1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

ThS._Dao_Sỹ_Hung_BAN_VE_CAC_DU_THAO_AN_LE_DAN_SU_CUA_TOA_AN_NHAN_DAN_TOI_CAO_VA_MOT_SO_KIEN_NGHI,_DE_XUAT_(7.2020)_1608711195029

7 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 263,85 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Microsoft Word ThS Đào Sỹ Hùng BÀN VỀ CÁC DỰ THẢO ÁN LỆ DÂN SỰ CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ, ĐỀ XUẤT (7 2020) docx 1 BÀN VỀ CÁC DỰ THẢO ÁN LỆ DÂN SỰ CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO VÀ M[.]

Trang 1

BÀN VỀ CÁC DỰ THẢO ÁN LỆ DÂN SỰ CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỐI CAO VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ, ĐỀ XUẤT (7/2020)

ThS Đào Sỹ Hùng, Phó Chánh án Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội

Sự cần thiết phải có án lệ

Qua thực tiễn xét xử, trong đời sống xã hội phát sinh nhiều quan hệ pháp luật tranh chấp mà Tòa án phải giải quyết Có những tranh chấp đã được các quy định pháp luật điều chỉnh Tuy nhiên đã phát sinh một số tranh chấp mà quy định của pháp luật về những tranh chấp này chưa cụ thể, chưa rõ ràng, có nhiều cách hiểu khác nhau Thậm chí theo quy định tại khoản 2 Điều 4 Bộ luật Tố tụng dân

sự năm 2015 thì “Tòa án không được từ chối giải quyết vụ việc dân sự vì lý do chưa có điều luật áp dụng” Do vậy, Hội đồng Thẩm phán TANDTC ban hành

Nghị quyết số 04/2019/NQ-HĐTP về việc lựa chọn các bản án có hiệu lực pháp

luật để phát triển án lệ đáp ứng tiêu chí: Có giá trị làm rõ quy định của pháp luật còn có cách hiểu khác nhau, phân tích, giải thích các vấn đề, sự kiện pháp lý

và chỉ ra nguyên tắc, đường lối xử lý, quy phạm pháp luật cần áp dụng trong một vụ việc cụ thể hoặc thể hiện lẽ công bằng đối với những vấn đề chưa có điều luật quy định cụ thể, nhằm giải quyết những khó khăn, vướng mắc trong

việc giải quyết các tranh chấp mà pháp luật chưa quy định cụ thể, có nhiều cách hiểu khác nhau hoặc chưa có quy phạm pháp luật điều chỉnh

I GÓP Ý ĐỐI VỚI DỰ THẢO ÁN LỆ SỐ 02

Về vụ án “Tranh chấp đòi bồi thường thiệt hại do hợp đồng mua bán nhà ở

vô hiệu” tại tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu

Về nội dung dự thảo án lệ

Vợ chồng S nợ tiền vợ chồng bà N Hai bên thỏa thuận vợ chồng S gán cho

vợ chồng bà N 150m2 đất, được TAND huyện Xuyên Mộc quyết định công nhận

sự thỏa thuận Vợ chồng N đã nhận được đất, sau đó bán thửa đất được gán nợ cho vợ chồng Y Tuy nhiên, sau khi việc mua bán đã hoàn thành thì Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự (về việc gán tài sản) bị hủy do vi phạm thủ tục tố tụng

Bản án dân sự sơ thẩm số 01/DS-ST ngày 23-3-2004, Tòa án Bà Rịa - Vùng Tàu đã xét xử sơ thẩm lại vụ án; theo đó, buộc vợ chồng ông S giao nhà đất cho

vợ chồng N để đối trừ số tiền nợ và công nhận hợp đồng chuyển nhượng nhà đất giữa bà N với vợ chồng Y Vợ chồng ông S kháng cáo

Bản án dân sự phúc thẩm số 205/DS-PT ngày 17-6-2004, Tòa Phúc thẩm TANDTC tại Thành phố Hồ Chí Minh đã xử: Buộc vợ chồng S trả nợ cho vợ chồng N; hủy hợp đồng chuyển nhượng nhà đất giữa vợ chồng bà N với vợ chồng

Trang 2

Y và buộc vợ chồng Y giao nhà đất cho vợ chồng S; dành quyền khởi kiện về yêu cầu đòi bồi thường thiệt hại do việc mua bán vô hiệu cho vợ chồng Y

Sau khi vợ chồng S nhận lại nhà đất, ngày 21-9-2005 đã bán cho bà Lê Thị

B Cuối năm 2005, bà B lại bán cho vợ chồng ông Hồ Văn T1; Ông T1 đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 2011

Nay vợ chồng Y khởi kiện: Yêu cầu vợ chồng N, vợ chồng S và Tòa án đã ban hành Quyết định công nhận đã bị hủy phải bồi thường hợp đồng vô hiệu

Thông điệp mà nội dung án lệ đặt ra:

1/ Thỏa thuận giữa hai bên về quyền, nghĩa vụ tài sản được xác định là hợp

đồng Nếu có tranh chấp pháp sinh phải giải quyết theo pháp luật về hợp đồng

Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự đã bị hủy, không có hiệu lực pháp luật; không còn giá trị thi hành nhưng sự kiện thỏa thuận là có thật nên

các bên vẫn có nghĩa vụ chịu trách nhiệm về giao dịch đã tham gia

2/ Trách nhiệm dân sự phải được xác định từ giao dịch cụ thể mà mỗi chủ thể tham gia Bản án dân sự phúc thẩm số 326/2013/DS-PT ngày 16-10-2013 của Tòa Phúc thẩm TANDTC tại Thành phố Hồ Chí Minh buộc ông S, bà L1 bồi

thường thiệt hại cho vợ chồng bà Y do hợp đồng mua bán nhà bị hủy (theo Bản

án dân sự phúc thẩm số 205/DS-PT) là không có cơ sở pháp lý chính xác vì vợ

chồng ông S không giao dịch với vợ chồng bà Y Trong hợp đồng mua bán nhà ngày 03-12-2001, bên bán là vợ chồng bà N, bên mua là vợ chồng bà Y Chỉ có các chủ thể tham gia vào hợp đồng này mới phát sinh nghĩa vụ thanh toán bồi thường do hợp đồng bị hủy hoặc tuyên là vô hiệu

3/ Tòa án cấp sơ thẩm đã định giá tài sản (biên bản định giá tài sản ngày 21-3-2013) nhưng khi giải quyết vụ án, Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc

thẩm lại không lấy giá này mà lấy giá bán nhà từ thời điểm năm 2005 là không chính xác; không đảm bảo quyền lợi hợp pháp của các bên đương sự

4/ Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm xác định ông H1 - Chánh

án TAND huyện Xuyên Mộc là đương sự trong vụ án là không đúng Ông H1 không phải là người tham gia vào các giao dịch dân sự nên không phải là người

có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án dân sự

Ý kiến của TAND TP Hà Nội: Khi giải quyết vụ án trên, Thẩm phán cần

phải nghiên cứu các quy định pháp luật để giải quyết thống nhất các vấn đề:

1/ Việc vợ chồng N gán nhà nhà đất để trả nợ cho vợ chồng S là hợp đồng

(thực chất là thay thế nghĩa vụ theo quy định tại Điều 296 BLDS 2005; Điều 286 BLDS 2015), phải giải quyết theo pháp luật về hợp đồng Quyết định công nhận

sự thỏa thuận của các đương sự đã bị hủy, nhưng các bên vẫn có nghĩa vụ chịu trách nhiệm về giao dịch đã tham gia

2/ Vợ chồng ông S không giao dịch với vợ chồng bà Y; không có căn cứ buộc vợ chồng ông S bồi thường thiệt hại cho vợ chồng bà Y do hợp đồng mua bán nhà giữa vợ chồng bà Y với vợ chồng bà N bị hủy Chỉ có các chủ thể tham

Trang 3

gia giao kết hợp đồng mới phát sinh nghĩa vụ thanh toán bồi thường do hợp đồng

bị hủy hoặc tuyên là vô hiệu

3/ Khi xác định thiệt hại tài sản thì phải lấy giá trị tài sản tại thời điểm giải quyết vụ án để xem xét Việc lấy giá bán nhà từ thời điểm năm 2005 là không chính xác; không đảm bảo quyền lợi hợp pháp của các bên đương sự;

4/ Người ban hành Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự, sau đó bị cấp có thẩm quyền tuyên hủy Quyết định này không phải là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án

Tóm lại chúng tôi đồng tình với thông điệp mà nội dung dự thảo án lệ đặt

ra: Nếu giải quyết vụ án mà không giải quyết đủ và đúng các vấn đề trên thì dù

vụ án đã có hiệu lực pháp luật vẫn bị cấp có thẩm quyền hủy án

Đề xuất: Dự thảo án lệ số 02 đã đạt được tiêu chí theo quy định tại Điều 2

Nghị quyết số 04/2019/NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán TANDTC Đủ điều kiện lựa chọn làm Án lệ

II GÓP Ý ĐỐI VỚI DỰ THẢO ÁN LỆ SỐ 03

Về vụ án dân sự “Tranh chấp thừa kế tài sản” tại tỉnh Thanh Hóa

Dự thảo án lệ số 03 đã khái quát được một số nội dung cơ bản mà Tòa án cần giải quyết theo nội dung vụ án lựa chọn án

1/ Thỏa thuận miệng đổi đất giữa cụ U – cụ K và vợ chồng bà T2 - ô D1 không thành lập văn bản Tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ xác định có việc vợ chồng bà T2 - ông D1 được cấp đất, sau đó đổi cho cụ U - cụ K Nghĩa là vợ chồng

bà T2 - ông D1 ở trên thửa đất số 986 (theo bản đồ địa chính năm 1997 là thửa đất số 40) của 02 cụ, còn hai cụ ở thửa đất số 325 của vợ chồng bà T2 – ông D1

được cấp Khi cấp GCNQSD đất, cụ U và cụ K đều còn sống nhưng không có đơn, không kê khai đối với thửa đất số 986 đã đổi (giao) cho vợ chồng bà T2 -

ông D1 mà chỉ kê khai và được cấp GCNQSD đất đối với thửa đất số 325 Hộ bà

T2 - ông D1 được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa số 986a

(là thửa 986) không có ai khiếu nại Thì được coi thỏa thuận đổi đất giữa cụ U

– cụ K và vợ chồng bà T2- ô D1 mặc dù không tuân thủ quy định pháp luật

(về hình thức, trình tự, thủ tục đổi đất) nhưng có hiệu lực pháp luật

2/ Mặc dù theo bản đồ 299 năm 1985, cụ U - cụ K là người sử dụng đất thửa đất số 986 nhưng đã đổi cho vợ chồng bà T2 - ông D1 và vợ chồng bà T2 - ông D1 đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất từ năm 1994 không có

ai khiếu nại nên không còn là tài sản (di sản) của cụ U – cụ K

3/ Tòa án cấp sơ thẩm và cấp phúc thẩm không đưa ông T1 (con riêng của

cụ U) và hai con của vợ chồng bà T2 - ông D1 tham gia tố tụng với tư cách là

người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là thiếu sót

Đề xuất: Dự thảo án lệ số 03 đã đạt được tiêu chí theo quy định tại Điều 2

Nghị quyết số 04/2019/NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán TANDTC Nhất trí với nội án lệ Đây là vụ việc điển hình mà các Tòa án trên toàn quốc hay gặp nhưng

Trang 4

cách hiểu và áp dụng pháp luật thống nhất Án lệ này có tính áp dụng thực tiễn cao

Đề nghị lựa chọn Dự thảo án lệ số 03 làm Án lệ và sớm được ban hành

III GÓP Ý ĐỐI VỚI DỰ THẢO ÁN LỆ SỐ 07

Về vụ án “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” tại Phú Yên

Dự thảo án lệ số 07 đã khái quát được một số nội dung cơ bản mà Tòa án giải quyết nhưng thiếu sót bị kháng nghị và bị tuyên hủy

Về tố tụng: Đơn khởi kiện chưa rõ ràng và chứng cứ mà nguyên đơn xuất

trình để đòi nợ chỉ là bản photocopy Tòa án không yêu cầu nguyên đơn sửa đổi,

bổ sung Đơn khởi kiện và cung cấp bản chính hoặc bản photocopy có công chứng, chứng thực mà ngày 23-8-2018 ban hành Thông báo nộp tạm ứng án phí và ngày 24-8-2018 thụ lý giải quyết vụ án là vi phạm quy định tại điểm g khoản 4 Điều

189 và khoản 1 Điều 95 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015

Về nội dung:

1/ Khối tài sản mà các bên tham gia giao dịch và được Quyết định số

37/2018/QĐST-DS ngày 25-10-2018 công nhận sự thỏa thuận là có hành vi “tẩu tán tài sản”

2/ Nhà hàng K chỉ được cấp phép xây dựng trên diện tích 332m2 đất ở; nhưng

vợ chồng ông D lại xây dựng Nhà hàng K trên diện tích 1.072m2 đất, trong đó 722m2 đất nông nghiệp và đã bị xử phạt vi phạm hành chính, buộc khắc phục hậu

quả (chuyển mục đích sử dụng và điều chỉnh giấy phép xây dựng theo quy định)

nhưng đến nay vợ chồng ông D chưa thực hiện Vì vậy, Tòa án ban hành Quyết định số 37/2018/QĐST-DS ngày 25-10-2018 công nhận sự thỏa thuận của vợ

chồng ông D giao toàn bộ nhà, đất (trừ phần đất trên có nhà của vợ chồng ông C1)

cho vợ chồng ông H là công nhận sự thỏa thuận của các đương sự trái pháp luật

3/ Sau khi Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng kháng nghị Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự số 37/2018/QĐST-DS ngày 25-10-2018 thì ông H, bà Q có đơn khiếu nại cho rằng tại thời điểm ông bà hòa giải thành với vợ

chồng ông D, bà T (để nhận chuyển nhượng nhà hàng K của vợ chồng ông D, bà T) thì ông D, bà T đang thế chấp Nhà hàng K tại Ngân hàng TMCP Công thương

Việt Nam - Chi nhánh tỉnh Phú Yên - Phòng giao dịch thị xã C để vay tiền; do đó ông bà đã phải nộp vào Ngân hàng 8.500.000.000 đồng để giải chấp tài sản thế chấp, sau đó làm thủ tục nhận chuyển nhượng tài sản này với ông D, bà T Xét, kèm trình bày nêu trên thì ông H bà Q có gửi kèm bản photocopy các chứng từ nộp tiền vào Ngân hàng và các ủy nhiệm chi tại Ngân hàng; do đó, khi giải quyết lại vụ án, Tòa án cấp sơ thẩm cần xác minh làm rõ số tiền ông H, bà Q nộp vào Ngân hàng để giải chấp tài sản (nếu có), từ đó ưu tiên thanh toán cho vợ chồng ông H, bà Q khi xử lý khối tài sản là nhà hàng K và quyền sử dụng diện tích 1.975,6m2 đất tại địa chỉ khu phố A, phường B, thị xã C, tỉnh Phú Yên

Quan điểm của TAND Thành phố Hà Nội:

Nội dung án lệ đã phân tích, giải thích các vấn đề, sự kiện pháp lý và chỉ ra nguyên tắc, đường lối xử lý, quy phạm pháp luật cần áp dụng trong một vụ án

Trang 5

“Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”; các quan hệ về giao dịch liên quan đến tài sản Đặc biệt là việc: Tòa án không thể công nhận thỏa thuận của các đương sự

về giao dịch tài sản không thuộc thẩm quyền của bên giao tài sản; hoặc tài sản liên quan đến quyền lợi của bên thứ ba mà phải có sự thống nhất của họ; hoặc tài

sản đưa vào giao dịch đang bị xử lý của Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền (như mục 2 nhận xét trên);

Khi giải quyết vụ án có liên quan đến tài sản và giao dịch chuyển nhượng tài sản cần phải xác định: Tài sản đó có thuộc trường được chuyển nhượng không;

đã thế chấp, đảm bảo cho nghĩa vụ nào khác không; có liên quan đến quyền, nghĩa

vụ của chủ thể nào khác không

Các tài liệu cần được xem xét đánh giá khi giải quyết vụ án phải là bản chính hoặc được công chứng, chứng thực hợp pháp

Đề xuất: Dự thảo án lệ số 07 đã đạt được tiêu chí theo quy định tại Điều 2

Nghị quyết số 04/2019/NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán TANDTC Có tính ứng dụng cao trong thực tiễn giải quyết các vụ án Đủ điều kiện lựa chọn làm Án lệ

IV GÓP Ý ĐỐI VỚI DỰ THẢO ÁN LỆ SỐ 10

Về vụ án tranh chấp “Hợp đồng dịch vụ - Hợp đồng sở hữu kỳ nghỉ” tại

Khánh Hòa

Dự thảo án lệ số 10 là một dạng tranh chấp mới phát sinh trong đời sống

xã hội; đã khái quát được một số nội dung cơ bản mà Tòa án cần giải quyết trong một vụ án “Tranh chấp hợp đồng dịch vụ”

Quan hệ tranh chấp được xác định là “Hợp đồng dịch vụ” quy định tại Điều

513 Bộ luật Dân sự 2015, Điều 14 Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng

Mặc dù, các bên có thỏa thuận chọn cơ quan và phương thức giải quyết tranh chấp là Trung tâm Trọng tài quốc tế Singapore (SIAC) theo các quy tắc trọng tài của SIAC có hiệu lực tại thời điểm giải quyết tranh chấp Tuy nhiên, Điều 17 Luật Trọng tài thương mại và hướng dẫn tại khoản 5 Điều 4 của Nghị quyết số 01/2014/NQ-HĐTP ngày 20-3-2014 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao quy định về thỏa thuận trọng tài không thể thực hiện được:

Nguyên đơn là người tiêu dùng yêu cầu TAND Nha Trang giải quyết là phù hợp Điều 38 Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, Điều 17 Luật Trọng tài thương mại và hướng dẫn tại khoản 5 Điều 4 của Nghị quyết số 01/2014/NQ-HĐTP ngày 20-3-2014 của Hội đồng Thẩm phán TANDTC

Các bên đã giao kết hợp đồng sở hữu kỳ nghỉ tự do, tự nguyện cam kết, thỏa thuận, nội dung không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức

xã hội có hiệu lực thực hiện đối với các bên và phải được chủ thể khác tôn trọng

và là căn cứ để giải quyết tranh chấp

Nghiên cứu dự thảo án lệ số 10 TAND Thành phố Hà Nội nhận thấy:

Nội dung án lệ đã phân tích, giải thích các vấn đề, sự kiện pháp lý và chỉ

Trang 6

“Hợp đồng dịch vụ”; các quan hệ về giao dịch liên quan đến “Hợp đồng dịch vụ

- Hợp đồng sở hữu kỳ nghỉ”- Đây là loại việc mới Đặc biệt là: Việc Tòa án thụ

lý giải quyết tranh chấp “Hợp đồng sở hữu kỳ nghỉ thuộc loại hợp đồng soạn sẵn

do nhà cung cấp dịch vụ đưa ra, soạn sẵn quy định thỏa thuận trọng tài, nay nguyên đơn là người tiêu dùng không đồng ý lựa chọn trọng tài và yêu cầu Tòa

án giải quyết” theo quy định tại Điều 38 Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng,

Điều 17 Luật Trọng tài thương mại Nội dung án lệ này vừa mang tính chất hướng

dẫn về tố tụng (thẩm quyền giải quyết vụ án) vừa mang tính chất định hướng về

nội dung của vụ việc

Đề xuất: Dự thảo án lệ số 10 đã đạt được tiêu chí theo quy định tại Điều 2

Nghị quyết số 04/2019/NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán TANDTC Có tính ứng dụng cao trong thực tiễn Đủ điều kiện lựa chọn làm Án lệ

V KIẾN NGHỊ - ĐỀ XUẤT

Tại Hội nghị này, TAND thành phố Hà Nội xin có một số kiến nghị - đề xuất sau:

1 Về kiến nghị:

Đề nghị Hội đồng Thẩm phán TANDTC nghiên cứu lựa chọn một số án lệ nhằm hướng dẫn áp dụng thống nhất một số vấn đề còn vướng mắc về tố tụng

- Hiện nay có nhiều vụ án: Người bị kiện; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có mặt nơi cư trú (hoặc không liên hệ được với họ) Tiến hành thu thập chứng cứ, Cục xuất nhập cảnh cung cấp đương sự đã xuất cảnh đi nước ngoài, nhưng không thể hiện nơi cư trú ở nước ngoài và không thể hiện đã nhập cảnh về Việt Nam Như vậy có được xác định là đương sự cố tình giấu địa chỉ và thuộc

thẩm quyền thụ lý, giải quyết của Tòa án cấp huyện không? Quan điểm của Tòa

án Hà Nội xác định là trường hợp đương sự cố tình giấu địa chỉ và thuộc thẩm quyền thụ lý, giải quyết của Tòa án cấp huyện;

- Có nhiều vụ án các đương sự tranh chấp với nhau về ranh giới đất Đất của hai bên đều đã được cấp GCNQSD đất; phần đất tranh chấp được thể hiện là chồng lấn theo sơ đồ trong GCNQSD đất; các bên đều đề nghị hủy GCNQSD đất Tiến hành thu thập chứng cứ, xác định được: Phần đất tranh chấp thuộc một bên nhưng chồng lấn theo sơ đồ trong GCNQSD đất của bên kia và buộc bên kia phải trả lại Có đủ căn cứ xác định việc cấp GCNQSD đất là đúng quy định pháp luật, việc thể hiện sơ đồ bị chồng lấn là do sai sót khi đo vẽ Như vậy có cần phải hủy GCNQSD đất đã cấp cho hai bên không? Hay chỉ cần tuyên các bên có quyền đến

Cơ quan có thẩm quyền điều chỉnh lại GCNQSD đất theo mốc giới đã được xác

định theo bản án? - Quan điểm của Tòa án Hà Nội xác định là trường hợp không phải hủy GCNQSD đất đã cấp cho hai bên mà chỉ cần tuyên các bên có quyền đến Cơ quan có thẩm quyền điều chỉnh lại GCNQSD đất theo mốc giới

đã được xác định theo bản án và thuộc thẩm quyền thụ lý, giải quyết của Tòa

án cấp huyện;

Trang 7

- Về vụ án về “Tranh tài sản liên quan đến dòng họ” - Cách xác định tư cách đương sự theo hướng dẫn tại Nghị quyết số 01/2020/NQ-HĐTP ngày 05-3-2020 của Hội đồng Thẩm phán TANDTC

2 Đề xuất: Nếu được đồng ý của TANDTC, sau hội nghị này, TAND

Thành phố Hà Nội xin được lựa chọn một số bản án dân sự về một số lĩnh vực có tranh chấp, song các quy định của pháp luật còn chưa cụ thể, dẫn đến việc hiểu và

áp dụng chưa thống nhất để trình và đề nghị Hội đồng Thẩm phán TANDTC xem xét, lấy ý kiến đưa vào làm Án lệ

Ngày đăng: 29/04/2022, 23:24

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm