1. Trang chủ
  2. » Tài Chính - Ngân Hàng

ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC (CẤP CƠ SỞ) Đo lường quy mô khu vực kinh tế chưa được quan sát tại Việt Nam Tiếp cận MIMIC

92 30 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 92
Dung lượng 1,64 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGÂN HÀNG THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC (CẤP CƠ SỞ) TPHCM, THÁNG 05 2021 NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGÂN HÀNG THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC (CẤP CƠ SỞ) ĐO LƯỜNG QUY MÔ KHU VỰC KINH TẾ CHƯA ĐƯỢC QUAN SÁT TẠI VIỆT NAM TIẾP CẬN MIMIC TPHCM, THÁNG 05 2021 i TÓM TẮT ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU Đề tài “Đo lường quy mô khu vực kinh tế chưa được quan sát tại Việt Nam Tiếp cận MIMIC” (Estimating the Non observed Econom.

Trang 1

NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGÂN HÀNG THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC

(CẤP CƠ SỞ)

TPHCM, THÁNG 05 - 2021

Trang 2

NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGÂN HÀNG THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC

(CẤP CƠ SỞ)

ĐO LƯỜNG QUY MÔ KHU VỰC KINH TẾ CHƯA ĐƯỢC

QUAN SÁT TẠI VIỆT NAM: TIẾP CẬN MIMIC

TPHCM, THÁNG 05 - 2021

Trang 3

TÓM TẮT ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU

Đề tài “Đo lường quy mô khu vực kinh tế chưa được quan sát tại Việt Nam: Tiếp cận MIMIC” (Estimating the Non-observed Economic Activities in Vietnam:

A MIMIC Approach) đã tiến hành lược khảo các nghiên cứu trước đó về kinh tế chưa được quan sát, kinh tế ngầm, kinh tế phi chính thức Từ đó, đề xuất cách hiểu thống nhất thuật ngữ “khu vực kinh tế chưa được quan sát” cũng như các thành phần chủ yếu cấu thành nên khu vực này

Ngoài ra, để đo lường quy khu vực kinh tế chưa được quan sát, đề tài đã sử dụng mô hình MIMIC Đây là mô hình đo lường được sử dụng phổ biến trong các nghiên cứu trên thế giới khi đo lường khu vực kinh tế chưa được thống kê chính thức vào tài khoản quốc gia, khó quan sát và lượng hóa cụ thể Kết quả nghiên cứu cho thấy, quy mô khu vực kinh tế chưa được quan sát ở Việt Nam giai đoạn 1995 –

2019 dao động trong khoảng từ 17,8% – 39,2% và có xu hướng tăng trong những năm gần đây Kết quả hồi quy từ mô hình MIMIC còn cho thấy các biến số gánh nặng thuế, thể chế và hệ thống pháp luật, môi trường kinh doanh, tỷ lệ thất nghiệp trong nền kinh tế đều có những tác động nhất định đến khu vực kinh tế chưa được quan sát

Từ kết quả trên, đề tài đã đề xuất hai nhóm giải pháp gồm: nhóm giải pháp nhằm kiểm soát tác động tiêu cực và nhóm giải pháp hỗ trợ cho sự phát triển của khu vực kinh tế chưa được quan sát Theo đó để kiểm soát tác động tiêu cực cần hoàn thiện hệ thống pháp luật, cải cách chính sách thuế, giảm thiểu tỷ lệ sử dụng tiền mặt trong lưu thông Để hỗ trợ cho khu vực này cần có cơ chế, chính sách khuyến khích hỗ trợ các cơ sở kinh doanh cá thể tuân thủ pháp luật; chính sách thuế cần điều chỉnh cho phù hợp với nhóm chủ thể này; hạn chế và kiểm soát tốt tham nhũng; nâng cao nhận thức và hiểu biết của người dân về các hoạt động thuộc NOE

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Nhóm tác giả xin chân thành cảm ơn Viện nghiên cứu khoa học Trường ĐH Ngân hàng TP.HCM, Ban lãnh đạo và các thầy cô Khoa Tài chính, các tác giả của các bài nghiên cứu trước, Tạp chí Kinh tế và Ngân hàng Châu Á đã hỗ trợ, giúp đỡ nhiệt tình để nhóm có thể hoàn thành nội dung đề tài Xin chân thành cảm ơn

Trang 5

LỜI CAM ĐOAN

Đề tài được thực hiện bởi nhóm tác giả trên cơ sở danh mục tài liệu tham khảo

đã được liệt kê trong đề tài, không sao chép từ bất kỳ đề tài nào khác Mọi phát biểu

và nội dung trong đề tài đều là ý kiến của riêng nhóm tác giả, không đại diện cho ý chí của bất kỳ tổ chức hay cá nhân nào Các số liệu và dữ liệu trong đề tài đều được thu thập từ những nguồn đáng tin cậy

Đại diện nhóm nghiên cứu

Trang 6

MỤC LỤC

TÓM TẮT ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU i

LỜI CẢM ƠN ii

LỜI CAM ĐOAN iii

MỤC LỤC iv

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT vii

DANH MỤC BẢNG, HÌNH viii

LỜI MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 2

1.1 Tính cấp thiết của đề tài 2

1.2 Mục tiêu nghiên cứu 4

1.3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 4

1.4 Phương pháp nghiên cứu 4

1.5 Đóng góp của đề tài 5

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 5

CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ KHU VỰC KINH TẾ CHƯA ĐƯỢC QUAN SÁT VÀ CÁC PHƯƠNG PHÁP ĐO LƯỜNG 6

2.1 Khái niệm khu vực kinh tế chưa được quan sát 6

2.1.1 Khái niệm khu vực kinh tế chưa được quan sát ở các nước trên thế giới 6

2.1.2 Khái niệm khu vực kinh tế chưa được quan sát tại Việt Nam 8

2.1.3 Phân biệt khái niệm khu vực kinh tế chưa được quan sát và khu vực kinh tế phi chính thức 9

2.2 Các bộ phận cấu thành khu vực kinh tế chưa được quan sát 11

2.2.1 Hoạt động kinh tế ngầm 14

Trang 7

2.2.2 Hoạt động kinh tế bất hợp pháp 15

2.2.3 Hoạt động kinh tế phi chính thức chưa được quan sát 15

2.2.4 Hoạt động kinh tế tự sản, tự tiêu hộ gia đình 17

2.2.5 Hoạt động kinh tế bị bỏ sót trong các chương trình thu thập dữ liệu thống kê 18

2.3 Tác động của khu vực kinh tế chưa được quan sát 18

2.4 Nguyên nhân dẫn đến hình thành khu vực kinh tế chưa được quan sát 20

2.4.1 Gánh nặng thuế và các khoản đóng góp xã hội 21

2.4.2 Hệ thống các quy định của pháp luật về thị trường lao động 21

2.4.3 Dịch vụ khu vực công 22

2.4.4 Sự suy giảm của nền kinh tế chính thức 23

2.4.5 Tình trạng thất nghiệp 23

2.4.6 Các nguyên nhân khác 24

2.5 Phương pháp luận đo lường quy mô khu vực kinh tế chưa được quan sát 24

2.5.1 Cách tiếp cận trực tiếp 25

2.5.2 Cách tiếp cận gián tiếp 26

2.5.3 Cách tiếp cận sử dụng mô hình 29

2.6 Tổng quan các nghiên cứu trước 30

2.6.1 Nghiên cứu quốc tế 30

2.6.2 Nghiên cứu trong nước 32

2.6.3 Tổng hợp kết quả nghiên cứu về đo lường quy mô khu vực kinh tế chưa được quan sát 35

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 38

CHƯƠNG 3 ỨNG DỤNG MÔ HÌNH MIMIC ĐO LƯỜNG QUY MÔ KHU VỰC KINH TẾ CHƯA ĐƯỢC QUAN SÁT Ở VIỆT NAM 39

Trang 8

3.1 Giới thiệu mô hình 39

3.1.1 Mô hình phương trình cấu trúc 39

3.1.2 Mô hình MIMIC 43

3.2 Dữ liệu và mô hình nghiên cứu đề xuất 45

3.2.1 Biến nguyên nhân 45

3.2.2 Các biến chỉ số (kết quả) 49

3.2.3 Dữ liệu nghiên cứu 50

3.3 Kết quả nghiên cứu 52

3.3.1 Đo lường quy mô NOE Việt Nam giai đoạn 1995 – 2019 52

3.3.2 Phân tích tác động của các biến số trong mô hình nghiên cứu 56

KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 59

CHƯƠNG 4 KẾT LUẬN VÀ HÀM Ý CHÍNH SÁCH 60

4.1 Kết luận 60

4.2 Hàm ý chính sách 61

4.2.1 Nhóm giải pháp nhằm kiểm soát các tác động tiêu cực 61

4.2.2 Nhóm giải pháp hỗ trợ 65

KẾT LUẬN CHƯƠNG 4 67

KẾT LUẬN 68

TÀI LIỆU THAM KHẢO 69

Trang 9

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT TIẾNG VIỆT

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT TIẾNG ANH

Từ viết

ASEAN Association of Southeast Asian Nations Hiệp hội các quốc gia khu vực Đông Nam Á CFA Confirmatory Factor Analysis Phân tích nhân tố khẳng định ESA European System of Accounts Hệ thống tài khoản quốc gia Châu Âu GDP Gross Domestic Product Tổng sản phẩm quốc nội GSO General Statistics Office Tổng cục Thống kê

ILO International Labour Organization Tổ chức Lao động Quốc tế MIMIC multiple-indicator-multiple-cause Nhiều chỉ số, nhiều nguyên nhân NOE Non-Observed Economy Khu vực kinh tế chưa được quan sát OECD Organisation for Economic Co-operation và Development Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế PPP Purchasing Power Parity Sức mua tương đương

SEM Structural Equation Model Mô hình phương trình cấu trúc SEM Structural Equation Modeling Mô hình phương trình cấu trúc SNA System of National Accounts Hệ thống tài khoản quốc gia

WGI Worldwide Governance Indicators Chỉ số quản trị toàn cầu

Trang 10

DANH MỤC BẢNG, HÌNH

DANH MỤC BẢNG

Bảng 2.1: Một số nghiên cứu liên quan về đo lường quy mô NOE 35

Bảng 2.2: Kết quả của các nghiên cứu về đo lường quy mô NOE 36

Bảng 3.1: Thống kê mô tả các biến số trong mô hình nghiên cứu 51

Bảng 3.2: Kết quả hồi quy mô hình MIMIC 52

DANH MỤC HÌNH Hình 2.1: Sơ đồ phân định khu vực KTPCT với NOE trong SNA 2008 11

Hình 2.2: Sơ đồ khu vực kinh tế chưa được quan sát 12

Hình 2.3: Các bộ phận cấu thành khu vực kinh tế chưa được quan sát 13

Hình 3.1: So sánh mô hình truyền thống và mô hình SEM 40

Hình 3.2: cấu trúc mô hình SEM 41

Hình 3.3: Cấu trúc tổng quát mô hình MIMIC 43

Hình 3.4: Mô hình đo lường quy mô NOE 45

Hình 3.5: Quy mô khu vực NOE của Việt Nam giai đoạn 1995 – 2019 (%/GDP) 54

Trang 11

LỜI MỞ ĐẦU

Ngày 01/02/2019, Thủ tướng Chính phủ đã ký quyết định số 146/QĐ-TTg phê duyệt Đề án thống kê khu vực kinh tế chưa được quan sát, đến nay đề án với đầu mối thực hiện là Tổng Cục Thống kê (GSO) đã tiến hành những bước đi đầu tiên trong quá trình định nghĩa các khu vực kinh tế chưa được quan sát (Non-Observed Economy - NOE) và có những tiêu chí xác định cụ thể để có thể từng bước thực hiện công tác thống kê trên cả nước Theo ước tính của OECD1, NOE đóng góp trung bình từ 1% cho đến 20% tổng sản phẩm quốc nội (GDP) của các quốc gia trên thế giới (OECD, 2002), mức đóng góp này khá cao và cho thấy được tầm quan trọng của việc cần thiết thống kê được đầy đủ khu vực này để số liệu thống kê trở nên sát với thực tế hơn, không có khu vực nào bị bỏ sót

Có thể thấy khu vực kinh tế chưa được quan sát đóng vai trò quan trọng đối với các nền kinh tế, nó không chỉ là một động lực giúp duy trì các hoạt động vĩ mô

mà còn góp phần cải thiện tình trạng thất nghiệp, xóa đói giảm nghèo Tuy nhiên, về dài hạn, sự hiện diện của các bộ phận kinh tế chưa được quan sát như kinh tế ngầm, kinh tế phi chính thức, hoạt động kinh tế bất hợp pháp tồn tại nhiều mặt trái như: làm thất thu ngân sách nhà nước, cạnh tranh không công bằng đối với khu vực chính thức, gây bất lợi cho các tổ chức và cá nhân kinh doanh trung thực; không khuyến khích và thúc đẩy tính sáng tạo, đổi mới công nghệ, nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế Vì vậy, việc đo lường quy mô khu vực này là vấn đề rất cần thiết trong bối cảnh nền kinh tế Việt Nam hiện nay

1 Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (Organisation for Economic Co-operation và Development)

Trang 12

CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 1.1 Tính cấp thiết của đề tài

Báo cáo do Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) năm 2016 cho thấy hơn 61% số dân có việc làm của thế giới, tương đương 2 tỷ người, đang làm việc tại khu vực kinh tế chưa được quan sát, trong đó chủ yếu là người dân tại các nền kinh tế mới nổi và đang phát triển (ILO & Tổng Cục Thống Kê, 2016) Ở Đông Nam Á, Việt Nam cũng là một trong những quốc gia có tỷ lệ người lao động làm trong khu vực kinh tế chưa được quan sát cao Theo Medina và Schneider (2019), quy mô nền kinh tế bóng tối của Việt Nam giai đoạn 1991 – 2017 thay đổi theo từng thời điểm, bình quân tương đương 17,8% GDP chính thức (thấp nhất 12,5% vào năm 2017, cao nhất lên đến 21,3% GDP vào năm 1991) và có xu hướng giảm dần từ năm

2007 Đây cũng là nơi làm việc của khoảng 57% lao động tại Việt Nam

Khu vực kinh tế chưa được quan sát tồn tại như một tất yếu khách quan, luôn chịu sự tác động của các quy luật kinh tế, chính sách phát triển kinh tế - xã hội cũng như hiệu lực của hệ thống pháp luật ở mức độ khác nhau, tùy thuộc vào mỗi quốc gia Các công bố quốc tế đã đưa ra không nhất quán trong việc sử dụng thuật ngữ bằng tiếng Anh, dẫn đến có sự nhầm lẫn trong hiểu biết về khu vực này nếu chưa tìm hiểu kỹ, một số thuật ngữ đã được sử dụng như: Khu vực phi chính thức (informal economy), Kinh tế bóng đen hay kinh tế ngầm (shadow economy), Kinh

tế chìm (underground economy), Kinh tế chưa được quan sát (non-observed economy) Mặc dù tên gọi khác nhau nhưng các định nghĩa trên đều phản ánh bản chất hoạt động kinh tế của một khu vực chưa được quan sát và chưa được thống kê đầy đủ bên cạnh khu vực kinh tế chính thức và chúng ta không thể phủ nhận khu vực chưa được quan sát này là một bộ phận rất quan trọng trong nền kinh tế mỗi quốc gia

Khu vực kinh tế chưa được quan sát bắt đầu được quan tâm ở Việt Nam trong khoảng 20 năm gần đây, một số các nghiên cứu của các tác giả có thể kể đến như

Trang 13

như Lê Đăng Doanh và Nguyễn Minh Tú (1997), Phạm Văn Dũng & ctg (2004), Dương Đăng Khoa (2006) Các nghiên cứu đề cập đến một số khu vực không chính thức ở Việt Nam thuộc khu vực kinh tế chưa được quan sát - NOE theo định nghĩa của OECD, đặc biệt là khu vực kinh tế phi chính thức và những vấn đề đặt ra cho các nhà quản lý đối với khu vực này

Những năm gần đây, vấn đề thống kê, quản lý khu vực kinh tế chưa được quan sát bắt đầu được chính phủ cũng như các tổ chức quốc tế quan tâm nhiều hơn, điều này được thể hiện trong các báo cáo của Bộ Tài chính, Tổng Cục Thống Kê và Tổ chức Lao động Quốc tế - ILO như Báo cáo “Kinh tế phi chính thức tại các nước đang phát triển” (Cling, Đỗ, Lagrée, Razafindrakoto, & Roubaud, 2013) và “Báo cáo lao động phi chính thức năm 2016” (ILO & Tổng cục Thống kê, 2016) Các nghiên cứu này chủ yếu tập trung vào hai chủ đề chính: (i) sự phát triển khu vực doanh nghiệp tư nhân nói chung ở Việt Nam; (ii) sự năng động của khu vực chưa được quan sát Điểm chung của các nghiên cứu này là dựa vào khảo sát một bộ phận doanh nghiệp hoạt động trong một số lĩnh vực nhất định tại một số tỉnh thành phố

Mục tiêu của Đề án Thống kê khu vực kinh tế chưa được quan sát nhằm: (i) đánh giá kết quả sản xuất kinh doanh của khu vực kinh tế chưa được quan sát nhằm phản ánh đầy đủ toàn diện hơn phạm vị, quy mô của nền kinh tế; (ii) tiếp tục đổi mới, hoàn thiện chuyên môn nghiệp vụ thống kê nói chung và nghiệp vụ biên soạn tài khoản quốc gia nói riêng, từng bước tiếp cận các chuẩn mực, thông lệ thống kê quốc tế; (iii) góp phần bổ sung hoàn thiện hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách và nâng cao hiệu quả quản lý Nhà nước đối với nền kinh tế

Từ thực tế trên cho thấy việc nghiên cứu nhằm đưa ra các phương pháp, tiêu chí xác định các hoạt động này, đề xuất mô hình đo lường thích hợp đối với khu vực kinh tế chưa được quan sát tại Việt Nam là rất cần thiết Vì vậy, nghiên cứu về nền kinh tế chưa được quan sát của đề tài không chỉ giúp các nhà hoạch định chính sách nhận biết được quy mô, đặc điểm và tính chất hoạt động, mà còn góp phần là

Trang 14

một tài liệu tham khảo làm cơ sở xây dựng các chính sách phát triển kinh tế cũng như chính sách quản lý thuế, chính sách về an sinh xã hội phù hợp

1.2 Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu tổng quát của đề tài là: đo lường quy mô khu vực kinh tế chưa được quan sát tại Việt Nam và đánh giá tác động từ nhóm yếu tố nguyên nhân đến khu vực này, trên

cơ sở đó đưa ra những khuyến nghị và hàm ý chính sách

Để thực hiện được mục tiêu tổng quát, đề tài cần đạt được các mục tiêu cụ thể sau:

- Đo lường quy mô khu vực kinh tế chưa được quan sát tại Việt Nam giai đoạn 1995 – 2019

- Đánh giá tác động của nhóm yếu tố nguyên nhân đến khu vực kinh tế chưa quan sát tại Việt Nam giai đoạn 1995 – 2019

- Khuyến nghị và hàm ý chính sách trong việc quản lý khu vực kinh tế chưa được quan sát

1.3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: là khu vực kinh tế chưa được quan sát tại Việt Nam

- Phạm vi nghiên cứu:

ü Phạm vi về không gian: nền kinh tế Việt Nam

ü Phạm vi về thời gian: giai đoạn 1995 – 2019

1.4 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện các nội dung của đề tài nhằm đạt được các mục tiêu nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu sau đây được sử dụng:

- Tổng hợp tài liệu, dữ liệu thu thập được từ Tổng cục Thống kê, các tổ chức trong nước và quốc tế (đặc biệt là Ngân hàng Thế giới WB, Tổ chức Lao động thế giới ILO, Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế OECD) về Việt Nam nhằm làm rõ khái niệm khu vực kinh tế chưa được quan sát, các thành phần chủ yếu của khu vực

Trang 15

Đề tài có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho các chương trình đào tạo đại học và sau đại học của trường

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Chương 1 đã giới thiệu tổng quan về đề tài nghiên cứu gồm: sự cần thiết, mục tiêu, đối tượng và phương pháp nghiên cứu Ngoài ra, chương 1 còn lược khảo các nghiên cứu trước đã được thực hiện tại một số quốc gia trên thế giới và Việt Nam

Từ đó, chỉ ra sự cần thiết thực hiện đề tài và phương pháp nghiên cứu được áp dụng

để đo lường quy mô NOE tại Việt Nam

Trang 16

CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ KHU VỰC KINH TẾ CHƯA ĐƯỢC QUAN SÁT VÀ CÁC PHƯƠNG PHÁP ĐO

LƯỜNG 2.1 Khái niệm khu vực kinh tế chưa được quan sát

Khu vực kinh tế chưa được quan sát tồn tại như một tất yếu khách quan, luôn luôn chịu sự tác động của các quy luật kinh tế, của chính sách phát triển kinh tế - xã hội cũng như hiệu lực của hệ thống pháp luật ở mức độ khác nhau tùy thuộc vào mỗi nước Khu vực này đã trở thành bộ phận cấu thành của nền kinh tế của tất cả các nước trên thế giới, đặc biệt đối với các nước đang phát triển Cho đến nay đã có nhiều nghiên cứu liên quan đến khu vực kinh tế chưa được quan sát, thế nhưng vẫn chưa có một định nghĩa chung được thống nhất cho lĩnh vực này

Thực tế cho thấy mỗi quốc gia có những đặc điểm kinh tế và hình thái xã hội khác nhau nên tên gọi, cách tiếp cận, cách phân loại, phương pháp đo lường và các cách đánh giá về khu vực này cũng khác nhau Ngay cả tên gọi cũng thấy sự đa dạng và phong phú của nó: Kinh tế phi chính thức (Informal Economy), Kinh tế ngầm (Shadow Economy), Kinh tế bị che giấu (Concealed Economy)…Dù được gọi bằng nhiều cách khác nhau nhưng tất cả thuật ngữ trên đều thể hiện một điểm chung

là phản ánh các hoạt động kinh tế ở một khu vực chưa được thống kê so với khu vực kinh tế chính thức đã được thống kê trên Hệ thống tài khoản quốc gia

2.1.1 Khái niệm khu vực kinh tế chưa được quan sát ở các nước trên thế giới

Thuật ngữ “khu vực kinh tế chưa được quan sát” có nguồn gốc từ mô hình mô

tả các tài khoản xã hội có trong phiên bản thứ tư của Hệ thống Tài khoản Quốc gia năm 1993 (SNA 1993) và SNA 2008 Thực tế cho thấy mỗi quốc gia có những đặc điểm kinh tế và hình thái xã hội khác nhau nên tên gọi, cách tiếp cận, cách phân loại, phương pháp đo lường và các cách đánh giá về khu vực này cũng khác nhau Nhiều thuật ngữ đã được sử dụng để mô tả NOE như sau: kinh tế phi chính thức (informal economy), kinh tế ngầm (shadow economy), kinh tế bị che giấu

Trang 17

(concealed economy) Một số khái niệm tiêu biểu về NOE được đề cập như sau:

- Friedrich Schneider và Enste (2000) đã thảo luận rất nhiều những định nghĩa

về nền kinh tế chưa được quan sát từ các nghiên cứu trước, theo đó, định nghĩa phổ biến được sử dụng về khu vực kinh tế chưa được quan sát là khu vực mà tất cả những hoạt động kinh tế của nó có đóng góp vào tổng sản phẩm quốc dân nhưng chưa được đăng ký Sản xuất hàng hóa dịch vụ của khu vực đó dù hợp pháp hay không hợp pháp đều chưa được phát hiện trong các ước tính chính thức về GDP Tuy nhiên, các định nghĩa này cũng không thể trả lời hết mọi câu hỏi liên quan đến khu vực kinh tế ngầm Hơn thế nữa, định nghĩa còn có thể thay đổi tùy theo phương thức đo lường khu vực này

- Trong nghiên cứu về NOE thuộc các nền kinh tế chuyển đổi của (Eilat & Zinnes, 2002), nó được gọi là những hoạt động giá trị gia tăng mà các số liệu thống

kê chính thức không đăng ký

- Theo OECD (2002) khu vực kinh tế chưa được quan sát bao gồm các hoạt động sản xuất ngầm (hợp pháp nhưng cố tình che giấu để né thuế hoặc bất hợp pháp), phi chính thức (thực thể hợp pháp, nhưng quy mô nhỏ, không đăng ký kinh doanh) hoặc tự cung tự cấp tại hộ gia đình

- Theo Hệ thống tài khoản quốc gia - SNA 2008, khu vực kinh tế chưa được quan sát bao gồm tất cả các hoạt động sản xuất kinh doanh chưa thu thập được thông tin trong các nguồn dữ liệu cơ bản để biên soạn tài khoản quốc gia (EC-IMF-OECD-UN-WB, 2009)

Như vậy, dù được gọi bằng nhiều cách khác nhau nhưng tất cả thuật ngữ trên đều thể hiện một điểm chung của NOE là phản ánh các hoạt động kinh tế ở một khu vực chưa được thống kê so với khu vực kinh tế chính thức đã được thống kê trên Hệ

thống tài khoản quốc gia Kinh tế chưa được quan sát gồm 3 thành tố sau: (i) nền kinh tế phi chính thức (thoát khỏi một phần hoặc hoàn toàn quy định của Nhà nước, đặc biệt ở các nước đang phát triển); (ii) kinh tế ngầm (tránh các quy định của nhà nước nhằm cố ý khai thấp doanh số) và (iii) kinh tế bất hợp pháp (buôn bán các sản

Trang 18

phẩm và dịch vụ bất hợp pháp như ma tuý, mại dâm…) (OECD, 2002)

2.1.2 Khái niệm khu vực kinh tế chưa được quan sát tại Việt Nam

Khu vực kinh tế chưa được quan sát (NOE) bắt đầu được quan tâm ở Việt Nam trong khoảng 20 năm gần đây Nghiên cứu của các tác giả như: Phạm Văn Dũng & ctg (2004), Dương Đăng Khoa (2006) chủ yếu đề cập đến thuật ngữ “kinh

tế phi chính thức” (informal economy) ở Việt Nam và đặt ra một số vấn đề về quản

lý đối với khu vực này Nhiều nghiên cứu tiếp theo đa số cũng đề cập tới các góc độ khác nhau của NOE và kinh tế phi chính thức như: Hồ Đức Hùng (2009), Nguyễn Thái Hòa và Lê Việt An (2017), Đinh Thị Luyện (2018), Nguyễn Công Nghiệp (2019), Phạm Minh Thái (2019), Trần Thị Bích Nhân và Đỗ Thị Minh Hương (2019), Nguyễn Bích Lâm (2019), Nguyễn Văn Đoàn (2019)… Trong các nghiên cứu này, khái niệm kinh tế phi chính thức và kinh tế chưa được quan sát chưa có sự thống nhất cao, nhiều nghiên cứu chưa xác định và phân biệt rõ ràng khu vực kinh

tế phi chính thức và khu vực kinh tế chưa được quan sát, đôi khi có sự đồng nhất giữa hai khái niệm này

Những năm gần đây, vấn đề thống kê, quản lý khu vực kinh tế chưa được quan sát bắt đầu được chính phủ cũng như các tổ chức quốc tế quan tâm nhiều hơn Điều này được thể hiện trong các báo cáo của Bộ Tài chính, Tổng Cục Thống Kê và Tổ chức Lao động Quốc tế - ILO như Báo cáo “Kinh tế phi chính thức tại các nước đang phát triển” (Cling & ctg, 2013) và “Báo cáo lao động phi chính thức năm 2016” (ILO & Tổng cục Thống kê, 2016) Các báo cáo này chủ yếu tập trung vào hai chủ đề chính: (i) sự phát triển khu vực doanh nghiệp tư nhân nói chung ở Việt Nam; (ii) sự năng động của khu vực chưa được quan sát Điểm chung của các báo cáo này là dựa vào khảo sát một bộ phận doanh nghiệp hoạt động trong một số lĩnh vực nhất định tại một số tỉnh, thành phố Tuy nhiên, khái niệm kinh tế phi chính thức và khu vực kinh tế chưa được quan sát vẫn chưa được làm rõ về quy mô, đặc điểm và các thành phần chính

Từ khi Đề án thống kê khu vực NOE tại Việt Nam được triển khai năm 2019,

Trang 19

NOE tại Việt Nam được hiểu thống nhất và phân chia thành 5 nhóm với các hoạt động kinh tế theo đúng bản chất kinh tế của từng nhóm, phù hợp với phương pháp luận của Hệ thống tài khoản quốc gia 2008 đang được nhiều nước vận dụng bao gồm: (i) hoạt động kinh tế ngầm (underground economy); (ii) hoạt động kinh tế bất hợp pháp (illegal economy); (iii) hoạt động kinh tế phi chính thức chưa được quan sát (informal non-observed economy); (iv) hoạt động kinh tế tự sản, tự tiêu của hộ gia đình (household self-production và self-consumption economy); (v) hoạt động kinh tế bị bỏ sót trong các chương trình thu thập dữ liệu thống kê (missed economy) (Tổng cục Thống kê, 2020; OECD, 2002)

Nhìn chung, khu vực kinh tế chưa được quan sát là các đơn vị kinh tế có quy

mô nhỏ, sản xuất, phân phối hàng hoá và dịch vụ do người lao động tự do, người lao động trong gia đình và một số ít người lao động đảm nhận Đặc điểm của khu vực này là dễ xâm nhập, yêu cầu về vốn thấp, sử dụng công nghệ và kỹ năng đơn giản, năng suất lao động thấp

2.1.3 Phân biệt khái niệm khu vực kinh tế chưa được quan sát và khu vực

kinh tế phi chính thức

Khu vực kinh tế phi chính thức là tập hợp các đơn vị sản xuất ra sản phẩm vật chất và dịch vụ với mục tiêu chủ yếu nhằm tạo ra công ăn việc làm và thu nhập cho người lao động Các đơn vị này thường tổ chức theo quy mô nhỏ, được thực hiện bởi các cá nhân, hộ gia đình hoặc nhóm nhỏ người lao động nhưng không đăng ký theo quy định của luật pháp Với quan niệm này, khu vực kinh tế phi chính thức được xem xét với tư cách là một bộ phận cấu thành của nền kinh tế

- Đặc điểm chung của những hoạt động kinh tế trong khu vực này là hợp pháp, không phải đăng ký kinh doanh, quy mô nhỏ (theo doanh thu hoặc lao động), sổ sách kế toán không hoàn chỉnh, chi phí sản xuất thường không phân biệt với chi tiêu của hộ gia đình, các tài sản như nhà cửa, xe cộ thường được sử dụng chung cùng với nhu cầu tiêu dùng của hộ gia đình (Nguyễn Văn Đoàn, 2019)

- Tiêu chí xác định: ILO đưa ra 3 tiêu chí xác định cơ sở sản xuất kinh doanh

Trang 20

thuộc khu vực kinh tế phi chính thức gồm: (i) Quy mô lao động; (ii) Không đăng ký kinh doanh theo các hình thức cụ thể của pháp luật; (iii) Không thực hiện việc đăng

ký cho người lao động (hợp đồng lao động, bảo hiểm, thất nghiệp)

- Phạm vi khu vực kinh tế phi chính thức: Về mặt lý thuyết, các cơ sở kinh doanh thuộc khu vực này hoạt động trong tất cả các ngành Tuy nhiên, phạm vi thống kê khu vực kinh tế phi chính thức phụ thuộc vào điều kiện mỗi quốc gia Nhiều quốc gia trên thế giới đã vận dụng các khuyến nghị của ILO vào điều kiện thực tiễn của mình để xác định tiêu chí, phạm vi khu vực kinh tế phi chính thức theo một hoặc đồng thời cả ba tiêu chí trên

Khái niệm về khu vực kinh tế chưa được quan sát được đề cập trong Hệ thống tài khoản quốc gia (SNA) phiên bản 2008 Khu vực NOE là tất cả các hoạt động sản xuất-kinh doanh không thể thu thập được trong các nguồn dữ liệu cơ bản để biên soạn tài khoản quốc gia, bao gồm hoạt động kinh tế ngầm, hoạt động kinh tế bất hợp pháp, hoạt động kinh tế phi chính thức, hoạt động kinh tế hộ gia đình tự sản tự tiêu, và các hoạt động kinh tế bị bỏ sót trong các chương trình thu thập dữ liệu cơ bản Như vậy, NOE chỉ gồm một phần khu vực KTPCT chưa quan sát được chứ không phải toàn bộ khu vực KTPCT (hình 2.1)

Tóm lại, dù khái niệm về NOE có thể được hiểu chưa đồng nhất ở một số khu vực với các nền kinh tế phát triển khác nhau, nhưng tất cả các khu vực chưa được quan sát này đều có một đặc điểm giống nhau, đó là thực tế có hoạt động nhưng chưa được đăng ký hoặc chưa được thống kê chính thức bởi cơ quan quản lý nhà nước, các khu vực này có góp phần làm tăng tổng giá trị sản phẩm quốc dân, nhưng lại chưa được tính vào tài khoản quốc gia hoặc được thể hiện trong tổng sản phẩm quốc nội Quy mô của NOE ở mỗi quốc gia phụ thuộc vào quy mô, trình độ, mức độ minh bạch của mỗi nền kinh tế, cũng như trình độ quản trị nhà nước và mức độ can thiệp của nhà nước đối với các hoạt động kinh tế xã hội (Nguyễn Văn Phụng, 2019)

Trang 21

Hình 2.1: Sơ đồ phân định khu vực KTPCT với NOE trong SNA 2008

Nguồn: Nguyễn Văn Đoàn (2019)

2.2 Các bộ phận cấu thành khu vực kinh tế chưa được quan sát

Định nghĩa toàn diện nhất về “khu vực kinh tế chưa được quan sát - NOE” từ

Hệ thống tài khoản quốc gia (SNA93) và Hệ thống tài khoản Quốc gia Châu Âu (ESA95) Khung phân tích ISTAT được mô tả trong sổ tay OECD “Đo lường khu vực kinh tế chưa được quan sát” được sử dụng để chỉ ra các thành phần khác nhau của NOE

Nền kinh tế không được quan sát đề cập đến tất cả các hoạt động sản xuất có thể không được ghi lại trong các nguồn dữ liệu cơ bản được sử dụng để tổng hợp tài khoản quốc gia Các hoạt động sau đây bao gồm: ngầm, không chính thức (bao gồm các hoạt động do hộ gia đình thực hiện để sử dụng cuối cùng), bất hợp pháp và các hoạt động khác bị bỏ qua do thiếu sót trong chương trình thu nhập dữ liệu cơ bản

Khu vực kinh tế chưa được quan sát (NOE) Khu vực kinh tế quan sát được

Hoạt động kinh tế tự sản tự tiêu của hộ

gia đình

Hoạt động KT bị bỏ sót do các chương

trình thu thập dữ liệu khiiếm khuyết

Trang 22

NOE bao gồm tất cả các hoạt động sản xuất có thể được phân thành 3 lĩnh vực sau: (1) Sản xuất ngầm (T1, T2, T3, T4, T5)

Trang 23

- Sản xuất phi chính thức (T6) đề cập đến các đơn vị sản xuất thể chế được đặc trưng bởi: (a) trình độ tổ chức thấp (ii) ít hoặc không có sự phân chia giữa công việc

và vốn (c) quan hệ lao động dựa trên mối quan hệ họ hàng hoặc cá nhân, mang tính chất tạm thời (bao gồm hoạt động sản xuất của thợ thủ công, người bán rong không

có giấy phép, công nhân gia đình và người bán buôn nhỏ…), quan hệ không chính thức và không dựa vào các thỏa thuận chính thức với mục tiêu chính là tạo ra việc làm và thu nhập cho những người có liên quan

- Sản xuất bất hợp pháp: các hoạt động sản xuất bị pháp luật cấm hoặc trở thành bất hợp pháp khi được thực hiện bởi những người không có thẩm quyền Các loại hoạt động bất hợp pháp sau đây được xem xét trong kiểm kê: sản xuất/ nhập khẩu/ bán ma tuý; mại dâm, bán hàng ăn cắp và buôn lậu hàng hóa

Tại Việt Nam, Đề án thống kê khu vực kinh tế chưa được quan sát xác định khu vực này bao gồm 5 nhóm như hình 2.3

Hình 2.3: Các bộ phận cấu thành khu vực kinh tế chưa được quan sát

Nguồn: Nguyễn Bích Lâm (2019), OECD (2002)

Từ khi Đề án được triển khai, Tổng cục Thống kê đã tiến hành tham khảo các

Khu vực kinh tế chưa được quan sát

Khu vực kinh tế

ngầm

Khu vực kinh tế bất hợp pháp

Khu vực kinh tế phi chính thức chưa được quan sát

Khu vực tự sản,

tự tiêu của hộ gia đình

Khu vực bị bỏ sót trong các chương trình thu thập dữ liệu thống kê

Trang 24

nguồn thông tin giá trị của các tổ chức quốc tế cũng như từ các chuyên gia trong và ngoài nước, đến đầu năm 2020 đã tiến hành đưa ra khái niệm, tiêu chí xác định, phạm vi, đặc điểm của từng bộ phận trong khu vực NOE nhằm hướng dẫn các địa phương hiểu thống nhất và tiến hành thu thập thông tin chính xác phục vụ cho Đề

án này (Tổng cục Thống kê, 2019, 2020)

2.2.1 Hoạt động kinh tế ngầm

Khái niệm: Hoạt động kinh tế ngầm tồn tại dưới nhiều hình thức khác nhau,

nên tùy thuộc vào đặc điểm của mỗi quốc gia, đặc biệt phụ thuộc vào thể chế và chất lượng thể chế mà có tên gọi khác nhau giữa các quốc gia trên thế giới Thuật ngữ “khu vực kinh tế ngầm” (shadow economy) còn được gọi với nhiều tên gọi thay thế khác như kinh tế bóng ẩn (hidden economy), kinh tế không khai báo (undeclared economy)…và cho tới hiện nay chưa có một định nghĩa nào được thống nhất áp dụng chung cho các quốc gia Theo OECD (2002), hoạt động kinh tế ngầm bao gồm tất cả các hoạt động về nguyên tắc được tính vào tổng sản phẩm nội địa nhưng thực

tế lại không được tính do không được khai báo hoặc cố tình giấu giếm Trong nghiên cứu này, nhóm tác giả sử dụng định nghĩa kinh tế ngầm do Quỹ tiền tệ thế giới (IMF) đưa ra và khuyến khích sử dụng Theo đó, hoạt động kinh tế ngầm là các hoạt động kinh tế bị pháp luật của quốc gia đó coi là phi pháp, các hoạt động kinh tế hợp pháp nhưng không được báo cáo, hoặc được che dấu khỏi sự quản lý của các cơ quan quản lý nhà nước nhằm (i) trốn tránh các nghĩa vụ thuế, (ii) trốn tránh các khoản đóng góp an sinh xã hội, tránh các quy định của pháp luật lao động như lương tối thiểu, giờ làm tối đa, tiêu chuẩn an toàn lao động…(iii) tránh các rắc rối liên quan đến thủ tục hành chính (Nguyễn Bích Lâm, 2019)

Phạm vi: trong tất cả ngành nghề: nông, lâm nghiệp và thuỷ sản, công nghiệp, xây dựng, thương mại dịch vụ và các hoạt động dịch vụ khác như internet

Đặc điểm: khu vực kinh tế ngầm thường là những hoạt động hợp pháp, nhưng

giấu diếm có chủ ý (khai báo thiếu, không khai báo…) để tránh nộp thuế hoặc nộp thuế thấp hơn thực tế; tránh đóng bảo hiểm xã hội; tránh thực hiện các quy định

Trang 25

theo yêu cầu về mức lương tối thiểu, số giờ làm việc, điều kiện sức khỏe, tay nghề, bằng cấp, … của người lao động; tránh các thủ tục pháp lý, hành chính như báo cáo tài chính, báo cáo thống kê hoặc các hoạt động liên quan đến sản xuất - kinh doanh

vi phạm pháp luật chỉ bị xử phạt hành chính, tức là chưa đến mức xử lý hình sự (Nguyễn Bích Lâm, 2019)

- Những người lao động trong khu vực này thường không tiếp cận được mạng lưới an sinh xã hội

- Hình thức đóng thuế của hộ gia đình chủ yếu là thuế khoán

- Thành phần kinh tế ngầm gồm cả hoạt động kinh doanh hợp pháp và phi pháp, giao dịch thường bằng tiền mặt, không có hoá đơn, không ghi vào sổ sách

Các giao dịch này được thực hiện không có sự kiểm soát của nhà nước

2.2.2 Hoạt động kinh tế bất hợp pháp

Khái niệm: Hoạt động kinh tế bất hợp pháp là hoạt động bị pháp luật cấm và

các hoạt động kinh tế hợp pháp nhưng hoạt động khi chưa được cấp phép (Nguyễn

Bích Lâm, 2019)

Phạm vi: trong tất cả ngành nghề: nông, lâm nghiệp và thuỷ sản, công nghiệp, xây dựng, thương mại dịch vụ và các hoạt động dịch vụ bất hợp pháp khác

Đặc điểm: hoạt động kinh tế bất hợp pháp là những hoạt động bị pháp luật

cấm như sản xuất và buôn bán ma túy, hoạt động mại dâm, buôn bán người…; hoạt động kinh doanh có điều kiện nhưng không có giấy phép kinh doanh phù hợp, không tuân thủ các quy định của pháp luật; hoạt động kinh doanh hợp pháp nhưng

do đối tượng không hợp pháp thực hiện; hoạt động liên quan đến sản xuất - kinh doanh vi phạm pháp luật bị xử lý hình sự (Nguyễn Bích Lâm, 2019)

2.2.3 Hoạt động kinh tế phi chính thức chưa được quan sát

Khái niệm: Hoạt động kinh tế phi chính thức chưa được quan sát là bộ phận

kinh tế phi chính thức chưa được thu thập thông tin về kết quả sản xuất - kinh doanh (Nguyễn Bích Lâm, 2019)

Trang 26

- Tại Việt Nam, Tổng cục Thống kê thống nhất khái niệm, khu vực phi chính thức bao gồm các cơ sở sản xuất kinh doanh phi nông, lâm nghiệp và thủy sản, sản xuất ra sản phẩm (vật chất, dịch vụ) để bán, trao đổi và không phải đăng ký kinh

Đặc điểm: quy mô vốn và lao động của hoạt động kinh tế phi chính thức này

không nhỏ; không bắt buộc phải đăng ký kinh doanh; không ký hợp đồng lao động; không có hệ thống sổ sách ghi chép kế toán; không tách biệt tài sản và lao động của

cơ sở sản xuất và sinh hoạt; không có tư cách pháp nhân (Nguyễn Bích Lâm, 2019)

Nó bao gồm những hoạt động do một người thực hiện trong chính nhà của mình (thí dụ sản xuất sợi tại nhà) hoặc trên vỉa hè và những xí nghiệp nhỏ với nhà xưởng hẹp nhưng số lao động tương đối

Tại Việt Nam, cơ sở sản xuất kinh doanh hoạt động trong các ngành kinh doanh có điều kiện2 không thuộc khu vực phi chính thức (Tổng cục Thống kê, 2019) Khu vực phi chính thức tại Việt Nam có đặc điểm: hợp pháp, quy mô nhỏ, không có sổ sách kế toán hoặc có nhưng chưa hoàn chỉnh; không tách riêng chi phí sản xuất với chi phí sinh hoạt; không phân biệt nhà cửa, tài sản cố định khác dùng cho sản xuất và sinh hoạt của hộ gia đình (Tổng cục Thống kê, 2019)

2 Các ngành kinh doanh có điều kiện được quy định tại Phụ lục 4 về Danh mục ngành, nghề kinh doanh có điều kiện ban hành kèm theo Luật số 03/2016/QH14 ngày 22/11/2016 của Quốc hội

Trang 27

2.2.4 Hoạt động kinh tế tự sản, tự tiêu hộ gia đình

Khái niệm: Hoạt động kinh tế tự sản, tự tiêu của hộ gia đình là hoạt động sản

xuất của hộ gia đình tạo ra sản phẩm để tiêu dùng và tích lũy cho chính các thành viên của hộ gia đình đó (Nguyễn Bích Lâm, 2019) Tại Việt Nam, nó được hiểu thống nhất là hoạt động tự sản xuất ra các sản phẩm vật chất, phục vụ cho tiêu dùng cuối cùng hoặc tích lũy của các cá nhân trong hộ và dịch vụ nhà tự có, tự ở (Tổng

- Không bao gồm các hoạt động: (i) Dọn dẹp, trang trí và bảo dưỡng nhà ở của

hộ gia đình do người thuê nhà hoặc người trong hộ gia đình sở hữu nhà cho thuê làm; (ii) Làm sạch, chăm sóc và sửa chữa các đồ dùng lâu bền hoặc các sản phẩm vật chất khác, bao gồm cả xe cộ phục vụ cho chính hộ gia đình đó; (iii) Chuẩn bị bữa ăn; (iv) Chăm sóc, dạy dỗ và giáo dục con cái; (v) Chăm sóc người ốm, người tàn tật hoặc người già là thành viên của hộ gia đình; (vi) Tự vận chuyển các thành viên hoặc tài sản của hộ gia đình

Đặc điểm: hoạt động trong khu vực này là các hoạt động tự sản xuất ra các sản

phẩm của hộ gia đình phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng, tích lũy của các cá nhân trong

hộ, nhưng không bao gồm hoạt động dịch vụ do thành viên trong hộ tự làm phục vụ cho nhu cầu cá nhân của các thành viên hộ như: nấu cơm, giặt quần áo, lau nhà, chăm sóc cây cảnh, vật nuôi cảnh… (Nguyễn Bích Lâm, 2019)

Trang 28

2.2.5 Hoạt động kinh tế bị bỏ sót trong các chương trình thu thập dữ liệu

thống kê

Khái niệm: Hoạt động kinh tế bị bỏ sót trong các chương trình thu thập dữ liệu

thống kê là hoạt động kinh tế lẽ ra phải được thu thập thông tin biên soạn các chỉ tiêu trong Hệ thống tài khoản quốc gia và các chỉ tiêu thống kê khác nhưng bị bỏ sót trong quá trình thu thập các thông tin đó (Nguyễn Bích Lâm, 2019)

Phạm vi: Hoạt động thương mại điện tử, các hoạt động của các hộ gia đình khu vực thành thị tại nhà như trồng rau, nuôi gia súc, gia cầm; các hoạt động ven đường, ven hồ, đất và nhà ở bỏ hoang và những hoạt động kinh tế nhỏ lẻ khác Đặc điểm: hoạt động kinh tế bị bỏ sót trong các chương trình thu thập dữ liệu

thống kê do không lập dàn mẫu, bảng kê hoặc dàn mẫu điều tra bị thiếu do doanh nghiệp/ cơ sở chuyển địa điểm…; không tiếp cận được đối tượng cung cấp thông tin; không điều tra Ngoài ra, còn do đối tượng cung cấp thông tin không cung cấp

do vô tình, không cố ý; do cơ quản quản lý nhà nước chưa quản lý, nhận dạng được

hoạt động… (Nguyễn Bích Lâm, 2019)

2.3 Tác động của khu vực kinh tế chưa được quan sát

Khu vực kinh tế chưa được quan sát là bộ phận cấu thành nền kinh tế của tất

cả các nước trên thế giới; quy mô và tính đa dạng phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế, môi trường pháp lý của mỗi quốc gia Theo Nguyễn Công Nghiệp (2019) khu vực kinh tế phi chính thức có tác động tích cực và tiêu cực

Bàn về tác động tích cực của khu vực chưa được quan sát thì phần lớn các hoạt động kinh tế này tạo ra việc làm và thu nhập, góp phần ổn định xã hội, cụ thể:

- Tạo việc làm đa dạng, phong phú cho người lao động: Nếu xét về quy mô thì

khu vực kinh tế phi chính thức ở nước ta đang thu hút một lực lượng lao động rất lớn, tạo việc làm cho khoảng 18 triệu người, chiếm 57% tổng số việc làm phi nông nghiệp trên cả nước (Nguyễn Công Nghiệp, 2019) Đặc biệt trong giai đoạn hiện nay khi quá trình đô thị hoá, cùng với sự gia tăng dân số nhanh chóng ở các quốc

Trang 29

gia này đã khiến cho nền kinh tế chính thức không có khả năng hấp thụ hết lực lượng lao động, hoặc không kịp tạo ra cơ hội việc làm mới Lúc này, khu vực chưa được quan sát đóng vai trò như một kênh quan trọng để chuyển đổi việc làm từ khu vực nông nghiệp sang công nghiệp và góp phần giải quyết số lao động dư thừa trong nền kinh tế nông thôn khi tốc độ công nghiệp hoá diễn ra ngày càng nhanh hơn Nghiên cứu của (Mara, 2011) chỉ ra rằng, khu vực kinh tế chưa được quan sát đóng vai trò như “chất hấp thụ” trước những cú sốc kinh tế và chính trị của một nền kinh tế chính thức Khi nền kinh tế chính thức đối mặt với suy thoái, thất nghiệp… kéo theo đó là tình trạng phá sản và cần phải có thời gian đủ dài để phục hồi thì lúc này kinh tế chưa được quan sát sẽ là bộ đệm giúp giảm thiểu các tác động từ nền kinh tế chính thức

- Giúp nền kinh tế tồn tại trong giai đoạn suy thoái: Nhiều nghiên cứu chỉ ra

rằng, kinh tế phi chính thức ở một góc độ nào đó cũng tạo ra mạng lưới an toàn cho nền kinh tế, nó hấp thụ những cú sốc của nền kinh tế rất tốt Điều đó giải thích vì sao khu vực này thường phát triển mạnh trong bối cảnh suy thoái hoặc khủng hoảng kinh tế (Trịnh Hữu Chung, 2018)

- Động lực của đổi mới và tăng trưởng: Một số nhà kinh tế đã tập trung nghiên

cứu hoạt động của khu vực kinh tế cá thể quy mô nhỏ, đặc biệt là kinh tế hộ gia đình ở một số nước đang phát triển, từ đó phát hiện ra rằng, chính khu vực này đã sản sinh ra nhiều sáng kiến đổi mới, góp phần thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế và khu vực kinh tế này như một “động lực bị che khuất của đổi mới” và tăng trưởng

Tuy nhiên bên cạnh các tác động tích cực, khu vực kinh tế chưa được quan sát cũng đem lại một số ảnh hưởng tiêu cực, cụ thể:

- Các cơ quan nhà nước thiếu thông tin để điều hành vĩ mô Các hoạt động của khu vực kinh tế phi chính thức không được thống kê vào các chỉ tiêu kinh tế, làm cho các chỉ tiêu này không phản ánh được một cách toàn diện tình hình kinh tế - xã hội của đất nước, từ đó ảnh hưởng đến việc hoạch định và triển khai các chính sách

vĩ mô của Chính phủ

Trang 30

- Làm suy yếu sức cạnh tranh của quốc gia, tạo tâm lý làm ăn chụp giật, nhất thời, không khuyến khích đầu tư dài hạn, không khuyến khích và thúc đẩy tính sáng tạo, không khuyến khích đầu tư dài hạn, đầu tư quy mô lớn, đầu tư phát triển nguồn nhân lực…

- Làm cho doanh nghiệp và sản phẩm giảm năng lực cạnh tranh cả ở tầm quốc gia, khó có thể hội nhập được với các hoạt động thương mại quốc tế Từ đó, xuất hiện nguy cơ đẩy một quốc gia càng tụt hậu xa hơn về kinh tế so với các nước khác,

kể cả các nước trong khu vực (Trịnh Hữu Chung, 2018)

- Tạo ra môi trường kinh doanh không bình đẳng, không đáng tin cậy, bất lợi cho người kinh doanh trung thực, bất lợi cho khu vực chính thức Đồng thời, tạo nên những yếu tố bất ổn, không lường hết rủi ro khi đầu tư

- Thất thu thuế nhà nước: một số hoạt động kinh tế phi chính thức, đặc biệt là hoạt động kinh tế gian lận và bất hợp pháp đã tạo ra các khoản lợi nhuận và thu nhập lớn, nhưng tất cả các khoản thu nhập và lợi nhuận của khu vực này đều không nộp thuế

- Rủi ro cho người lao động: Làm việc trong khu vực kinh tế phi chính thức là việc làm mà người lao động không được pháp luật bảo vệ, không được hưởng các chế độ bảo trợ xã hội và chế độ làm việc khác Lao động phi chính thức thường có việc làm bấp bênh, thời gian làm việc dài, thu nhập không cao, chủ yếu lấy công làm lãi… Họ thường không có hợp đồng lao động và khả năng được đóng bảo hiểm

xã hội rất hạn chế (khoảng 98% lao động phi chính thức không được đóng bảo hiểm

xã hội, mức lương trung bình chỉ bằng 2/3 mức lương của lao động trong khu vực kinh tế chính thức) (Nguyễn Công Nghiệp, 2019)

2.4 Nguyên nhân dẫn đến hình thành khu vực kinh tế chưa được quan sát

Việc hình thành và phát triển của khu vực kinh tế chưa được quan sát do nhiều yếu tố khác nhau gây ra Theo Friedrich Schneider và Enste (2000) các nguyên nhân quan trọng nhất đó là: (i) gánh nặng thuế và các khoản đóng góp an sinh xã hội; (ii)

hệ thống các quy định của pháp luật về thị trường lao động; (iii) dịch vụ khu vực công; (iv) sự suy giảm của nền kinh tế chính thức; (v) tỷ lệ thất nghiệp

Trang 31

2.4.1 Gánh nặng thuế và các khoản đóng góp xã hội

Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng, gánh nặng thuế và các khoản đóng góp an sinh xã hội là nguyên nhân quan trọng dẫn đến sự gia tăng quy mô của nền kinh tế phi chính thức (Friedrich Schneider, Buehn, & Montenegro, 2010; F Schneider & Enste, 2003; Tanzi, 1980) Về mặt lý thuyết, thuế tác động lên quyết định giữa làm việc và nghỉ ngơi của các cá nhân và đồng thời cũng kích thích nguồn cung lao động trong khu vực kinh tế này

Theo F Schneider và Enste (2003), chính sách thuế và phúc lợi xã hội tác động nhiều đến thu nhập trước và sau thuế Càng nhiều khoản đóng góp thì thu nhập thực nhận sau thuế của người lao động sẽ thấp đi và nếu khoản chênh lệch này càng lớn thì động cơ để người lao động tham gia vào nền kinh tế chưa được quán sát càng gia tăng Sự chênh lệch này phụ thuộc rất nhiều vào hệ thống an sinh xã hội

và gánh nặng thuế ở mỗi quốc gia Không chỉ là vấn đề của thuế suất cao mà còn là các khoản chi phí giao dịch liên quan quan đến thủ tục hành chính về thuế, chi phí tuân thủ…tất cả các khoản chi phí chính thức và không chính thức này tạo nên gánh nặng tổng thể của thuế và tất yếu gánh nặng thuế càng cao thì tinh thần đóng thuế càng thấp Cùng với thuế, các khoản xã hội góp phần làm gia tăng chi phí của lao động trong nền kinh tế chính thức, khuyến khích người lao động rút ra khỏi khu vực kinh tế chính thức để tham gia vào các hoạt động của khu vực chưa được quan sát nhằm giảm các gánh nặng chi phí và thuế

2.4.2 Hệ thống các quy định của pháp luật về thị trường lao động

Theo Hirschman (1970) và Friedman, Johnson, Kaufmann, và Zoido-Lobaton (2000) ngoài yếu tố gánh nặng về thuế và các khoản đóng góp xã hội thì sự cứng nhắc và sự rườm rà trong các quy định của hệ thống pháp luật cũng đã đưa người lao động, doanh nghiệp và các tổ chức tìm đến khu vực kinh tế này ngày càng nhiều hơn Một hệ thống chính sách cồng kềnh, hay các qui định, thủ tục quan liêu làm gia tăng các khoản “chi phí giao dịch” cho doanh nghiệp và người lao động trong khu vực chính thức Chẳng hạn như các qui định về giấy phép đăng ký với vô số giấy

Trang 32

phép con, đi kèm với các thủ tục hành chính; quy định về số giờ lao động, độ tuổi nghỉ hưu, chế độ phúc lợi… đã làm giảm đi sự tự do của người lao động, khiến cả doanh nghiệp và người lao động phải gánh chịu những khoản chi phí ngầm ẩn này Đặc biệt trong nền kinh tế chính thức, những khoản chi phí này thường được các doanh nghiệp chuyển sang cho người lao động gánh chịu Do đó, càng cho họ có động cơ để chuyển vào khu vực kinh tế chưa được quan sát để làm việc Theo Friedrich Schneider và Enste (2000), gia tăng số lượng các qui định sẽ làm giảm sự lựa chọn của cá nhân trong nền kinh tế chính thức Số lượng của quy định thường được đo lường bởi số lượng các điều lệ, chứng chỉ, các qui định về thị trường lao động như: luật hạn chế lao động nước ngoài và các rào cản thương mại

Bên cạnh đó, nếu chất lượng thể chế thấp, nạn tham nhũng cao đi cùng với sự thiếu trách nhiệm và minh bạch của chính phủ là động cơ để người dân tham gia vào khu vực kinh tế chưa được quan sát – nơi được xem là an toàn và hiệu quả hơn

so với khu vực chính thức Do đó, Buehn và Schneider (2012), Johnson, Kaufmann,

và Zoido-Lobaton (1998) cho rằng sự phát triển của khu vực phi chính thức được xem là một sự thất bại của hệ thống thể chế trong quá trình thúc đẩy nền kinh tế thị trường hiệu quả

2.4.3 Dịch vụ khu vực công

Tăng trưởng khu vực kinh tế chưa được quan sát có thể dẫn đến giảm thu ngân sách nhà nước, do đó làm giảm chất lượng và số lượng của hàng hóa và dịch vụ công được cung cấp Cuối cùng, điều này có thể dẫn đến việc tăng thuế suất đối với các công ty và cá nhân trong khu vực chính thức, thường kết hợp với sự suy giảm chất lượng của hàng hóa công cộng (chẳng hạn như cơ sở hạ tầng công cộng) và của

cơ quan hành chính, dẫn đến việc tham gia vào nền kinh tế chưa được quan sát Nghiên cứu của Johnson & ctg (1998) cho thấy ở các quốc gia có mức thuế suất thấp hơn, ít các quy định về luật, ít tham nhũng thì quy mô phát triển khu vực kinh

tế chưa được quan sát nhỏ hơn

Việc cung cấp và đặc biệt là chất lượng của các dịch vụ khu vực công cũng là

Trang 33

một biến nhân quả quan trọng đối với quyết định làm việc hay không làm việc của mọi người trong nền kinh tế chưa được quan sát Để xác định chỉ số này, Friedrich Schneider & ctg (2010) sử dụng biến hiệu quả của Chính phủ từ các Chỉ số Quản trị Toàn cầu của Ngân hàng Thế giới Chỉ số này nắm bắt nhận thức về chất lượng của các dịch vụ công, chất lượng của dịch vụ dân sự và mức độ độc lập của nó trước các

áp lực chính trị, chất lượng của việc xây dựng và thực hiện chính sách cũng như độ tin cậy của cam kết của chính phủ đối với các chính sách đó

2.4.4 Sự suy giảm của nền kinh tế chính thức

Ngoài những nguyên nhân chủ quan trên, yếu tố khách quan dẫn đến gia tăng quy mô của khu vực này là xuất phát từ sự suy giảm của nền kinh tế chính thức (Maurin, Sookram, & Kent Watson, 2006; Friedrich Schneider, 2018; F Schneider

& Enste, 2003) Các nghiên cứu chỉ ra rằng, các cuộc khủng hoảng kinh tế diễn ra ở các nước đang phát triển thường sẽ để lại hậu quả là tỷ lệ thất nghiệp cao, lạm phát,

nợ công và nợ xấu gia tăng Các cá nhân hoặc doanh nghiệp trong nhiều trường hợp phải phá sản, mất việc làm Hệ quả tất yếu là họ nhanh chóng khắc phục những tổn thất xảy ra hoặc tìm kiếm việc làm hay thu nhập thay thế… Chính những áp lực kinh tế này sẽ thúc đẩy cá nhân và doanh nghiệp có xu hướng gia nhập vào nền kinh

tế này

Nghiên cứu của Gutiérrez-Romero (2010) cũng chỉ ra sự tồn tại của khu vực này không chỉ bởi sự khác nhau về kỹ năng của người lao động mà còn bởi sự thiếu việc làm trong nền kinh tế chính thức Đối với các quốc gia mới nổi và đang phát triển, xu hướng công nghiệp hóa nhanh chóng cùng với sự tăng trưởng nhanh của dân

số thì nhu cầu về tìm kiếm việc làm ở nền kinh tế chính thức trở nên cạnh tranh gay gắt hơn Trong khi đó khu vực kinh tế chính thức không thể hấp thụ hết tất cả nhu cầu việc làm của người lao động thì khu vực này sẽ là sự lựa chọn thay thế tốt hơn

2.4.5 Tình trạng thất nghiệp

Sự điều tiết quá mức và chi phí lao động trên thị trường lao động chính thức đang là động lực hình thành khu vực kinh tế chưa được quan sát Hai khía cạnh

Trang 34

chính - giảm giờ làm việc chính thức và tỷ lệ thất nghiệp - được thảo luận nhiều trong các nghiên cứu Ở hầu hết các nước OECD, tỷ lệ thất nghiệp ở mức độ lớn là

do tổng chi phí lao động cao Đây cũng có thể được coi là một nguyên nhân dẫn đến

sự gia tăng của nền kinh tế chưa được quan sát

Tình trạng thất nghiệp được đo lường bằng tỷ lệ thất nghiệp Tỷ lệ này được tính trên số người thất nghiệp chia cho quy mô dân số đang hoạt động (người thất nghiệp và người có việc làm) và được biểu thị bằng phần trăm Nhiều nghiên cứu tại các quốc gia khác nhau cho thấy tỷ lệ thất nghiệp càng lớn, càng có nhiều người tìm việc làm ở NOE Ngoài ra, tổn thất thu nhập do thất nghiệp ảnh hưởng đến nhu cầu ở cả nền kinh tế chính thức và không quan sát Cuối cùng, một số hoạt động thuộc NOE thường được thực hiện bởi những người làm việc trong nền kinh tế chính thức, vì vậy tỷ lệ thất nghiệp gia tăng đồng nghĩa với việc ít cơ hội hơn để thực hiện các hoạt động đó

2.4.6 Các nguyên nhân khác

Ngoài những nguyên nhân mang tính chủ quan, các nguyên nhân khách quan như tập quán kinh doanh, thói quen, tiêu dùng, thái độ của công chúng đối với chính quyền, văn hoá tuân thủ luật, đạo đức nộp thuế…đều có những tác động nhất định đến sự hình thành của khu vực này bởi vì những người tự làm chủ, tự kinh doanh với quy mô nhỏ lẻ thường có xu hướng che dấu các khoản thu nhập của mình trước

cơ quan thuế (Finlayson & Peacock, 2002)

2.5 Phương pháp luận đo lường quy mô khu vực kinh tế chưa được quan sát

Khi đề cập đến nền kinh tế chưa được quan sát tức là đang nói đến những hoạt động kinh tế không được khai báo hoặc thậm chí không thể quan sát hết được, do vậy nhiều nhà nghiên cứu cũng thừa nhận rằng việc ước tính quy mô của nền kinh

tế chưa được quan sát chỉ là gián tiếp và về mặt kỹ thuật rất khó chính xác Hiện nay, có 3 cách tiếp cận phổ biến được cộng đồng nghiên cứu sử dụng: (i) cách tiếp cận trực tiếp; (ii) cách tiếp cận gián tiếp và (iii) cách tiếp cận bằng cách sử dụng mô hình (Friedrich Schneider & Enste, 2000; World Bank, 2011)

Trang 35

2.5.1 Cách tiếp cận trực tiếp

Đây là các phương pháp tiếp cận vi mô sử dụng các cuộc khảo sát và mẫu được thiết kế tốt dựa trên các câu trả lời tự nguyện Các cuộc khảo sát mẫu được thiết kế để ước tính nền kinh tế chưa được quan sát được sử dụng rộng rãi ở một số quốc gia như: Na uy (Isachsen, Klovlvà & Strøm, 1982) hoặc Đan Mạch (Mogensen, Kvist, Körmendi, & Pedersen, 1995)

Các cuộc khảo sát đại diện thường được sử dụng để có được một số kiến thức

vi mô về quy mô của nền kinh tế chưa được quan sát và thị trường lao động bóng tối Phương pháp này dựa trên các cuộc khảo sát đại diện được thiết kế để điều tra nhận thức của công chúng sự tham gia thực tế vào các hoạt động nền kinh tế chưa được quan sát và ý kiến về các hoạt động kinh tế chưa được quan sát

Reilly và Krstić (2018) sử dụng khảo sát về thu nhập kinh doanh, tiền lương cá nhân được trả không được báo cáo của các công ty để đo lường quy mô của nền kinh tế chưa được quan sát Phương pháp này tạo ra thông tin chi tiết về cấu trúc của nền kinh tế chưa được quan sát, đặc biệt là trong lĩnh vực dịch vụ và sản xuất Nó dựa trên tiền đề rằng các nhà quản lý công ty có thể biết được mức độ kinh doanh, thu nhập và tiền lương không được báo cáo Họ sử dụng một loạt các tính năng do khảo sát thiết kế để tối đa hóa tính trung thực của các câu trả lời Phương pháp của

họ kết hợp các ước tính về thu nhập doanh nghiệp được báo cáo sai, nhân viên chưa đăng ký và tiền lương không được báo cáo để tính tổng ước tính về quy mô của nền kinh tế bóng tối theo phần trăm GDP Theo quan điểm của họ, cách tiếp cận của họ khác với hầu hết các nghiên cứu khác về nền kinh tế bóng tối, vốn chủ yếu tập trung vào các chỉ số kinh tế vĩ mô hoặc khảo sát về các hộ gia đình

Tóm lại, với các phương pháp tiếp cận trực tiếp, có ưu điểm là thu được những thông tin chi tiết về cấu trúc của khu vực kinh tế chưa được quan sát Tuy nhiên độ chính xác và kết quả từ các loại khảo sát này rất nhạy cảm với cách lập bảng câu hỏi

và thường phụ thuộc vào việc xây dựng bảng câu hỏi và mức sẵn lòng hợp tác của đối tượng được khảo sát Bên cạnh đó, rất khó để đánh giá sự gia tăng của các công việc chưa được khai báo từ một bảng câu hỏi trực tiếp

Trang 36

2.5.2 Cách tiếp cận gián tiếp

Cách tiếp cận gián tiếp (hay dùng chỉ số) là việc sử dụng các chỉ số kinh tế vĩ

mô và chỉ số khác để theo dõi sự phát triển của nền kinh tế chưa được quan sát theo thời gian Cách tiếp cận này có 6 phương pháp được sử dụng: (i) Cách tiếp cận dựa trên sự khác biệt giữa chi tiêu quốc gia và thống kê về thu nhập; (ii) Cách tiếp cận dựa trên sự chênh lệch giữa lực lượng lao động; (iii) Cách tiếp cận theo giao dịch; (iv) Cách tiếp cận cầu về tiền tệ; (v) Phương pháp tiêu dùng điện; (vi) Phương pháp

2.5.2.2 Cách tiếp cận dựa trên sự chênh lệch giữa lực lượng lao động chính thức

và lực lượng lao động thực tế

Một tỷ lệ sụt giảm trong việc tham gia vào lực lượng lao động ở nền kinh tế chính thức có thể được xem như một dấu hiệu cho sự tăng lên của các hoạt động trong nền kinh tế chưa được quan sát Nếu tổng lực lượng lao động được giả định là không đổi thì một sự giảm sút trong tỷ lệ lực lượng lao động chính thức có thể được xem như là một dấu hiệu cho sự gia tăng của khu vực chưa được quan sát, trong điều kiện các yếu tố không đổi Những nghiên cứu như vậy đã được thực hiện ở Italia (Contini, 1981; Del Boca, 1981) và ở Hoa Kỳ (O'Neill, 1983)

Trang 37

Tuy nhiên, điểm yếu của phương pháp này đó là tỷ lệ lực lượng lao động trong nền kinh tế chưa được quan sát sẽ khó được thống kê một cách chính xác bởi một cá nhân có thể vừa làm việc trong nền kinh tế chính thức vừa có việc trong nền kinh tế chưa được quan sát, thậm chí làm rất nhiều việc Do vậy, phương pháp này cũng không đảm bảo được sự tin cậy về quy mô và sự phát triển của khu vực kinh tế chưa được quan sát

2.5.2.3 Cách tiếp cận theo giao dịch

Phương pháp này được phát triển bởi Feige (1979), dựa trên mối quan hệ giữa cầu tiền và khối lượng giao dịch, được phản ánh trong phương trình Fisher:

MV = PT (M: cung tiền; V: vòng quay tiền; P: giá cả và T: tổng số giao dịch) Ông cho rằng có mối quan hệ không đổi qua thời gian giữa MV và PT Do vậy, nếu những ước tính độc lập của MV và PT không bằng nhau thì chênh lệch này được cho là của nền kinh tế chưa được quan sát Nhưng để tính toán ra kích cỡ của nền kinh tế chưa được quan sát còn phải dựa vào các giả định khác đặt ra về vòng quay tiền và một năm cơ sở mà ở đó không tồn tại nền kinh tế chưa được quan sát Phương pháp này được áp dụng ở các nước Hà Lan (Boeschoten & Fase, 1984), và cho Đức (Langfeldt, 1984)

Phương pháp này gặp nhiều chỉ trích khi dựa vào giả định không đúng về mặt thực nghiệm và kết quả ước tính sẽ rất nhạy cảm đối với việc chọn một năm nào đó làm năm cơ sở không có khu vực kinh tế chưa được quan sát Do đó, phương pháp này đặt ra những nghi vấn về độ tin cậy của kết quả ước lượng Nhìn chung, mặc dù cách tiếp cận này hấp dẫn về mặt lý thuyết, nhưng các yêu cầu thực nghiệm cần thiết để có được các ước tính đáng tin cậy rất khó đáp ứng, do đó việc áp dụng nó

có thể dẫn đến các kết quả đáng ngờ

2.5.2.4 Cách tiếp cận cầu về tiền tệ

Phương pháp tiếp cận cầu tiền tệ lần đầu tiên được sử dụng bởi Cagan (1958) người đã tính toán mối tương quan giữa cầu tiền tệ và áp lực thuế (như là một nguyên nhân gây ra nền kinh tế chưa được quan sát) đối với Hoa kỳ trong giai đoạn

Trang 38

1919 đến 1955 Cách tiếp cận của Cagan được phát triển thêm bởi Tanzi (1980), người đã ước tính kinh tế lượng một hàm cầu tiền tệ cho Hoa Kỳ trong giai đoạn

1929 – 1980 để tính toán khu vực kinh tế chưa được quan sát Cách tiếp cận của ông giả định hình thức thanh toán tiền mặt bị ẩn, không thể quan sát được Do đó, sự gia tăng quy mô của khu vực kinh tế chưa được quan sát sẽ làm tăng nhu cầu về tiền tệ Một phương trình cho nhu cầu tiền tệ được ước tính theo thời gian bằng mô hình kinh tế lượng Tất cả các yếu tố như thu nhập, thói quen thanh toán, lãi suất đều được kiểm soát Ngoài ra, các biến số như gánh nặng thuế, quy định của chính phủ…cũng được cho là những yếu tố chính khiến mọi người làm việc trong khu vực này, cũng được đưa vào phương trình ước tính

Có một số vấn đề cố gắng áp dụng các phương pháp tiền tệ cho nền kinh tế của các nước chuyển đổi Các phương pháp này chỉ đơn giản là không được thiết kế để xem xét một số hiện tượng có thể xảy ra trong các điều kiện kinh tế như vậy, ví dụ: siêu lạm phát, và do đó cần phải sửa đổi trước khi chúng có thể được áp dụng cho các nền kinh tế đó Mặc dù vậy, phương pháp tiền tệ vẫn được sử dụng để đánh giá quy

mô của các nền kinh tế không được quan sát trên toàn thế giới cho đến ngày nay

2.5.2.5 Phương pháp tiêu thụ điện

Các phương pháp như phương pháp tiêu thụ điện dựa trên giả định rằng các hoạt động NOE, mặc dù không được khai báo, vẫn phải sử dụng tài nguyên, chẳng hạn như tiêu thụ điện Quy mô của NOE trong phương pháp đó được ước tính bằng cách quan sát mối quan hệ giữa mức tiêu thụ điện và GDP

Tuy nhiên, mối quan hệ này rất có thể bị ảnh hưởng bởi một số yếu tố bên ngoài, chẳng hạn như thời tiết, khí hậu Hầu hết các phương thức tiêu thụ điện, đặc biệt là các phương thức sử dụng điện tiêu thụ tổng hợp, cũng bị ảnh hưởng bởi quá trình chuyển đổi Các phương pháp khác, như cách tiếp cận điện gia dụng, được phát triển bởi Lackó (2000), mặc dù không bị ảnh hưởng nghiêm trọng bởi quá trình chuyển đổi, nhưng có xu hướng có phạm vi hạn chế Ví dụ, cách tiếp cận điện hộ gia đình chỉ giới hạn ở các hoạt động tiêu thụ điện gia đình không đăng ký

Trang 39

2.5.3 Cách tiếp cận sử dụng mô hình

Tiếp cận theo phương pháp sử dụng mô hình định lượng đã được các nhà nghiên cứu trên thế giới sử dụng phổ biến khi đo lường quy mô khu vực kinh tế ngầm, kinh tế phi chính thức hay khu vực kinh tế chưa được quan sát Phương pháp này quan tâm đến các nguyên nhân và ảnh hưởng của khu vực kinh tế được nghiên cứu cùng một lúc Phương pháp này dựa trên mô hình MIMIC (Multiple-Indicators Multiple-Causes) bao gồm hai mô hình (i) mô hình đo lường được sử dụng nhằm liên kết các chỉ số quan sát được với quy mô nền kinh tế không quan sát được và (ii)

mô hình cấu trúc được sử dụng nhằm chỉ ra mối quan hệ nhân quả giữa các chỉ số

thể hiện nguyên nhân gây ra nền kinh tế chưa được quan sát

Trong cách tiếp cận mô hình, MIMIC là mô hình được nhiều tác giả áp dụng Frey và Weck-Hanneman (1984) là những nhà nghiên cứu đã có vai trò quan trọng trong việc phát triển phương pháp MIMIC để ước tính quy mô nền kinh tế phi chính thức ở 17 nước thuộc Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế Phương pháp này sau

đó được các tác giả khác sử dụng như Tedds và Giles (2002) nghiên cứu về kinh tế phi chính thức của Canada; Bajada và Schneider (2005) nghiên cứu cho Australia

và Dell’Anno và Schneider (2003) cho trường hợp của Italia và một số nước nằm trong OECD khác Sau này, mô hình MIMIC trở thành một trong những cách tiếp cận hoàn chỉnh nhất và phổ biến nhất hiện nay trong các nghiên cứu về nền kinh tế phi chính thức

Cấu trúc của mô hình MIMIC gồm 2 phần Phần đầu là nền kinh tế phi chính thức sẽ được liên kết với các chỉ báo quan sát được (các chỉ báo này phản ánh sự thay đổi trong quy mô của nền kinh tế phi chính thức) thông qua mô hình đo lường Phần thứ hai là mô hình phương trình cấu trúc giải thích mối quan hệ giữa nền kinh

tế phi chính thức với các biến nguyên nhân gây tác động lên nó

Mô hình MIMIC chỉ đưa ra một ước tính tương đối về kích cỡ của nền kinh tế phi chính thức thông qua chỉ số Do vậy, để có thể ước tính quy mô cũng như xu hướng của khu vực trên, cần một bước chuyển đổi từ chỉ số MIMIC sang con số

Trang 40

thực tế Dựa trên các nghiên cứu trước đây, cần có cách thiết lập một điểm chuẩn được sử dụng phổ biến để tiến hành quá trình này Theo đó, điểm chuẩn được xác định dựa trên việc lựa chọn giá trị của một năm làm cơ sở cho việc quy đổi thông qua công thức sau:

Trong đó: ηt là quy mô nền kinh tế phi chính thức được chuẩn hóa; !" là chỉ số !MIMIC tại thời điểm # được ước tính theo phương trình hồi quy, !$ là chỉ số "MIMIC tại năm cơ sở được ước tính theo phương trình hồi quy và !$"∗ là quy mô nền kinh tế phi chính thức ở năm cơ sở

Nhìn chung phương pháp này toàn diện hơn các phương pháp khác Tuy nhiên, có một hạn chế lớn khi sử dụng phương pháp này là số lượng dữ liệu phải lớn và có thể không tồn tại phổ biến ở một số quốc gia, đặc biệt các quốc gia đang phát triển hoặc phát triển ở mức độ thấp

2.6 Tổng quan các nghiên cứu trước

2.6.1 Nghiên cứu quốc tế

Medina và Schneider (2019) đã sử dụng phương pháp MIMIC xem xét mối liên hệ giữa các nguyên nhân có thể quan sát được và những tác động của biến số không quan sát được để ước tính quy mô nền kinh tế bóng tối (shadow economy) của 157 quốc gia trong khoảng thời gian từ 1991 đến 2017 Kết quả cho thấy, quy

mô nền kinh tế chưa được quan sát của các nước OECD thấp nhất (dưới 20% GDP chính thức) so với các nước Mỹ Latinh và Châu Phi (trung bình gần 39% GDP) Riêng Việt Nam, quy mô nền kinh tế bóng tối thay đổi theo từng thời điểm, bình quân tương đương 17,8% GDP chính thức (thấp nhất 12,5% vào năm 2017, cao nhất lên đến 21,3% GDP vào năm 1991) và có xu hướng giảm dần từ năm 2007 Medina và Schneider (2019) đã sử dụng phương pháp tiếp cận gián tiếp qua đo lường mức độ tiêu thụ điện để làm đại diện cho quy mô nền kinh tế của các quốc gia

Ngày đăng: 29/04/2022, 23:33

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đỗ Tất Cường. (2019). Tác động của kinh tế phi chính thức đến tăng trưởng kinh tế. Tạp chí Tài chính, ISSN: 2615 - 8973, Kỳ 1(710)(Tháng 08/2019), 12-15 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp "chí Tài chính
Tác giả: Đỗ Tất Cường
Năm: 2019
2. Trịnh Đức Chiều. (2019). Thực trạng hoạt động của hộ kinh doanh ở Việt Nam. Tạp chí Tài chính, ISSN: 2615 - 8973 (Tháng 02/2019) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí "Tài chính
Tác giả: Trịnh Đức Chiều
Năm: 2019
3. Trịnh Hữu Chung. (2018). Đo lường quy mô kinh tế ngầm ở các quốc gia Đông Nam Á. Tạp chí Tài chính, ISSN: 2615 – 8973, Kỳ 1 (690)(Tháng 10/2018), 51-54 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Tài chính
Tác giả: Trịnh Hữu Chung
Năm: 2018
4. Cling, J.-P., Đỗ, H. N., Lagrée, S., Razafindrakoto, M., & Roubaud, F. (2013). Kinh tế phi chính thức tại các nước đang phát triển: NXB Tri Thức, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế phi "chính thức tại các nước đang phát triển
Tác giả: Cling, J.-P., Đỗ, H. N., Lagrée, S., Razafindrakoto, M., & Roubaud, F
Nhà XB: NXB Tri Thức
Năm: 2013
5. Lê Đăng Doanh. (2012). Một số vấn đề kinh tế phi chính thức ở Việt Nam. Paper presented at the Tọa đàm: Khu vực kinh tế phi chính thức - Thực trạng ở Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề kinh tế phi chính thức ở Việt Nam
Tác giả: Lê Đăng Doanh
Năm: 2012
7. Phạm Văn Dũng, Phan Huy Đường, Lê Danh Tốn, Vũ Thị Dậu, Nguyễn Hữu Sở, Mai Thị Thanh Xuân, . . . Trần Quang Tuyến. (2004). Khu vực kinh tế phi chính thức: Thực trạng và Những vấn đề đặt ra với công tác quản lý. NXB Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khu vực kinh tế phi chính thức: Thực trạng và Những "vấn đề đặt ra với công tác quản lý
Tác giả: Phạm Văn Dũng, Phan Huy Đường, Lê Danh Tốn, Vũ Thị Dậu, Nguyễn Hữu Sở, Mai Thị Thanh Xuân, . . . Trần Quang Tuyến
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2004
8. Phạm Thị Bích Duyên, & Nguyễn Thái Hòa. (2020). Kinh tế phi chính thức: quy mô và những hàm ý về tiềm năng thuế. Nghiên cứu Kinh tế, ISSN: 0866 – 7489, Số 1(500)(Tháng 01/2020) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu Kinh tế
Tác giả: Phạm Thị Bích Duyên, & Nguyễn Thái Hòa
Năm: 2020
9. Nguyễn Văn Đoàn. (2019). Thực trạng kinh tế phi chính thức ở Việt Nam và những khuyến nghị chính sách. Tạp chí Kinh doanh và Công nghệ, ISSN: 2615 – 9414, Số 02/2019 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Kinh doanh và Công nghệ
Tác giả: Nguyễn Văn Đoàn
Năm: 2019
10. Hoàng Hà. (2019). Bằng chứng thực nghiệm về mối liên hệ giữa quy mô của nền kinh tế ngầm và sự mở cửa thương mại. Tạp chí Khoa học và Công nghệ Đại học Duy Tân, ISSN: 1859- 4905, 02(33)(2019), 50-57 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Khoa học và Công nghệ Đại học Duy Tân
Tác giả: Hoàng Hà. (2019). Bằng chứng thực nghiệm về mối liên hệ giữa quy mô của nền kinh tế ngầm và sự mở cửa thương mại. Tạp chí Khoa học và Công nghệ Đại học Duy Tân, ISSN: 1859- 4905, 02(33)
Năm: 2019
11. Nguyễn Minh Hà, & Vũ Hữu Thành. (2020). Giáo trình Phân tích dữ liệu: Áp dụng mô hình PLS – SEM: NXB Kinh tế TP. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Phân tích dữ liệu: Áp dụng mô "hình PLS – SEM
Tác giả: Nguyễn Minh Hà, & Vũ Hữu Thành
Nhà XB: NXB Kinh tế TP. Hồ Chí Minh
Năm: 2020
13. Hồ Đức Hùng. (2009). Hoạt động của khu vực kinh tế phi chính thức và môi trường kinh doanh ở Việt Nam. Tạp chí Phát triển kinh tế, ISSN 1859 – 1124 (Tháng 4/2009) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Phát triển kinh tế
Tác giả: Hồ Đức Hùng
Năm: 2009
14. Hồ Đức Hùng, Nguyễn Duy Tâm, & Mai Thị Nghĩa. (2012). Từ việc làm trong khu vực kinh tế phi chính thức đến việc làm phi chính thức ở Việt Nam. Tạp chí Phát triển và Hội nhập, ISSN 1859 – 428X, Số 03 (13)(Tháng 3-4/2012), 65-70 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Phát triển và Hội nhập
Tác giả: Hồ Đức Hùng, Nguyễn Duy Tâm, & Mai Thị Nghĩa
Năm: 2012
15. Nguyễn Vinh Hưng. (2021). Quản lý loại hình “kinh tế ngầm” tại Việt Nam hiện nay. Tạp chí Quản lý nhà nước, ISSN: 2354 – 0761 Sách, tạp chí
Tiêu đề: kinh tế ngầm” tại Việt Nam hiện nay. "Tạp "chí Quản lý nhà nước
Tác giả: Nguyễn Vinh Hưng
Năm: 2021
16. Dương Đăng Khoa. (2006). Hoạt động của khu vực kinh tế không chính thức ở Việt Nam: Các hình thái và tác động. Tạp chí Phát triển kinh tế, ISSN 1859 – 1124, Số 189 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Phát triển kinh tế
Tác giả: Dương Đăng Khoa
Năm: 2006
17. Nguyễn Bích Lâm. (2019). Tổng quan về Khu vực kinh tế chưa được quan sát: Kinh nghiệm quốc tế và thực trạng của Việt Nam. Tạp chí Kinh doanh và Công nghệ, ISSN: 2615 – 9414, (Số 02/2019) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Kinh doanh và Công nghệ
Tác giả: Nguyễn Bích Lâm
Năm: 2019
73. Phạm Đức Kỳ. (2016, 14/03/2016). Cơ sở lý thuyết của mô hình mạng (SEM). Địa chỉ: https://phantichspss.com/co-so-ly-thuyet-cua-mo-hinh-mang-sem-phan-2.html [truy cập ngày 01/05/2021] Link
75. Trần Thị Bích Nhân, & Đỗ Thị Minh Hương. (2019, 15/04/2019). Kinh tế phi chính thức ở Việt Nam: thực trạng và giải pháp. Địa chỉ: https://tapchitaichinh.vn/tai-chinh-kinh-doanh/kinh-te-phi-chinh-thuc-o-viet-nam-thuc-trang-va-giai-phap-305487.html [truy cập ngày 01/05/2021] Link
76. Phạm Minh Thái. (2019, 07/02/2019). Hộ kinh doanh và khu vực kinh tế phi chính thức đối với tăng trưởng bao trùm ở Việt Nam. Địa chỉ: https://tapchitaichinh.vn/tai-chinh-kinh-doanh/ho-kinh-doanh-va-khu-vuc-kinh-te-phi-chinh-thuc-doi-voi-tang-truong-bao-trum-o-viet-nam- Link
80. tuoitre.vn. (2018, 18/01/2018). 'Soi' kinh tế ngầm quy mô 60 tỉ đô ở Việt Nam. Địa chỉ: https://tuoitre.vn/soi-kinh-te-ngam-quy-mo-60-ti-do-o-viet-nam-20180118080607092.htm [truy cập ngày 01/05/2021] Link
81. Heritage Foundation. (2021). 2021 Index of Economic Freedom. Địa chỉ: https://www.heritage.org/index/download [truy cập ngày 01/05/2021] Link

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 2.1: Sơ đồ phân định khu vực KTPCT với NOE trong SNA 2008 - ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC (CẤP CƠ SỞ) Đo lường quy mô khu vực kinh tế chưa được quan sát tại Việt Nam Tiếp cận MIMIC
Hình 2.1 Sơ đồ phân định khu vực KTPCT với NOE trong SNA 2008 (Trang 21)
Hình 2.2: Sơ đồ khu vực kinh tế chưa được quan sát - ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC (CẤP CƠ SỞ) Đo lường quy mô khu vực kinh tế chưa được quan sát tại Việt Nam Tiếp cận MIMIC
Hình 2.2 Sơ đồ khu vực kinh tế chưa được quan sát (Trang 22)
Hình 2.3: Các bộ phận cấu thành khu vực kinh tế chưa được quan sát - ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC (CẤP CƠ SỞ) Đo lường quy mô khu vực kinh tế chưa được quan sát tại Việt Nam Tiếp cận MIMIC
Hình 2.3 Các bộ phận cấu thành khu vực kinh tế chưa được quan sát (Trang 23)
Bài báo sử dụng mô hình MIMIC dựa  vào  các  nguyên  nhân  quan  sát  được để ước tính quy mô nền kinh tế  phi  chính  thức  tại  Việt  Nam,  từ  đó  ước  lượng  số  thu  thuế  bị  thất  thoát - ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC (CẤP CƠ SỞ) Đo lường quy mô khu vực kinh tế chưa được quan sát tại Việt Nam Tiếp cận MIMIC
i báo sử dụng mô hình MIMIC dựa vào các nguyên nhân quan sát được để ước tính quy mô nền kinh tế phi chính thức tại Việt Nam, từ đó ước lượng số thu thuế bị thất thoát (Trang 45)
Từ nội dung tổng hợp của bảng 2.1, kết quả nghiên cứu được thể hiện ở bảng 2.2  sẽ  cho  thấy  bức  tranh  khái  quát  về  nghiên  cứu  quy  mô  khu  vực  kinh  tế  chưa  được quan sát qua các năm - ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC (CẤP CƠ SỞ) Đo lường quy mô khu vực kinh tế chưa được quan sát tại Việt Nam Tiếp cận MIMIC
n ội dung tổng hợp của bảng 2.1, kết quả nghiên cứu được thể hiện ở bảng 2.2 sẽ cho thấy bức tranh khái quát về nghiên cứu quy mô khu vực kinh tế chưa được quan sát qua các năm (Trang 46)
Bảng 2.2: Kết quả của các nghiên cứu về đo lường quy mô NOE - ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC (CẤP CƠ SỞ) Đo lường quy mô khu vực kinh tế chưa được quan sát tại Việt Nam Tiếp cận MIMIC
Bảng 2.2 Kết quả của các nghiên cứu về đo lường quy mô NOE (Trang 46)
Các phần tử trong mô hình mạng (SEM) - ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC (CẤP CƠ SỞ) Đo lường quy mô khu vực kinh tế chưa được quan sát tại Việt Nam Tiếp cận MIMIC
c phần tử trong mô hình mạng (SEM) (Trang 50)
- Trong mô hình đo lường của SEM (hình 3.2), mỗi biến nội sinh có một số hạng sai số (ei) hay nhiễu (di), nó thể hiện tính không chắc chắn và không chính xác  của sự đo lường, đồng thời nó còn thể hiện tính chất này cho cả các biến chưa được  phát hiện và - ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC (CẤP CƠ SỞ) Đo lường quy mô khu vực kinh tế chưa được quan sát tại Việt Nam Tiếp cận MIMIC
rong mô hình đo lường của SEM (hình 3.2), mỗi biến nội sinh có một số hạng sai số (ei) hay nhiễu (di), nó thể hiện tính không chắc chắn và không chính xác của sự đo lường, đồng thời nó còn thể hiện tính chất này cho cả các biến chưa được phát hiện và (Trang 51)
3.1.2. Mô hình MIMIC - ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC (CẤP CƠ SỞ) Đo lường quy mô khu vực kinh tế chưa được quan sát tại Việt Nam Tiếp cận MIMIC
3.1.2. Mô hình MIMIC (Trang 53)
3.2. Dữ liệu và mô hình nghiên cứu đề xuất - ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC (CẤP CƠ SỞ) Đo lường quy mô khu vực kinh tế chưa được quan sát tại Việt Nam Tiếp cận MIMIC
3.2. Dữ liệu và mô hình nghiên cứu đề xuất (Trang 55)
Bảng 3.1: Thống kê mô tả các biến số trong mô hình nghiên cứu - ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC (CẤP CƠ SỞ) Đo lường quy mô khu vực kinh tế chưa được quan sát tại Việt Nam Tiếp cận MIMIC
Bảng 3.1 Thống kê mô tả các biến số trong mô hình nghiên cứu (Trang 61)
Kết quả hồi quy mô hình MIMIC được thể hiện ở bảng 3.2 như sau: - ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC (CẤP CƠ SỞ) Đo lường quy mô khu vực kinh tế chưa được quan sát tại Việt Nam Tiếp cận MIMIC
t quả hồi quy mô hình MIMIC được thể hiện ở bảng 3.2 như sau: (Trang 62)
Hình 3.5: Quy mô khu vực NOE của Việt Nam giai đoạn 1995 – 2019 (%/GDP) - ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC (CẤP CƠ SỞ) Đo lường quy mô khu vực kinh tế chưa được quan sát tại Việt Nam Tiếp cận MIMIC
Hình 3.5 Quy mô khu vực NOE của Việt Nam giai đoạn 1995 – 2019 (%/GDP) (Trang 64)
Hình 3.6: Quy mô khu vực NOE của Việt Nam so với các nước trong khu vực châu Á giai đoạn 1995 – 2019 (%/GDP) - ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC (CẤP CƠ SỞ) Đo lường quy mô khu vực kinh tế chưa được quan sát tại Việt Nam Tiếp cận MIMIC
Hình 3.6 Quy mô khu vực NOE của Việt Nam so với các nước trong khu vực châu Á giai đoạn 1995 – 2019 (%/GDP) (Trang 65)
Bên cạnh đó, từ hình 3.7 cho thấy trong các chỉ tiêu về thể chế và hệ thống pháp luật của Việt Nam chỉ có chỉ tiêu ổn định chính trị là ở mức khá tốt, còn lại  đều ở mức dưới 0 - ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC (CẤP CƠ SỞ) Đo lường quy mô khu vực kinh tế chưa được quan sát tại Việt Nam Tiếp cận MIMIC
n cạnh đó, từ hình 3.7 cho thấy trong các chỉ tiêu về thể chế và hệ thống pháp luật của Việt Nam chỉ có chỉ tiêu ổn định chính trị là ở mức khá tốt, còn lại đều ở mức dưới 0 (Trang 67)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w