Phân tích nội dung nguyên tắc hòa bình giải quyết tranh chấp quốc tế và đánh giá thực tiễn vận dụng nguyên tắc này trong quá trình giải quyết tranh chấp mà việt nam là một bên
Trang 1MỤC LỤC
MỞ ĐẦU……….……….……….2
NỘI DUNG……… ……… 2
1 Nội dung nguyên tắc hòa bình giải quyết tranh chấp quốc tế………2
1.1 Khái quát về tranh chấp quốc tế………2
1.2 Nguyên tắc hòa bình giải quyết tranh chấp quốc tế………3
1.3 Các biện pháp hòa bình giải quyết tranh chấp quốc tế……….4
2 Thực tiễn vận dụng nguyên tắc hòa bình giải quyết tranh chấp quốc tế trong quá trình giải quyết tranh chấp mà Việt Nam là một bên……… 6
3 Giải pháp tăng cường hiệu lực của việc áp dụng nguyên tắc hòa bình trong giải quyết tranh chấp chủ quyền biển Đông của Việt Nam……… 10
KẾT LUẬN……….11
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO……….12
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
LHQ : Liên Hợp Quốc TCQT : Tranh chấp quốc tế
Trang 2MỞ ĐẦU
Ngày nay, cùng với xu hướng quốc tế hóa, hợp tác giữa các quốc gia ngày càng mở rộng, tiềm ẩn nhiều nguy cơ này sinh mâu thuẫn dẫn đến những TCQT
Để đảm bảo được lợi ích của các bên tranh chấp mà không làm phương hại đến hòa bình, an ninh quốc tế thì việc áp dụng nguyên tắc hòa bình giải quyết TCQT cần được sử dụng một cách hiệu quả nhất Để làm rõ hơn về nguyên tắc này,
em xin chọn đề bài “Phân tích nội dung nguyên tắc hòa bình giải quyết tranh chấp quốc tế và đánh giá thực tiễn vận dụng nguyên tắc này trong quá trình giải quyết tranh chấp mà Việt Nam là một bên” làm đề cho bài tiểu luận kết
thúc học phần của mình
NỘI DUNG
1 Nội dung nguyên tắc hòa bình giải quyết tranh chấp quốc tế
1.1 Khái quát về tranh chấp quốc tế
Hiện nay, chưa có định nghĩa thống nhất về TCQT trong các văn bản pháp
lý Theo quan niệm của Pháp viện thường trực quốc tế - cơ quan giải quyết tranh chấp của Hội Quốc liên (tổ chức tiền thân của LHQ) đã quan niệm, tranh chấp là sự bất đồng về một quy phạm pháp luật hoặc sự kiện nào đó giữa các chủ thể nhất định (trong trường hợp này là giữa các quốc gia) khi một trong các bên đưa ra yêu sách, đòi hỏi đối với bên kia nhưng bên đó không chấp nhận hoặc chỉ chấp nhận một phần
Căn cứ vào thực tiễn quốc tế, có thể hiểu một cách chung nhất, TCQT là hoàn cảnh thực tế mà trong đó, các chủ thể tham gia có những quan điểm trái ngược hoặc mâu thuẫn nhau và có những yêu cầu, hay đòi hỏi cụ thể trái ngược nhau Đó là sự không thoả thuận được với nhau về quyền hoặc sự kiện, đưa đến
sự mâu thuẫn, đối lập nhau về quan điểm pháp lý hoặc quyền giữa các bên chủ thể luật quốc tế với nhau Căn cứ vào nhiều tiêu chí khác nhau có thể phân loại TCQT như sau:
- Căn cứ vào số lượng chủ thể tham gia: bao gồm tranh chấp song phương (tranh chấp hai bên) và tranh chấp đa phương (tranh chấp nhiều bên)
Trang 3- Căn cứ vào tính chất của vụ tranh chấp: tranh chấp mang tính chất chính trị và tranh chấp có tính chất pháp lý Tranh chấp mang tính chất chính trị là những tranh chấp về chủ quyền quốc gia đối với dân cư, lãnh thổ, lợi ích của các bên,… Tranh chấp có tính chất pháp lý là những tranh chấp có liên quan đến sự bất đồng trong việc giải thích hoặc áp dụng các quy định hiện hành như Điều ước quốc tế,…
- Căn cứ vào đối tượng tranh chấp: tranh chấp về kinh tế về thực hiện nghĩa
vụ thành viên về Điều ước quốc tế hoặc Tổ chức quốc tế…
1.2 Nguyên tắc hòa bình giải quyết tranh chấp quốc tế
1.2.1 Khái niệm nguyên tắc hòa bình giải quyết tranh chấp quốc tế
Giải quyết các tranh chấp giữa các quốc gia bằng các biện pháp hòa bình có thể hiểu là giải quyết các tranh chấp thông qua đàm phán hòa bình (song phương hoặc đa phương) trên cơ sở luật pháp và thực tiễn quốc tế, bình đẳng và tôn trọng lẫn nhau nhằm đi tới một giải pháp công bằng cho tất cả các bên hoặc giải quyết các tranh chấp thông qua trung gian, hòa giải hoặc bằng các cơ chế tài phán quốc tế như Tòa án Công lý Quốc tế, Tòa án Quốc tế về Luật Biển và các tòa trọng tài khác…
Nguyên tắc hòa bình giải quyết TCQT được ghi nhận lần đầu tiên trong Hiến chương liên hợp quốc và được khẳng định rõ ràng trong Tuyên bố năm 1970,
trong đó chỉ rõ “mỗi quốc gia giải quyết tranh chấp quốc tế của mình với các quốc gia khác bằng phương pháp hòa bình để không dẫn đến đe dọa hòa bình,
an ninh quốc tế và công bằng” Tại khoản 3 Điều 2 Hiến chương LHQ năm
1945 đã ghi nhận hòa bình giải quyết TCQT là nguyên tắc bắt buộc chung đối với tất cả các thành viên của cộng đồng quốc tế, các nước thành viên của LHQ phải có nghĩa vụ giải quyết các TCQT bằng các biện pháp hoà bình
Như vậy, hòa bình giải quyết TCQT là một nguyên tắc cơ bản của luật quốc
tế, là nghĩa vụ pháp lý của tất cả các quốc gia và chủ thể khác của luật quốc tế
Về phương diện khoa học luật quốc tế, hòa bình giải quyết TCQT là những tư tưởng chính trị, pháp lý mang tính chỉ đạo, bao trùm, có giá trị bất buộc chung
Trang 4đối với mọi chủ thể của luật quốc tế trong giải quyết các TCQT, bao gồm những
cơ chế, biện pháp hoặc phương thức được các chủ thể luật quốc tế sử dụng nhưng không sử dụng hoặc đe dọa sử dụng vũ lực
1.2.2 Đặc điểm nguyên tắc hòa bình giải quyết tranh chấp quốc tế
Nguyên tắc hòa bình giải quyết TCQT có bốn đặc điểm cơ bản sau:
Thứ nhất, nguyên tắc hòa bình giải quyết TCQT có tính mệnh lệnh bắt buộc
chung, được áp dụng cho mọi mối quan hệ quốc tế cũng như đối với mọi chủ thể của Luật quốc tế Tất cả các chủ thể của Luật quốc tế đều phải tuân thủ triệt
để nguyên tắc hòa bình giải quyết TCQT và bất cứ hành vi vi phạm nào đều là
sự vi phạm nghiêm trọng Luật quốc tế
Thứ hai, nguyên tắc hòa bình giải quyết TCQT được xác định là chuẩn mực,
là cơ sở để xây dựng các biện pháp, cách thức giải quyết TCQT bằng biện pháp hòa bình
Thứ ba, nguyên tắc hòa bình giải quyết TCQT có mối quan hệ mật thiết với
nhau trong một chỉnh thể thống nhất, chỉ khi tồn tại trong sự tác động qua lại, chúng mới có khả năng hoàn thành các chức năng của mình Vì vậy, việc nghiên cứu, giải thích và áp dụng nguyên tắc hòa bình giải quyết TCQT phải đặt trong mối quan hệ với các nguyên tắc khác
Thứ tư, nguyên tắc hòa bình giải quyết TCQT được thừa nhận rộng rãi và
được ghi nhận trong các văn kiện quốc tế quan trọng như Hiến chương LHQ năm 1945; Tuyên bố năm 1970 về các nguyên tắc cơ bản của Luật Quốc tế
Trong các đặc điểm trên, đặc điểm về tính mệnh lệnh bắt buộc chung là quan trọng nhất, bởi tất cả các chủ thể của Luật Quốc tế phải tuân thủ theo nguyên tắc hòa bình giải quyết TCQT, không một chủ thể hay nhóm chủ thể nào có quyền hủy bỏ nguyên tắc này
1.3 Các biện pháp hòa bình giải quyết tranh chấp quốc tế
Năm 1945 với sự ra đời của Hiến chương LHQ đã khẳng định giải quyết các TCQT bằng biện pháp hòa bình là một nguyên tắc trong quan hệ giữa các quốc
gia Theo Điều 33 Hiến chương thì “các bên tham gia tranh chấp quốc tế trước
Trang 5tiên phải cố gắng giải quyết tranh chấp bằng các biện pháp như: đàm phán, điều tra, trung gian, hoà giải, trọng tài, tòa án, thông qua các cơ quan hay tổ chức quốc tế khu vực hoặc bằng những biện pháp hoà bình khác do các bên lựa chọn” Các bên có quyền tự do lựa chọn các biện pháp hoà bình nói trên để
giải quyết tranh chấp sao cho phù hợp và có hiệu quả nhất Như vậy, hòa bình giải quyết các TCQT là nghĩa vụ bắt buộc đối với mọi quốc gia thành viên của cộng đồng quốc tế Các bên có quyền tự do lựa chọn các biện pháp phù hợp nhất, sao cho mọi tranh chấp đều được giải quyết trên cơ sở của luật quốc tế và nguyên tắc công bằng Hiến chương LHQ đã quy định rất nhiều biện pháp hòa bình, tạo điều kiện cho các chủ thể luật quốc tế lựa chọn khi giải quyết TCQT
mà xuất phát từ những đặc trưng cơ bản của Luật quốc tế
Thực tiễn giải quyết TCQT từ trước tới nay thường vẫn áp dụng các phương thức giải quyết tranh chấp cơ bản sau:
Một là, giải quyết trực tiếp Giải quyết trực tiếp là biện pháp giải quyết tranh
chấp dựa trên đàm phán trực tiếp, trao đổi thông tin, quan điểm, thỏa thuận giữa các bên nhằm đạt được giải pháp giải quyết tranh chấp
Hai là, giải quyết tranh chấp thông qua bên thứ ba Bao gồm :
* Biện pháp môi giới: Là biện pháp giải quyết tranh chấp mà theo đó, từ một
cá nhân hay tổ chức quốc tế nào đó giúp các bên tranh chấp gặp gỡ nhau để giải quyết
* Biện pháp trung gian: Là việc các bên tranh chấp chấp nhận giải quyết tranh chấp thông qua sự tham gia của bên thứ ba là bên trung gian
* Biện pháp hòa giải: Là việc các bên tranh chấp chấp nhận giải quyết tranh chấp thông qua sự tham gia của bên thứ ba là bên hòa giải
* Biện pháp giải quyết tranh chấp thông qua Ủy ban điều tra hoặc Ủy ban hòa giải: Ủy ban điều tra hoặc Ủy ban hòa giải là cơ quan đặc biệt được thành lập trên cơ sở thỏa thuận của các bên góp phần giải quyết tranh chấp Báo cáo của hai Ủy ban này đều chỉ mang tính chất khuyến nghị
Ba là, biện pháp giải quyết tranh chấp trong khuôn khổ tổ chức quốc tế
Trang 6Bốn là, giải quyết tranh chấp thông qua cơ quan tài phán Đây là biện pháp
giải quyết tranh chấp do các bên thỏa thuận hoặc thừa nhận thẩm quyền của cơ quan tài phán quốc tế (bao gồm Tòa án quốc tế và Trọng tài quốc tế) tham gia vào giải quyết tranh chấp
Thực tiễn cho thấy biện pháp giải quyết trực tiếp là biện pháp thường xuyên được các quốc gia hay sử dụng để giải quyết các tranh chấp hoặc bất đồng vì đàm phán trực tiếp là cách tốt nhất để giải quyết nhanh chóng TCQT, bảo đảm quyền bình đẳng của các bên, để đi đến thỏa thuận nhượng bộ lẫn nhau
2 Thực tiễn vận dụng nguyên tắc hòa bình giải quyết tranh chấp quốc tế trong quá trình giải quyết tranh chấp mà Việt Nam là một bên
Biển Đông là vùng biển có vị trí địa lý chiến lược quan trọng, là tuyến đường vận tải biển quốc tế nhộn nhịp nhất Chính vì thế, những tranh chấp về chủ quyền trên Biển Đông trong những năm gần đây chẳng những gây ảnh hưởng đến cuộc sống của hàng nghìn ngư dân có truyền thống đánh bắt lâu đời tại đây,
mà còn đe dọa nền hòa bình và quyền tự do hàng hải của các quốc gia trong khu vực Tranh chấp chủ quyền trên Biển Đông bao gồm các tranh chấp về đảo
và vùng biển Quần đảo Trường Sa và quần đảo Hoàng Sa là hai quần đảo trên các rạn san hô ở Biển Đông, trong đó quần đảo Hoàng Sa đang là nơi tranh chấp chủ quyền giữa Việt Nam và Cộng hòa nhân dân Trung Hoa, Đài Loan Quần đảo Trường Sa là nơi tranh chấp đa phương giữa năm nước sáu bên, các bên tranh chấp tuyên bố chủ quyền toàn bộ hay một phần quần đảo Trường Sa Đặc biệt, việc những năm qua Trung Quốc thường xuyên sử dụng các phương tiện quân sự như tàu chiến, máy bay chiến đấu, tàu hải cảnh, kiểm ngư, tàu cá bọc sắt chủ động đâm va, dùng vòi rồng cản phá các tàu cảnh sát biển, kiểm ngư đang làm nhiệm vụ của Việt Nam, tàu cá của ngư dân đang hoạt động trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam là hành động sử dụng vũ lực Những hành động này của Trung Quốc đã vi phạm nghiêm trọng Hiến chương LHQ
mà Trung Quốc là thành viên
Trang 7Trước những hành động đơn phương của bên tranh chấp, thực tế nhiều năm qua chứng minh rằng Việt Nam luôn theo đuổi đấu tranh bằng biện pháp ngoại giao để cho thế giới thấy hành động sai trái của bên đơn phương, đồng thời bày
tỏ thiện chí thông qua đàm phán và thương lượng chúng ta không ngừng lên
án, phản đối việc dùng vũ lực để giải quyết các tranh chấp, không bao giờ chấp nhận một nước nào dùng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực nhằm phá hoại hòa bình khu vực và thế giới Bên canh đó, đấu tranh bằng giải pháp pháp lý là kim chỉ nam trong giải quyết các tranh chấp bằng biện pháp hòa bình của Việt Nam Nếu chúng ta không nhanh chóng áp dụng những giải pháp thích hợp nhằm giảm căng thẳng và giải quyết những tranh chấp này, sẽ dẫn đến nguy cơ bùng phát xung đột quân sự giữa các quốc gia trong khu vực Về phía Việt Nam, đã vận dụng một cách tích cực quy định của Hiến chương LHQ giải quyết các tranh chấp bằng biện pháp hòa bình nhằm duy trì sự ổn định, an toàn trong khu
vực và trên thế giới “Việt Nam kiên trì lập trường nguyên tắc tôn trọng chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của các quốc gia, phản đối các hành động sử dụng hoặc đe dọa sử dụng vũ lực, chủ trương giải quyết các tranh chấp, nhất là các tranh chấp ở Biển Đông, bằng biện pháp hòa bình trên cơ sở luật pháp quốc
tế, Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982 và các nguyên tắc trong xử chung ở khu vực”- Phó Thủ tướng, nguyên Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Phạm
Bình Minh phát biểu tại phiên thảo luận chung của Đại hội đồng Liên minh Nghị viện thế giới (IPU) lần thứ 132 tại Hà Nội vào tháng 03/2015
Với chủ trương nhất quán thông qua các biện pháp hòa bình giải quyết tranh chấp, bất đồng trên biển, Việt Nam đã có nhiều nỗ lực trong việc áp dụng có hiệu quả Công ước Luật Biển 1982 (UNCLOS) để giải quyết các tranh chấp về phân định biển với các nước láng giềng, trong đó luôn đề cao nguyên tắc công bằng để tìm ra giải pháp hợp lý, cụ thể là: Việt Nam đã ký với Thái Lan Hiệp định về phân định biển ngày 9/8/1997; ký với Trung Quốc Hiệp định về phân định vịnh Bắc Bộ và Hiệp định hợp tác nghề cá trong vịnh Bắc Bộ ngày
Trang 825/12/2000; ký với Indonesia Hiệp định về phân định thềm lục địa ngày 26/6/2003
Thực tiễn đàm phán, ký kết các văn kiện nêu trên, Việt Nam đã thể hiện sự vận dụng sáng tạo các quy định của Công ước, đóng góp và làm phong phú thêm luật pháp quốc tế về phân định biển Trên cơ sở các quy định của Công ước, Việt Nam đang thúc đẩy đàm phán phân định và hợp tác cùng phát triển tại khu vực ngoài cửa vịnh Bắc Bộ với Trung Quốc; đàm phán phân định vùng đặc quyền kinh tế với Indonesia và đàm phán về các vấn đề trên biển với các nước láng giềng khác
Mặc khác, khi bàn về vấn đề tranh chấp Biển Đông, Việt Nam kiên trì yêu cầu tôn trọng pháp luật quốc tế, Công ước LHQ về Luật Biển năm 1982, coi đây như một nguyên tắc để giải quyết và xử lý các tranh chấp liên quan đến biển đảo Việt Nam đã nỗ lực đưa nguyên tắc này vào các văn kiện của ASEAN,
kể cả “Tuyên bố về cách ứng xử của các bên ở Biển Đông” (DOC); “Tuyên bố
6 điểm ngày 20/7/2012 của ASEAN về Biển Đông”; dự thảo Bộ Quy tắc ứng
xử ở Biển Đông (COC, trong đàm phán Việt Nam và các nước thống nhất nguyên tắc COC phải sử dụng UNCLOS làm cơ sở) Với nỗ lực của Việt Nam, nội dung “căn cứ luật pháp quốc tế, Công ước LHQ về Luật Biển năm 1982 để tìm ra giải pháp cơ bản lâu dài cho các tranh chấp tại Biển Đông” đã được đưa vào “Thỏa thuận về những nguyên tắc cơ bản chỉ đạo giải quyết vấn đề trên biển Việt Nam- Trung Quốc” ký ngày 10/11/2011
Điều đó cho thấy Việt Nam không chỉ chủ động thực hiện nghiêm túc các quy định của Công ước mà còn luôn có ý thức thúc đẩy việc tôn trọng và thực hiện đầy đủ các quy định của Công ước Việt Nam luôn coi trọng quan hệ hòa hiếu, hữu nghị với tất cả các nước, nhất là các nước láng giềng, khu vực và trên thế giới, kiên trì phấn đấu cùng các nước trong cộng đồng quốc tế xây dựng một trật tự thế giới công bằng và bình đẳng dựa trên Hiến chương LHQ và luật pháp quốc tế
Trang 9Bên cạnh đó, ngày 12/7/2021, trả lời câu hỏi của phóng viên đề nghị cho
biết bình luận của Việt Nam nhân dịp kỷ niệm 5 năm Toà trọng tài “Vụ kiện Biển Đông” ra Phán quyết cuối cùng (12/7/2016), người Phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam Lê Thị Thu Hằng nêu rõ: “Lập trường của Việt Nam về việc giải quyết các tranh chấp liên quan ở Biển Đông là rõ ràng và nhất quán, theo đó Việt Nam luôn ủng hộ việc giải quyết các tranh chấp về chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán ở Biển Đông thông qua các tiến trình ngoại giao và pháp lý, không sử dụng hoặc đe dọa sử dụng vũ lực, và bằng các giải pháp, biện pháp hoà bình phù hợp với Hiến chương Liên Hiệp Quốc và Công ước của Liên Hiệp Quốc về Luật Biển năm 1982.” Hay mới đây, tại phiên thảo luận toàn
thể về đề mục Pháp quyền ở cấp độ quốc gia và quốc tế của Ủy ban Pháp lý (Ủy ban 6) Đại hội đồng LHQ khóa 76 tổ chức ngày 12/10/2021, Đại sứ Đặng Đình Quý bày tỏ quan ngại sâu sắc trước các diễn biến phức tạp gần đây ở biển Đông và kêu gọi tất cả các bên liên quan tuân thủ luật pháp quốc tế, đặc biệt là Công ước LHQ về Luật Biển năm 1982, thúc đẩy xây dựng lòng tin, kiềm chế các hành động đơn phương làm phức tạp tình hình, gia tăng căng thẳng trên biển, giải quyết hòa bình các tranh chấp phù hợp với Hiến chương LHQ, luật pháp quốc tế, trong đó có UNCLOS, tôn trọng đầy đủ các tiến trình pháp lý, chính trị và tuân thủ các quy định của UNCLOS trong xác định các yêu sách biển
Đây là những bằng chứng sinh động thể hiện thiện chí, sự tích cực, quyết tâm và cam kết thực tế của Chính phủ Việt Nam đối với việc tôn trọng và thực thi các quy định của Công ước Luật Biển 1982, đồng thời thể hiện nỗ lực và chủ trương nhất quán của Việt Nam trong việc hợp tác giải quyết các tranh chấp, bất đồng trên biển bằng biện pháp hòa bình, phù hợp với luật pháp quốc
tế, trong đó nổi bật là nguyên tắc hòa bình giải quyết tranh chấp quốc tế và Công ước Luật Biển 1982, nhằm thúc đẩy hợp tác với các quốc gia, bảo vệ quyền, lợi ích chính đáng của Việt Nam ở Biển Đông
Trang 103 Kiến nghị giải pháp tăng cường hiệu lực của việc áp dụng nguyên tắc hòa bình trong giải quyết tranh chấp chủ quyền Biển Đông của Việt Nam
Từ thực trạng tranh chấp chủ quyền Biển Đông nêu trên, em xin kiến nghị một số giải pháp tăng cường hiệu lực của việc áp dụng nguyên tắc hòa bình trong giải quyết vấn đề tranh chấp này mà Việt Nam là một bên như sau:
Một là, xây dựng và thực hiện chiến lược phát triển kinh tế biển toàn diện,
có trọng tâm, trọng điểm, sớm đưa nước ta trở thành quốc gia trong khu vực mạnh về kinh tế biển, gắn với bảo đảm quốc phòng, an ninh và hợp tác quốc
tế Nghị quyết số 36-NQ/TW, ngày 22/10/2018 về Chiến lược phát triển bền
vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 xác định:
“Việt Nam phải trở thành quốc gia mạnh về biển, giàu từ biển, phát triển bền vững, thịnh vượng, an ninh và an toàn; phát triển bền vững kinh tế biển gắn liền với bảo đảm quốc phòng, an ninh, giữ vững độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ”
Hai là, Việt Nam cần đẩy mạnh hơn nữa hợp tác quốc tế đa lĩnh vực Sự hợp
tác quốc tế toàn diện, đa lĩnh vực trải dài từ kinh tế, khoa học kỹ thuật, văn hóa, quốc phòng – an ninh, là một trong những yếu tố quan trọng cho việc giải quyết tranh chấp quốc tế bằng phương pháp hòa bình Nguyên tắc các quốc gia có nghĩa vụ phải hợp tác với nhau phù hợp với Hiến chương LHQ là một trong những nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế về quan hệ hữu nghị và hợp tác giữa các quốc gia Nghĩa vụ hợp tác đó giữa các quốc gia phải được xếp vào hàng
ưu tiên
Ba là, Việt Nam có thể chọn giải pháp pháp kiện Trung Quốc ra trọng tài
quốc tế về luật biển Tòa trọng tài quốc tế về luật biển được thành lập theo Phụ lục VII của UNCLOS sẽ giải quyết vụ kiện kể cả khi Trung Quốc không đồng
ý Việt Nam có thể học tập kinh nghiệm từ vụ kiện của Philippines trong việc chuẩn bị hồ sơ khởi kiện và chiến thuật tranh tụng tại Tòa Việt Nam sẽ nhận được sự hỗ trợ về quy trình, thủ tục, chọn trọng tài viên và các thủ tục pháp lý khác trên cơ sở Hiệp định hợp tác giữa Chính phủ nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ