HI LUT TÀI NGUYÊN NC (SA ĐI) TRONG N M 2010
Nhằm tăng cường và nâng cao
hiệu quả công tác quản lý Nhà
nước về tài nguyên và môi
trường, ngày 12-6-2009, Chính
phủ đã ra Nghị quyết số 27/NQ-CP về một
số giải pháp cấp bách trong công tác quản
lý Nhà nước về tài nguyên và môi trường
Theo đó, để ngăn chặn, xử lý kịp thời các cơ
sở gây ô nhiễm môi trường, kiểm soát chặt
chẽ các hoạt động khai thác, sử dụng tài
nguyên nước, xả nước thải vào nguồn nước,
Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo như sau:
1 BỘ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI
TRƯỜNG CHỊU TRÁCH NHIỆM:
Một là, rà soát, xây dựng, hoàn thiện
hệ thống chính sách, pháp luật về tài
nguyên nước theo hướng kinh tế hóa, tài
chính hóa ngành nước, đẩy mạnh phát triển
dịch vụ ngành nước;
Hai là, đôn đốc, phối hợp với Ủy ban
nhân dân cấp tỉnh tăng cường kiểm soát
việc khai thác, sử dụng nước, xả nước thải
gây ô nhiễm nguồn nước; bảo đảm đến
năm 2011 cơ bản hoàn thành việc cấp phép
cho các công trình khai thác, sử dụng nước
cho thủy điện, sản xuất nông nghiệp và cấp
nước đô thị thuộc diện phải cấp phép; xử lý
nghiêm các trường hợp xả nước thải gây ô
nhiễm nghiêm trọng nguồn nước;
Ba là, xác định danh mục các nguồn
nước bị ô nhiễm, cạn kiệt nghiêm trọng làm
ảnh hưởng đến đời sống nhân dân và hoạt
động sản xuất phát triển kinh tế - xã hội, đề
xuất giải pháp xử lý, khôi phục trình Thủ
tướng Chính phủ trong năm 2009;
Bốn là, khẩn trương xây dựng, hoàn
thiện đề án kiểm kê tài nguyên nước quốc
gia, đề án quy hoạch khai thác, sử dụng và bảo vệ nguồn nước các lưu vực sông, vùng kinh tế - xã hội, vùng kinh tế trọng điểm, trình Thủ tướng Chính phủ;
Năm là, tăng cường hợp tác quốc tế
trong lĩnh vực tài nguyên nước; chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành, địa phương liên quan tổ chức thực hiện Hiệp định hợp tác phát triển bền vững lưu vực sông Mê Kông;
xây dựng cơ chế quản lý, khai thác, sử dụng nguồn nước biên giới; xây dựng kế hoạch hợp tác với Trung Quốc trong việc chia sẻ nguồn nước trên lưu vực sông Hồng, sớm trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt
2 BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN có trách nhiệm rà soát nhu cầu dùng nước, điều chỉnh cơ cấu sản xuất, cây trồng, vật nuôi phù hợp với diễn biến, tiềm năng nguồn nước, nhất là trong thời kỳ khan hiếm nước ở những vùng thường xuyên thiếu nước
3 BỘ CÔNG THƯƠNGchủ trì, phối hợp với Bộ Tài nguyên và Môi trường và các
Bộ, ngành, địa phương chỉ đạo việc xử lý các cơ sở công nghiệp thuộc quyền quản lý của Bộ đang gây ô nhiễm, suy thoái nguồn nước; chủ động nghiên cứu, áp dụng các công nghệ tiên tiến để xử lý nước thải, chất thải công nghiệp, giảm thiểu ô nhiễm nguồn nước và môi trường
4 BỘ XÂY DỰNGcó trách nhiệm chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành, địa phương
có liên quan chỉ đạo, rà soát lại các quy hoạch cấp nước, thoát nước cho các thành phố lớn, các đô thị và khu dân cư tập trung;
hướng dẫn, kiểm tra việc xây dựng kết cấu
hạ tầng cấp nước, thoát nước và xử lý nước
thải đô thị
5 BỘ TÀI CHÍNHchủ trì, phối hợp với
Bộ Tài nguyên và Môi trường và các Bộ, ngành liên quan rà soát, kiến nghị sửa đổi,
bổ sung các quy định về thuế tài nguyên nước; nghiên cứu, đề xuất quy định về phí khai thác, sử dụng nước, phí bảo vệ tài nguyên nước
6 ỦY BAN NHÂN DÂN CẤP TỈNH
CÓ TRÁCH NHIỆM:
a, Điều tra, thống kê và kiểm soát chặt chẽ các cơ sở xả thải gây ô nhiễm nguồn nước; tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, xử lý dứt điểm các cơ sở gây ô nhiễm nguồn nước; lập danh mục các nguồn nước
bị ô nhiễm, suy thoái, cạn kiệt và đề xuất giải pháp xử lý, khôi phục Các thành phố lớn thực hiện kiểm soát đối với việc thải nước thải sinh hoạt và công nghiệp vào các nguồn nước mặt, xây dựng các hệ thống xử
lý nước thải cho các khu dân cư tập trung
để giảm tải và cải thiện chất lượng của hệ thống sông ngòi, kênh rạch trên địa bàn;
b, Tổ chức việc điều tra, kiểm kê, đánh giá tài nguyên nước, hiện trạng khai thác,
sử dụng nước ở địa phương; đẩy mạnh công tác quy hoạch tài nguyên nước, trước mắt là quy định mục tiêu chất lượng nước, khoanh vùng các khu vực nguồn nước bị cạn kiệt, ô nhiễm, vùng mực nước dưới đất
bị hạ thấp quá mức; chấn chỉnh tình trạng khoan thăm dò, khai thác, sử dụng tài nguyên nước không có giấy phép, gây ô nhiễm, cạn kiệt nguồn nước.
(Nguồn: Nghị quyết số 27/NQ-CP ngày
12-6-2009 của Chính phủ)
C hính phủ chỉ đạo một số giải pháp
cấp bách trong công tác quản lý Nhà nước về tài nguyên nước
Trang 4Tháng 5 năm 2009, UBND tỉnh Quảng Ninh đã ra Quyết
định số 1714/2009/QĐ-UBND về việc ban hành quy định
quản lý tài nguyên nước trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh
Quy định này hướng dẫn và quy định chi tiết việc thi hành
các văn bản quy phạm pháp luật về hoạt động tài nguyên
nước; trình tự, thủ tục cấp, gia hạn, thay đổi thời hạn, điều
chỉnh nội dung và cấp lại giấy phép hoạt động tài nguyên
nước trên địa bàn tỉnh.
Quyết định này thay thế Quyết định số 4351/2005/QĐ-UBND, ngày 21/11/2005 của UBND tỉnh Quảng Ninh và có hiệu lực kể từ ngày 13 tháng 6 năm 2009.
(Nguồn :Quyết định 1714/2009/QĐ -
UBND tỉnh Quảng Ninh)
Thực hiện chủ trương cải cách thủ tục hành chính của Chính
phủ, ngày 24/7/2009, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã ban
hành Công văn số 2640/BTNMT-PC yêu cầu các đơn vị trong
Bộ căn cứ kết quả rà soát cấp phép, nghiên cứu và sớm có giải
pháp khắc phục những tồn tại trong việc cấp phép trong lĩnh
vực tài nguyên và môi trường
Cục Quản lý tài nguyên nước đã tiến hành nghiên cứu cơ sở
khoa học và thực tiễn trong việc chuyển hình thức quản lý hành
nghề khoan nước dưới đất bằng giấy phép sang cơ chế hoạt
động theo điều kiện để đề xuất phương án hợp lý đưa vào Luật
Tài nguyên nước (sửa đổi); Nghiên cứu, trình Bộ Tài nguyên và
Môi trường phương án sửa đổi, bổ sung Thông tư số
02/2005/TT-BTNMT và Quyết định số 13/2007/QĐ-BTNMT của
Bộ Tài nguyên và Môi trường; Phối hợp với Tổng Cục Môi trường đề xuất nội dung, quy trình phối hợp thẩm định hồ sơ cấp giấy phép xả nước thải vào nguồn nước và công tác thẩm định, phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường Đồng thời, Cục tiếp tục tổng kết, đánh giá công tác cấp phép xả nước thải, xem xét khả năng lồng ghép giữa công tác này với công tác thẩm định, phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường để đề xuất các nội dung quy định liên quan
để đưa vào Luật Tài nguyên nước (sửa đổi)
(Nguồn: Bộ Tài nguyên và Môi trường)
Tháng 6 năm 2009, UBND tỉnh Tuyên Quang đã ban hành
Quyết định số 04/2009/QĐ-UBND về việc ban hành quy định
quản lý, bảo vệ, khai thác, sử dụng tài nguyên nước, xả nước
thải vào nguồn nước trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang Quy định
này áp dụng đối với mọi tổ chức, cá nhân có các hoạt động
liên quan đến việc khai thác, sử dụng tài nguyên nước mặt,
xả nước thải vào nguồn nước trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang
Theo quy định, các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân đã và
đang khai thác, sử dụng tài nguyên nước, xả nước thải vào
nguồn nước thuộc đối tượng phải xin cấp giấy phép theo quy
định nhưng chưa có giấy phép phải tiến hành ngay việc lắp
đặt các thiết bị quan trắc; lập đề án kèm theo báo cáo hiện
trạng khai thác, xả nước thải, hoàn thiện các thủ tục trình cấp
phép cụ th ể như sau:
a Chậm nhất đến ngày 30/9/2009, phải hoàn thành việc
cấp giấy phép khai thác, sử dụng tài nguyên nước;
b Chậm nhất đến ngày 31/12/2010, phải hoàn thành thủ tục xin cấp phép xả nước thải vào nguồn nước theo tiêu chuẩn môi trường Việt Nam;
c Không cấp giấy phép cho những cơ sở thuộc diện phải
di dời nhà máy sản xuất đến địa điểm mới phù hợp theo quy hoạch đang xả thải chưa qua xử lý xuống sông Lô, sông Gâm
và sông Phó Đáy
UBND tỉnh khuyến khích các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân sớm thực hiện đăng ký xin cấp phép khai thác, sử dụng tài nguyên nước và xả nước thải vào nguồn nước
Quyết định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 29 tháng
6 năm 2009
(Nguồn: Quyết định số 04/2009/QĐ-UBND tỉnh Tuyên Quang)
Hoàn thiện công tác cấp giấy phép tài
nguyên nước
Tăng cường quản lý Nhà nước về
tài nguyên nước
TUYÊN QUANG:
QUẢNG NINH:
Ban hành quy định quản lý tài nguyên nước
Trang 5BẢN TIN TÀI NGUYÊN NƯỚC 5
Ngày 29 tháng 6 năm 2009, UBND tỉnh Yên Bái đã ban
hành Chỉ thị số 14/2009/CT-UBND về việc tăng cường công
tác quản lý tài nguyên nước trên địa bàn tỉnh Chỉ thị yêu cầu
các cơ quan, các tổ chức, cá nhân đóng trên địa bàn tỉnh có
hoạt động thăm dò, khai thác, sử dụng tài nguyên nước và xả
nước thải vào nguồn nước phục vụ sinh hoạt, sản xuất, kinh
doanh,… nghiêm túc thực hiện Luật Tài nguyên nước và các
văn bản quy phạm pháp luật trong lĩnh vực tài nguyên nước
do Chính phủ, Bộ Tài nguyên và Môi trường và của UBND tỉnh ban hành Mọi hoạt động khai thác, sử dụng tài nguyên nước,
xả nước thải vào nguồn nước, hành nghề khoan nước dưới đất đều phải có giấy phép (trừ trường hợp không phải xin phép theo quy định tại Luật Tài nguyên nước).
(Nguồn: Chỉ thị số 14/2009/CT-UBND ngày 29/6/09 của
UBND tỉnh Yên Bái)
Nhằm tăng cường công tác bảo vệ để khai thác, sử dụng
bền vững, lâu dài nguồn nước dưới đất, thực hiện Quyết định
số 15/2008/QĐ-BTNMT ngày 31 tháng 12 năm 2008 về Quy
định bảo vệ nước dưới đất, Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh
Trà Vinh đang hoàn chỉnh quá trình xây dựng các văn bản xác
định vùng cấm, vùng hạn chế khai thác nước dưới đất và trình
cấp có thẩm quyền ban hành trong năm 2009
Thực hiện Nghị định số 149/2004/NĐ-CP ngày 27/7/2004
của Chính phủ, Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh đã trình cấp
có thẩm quyền cấp phép cho 97 trạm cấp nước tập trung (khai
thác nước dưới đất) cho 02 đơn vị là Công ty Cấp thoát nước
Trà Vinh và Trung tâm nước sạch vệ sinh môi trường nông
thôn Trà Vinh Đồng thời, Sở cũng đang tiến hành hướng dẫn
các tổ chức, cá nhân đang khai thác, sử dụng tài nguyên nước
dưới đất lập hồ sơ xin cấp phép
Bên cạnh đó, Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Trà Vinh cũng đã tiến hành công tác điều tra hiện trạng, rà soát giếng khoan trong tỉnh theo Quyết định số 14/2007/QĐ-BTNMT ngày 4 tháng 9 năm 2007 Quy định về việc xử lý, trám lấp giếng khoan không sử dụng Kết quả kiểm tra toàn tỉnh có khoảng 90.000 giếng, trong đó có 1288 giếng hư hỏng, không còn sử dụng cần phải trám lấp Hiện nay, Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh đã tiến hành lập danh sách, địa chỉ các giếng
và thực hiện phương án trám lấp số giếng trên theo quy định.
(Nguồn: Báo cáo số 67/BC-STNMT
của Sở TN&MT Trà Vinh)
Ngày 29 tháng 7 năm 2009, UBND tỉnh Sóc Trăng đã ban
hành Chỉ thị về tăng cường công tác quản lý tài nguyên nước
dưới đất trên địa bàn tỉnh Theo đó, UBND tỉnh yêu cầu các
tổ chức, cá nhân có hoạt động thăm dò, khai thác, sử dụng
nước dưới đất và hành nghề khoan nước dưới đất trên địa
bàn tỉnh Sóc Trăng phải tuân thủ quy pháp luật về tài nguyên
nước; trường hợp chưa có giấy phép hoặc chưa đăng ký thì
khẩn trương đăng ký, lập thủ tục xin cấp giấy phép theo quy
định hiện hành, chậm nhất là 60 ngày kể từ ngày ban hành
Chỉ thị này; Nghiêm cấm các hoạt động thăm dò, khai thác,
sử dụng nước ngầm và hành nghề khoan nước dưới đất trái
phép, các trường hợp vi phạm sẽ bị xử lý nghiêm theo quy
định của pháp luật
(Nguồn: Chỉ thị số 03/2009/CT-UBND ngày 29/7/2009 của UBND tỉnh Sóc Trăng)
Ban hành Chỉ thị tăng cường công tác quản lý
tài nguyên nước
YÊN BÁI:
Triển khai một số biện pháp bảo vệ
nguồn nước dưới đất
TRÀ VINH:
SÓC TRĂNG:
Tăng cường công tác quản lý nước dưới đất
Trang 6Trong 6 tháng đầu năm 2009,
Cục Quản lý tài nguyên nước được
giao chủ trì xây dựng 05 văn bản
quy phạm pháp luật là Thông tư sửa
đổi, bổ sung Thông tư số
02/2005/TT-BTNMT hướng dẫn thi
hành Nghị định 149/2004/NĐ-CP về
cấp phép thăm dò, khai thác, sử
dụng tài nguyên nước và xả nước
thải vào nguồn nước và 04 Thông tư
quy định về định mức - kỹ thuật
trong lĩnh vực tài nguyên nước Đến
nay, các văn bản này đều đang
trong quá trình hoàn chỉnh, đảm
bảo đúng tiến độ đã được phê
duyệt Cùng với việc xây dựng 05
văn bản trên, các văn bản quan trọng khác cũng đang được Cục đẩy mạnh thực hiện, như chuẩn bị sửa đổi Luật Tài nguyên nước, xây dựng Chương trình mục tiêu Quốc gia về tài nguyên nước; hoàn chỉnh để sớm ban hành các văn bản hướng dẫn thực hiện Nghị định số 120/2008/NĐ-CP của Chính phủ về Quản lý lưu vực sông và Nghị định
số 112/2008/NĐ-CP của Chính phủ
về quản lý, bảo vệ, khai thác tổng hợp tài nguyên và môi trường các
hồ chứa thủy điện, thủy lợi.
(Nguồn: Cục Quản lý tài nguyên nước)
Chiều ngày 21/8/2009, tại Cục Quản lý tài nguyên nước, thay mặt Bộ Tài nguyên và Môi trường, Thứ trưởng Nguyễn Thái Lai đã công bố và trao quyết định giao ông Hoàng Văn Bẩy - Phó Cục trưởng Cục Quản lý tài nguyên nước nhiệm vụ phụ trách Cục Quản lý tài nguyên nước (Quyết định số 1567/QĐ-BTNMT) Theo đó, ông Hoàng Văn Bẩy giữ nhiệm vụ phụ trách Cục Quản
lý tài nguyên nước kể từ ngày 14/8/2009.
DWRM
B TRNG B TN&MT TÀI NGUYÊN NC
Công bố và trao Quyết định bổ nhiệm
Thứ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường
Ngày 3/8/2009, Bộ Tài nguyên và
Môi trường (TN&MT) đã tổ chức Lễ
trao Quyết định bổ nhiệm ông Nguyễn
Thái Lai, Cục trưởng Cục Quản lý tài
nguyên nước làm Thứ trưởng Bộ
TN&MT
Tham dự buổi Lễ có đại diện các
cơ quan Trung ương, Bộ Nội vụ, Thứ
trưởng Thường trực Nguyễn Văn Đức,
Thứ trưởng Nguyễn Xuân Cường và
lãnh đạo các đơn vị thuộc Bộ
Thừa ủy quyền của Thủ tướng Chính
phủ, Bộ trưởng Bộ TN&MT Phạm Khôi
Nguyên đã trao Quyết định bổ nhiệm và
tặng hoa cho ông Nguyễn Thái Lai
Trước đó, Vụ trưởng Vụ Tổ chức cán bộ
Nguyễn Đức Khiêm công bố Quyết định
của Thủ tướng Chính phủ bổ nhiệm ông
Nguyễn Thái Lai giữ chức Thứ trưởng Bộ
TN&MT
Bộ TN&MT được giao nhiệm vụ quản
lý Nhà nước về lĩnh vực tài nguyên nước
gồm có nhiều đầu mối quan trọng Cùng
với Cục Quản lý tài nguyên nước là
Trung tâm Quy hoạch và Điều tra Tài
nguyên nước, Trung tâm Khí tượng Thủy văn Quốc gia với hàng trăm trạm thủy văn, Tổng cục Biển và Hải đảo Việt Nam, Tổng cục Môi trường, Ủy ban Sông Mê Công và Văn phòng Ủy ban sông Mê Kông, Viện Khí tượng Thủy văn và Môi
trường “Thứ trưởng Nguyễn Thái Lai sẽ
là “Tổng chỉ huy” lĩnh vực Tài nguyên nước trong Bộ TN&MT”- Bộ trưởng nhấn mạnh.
(Nguồn: Bộ Tài nguyên và Môi trường)
Cục Quản lý Tài nguyên nước
cơ bản hoàn thành kế hoạch
6 tháng đầu năm 2009
Trang 7BẢN TIN TÀI NGUYÊN NƯỚC 7
V
Bộ Tài nguyên và Môi trường công bố
Bộ thủ tục hành chính
Ngày 12/8, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã tổ chức Lễ Công bố
Bộ Thủ tục hành chính thuộc các lĩnh vực quản lý tài nguyên và môi trường
Bộ thủ tục này gồm 212 thủ tục hành chính của 6 lĩnh vực quản
lý Nhà nước thuộc Bộ Tài nguyên và Môi trường, trong đó: Lĩnh vực đất đai có 85 thủ tục hành chính (TTHC), lĩnh vực tài nguyên nước có
20 TTHC, lĩnh vực khoáng sản địa chất có 52 TTHC; lĩnh vực môi trường có 52 TTHC; lĩnh vực khí tượng thủy văn và biến đổi khí hậu
có 18 TTHC và lĩnh vực đo đạc bản
đồ có 17 THHC
Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường Phạm Khôi Nguyên cho biết:
“Việc công khai Bộ thủ tục hành chính thuộc phạm vi chức năng quản
lý của Bộ Tài nguyên và Môi trường thể hiện trách nhiệm và sự chung tay của Bộ Tài nguyên và Môi trường với Chính phủ, các Bộ, các ngành và địa phương trong việc thực hiện Đề án
30 (đề án đơn giản hóa thủ tục hành chính trên các lĩnh vực Quản lý nhà nước giai đoạn 2007-2010), góp phần xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia
về thủ tục hành chính ở 4 cấp chính quyền Bên cạnh đó, việc công khai minh bạch các TTHC nhằm đáp ứng nhu cầu và các quyền chính đáng của người dân và doanh nghiệp, đặc biệt là quyền được tiếp cận thông tin về các TTHC góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước, nâng cao tính chuyên nghiệp của đội ngũ công chức và giảm thiểu các chi phí xã hội.
(Nguồn: Bộ Tài Nguyên
và Môi trường)
TTHC được phân cấp thực hiện từ Trung ương tới địa phương, cụ thể như sau: 69 TTHC do Bộ thực hiện, 97 TTHC do UBND cấp tỉnh thực hiện, 35 thủ tục do UBND cấp huyện thực hiện, 5 TTHC do UBND cấp xã thực hiện
và 6 TTHC do Ban quản lý khu công nghệ cao, khu kinh tế thực hiện.
Tháng 7 năm 2009, Cục Quản lý Tài nguyên nước đã
tổ chức Hội thảo lần 2 lấy ý kiến góp ý Dự thảo “Xây dựng
chương trình mục tiêu quốc gia khai thác, sử dụng bền
vững và bảo vệ tài nguyên nước” Thứ trưởng Bộ Tài
nguyên và Môi trường Nguyễn Mạnh Hiển chủ trì Hội
thảo
Tại Hội thảo, các đại biểu đã nghe ông Des Cleary,
Chuyên gia quốc tế, Cố vấn trưởng Dự án trình bày nội
dung và nhiệm vụ của Chương trình mục tiêu quốc gia tài
nguyên nước (NTP) Nội dung của NTP bao gồm 2 hợp
phần chính là “Tăng cường thể chế và cơ cấu tổ chức
quản lý (TNN)” và “Nâng cao nhận thức về tài nguyên
nước quốc gia và khai thác, sử dụng bền vững (TNN)”
Hợp phần 1 tập trung tăng cường cơ sở pháp lý trong
quản lý lưu vực sông và các quyền về nước, tăng cường
năng lực của Việt Nam trong hợp tác với các nước láng
giềng về quản lý (TNN) đối với các sông biên giới, tăng
cường các biện pháp kinh tế trong bảo vệ và khai thác,
sử dụng (TNN), thúc đẩy hoạt động của Hội đồng Quốc
gia về TNN và xây dựng năng lực quản lý tổng hợp TNN
cho các Ủy ban lưu vực sông (LVS) và Văn phòng LVS
Hợp phần 2 sẽ tập trung vào các nội dung về thiết lập hệ
thống thông tin dữ liệu toàn quốc, lập quy hoạch các lưu
vực sông, xác định và thiết lập dòng chảy tối thiểu trên
các sông, xây dựng các quy tắc vận hành liên hồ chứa,
tăng cường giáo dục truyền thông nâng cao nhận thức
cộng đồng trong khai thác, sử dụng bền vững và bảo vệ
(TNN)
Phát biểu tại Hội thảo, Thứ trưởng Nguyễn Mạnh Hiển
chỉ đạo, cùng với mục tiêu tổng quát mà dự thảo Chương
trình mục tiêu quốc gia khai thác, sử dụng bền vững và
bảo vệ (TNN) đã xây dựng, cần lựa chọn các hoạt động
và công việc cụ thể để thực hiện mục tiêu đề ra trên cơ
sở Chiến lược quốc gia về (TNN) và Báo cáo đánh giá
ngành nước Việt Nam (năm 2008) Sau Hội thảo, Ban
soạn thảo cần tiếp tục tổ chức các hội thảo chuyên đề lấy
ý kiến tổng hợp của các Bộ, ngành, tránh tình trạng trùng
lặp.
(Nguồn: Cục Quản lý Tài nguyên nước)
Tiếp tục tập trung
cao độ vào “Xây
dựng chương trình
mục tiêu quốc gia
khai thác, sử dụng
bền vững và bảo vệ
tài nguyên nước”
Trang 8Về phạm vi điều chỉnh: Luật
Tài nguyên nước hiện hành điều chỉnh cả nước biển Tuy nhiên, biển là vấn đề lớn mang tính chiến lược của nước ta Trong Chương trình xây dựng Luật, pháp lệnh của Quốc hội khoá XII nhiệm kỳ 2007 - 2011 có việc xây dựng Luật bảo vệ tài nguyên và môi trường biển Vì vậy phạm vi điều chỉnh của Dự án Luật
sẽ sửa đổi cho phù hợp
Về sở hữu tài nguyên nước: Dự
án Luật cần có sự phân biệt giữa nước trong tự nhiên là tài nguyên thiên nhiên thuộc sở hữu toàn dân như Hiến pháp đã quy định với nước của tổ chức, cá nhân được cấp phép
sử dụng hoặc được sử dụng theo quy định của pháp luật là tài sản của
tổ chức, cá nhân đó, được Nhà nước bảo hộ như đối với mọi tài sản khác
Sự phân biệt này có ý nghĩa rất
quan trọng, là điểm xuất phát cho quan điểm coi nước có giá trị kinh
tế trong mọi sử dụng, và vì vậy nó là một dạng sản phẩm hàng hoá
Về các đối tượng quản lý: Luật Tài nguyên nước hiện hành đề cập chưa đầy đủ hoặc chưa rõ các đối tượng như hồ điều hoà, lòng sông,
bờ sông, bãi bồi ven sông, vùng cửa sông, vùng đất ngập nước Dự án Luật sẽ xem xét đầy đủ các đối tượng này Đặc biệt, cần làm rõ nội dung và trách nhiệm quản lý dòng sông và các yếu tố liên quan đến dòng sông (bờ sông, luồng lạch, bến bãi; các hoạt động vận tải, xây dựng, khai thác khoáng sản ) nhằm bảo đảm tính hệ thống, thống nhất của hệ thống sông
Về điều tra cơ bản, thu thập và chia sẻ dữ liệu, thông tin: Điều tra
cơ bản, thu thập và chia sẻ dữ liệu, thông tin về tài nguyên nước có ý
hững định hướng chính sẽ sửa
Luật Tài nguyên nước ban hành
năm 1998 là một bước tiến quan
trọng trong công tác quản lý tài
nguyên nước Luật đã đặt nền
tảng hành lang pháp lý cho công
tác quản lý tài nguyên nước ở
nước ta Qua hơn 10 năm thi
hành, nhiều quy định của Luật
được triển khai, đem lại những kết
quả tích cực Bên cạnh những mặt
tích cực, Luật Tài nguyên nước
cũng đã bộc lộ nhiều bất cập.
Đáng chú ý là Luật chưa quy định
đầy đủ, toàn diện một số nội dung
rất quan trọng của quản lý tài
nguyên nước, như: quy hoạch tài
nguyên nước; quản lý lưu vực
sông; điều hoà, phân bổ, chia sẻ
nguồn nước; duy trì dòng sông và
bảo vệ hệ sinh thái thuỷ sinh; mối
quan hệ giữa nước mặt và nước
dưới đất; vai trò của các hộ sử
dụng nước, các cộng đồng trong
quản lý tài nguyên nước; xã hội
hoá các dịch vụ về nước; các công
cụ quản lý tài nguyên nước thông
qua thuế, phí
Theo đề nghị của Bộ Tài nguyên
và Môi trường, tại Kỳ họp thứ 5,
Quốc hội khóa XII, Quốc hội đã
thông qua Nghị quyết về Chương
trình xây dựng luật, pháp lệnh
năm 2010 và bổ sung Chương
trình xây dựng Luật, pháp lệnh
của Quốc hội khóa XII nhiệm kỳ
2007-2011 trong đó, Luật Tài
nguyên nước (sửa đổi, bổ sung)
đã được đưa vào Chương trình
chuẩn bị.
Sau đây là một số nội dung cơ
bản sẽ được sửa đổi trong Luật:
N
Trang 9BẢN TIN TÀI NGUYÊN NƯỚC 9
đổi trong Luật Tài nguyên nước
nghĩa rất quan trọng đối với việc quản lý
tài nguyên nước nhưng chưa được đề
cập đúng mức trong Luật hiện hành Đây
cũng là khâu yếu trong thực thi quản lý
tài nguyên nước hiện nay Dự án Luật sẽ
có các quy định cụ thể về điều tra cơ
bản, thu thập và chia sẻ dữ liệu, thông
tin về tài nguyên nước để có căn cứ
pháp lý cho việc tổ chức thực hiện
Về công cụ kinh tế trong quản lý tài
nguyên nước: Để góp phần bảo đảm tài
nguyên nước được sử dụng một cách
công bằng, hợp lý, hiệu quả, hạn chế ô
nhiễm, cạn kiệt, suy thoái nguồn nước,
Dự án Luật sẽ đưa ra các công cụ kinh tế
như đánh giá chi phí nước, so sánh hiệu
quả sử dụng nước giữa các ngành kinh
tế, quy định các chính sách thuế, phí về
nước theo nguyên tắc "sử dụng nước
phải trả tiền, gây ô nhiễm nước phải chi
trả khắc phục, gây thiệt hại đối với nước
phải đền bù"
Về sự phối hợp quản lý tài nguyên
nước và các tài nguyên khác: Dự án Luật
cần đề cập cơ chế phối hợp quản lý tài
nguyên nước với các tài nguyên thiên
nhiên khác, bảo đảm tối đa hoá các lợi
ích kinh tế - xã hội - môi trường trong
việc bảo vệ, khai thác, sử dụng, phát
triển chúng
Về quản lý lưu vực sông: Nước tồn
tại và vận động theo lưu vực sông, vì
vậy, quản lý tài nguyên nước, về cơ bản
là quản lý lưu vực sông Dự án Luật cần
làm rõ các nội dung về quản lý lưu vực
sông, về quy hoạch lưu vực sông và về
tổ chức quản lý, điều phối hoạt động có
liên quan đến tài nguyên nước trong lưu
vực sông, về mối quan hệ giữa quản lý
tài nguyên nước theo lưu vực và quản lý
tài nguyên nước theo địa giới hành
chính
Về bảo vệ tài nguyên nước và hệ
sinh thái thuỷ sinh: Dự án Luật cần có
các quy định cụ thể về duy trì dòng
sông, duy trì dòng chảy tối thiểu, bảo vệ
nước dưới đất, bảo vệ hệ sinh thái thuỷ sinh và ven bờ, bảo vệ các vùng đất ngập nước
Về chia sẻ tài nguyên nước: Một trong những vấn đề quan trọng nhất trong quản lý tài nguyên nước hiện nay
là chia sẻ tài nguyên nước giữa các mục đích và các đối tượng sử dụng Dự án Luật cần có các quy định về chia sẻ tài nguyên nước, bảo đảm công bằng, hợp
lý và hiệu quả trong sử dụng tài nguyên nước, cân bằng lợi ích kinh tế xã hội -môi trường
Về phòng, chống và khắc phục hậu quả tác hại do nước gây ra: Phạm vi đề cập của Dự án Luật sẽ xác định các vấn
đề có tính chất khung đối với các lĩnh vực phòng chống lụt bão, quản lý đê điều Đối với các nội dung về biến đổi khí hậu tác động đến tài nguyên nước, xâm nhập mặn, nước biển dâng, sụt lún đất
do khai thác nước ngầm và các tác hại khác do nước gây ra sẽ có các văn bản
cụ thể
Về nước dưới đất: Luật Tài nguyên nước hiện hành chưa đề cập đúng mức nước dưới đất Dự án Luật cần quy định
rõ về các hoạt động bảo vệ, điều tra, thăm dò, khai thác, sử dụng, bổ sung nước dưới đất; gắn bảo vệ, khai thác, sử dụng, bổ sung nước dưới đất với bảo vệ, khai thác, sử dụng, phát triển tài nguyên nước mặt trong quy hoạch thống nhất
Về xã hội hoá phát triển tài nguyên nước và các dịch vụ về nước: Dự án Luật cần có các quy định khuyến khích các thành phần kinh tế phát triển tài nguyên nước và các dịch vụ về nước (cấp nước, thoát nước, xử lý nước thải, nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ về nước) Mặt khác, cần quy định rõ trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân sở hữu công trình tài nguyên nước hoặc thực hiện các dịch vụ về nước
Về vai trò của các cộng đồng sử dụng nước và các tổ chức xã hội dân sự
trong quản lý, sử dụng nước: Các cộng đồng sử dụng nước, đặc biệt là các cộng đồng sống dựa vào nguồn nước, hệ sinh thái dưới nước và ven bờ, vừa là đối tượng hưởng lợi từ nước, vừa là đối tượng có thể gây tổn thương nguồn nước hoặc bị ảnh hưởng bởi các tác hại
do nước gây ra Tuy nhiên, Luật Tài nguyên nước hiện hành chưa đề cập đến vai trò của các cộng đồng sử dụng nước
và các tổ chức xã hội dân sự trong quản
lý, sử dụng tài nguyên nước Đây là vấn
đề cần được bổ sung trong Dự án Luật
Về chế tài bảo đảm thi hành Luật:
Để quản lý tài nguyên nước một cách hiệu quả, không thể không có các chế tài quản lý đủ mạnh và mang tính khả thi
Dự án Luật cần quy định rõ và cụ thể hơn các hành vi bị nghiêm cấm và chế tài xử lý (trong mức độ có thể đề cập), các quy định bắt buộc trong việc ra các quyết định có liên quan đến tài nguyên nước
Về tổ chức quản lý: Dự án Luật sẽ quy định đầy đủ, rõ ràng quyền và trách nhiệm của cơ quan quản lý Nhà nước về tài nguyên nước (Bộ Tài nguyên và Môi trường); của các Bộ, ngành quản lý khai thác, sử dụng tài nguyên nước và chính quyền địa phương các cấp; mối quan hệ giữa cơ quan quản lý tài nguyên nước với các Bộ, ngành quản lý việc sử dụng tài nguyên nước; mối quan hệ giữa các
cơ quan đó với chính quyền cấp tỉnh; quy định rõ hệ thống tổ chức các cơ quan chuyên môn quản lý tài nguyên nước các cấp địa phương và cơ sở
Về hợp tác quốc tế: Mạng lưới sông quốc tế và sông biên giới ở nước ta có vai trò rất quan trọng và ngày càng đặc biệt quan trọng trong bảo đảm số lượng
và chất lượng nguồn nước quốc gia Vì vậy, hợp tác quốc tế, kể cả việc thực thi các điều ước quốc tế có liên quan đến tài nguyên nước, cần được đề cập đúng mức trong Dự án Luật.
Trang 10Đánh giá và quy hoch phân b nc di đt - giải pháp quan trọng để quản
lý, bảo vệ và khai thác bền vững tài nguyên nước
Theo đánh giá sơ bộ trên cơ sở tài liệu lưu lượng các suối các tháng kiệt, tổng trữ lượng động của nước dưới đất trong cả nước khoảng 2000 m3/s; lớn nhất là khu vực Đông Bắc, chiếm 23,6%; còn nhỏ nhất là khu vực đồng bằng sông Cửu Long, chiếm 2,3%.
Lượng nước dưới đất hằng năm tính bình quân theo đầu người trên cả nước là 746 m3; thấp nhất là các vùng đồng bằng,
ở vùng đồng bằng sông Cửu Long 83,8 m3; cao nhất là vùng Tây Bắc 3780 m3 Xét về lượng nước dưới đất có trên 1 km2thì Việt Nam là nước có nguồn nước dưới đất khá phong phú, tuy nhiên
do mật độ dân số lớn cho nên lượng nước dưới đất trên đầu người lại thuộc loại nhỏ của thế giới Nhìn chung, chất lượng nước dưới đất tốt, đáp ứng nhu cầu ăn uống, sinh hoạt.
TS NG ÌNH PHÚC
NHU CẦU KHAI THÁC NƯỚC NGẦM NGÀY
CÀNG LỚN
Việc khai thác nước để cung cấp cho ăn uống, sinh hoạt và
sản xuất ngày càng phát triển So với khoảng 20 đến 30 năm
trước đây, việc khai thác nước dưới đất để phục vụ ăn uống,
sinh hoạt và sản xuất chỉ có tại các thành phố lớn như Hà Nội,
Hồ Chí Minh, Cà Mau và một số đô thị lớn, thì hiện nay đã có
khoảng 50% nhu cầu nước cho ăn uống sinh hoạt và sản xuất
cho khu đô thị, khu công nghiệp là lấy từ nước dưới đất Lượng
nước khai thác cũng ngày một tăng Theo số liệu thống kê,
lượng nước khai thác tại Hà Nội năm 1978 là 164.000 m3/ngày,
năm 2006 đã lên tới 828.752 m3/ ngày Tại Thành phố Hồ Chí
Minh số liệu khai thác năm 1990 là dưới 100.000 m3/ngày, tới
năm 2006 là khoảng 700.000 m3/ngày
Tại khu vực nông thôn, trước đây vài chục năm nguồn cấp
nước cho sinh hoạt chủ yếu là nước mặt, nước mưa và một
phần từ giếng đào, hiện nay rất nhiều vùng đã khoan giếng để
cấp nước, ước tính sơ bộ có tới gần 2 triệu giếng khoan đường
kính nhỏ đã được khoan, lượng nước dưới đất đáp ứng khoảng
70% nhu cầu cấp nước nông thôn
Khai thác nước dưới đất để tưới chủ yếu diễn ra ở khu vực
Tây Nguyên và miền Đông Nam Bộ, ở đây nước được khai thác chủ yếu là từ thành hệ chứa nước bazan Ngoài ra, một số vùng ven biển như Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên nhân dân cũng khai thác nước dưới đất cho tưới cây trồng cạn và cho chống hạn, một số mới còn tưới lúa Tính toán sơ bộ lượng nước dưới đất được khai thác bằng các công trình nhân tạo như giếng khoan, giếng đào để tưới là khoảng 681 triệu m3/năm, trong đó riêng Tây Nguyên là 510 triệu m3/năm Ngoài khai thác bằng công trình, nhiều vùng núi đã khai thác nước dưới đất từ các mạch lộ để tưới lúa, nhất là ở vùng núi đá vôi Việc khai thác nước ngầm để phục vụ nuôi thủy sản mới chỉ diễn ra hơn chục năm gần đây, chủ yếu là ở vùng ven biển miền Trung để phục
vụ nuôi thủy sản trên cát và một số vùng ven biển đồng bằng Nam Bộ để phục vụ nuôi thủy sản công nghiệp, lượng nước dưới đất được khai thác bao gồm cả nước nhạt và nước lợ Ước tính tới cuối năm 2006, tổng lượng nước khai thác cho tất cả các mục đích là khoảng 5427 triệu m3/năm, bằng 8,57 % trữ lượng động mùa kiệt Tuy nhiên, việc khai thác diễn ra không đều giữa các khu vực và trong các thành hệ chứa nước Khai thác nhiều là đồng bằng Bắc Bộ, Đông Nam Bộ, Tây Nguyên và Tây Nam Bộ Tỷ lệ nước khai thác so với trữ lượng động bằng Bắc Bộ là 29%, Đông Nam Bộ là 17,5% Khu vực đồng bằng Nam Bộ có lượng khai thác không lớn (463 triệu