Những kết quả đạt được có thể là sự tăng thêm các tài sản tài chính tiền vốn, tàisản vật chất nhà máy, đường sá, bệnh viện, trường học…, tài sản trí tuệ trình độvăn hoá, trình độ chuyên
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
KHOA ĐẦU TƯ
BÀI TẬP NHÓM MÔN KINH TẾ ĐẦU TƯ I
Đề tài:
TRÌNH BÀY NỘI DUNG CÁC LÝ THUYẾT KINH TẾ CHỦ YẾU VỀ ĐẦU
TƯ Ý NGHĨA THỰC TIỄN CỦA CÁC LÝ THUYẾT NÀY
Giảng viên: PGS.TS TỪ QUANG PHƯƠNG Sinh viên thực hiện :ĐỖ QUANG CẢNH
LÊ BÁ MẠNH NGÔ XUÂN KHÁNH NGUYỄN THỊ THÚY NGUYỄN THỊ THU LOAN
Hà Nội, 2011
Trang 2Đề tài: “Những lý thuyết kinh tế chủ yếu về đầu tư và ý nghĩa thực tiễn của các lý thuyết này”
LỜI NÓI ĐẦU
Đối với mỗi quốc gia, vấn đề về tăng trưởng kinh tế luôn là một trong nhữngmục tiêu quan trọng Tăng trưởng kinh tế nhanh là vấn đề có ý nghĩa quyếtđịnh đối với mọi quốc gia trên con đường vượt lên khắc phục sự lạc hậu,hướng tới giàu có, thịnh vượng Có tăng trưởng kinh tế, của cải vật chất dồi dàomới có điều kiện nâng cao chất lượng cuộc sống, giải phóng con người và thựchiện sự bình đẳng xã hội Ngoài ra, tăng trưởng kinh tế là yếu tố quan trọng choviệc ổn định chính trị và có điều kiện củng cố an ninh quốc phòng
Để thực hiện và duy trì được mục tiêu đó, mỗi nước sẽ có những chính sách
và những bước đi phù hợp với hoàn cảnh cụ thể của đất nước mình Tuy nhiên
để đạt được mục tiêu đó không phải là đơn giản vì tăng trưởng kinh tế chịuảnh hưởng tổng hợp của nhiều yếu tố, mà trong đó đầu tư là một trong nhữngyêu tố đóng vai trò quan trọng nhất quyết định hiệu quả và chất lượng tăngtrưởng kinh tế
Như vậy vấn đề đặt ra là mỗi quốc gia phải có sự đầu tư, đầu tư đúnghướng, đầu tư có hiệu quả và cần có thời gian để các kết quả của đầu tư nàyphát huy tác dụng
Để tìm hiểu về cách thức tác động cũng như cơ chế tác động của đầu tư đến
nền kinh tế chúng ta sẽ tìm hiểu về “ Những lý thuyết kinh tế chủ yếu về đầu
tư và ý nghĩa thực tiễn của các lý thuyết này”
Chúng tôi xin chân thành cảm ơn PGS.TS Từ Quang Phương đã giúp chúng tôi hoàn thành đề tài này!
Trang 3BÀI LÀM:
CHƯƠNG I: NHỮNG LÝ THUYẾT KINH TẾ VỀ ĐẦU TƯ VÀ TÁC ĐỘNG CỦA ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN TỚI TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ.
I.Tổng quan về đầu tư, tăng trưởng và phát triển kinh tế
1 Đầu tư và phân loại đầu tư
1.1 Khái niệm:
Đầu tư nói chung là sự hy sinh các nguồn lực ở hiện tại để tiến hành các hoạt độngnào đó nhằm thu về các kết quả nhất định trong tương lai lớn hơn các nguồn lực
đã bỏ ra để đạt được các kết quả đó Như vậy , mục tiêu của mọi công cuộc đầu tư
là đạt được các kết quả lớn hơn so với những hy sinh về nguồn lực mà nhà đầu tưphải gánh chịu khi tiến hành đầu tư
Nguồn lực phải hi sinh ở đây có thể là tiền, tài nguyên thiên nhiên, sức lao động
và trí tuệ
Những kết quả đạt được có thể là sự tăng thêm các tài sản tài chính (tiền vốn), tàisản vật chất (nhà máy, đường sá, bệnh viện, trường học…), tài sản trí tuệ (trình độvăn hoá, trình độ chuyên môn, kỹ năng tay nghề, trình độ quản lý, khoa học kĩthuật… ) và nguồn nhân lực có đủ điều kiện làm việc với năng suất lao động caohơn trong nền sản xuất xã hội.Lợi ích trực tiếp do sự hoạt động của nhà máy nàyđem lại cho nhà đầu tư là lợi nhuận, còn cho nền kinh tế là thoả mãn nhu cầu tiêudùng (cho sản xuất và cho sinh hoạt ) tăng thêm của nền kinh tế, đóng góp chongân sách, giải quyết việc làm cho người lao động…
1.2 Phân loại đầu tư:
Có nhiều cách để phân loại đầu tư theo các tiêu chí khác nhau:
-Căn cứ vào đặc điểm chung nhất của hoạt động đầu tư thì chia thành đầu tư tàichính- đầu tư phát triển- đầu tư thương mại
Trang 4-Căn cứ vào bản chất đầu tư thì đầu tư phát triển chia thành: đầu tư cơ sở hạ đầu tư sản xuất kinh doanh.
tầng Căn cứ vào tài sản tạo thành: đầu tư tài sản hữu hình- đầu tư tài sản vô hình
-Căn cứ theo ngành chia thành: đầu tư các ngành sản xuất kinh doanh- đầu tư vàocác ngành phi sản xuất
-Căn cứ theo quá trình đầu tư: đầu tư theo chiều rộng- đầu tư theo chiều sâu
Trong phạm vi nghiên cứu của để tài, chúng ta có thể chia đầu tư ra làm 3 loại :đầu tư tài chính, đầu tư thương mại và đầu tư phát triển
1.2.1 Đầu tư tài chính( Đầu tư tài sản tài chính)
- Khái niệm: Đầu tư tài chính là loại đầu tư trong đó người có tiền bỏ ra cho vayhoặc mua các giấy tờ có giá để hưởng lãi suất định trước( gửi tiết kiệm, mua tráiphiếu chính phủ), hay lãi suất tuỳ thuộc vào kết quả hoạt động sản xuất kinhdoanh của công ty phát hành( mua cổ phiếu, trái phiếu công ty)
- Đặc điểm: Đầu tư tài chính không tạo ra tài sản mới cho nền kinh tế (Nếu khôngxét đến quan hệ quốc tế trong lĩnh vực này) mà chỉ làm tăng giá trị tài sản tàichính của các tổ chức, cá nhân đầu tư Nó tác động gián tiếp đến làm tăng tài sảncủa nền kinh tế thông qua sự đóng góp tài chính tích luỹ của các hoạt động đầu tưnày cho đầu tư phát triển và cung cấp vốm cho hoạt động đầu tư phát triển
- Đâù tư tài chính thường được thực hiện gián tiếp thông qua các trung gian tàichính như các ngân hàng, các quĩ đầu tư, công ty chứng khoán
Với sự hoạt động của hình thức đầu tư này, vốn được lưu chuyển dễ dàng, khi cần
có thể rút ra nhanh chóng Đây thực sự là một nguồn cung cấp vốn quan trọng chođầu tư phát triển
1.2.2 Đầu tư thương mại:
- Khái niệm: Đầu tư thương mại là hình thức đầu tư trong đó người có tiền bỏ tiền
ra mua hàng hóa và sau đó bán với giá cao hơn nhằm thu lợi nhuận do chênh lệchgiá khi mua và khi bán
Trang 5- Đặc điểm: Loại đầu tư này cũng không tạo ra tài sản mới cho nền kinh tế (nếukhông xét đến ngoại thương), mà chỉ làm tăng tài sản tài chính của nhà đầu tưtrong quá trình mua đi bán lại, chuyển giao quyền sở hữu hàng hoá giữa người bánvới nhà đầu tư và giữa nhà đầu tư với khách hàng của họ Tuy nhiên đầu tưthương mại có tác dụng thúc đẩy quá trình lưu thông, phân phối của cải vật chất
do đầu tư phát triển tạo ra Từ đó thúc đẩy đầu tư phát triển, tăng thu cho ngânsách, tăng tích luỹ vốn cho phát triển sản xuất kinh doanh dịch vụ nói riêng và nềnsản xuất xã hội nói chung
1.2.3 Đầu tư phát triển:
- Khái niệm:
Đầu tư phát triển là bộ phận cơ bản của đầu tư, là việc chi dùng vốn tronghiện tại để tiến hành các hoạt động nhằm làm tăng thêm hoặc tạo ra những tài sảnvật chất (nhà xưởng, thiết bị…) và tài sản trí tuệ (tri thức, kĩ năng…), gia tăngnăng lực sản xuất, tạo thêm việc làm và vì mục tiêu phát triển
Theo nghĩa hẹp, nguồn lực sử dụng cho đầu tư phát triển là tiền vốn Theonghĩa rộng, nguồn lực đầu tư bao gồm cả tiền vốn, đất đai, lao động, máy móc,thiêt bị, tài nguyên Như vậy, khi xem xét lựa chọn dự án đầu tư hay đánh giá hiệuquả hoạt động đầu tư phát triển cần tính đúng tính đủ các nguồn lực tham gia Đối tượng của đầu tư phát triển là tập hợp các yếu tố được chủ đầu tư bỏ vốn thựchiện nhằm đạt những mục tiêu nhất định Trên quan điểm phân công lao động XH,
có hai nhóm đối tượng đầu tư chính là đầu tư theo ngành và đầu tư theo lãnh thổ.Trên góc độ tính chất và mục đích đầu tư, đối tượng đầu tư chia thành hai nhómchính: công trình vì mục tiêu lợi nhuận và công trình phi lợi nhuận Trên góc độxem xét mức độ quan trọng, đối tượng đầu tư chia thành: loại được khuyến khíchđầu tư, loại không được khuyến khích đầu tư và loại cấm đầu tư Từ góc độ tàisản, đối tượng đầu tư chia thành: tài sản hữu hình( những tài sản cố định được sửdụng cho sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và nền kinh tế và tài sản lưuđộng) và tài sản vô hình( phát minh sáng chế, bản quyền, nhãn hiệu hàng hoá, uytín, thương hiệu…)
Các kết quả đạt được của đầu tư góp phần làm tăng thêm năng lực sản xuất của xãhội Hiệu quả của đầu tư phát triển phản ánh quan hệ so sánh giữa kết quả kinh tế
Trang 6xã hội thu được với chi phí chi ra để đạt được kết quả đó Kết quả và hiệu quả đầu
tư phát triển cần được xem xét cả trên phương diện chủ đầu tư và xã hội, đảm bảokết hợp hài hoà giữa các loại lợi ích phát huy vai trò chủ động sáng tạo của chủđầu tư, vai trò quản lí, kiểm tra giám sát của cơ quan quản lí nhà nước các cấp.Thực tế, có những khoản đầu tư tuy không trực tiếp tạo ra tài sản cố định và tàisản lưu động cho hoạt động sản xuất kinh doanh như đầu tư cho y tế, giáo dục,xoá đói giảm nghèo… Nhưng lại rất quan trọng để nâng cao chất lượng cuộc sống
và vì mục tiêu phát triển, do đó cũng được xem là đầu tư phát triển
Trong các hình thức đầu tư trên thì đầu tư phát triển là tiền đề, là cơ sở cho cáchoạt động đầu tư khác
- Mục đích:
Mục đích của đầu tư phát triển là vì sự phát triển bền vững, vì lợi ích quốc gia,cộng đồng và nhà đầu tư Trong đó, đầu tư nhà nước nhằm thúc đẩy tăng trưởngkinh tế, tăng thu nhập quốc dân, góp phần giải quyết việc làm và nâng cao đờisống của các thành viên trong xã hội Đầu tư của doanh nghiệp nhằm tối thiểu chiphí, tối đa lợi nhuận, nâng cao khả năng cạnh tranh và chất lượng nguồn nhânlực…
Hoạt động của đầu tư phát triển là một quá trình diễn ra trong thời kì dài và tồn tạivấn đề “độ trễ thời gian” Độ trễ thời gian là sự không trùng hợp giữa thời gianđầu tư và thời gian vận hành các kết quả đầu tư Đầu tư hiện tại nhưng kết quảthường được thu trong tương lai Đặc điểm này của đầu tư cần được quán triệt khiđánh giá kết quả ,chi phí và hiệu quả đầu tư phát triển
- Đặc điểm của đầu tư phát triển:
+ Quy mô tiền vốn vật tư, lao động cần thiết cho hoạt động đầu tư phát triểnthường rất lớn Vốn đầu tư lớn nằm khê đọng lâu trong suốt quá trình thực hiệnđầu tư Bên cạnh đó lao động cần sử dụng cho các dự án rất lớn, đặc biệt đối vớicác dự án trọng điểm quốc gia
+ Thời kì đầu tư kéo dài: thời kì đầu tư tính từ khi khởi công thực hiện dự án đếnkhi dự án hoàn thành và đưa vào hoạt động Nhiều công trình đầu tư phát triển cóthời gian kéo dài hàng chục năm
Trang 7+ Thời gian vận hành các kết quả đầu tư kéo dài: thời gian vận hành các kết quảđầu tư tính từ khi đưa công trình vào hoạt động cho đến khi hết thời hạn sử dụng
và đào thải công trình Nhiều thành quả đầu tư phát huy tác dụng lâu dài, có thểtồn tại vĩnh viễn như các kim tự Tháp ở Ai Cập, nhà thờ La Mã ở Rôm, Vạn LýTrường Thành ở Trung Quốc…Trong suốt quá trình vận hành, các thành quả đầu
tư chịu sự tác động hai mặt, cả tích cực và tiêu cực, của nhiều yếu tố tự nhiên,chính trị, kinh tê, xã hội…
+ Các thành quả của hoạt động đầu tư phát triển là các công trình xây dựngthường phát huy tác dụng ở ngay nơi no được tạo dựng nên, do đó, quá trình thựchiện đầu tư cũng như thời kì vận hành các kết quả đầu tư chịu ảnh hưởng lớn củacác nhân tố về tự nhiên, kinh tế, XH vùng Không thể dễ dàng di chuyển các côngtrình đã đầu tư từ nơi này sang nơi khác, nên công tác quản lí hoạt động đầu tưphát triển cần phải quán triệt đặc điểm này trên một số nội dung sau:
▪ Trước tiên, cần phải có chủ trương đầu tư và quyết định đầu tư đúng đắn
▪ Lựa chọn địa điểm đầu tư hợp lý
+ Đầu tư phát triển có độ rủi ro cao, do quy mô vốn đầu tư lớn, thời kì đầu tư kéodài, thời gian vận hành các kết quả đầu tư cũng kéo dài… nên mức độ rủi ro củahoạt động đầu tư phát triển thường cao Rủi ro đầu tư do nhiều nguyên nhân, trong
đó có nguyên nhân chủ quan từ phía các nhà đầu tư như quản lý kém, chất lượngsản phẩm không đạt yêu cầu…có nguyên nhân khách quan như giá nguyên liệutăng, giá bán sản phẩm giảm, công suất sản xuất không đạt công suất thiết kế…
- Nội dung cơ bản của đầu tư phát triển:
Hoạt động đầu tư phát triển bao gồm nhiều nội dung, tuỳ theo cách tiếp cận.Căn cứ vào lĩnh vực phát huy tác dụng, đầu tư phát triển bao gồm các nội dungsau: đầu tư phát triển sản xuất, đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng kĩ thuật chung củanền kinh tế, đầu tư phát triển văn hoá giáo dục y tế và dịch vụ XH khác, đầu tưphát triển khoa học kĩ thuật và những nội dung phát triển khác Cách tiếp cận này
là căn cứ để xác định quy mô vốn đầu tư, đánh giá kết quả và hiệu quả hoạt độngcho từng ngành lĩnh vực trong nền kinh tế quốc dân
Theo khái niệm, nội dung đầu tư phát triển bao gồm: đầu tư những tài sản vật chất(tài sản thực) và đầu tư những tài sản vô hình Đầu tư các tài sản vật chất gồm:
Trang 8đầu tư tài sản cố định (đầu tư xây dựng cơ bản) và đầu tư vào hàng tồn trữ Đầu tưtài sản vô hình gồm các nội dung sau: đầu tư nâng cao chất lượng nguồn nhân lực,đầu tư nghiên cứu và triển khai các hoạt động khoa học, kĩ thuật, đầu tư xây dựngthương hiệu, quảng cáo.
Xuất phát từ quá trình hình thành và thực hiện đầu tư, nội dung đầu tư phát triểnbao gồm: đầu tư cho các hoạt động chuẩn bị đầu tư, đầu tư trong quá trình thựchiện đầu tư và đầu tư trong giai đoạn vận hành Nội dung đầu tư phát triển trongmỗi giai đoạn lại bao gồm nhiều nội dung chi tiết khác nhau
2 Tăng trưởng và phát triển kinh tế
2.1 Khái niệm
2.1.1 Khái niệm tăng trưởng kinh tế
Tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng thu nhập của nền kinh tế trong một khoảng thờigian nhất định (thường là một năm) Sự gia tăng thể hiện ở quy mô và tốc độ Quy
mô tăng trưởng phản ánh sự gia tăng nhiều hay ít, còn tốc độ tăng trưởng được sửdụng với ý nghĩa so sánh tương đối và phản ánh sự gia tăng nhanh hay chậm giữacác thời kì Thu nhập của nển kinh tế có thể biểu hiện dưới dạng hiện vật hoặc giátrị Như vậy, bản chất của tăng trưởng là phản ánh sự thay đổi về lượng của nềnkinh tế Ngày nay, yêu cầu đặt ra là phải đảm bảo sự gia tăng liên tục, có hiệu quảcủa chỉ tiêu quy mô và tốc độ tăng thu nhập bình quân đầu người
Khi các nhà kinh tế nghiên cứu tăng trưởng kinh tế, họ quan tâm đến tăng trưởngcủa sản lượng thực tế qua một thời kì dài để có thể xác định được các yếu tố làmtăng GDP thực tế tại mức tự nhiên trong dài hạn
Các nguồn lực của tăng trưởng kinh tế: Yếu tố hàng đầu quyết định tăng trưởng lànăng suất Nhưng các yếu tố quyết định năng suất và do đó tăng truởng kinh tế lànguồn nhân lực, tích luỹ tư bản, tài nguyên thiên nhiên và tri thức công nghệ Cácnhân tố đó có thể khác nhiều giữa các nước và một số nước có thể kết hợp chúnghiệu quả hơn các nước khác
Các chính sách của chính phủ thúc đẩy tăng trưởng kinh tế:
- Chính sách khuyến khích tiết kiệm và đầu tư trong nước
- Chính sách thu hút đầu tư từ nước ngoài
Trang 9- Chính sách về vốn nhân lực
- Xác định quyền sở hữu tài sản và sự ổn định chính trị
- Chính sách mở cửa nền kinh tế
- Chính sách kiểm soát tăng dân số
- Nghiên cứu và triển khai công nghệ mới
2.1.2 Khái niệm phát triển kinh tế :
Hiện nay mọi quốc gia đều phấn đấu vì mục tiêu phát triển và trải qua thời gian, kháiniệm về phát triển cũng đã đi đến thống nhất Phát triển kinh tế được hiểu là quá trìnhtăng tiến về mọi mặt của nền kinh tế Phát triển kinh tế được xem như là quá trình biếnđổi cả về lượng và chất, nó là sự kết hợp một cách chặt chẽ quá trình hoàn thiện củahai vấn đề kinh tế và xã hội ở mỗi quốc gia Theo cách hiểu như vậy, nội dung củaphát triển kinh tế được khái quát theo ba tiêu thức:
- Một là, sự tăng lên tổng mức thu nhập của nền kinh tế và mức gia tăng thu nhập
bình quân trên một đầu người Có nghĩa là tốc độ tăng trưởng kinh tế phải lớn hơntốc độ tăng dân số
- Hai là, sự biến đổi theo đúng xu thế của cơ cấu kinh tế
- Ba là, sự biến đổi ngày càng tốt hơn trong các vấn đề xã hội
Phát triển bền vững là sự phát triển đáp ứng các nhu cầu hiện tại mà không làmnguy hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai Phát triển bềnvững là quá trình phát triển có sự kết hợp chặt chẽ, hợp lí, hài hoà giữa ba mặt của
sự phát triển, gồm : tăng trưởng kinh tế, cải thiện các vấn đề xã hội và bảo vệ môitrưòng
2.2 Mối quan hệ giữa tăng trưởng và phát triển
Tăng trưởng và phát triển kinh tế là vấn đề được quan tâm hàng đầu của các quốcgia đang phát triển Hai vấn đề này không đồng nhất với nhau nhưng có mối quan
hệ với nhau Tăng trưởng kinh tế là một khái niệm được hiểu theo nghĩa là sự thayđổi về lượng các chỉ tiêu kinh tế Chẳng hạn như các chỉ tiêu về GDP, GNP, cáncân thương mại, sản lượng sản xuất, xuất khẩu, nhập khẩu, Còn về vấn đề pháttriển kinh tế, ngoài các chỉ tiêu về số lượng người ta còn quan tâm đến các chỉ tiêu
về chất lượng như: chỉ tiêu nghèo đói và bất bình đẳng, chỉ tiêu phản ánh mức
Trang 10sống, chỉ tiêu phản ánh giáo dục và trình đọ dân trí, chỉ tiêu về tuổi thọ bình quân,dân số việc làm
Tăng trưởng kinh tế chưa chắc đã là phát triển kinh tế, nó chỉ là điều kiện cần củaphát triển Có tăng trưởng kinh tế, của cải vật chất dồi dào mới có điều kiện nâng caochất lượng cuộc sống, giải phóng con người và thực hiện sự bình đẳng XH Ngoài ra,tăng trưởng kinh tế là yếu tố quan trọng cho việc ổn định chính trị và có điều kiệncủng cố an ninh quốc phòng Và đến lượt mình, chính trị ổn định, an ninh quốcphòng được giữ vững là nền tảng vững chắc cho tăng trưởng kinh tế
2.3 Một số chỉ tiêu đánh giá:
2.3.1 Một số thước đo tăng trưởng :
Tổng giá trị sản xuất (GO- Gross output) tính trực tiếp từ sản xuất và dịch
vụ gồm chi phí trung gian (IC) và giá trị gia tăng của sản phẩm vật chất và dịch
vụ (VA).
Công thức tính: GO = ∑ IC + ∑VA
Tổng sản phẩm quốc nội (GDP- Gross domestic product):
Là tổng giá trị sản phẩm vật chất và dịch vụ cuối cùng do kết quả hoạt độngkinh tế trên phạm vi lãnh thổ của một quốc gia tạo nên trong một thời kì nhất
VAi là giá trị gia tăng ngành i
VAi = GOi - ICi
Trong đó: GOi là tổng giá trị sản xuất, ICi là chi phí trung gian của ngành i
Tiếp cận từ chi tiêu : GDP = C + G + I + (X – M)
Nếu tiếp cận từ thu nhập,
GDP = W + R + In + Pr + Dp + Ti
2.3.1.3 Tổng thu nhập quốc dân ( GNI- Gross national income)
Trang 11GNI = GDP + Chênh lệch thu nhập nhân tố với nước ngoài
Chênh lệch thu nhập nhân tố với nước ngoài = Thu nhập lợi tức nhân tố vớinước ngoài - Chi trả lợi tức nhân tố ra nước ngoài
2.3.1.4 Thu nhập bình quân đầu người (GDP/người; GNI/người)
Chỉ tiêu này phản ánh tăng trưởng kinh tế có tính đến sự thay đổi dân số Quy
mô và tốc độ tăng thu nhập bình quân đầu người là những tiêu chí để nâng caomức sống dân cư nói chung Sự gia tăng liên tục với tốc độ ngày càng cao củachỉ tiêu này là dấu hiệu thể hiện sự tăng trưởng bền vững và nó còn được sửdụng trong việc so sánh mức sống dân cư giữa các quốc gia với nhau
Thu nhập quốc dân( NI )
Thu nhập quốc dân (NI): Là phần giá trị sản phẩm vật chất và dịch vụ mớisáng tạo ra trong một khoảng thời gian nhất định.NI chính là tổng thu nhậpquốc dân (GNI) sau khi đã trừ đi khấu hao vốn cố định của nền kinh tế (Dp)
-Ý nghĩa số nhân đầu tư
Số nhân đầu tư phản ánh vai trò của đầu tư đối với sản lượng Nó cho thấy sảnlượng gia tăng bao nhiêu khi đầu tư gia tăng một đơn vị
Trang 12Trong đó: ΔY là mức gia tăng sản lượngY là mức gia tăng sản lượng
ΔY là mức gia tăng sản lượngI là mức gia tăng đầu tư
k là số nhân đầu tư
Từ công thức (1) ta có :
ΔY là mức gia tăng sản lượngY= k ΔY là mức gia tăng sản lượngI (2)
Như vậy việc gia tăng đầu tư có tác dụng khuếch đại sản lượng tăng lên số nhânlần Trong công thức trên, k là một số dương lớn hơn 1
Vì khi I= S, có thể biến đổi công thức (2) thành:
1 1
1 1
2.1 Tư tưỏng của mô hình:
Trang 13Nếu số nhân đầu tư giải thích mối quan hệ giữa việc gia tăng đầu tư với gia tăngsản lượng hay việc gia tăng đầu tư có ảnh hưởng như thế nào đến sản lượng Nhưvậy đầu tư xuất hiện như một yếu tố của tổng cầu Theo Keynes, đầu tư cũng đượcxem xét dưới góc độ tổng cung, nghĩa là mỗi sự thay đổi của sản lượng làm thayđổi đầu tư như thế nào Nghĩa là khi thực hiện các dự án đầu tư sẽ làm tăng mộtmức sản lượng nhất định và khi sản lượng tăng thêm,làm tăng khối lượng tư bản
và lại thúc đẩy sự gia tăng đầu tư Tư tưởng trung tâm của mô hình gia tốc dựatrên mối quan hệ đơn giản này
2.2 Nội dung của lý thuyết
Theo lí thuyết này, để sản xuất ra 1 đơn vị đầu ra cho trước cần phải có một lượngvốn đầu tư nhất định Tương quan giữa sản lượng và vốn đầu tư có thể được biểudiễn như sau :
K : Vốn đầu tư tại thời kì nghiên cứu
Y : Sản lượng tại thời kì nghiên cứu
x : Hệ số gia tốc đầu tư
Từ công thức (4) suy ra :
K = x * Y (5)
Như vậy, nếu x không đổi thì khi quy mô sản lượng sản xuất tăng dẫn đến nhu cầuvốn đầu tư tăng theo và ngược lại Nói cách khác, chi tiêu đầu tư tăng hay giảmphụ thuộc nhu cầu về tư liệu sản xuất và nhân công Nhu cầu các yếu tố sản xuấtlại phụ thuộc vào quy mô sản phẩm cần sản xuất
2.3 Nhận xét
Sản lượng phải tăng liên tục mới làm cho đầu tư tăng cùng tốc độ, hay không đổi
so với thời kì trước
Lý thuyết gia tốc đầu tư cho thấy: đầu tư tăng tỷ lệ với sản lượng ít ra là trongtrung và dài hạn
2.3.1 Ưu điểm của lý thuyết
Trang 14- Lí thuyết gia tốc đầu tư phản ánh quan hệ giữa sản lượng với đầu tư Nếu xkhông đổi trong kì kế hoạch thì có thể sử dụng công thức để lập kế hoạch kháchính xác.
- Lí thuyết phản ánh sự tác động của tăng trưởng kinh tế đến đầu tư Khikinh tế tăng trưởng cao, sản lượng nền kinh tế tăng, cơ hội kinh doanh lớn, dẫnđến tiết kiệm tăng cao và đầu tư nhiều
2.3.2 Nhược điểm của lý thuyết
- Lí thuyết giả định quan hệ tỷ lệ giữa sản lượng và đầu tư là cố định trong khi thực tế đại lượng này (x) luôn luôn biến động do sự tác động của nhiều nhân tốkhác nhau
- Thực chất lí thuyết đã xem xét sự biến động của đầu tư thuần (NI) chứ khôngphải sự biến động của tổng đầu tư do sự tác động của thay đổi sản lượng Vì, từcông thức (5) có thể viết:
+ Tại thời điểm t: K t xY t (6)
+ Tại thời điểm (t-1): K t 1 xY t 1 (7)
sẽ bằng 0 (Khi y 0 thì I =0)
- Theo lí thuyết này toàn bộ vốn đầu tư mong muốn đều được thực hiện ngaytrong cùng một thời kì Điều này không đúng bởi nhiều lí do, chẳng hạn do việccung cấp các yếu tố có liên quan đến thực hiện vốn đầu tư không đáp ứng, do cầu
Trang 15vượt quá cung… Do đó, lí thuyết gia tốc đầu tư tiếp tuc được hoàn thiện qua thờigian Theo lí thuyết gia tốc đầu tư sau này thì vốn đầu tư mong muốn được xácđịnh như là một hàm của mức sản lượng hiện tại và quá khứ, nghĩa là, qui mô đầu
tư mong muốn được xác định trong dài hạn
Nếu gọi: K t và K t 1 là vốn đầu tư thực hiện ở thời kì t và (t-1)
I chính là tổng đầu tư trong kì và là hàm của vốn mong muốn và vốn thực hiện
Lí thuyết gia tốc đầu tư và số nhân đầu tư giải thích mối quan hệ qua lại giữa đầu
tư và sản lượng Mỗi sự gia tăng của đầu tư đều kéo theo việc gia tăng bổ sung laođộng, nguyên vật liệu sản xuất… dẫn đến gia tăng sản phẩm (giải thích qua sốnhân đầu tư) Sản lượng gia tăng, dẫn đến gia tăng tiêu dùng (do thu nhập ngườitiêu dùng tăng), tăng cầu hàng hóa và dịch vụ nên lại đòi hỏi gia tăng đầu tư mới
Trang 16(giải thích qua mô hình gia tốc đầu tư) Gia tăng đầu tư mới dẫn đến gia tăng sảnlượng, gia tăng sản lượng lại là nhân tố thúc đẩy gia tăng đầu tư Quá trình nàydiễn ra liên tuc, dây chuyền.
3 Lý thuyết quỹ nội bộ của đầu tư:
3.1 Vai trò của quỹ nội bộ:
Vốn đầu tư là một nguồn lực quan trọng và không thể thiếu được để thành lập mộtdoanh nghiệp hay khi tiến hành hoạt động đầu tư Tuỳ theo loại hình doanh nghiệp
và các đặc điểm cụ thể, mỗi doanh nghiệp có thể có các phương thức tạo vốn vàhuy động vốn khác nhau Trong đó, tự tài trợ bằng nguồn vốn nội bộ là một conđường tốt vì công ty phát huy được nguồn lực của chính mình, giảm bớt sự phụthuộc bên ngoài Tuy nhiên, cũng không nên lạm dụng nguồn vốn nội bộ này quánhiều mà chỉ nên chiếm một tỷ trọng hợp lý trong tổng nguồn vốn huy động được
3.2 Nội dung lý thuyết quỹ nội bộ của đầu tư:
Theo lý thuyết này, đầu tư có quan hệ tỷ lệ thuận với lợi nhuận thực tế:
I = f (lợi nhuận thực tế) Do đó, dự án đầu tư nào đem lại lợi nhuận cao sẽ đượclựa chọn Vì lợi nhuân cao, thu nhập giữ lại cho đầu tư sẽ lớn và mức đầu tư sẽcao hơn Nguồn vốn cho đầu tư có thể huy động bao gồm: Lợi nhuận giữ lại, tiềntrích khấu hao, đi vay các loại trong đó bao gồm cả việc phát hành trái phiếu vàbán cổ phiếu Lợi nhuận giữ lại và tiền trích khấu hao tài sản là nguồn vốn nội bộcủa doanh nghệp, còn đi vay và phát hành trái phiếu, bán cổ phiếu là nguồn vốnhuy động từ bên ngoài Vay mượn thì phải trả nợ, trường hợp nền kinh tế lâm vàotình trạng suy thoái, doanh nghiệp có thể không trả được nợ và lâm vào tình trạngphá sản Do đó việc đi vay không phải là điều hấp dẫn, trừ khi được vay ưu đãi.Cũng tương tự, việc tăng vốn đầu tư bằng phát hành trái phiếu cũng không phải làbiện pháp hấp dẫn Còn bán cổ phiếu để tài trợ cho đầu tư chỉ được các doanhnghiệp thực hiện khi hiệu quả của dự án đầu tư là rõ ràng và thu nhập do dự ánđem lại trong tương lai lớn hơn các chi phí đã bỏ ra
Chính vì vậy, theo lí thuyết quỹ nôi bộ của đầu tư, các doanh nghiệp thường chọnbiện pháp tài trợ cho đầu tư từ các nguồn vốn nội bộ và chính sự gia tăng của lợinhuận sẽ làm cho mức đầu tư của doanh nghiệp lớn hơn
Sự khác nhau giữa lí thuyết gia tốc đầu tư và lí thuyết này dẫn đến việc thực thicác chính sách khác nhau để khuyến khích đầu tư Theo lí thuyết gia tốc đầu tư,
Trang 17chính sách tài khóa mở rộng sẽ làm cho mức đầu tư cao hơn và do đó sản lượngthu được cũng sẽ cao hơn Còn việc giảm thuế lợi tức của doanh nghiệp không cótác dụng kích thích đầu tư Ngược lại, theo lí thuyết quỹ nội bộ của đầu tư thì việcgiảm thuế lợi tức của doanh nghiệp sẽ làm tăng lợi nhuận từ đó tăng đầu tư vàtăng sản lượng, mà tăng lợi nhuận có nghĩa là tăng quỹ nội bộ Quỹ nội bộ là mộtyếu tố quan trọng để xác định lượng vốn đầu tư mong muốn, còn chính sách tàikhóa mở rộng không có tác dụng trực tiếp làm tăng đầu tư theo lí thuyết này.
4 Lý thuyết tân cổ điển:
Theo lí thuyết này thì đầu tư bằng tiết kiệm (ở mức sản lượng tiềm năng) Còn:tiết kiệm S = s*y trong đó 0 s 1
s: Mức tiết kiệm từ 1 đơn vị sản lượng(thu nhập) và tỷ lệ tăng trưởng của lao độngbằng với tỷ lệ tăng dân số và kí hiệu là n
Theo hàm sản xuất, các yếu tố của sản xuất là vốn và lao động có thể thay thế chonhau trong tương quan sau đây:
Y= A e K 1
N Trong đó:
y : Sản lượng
K : Vốn đầu tư
1
N : Lao động
A e: biểu thị ảnh hưởng của yếu tố công nghệ
và ( 1 )là hệ số co giãn thành phần của sản xuất với các yếu
tố vốn và lao động (thí dụ nếu =0.25 thì 1% tăng lên của vốn sẽ làm cho sảnlượng tăng lên 25%) Trong điều kiện cạnh tranh hoàn hảo thì và ( 1 )biểuthị phần thu nhập quốc dân từ vốn và lao động
Từ hàm sản xuất Cobb Douglas trên đây ta có thể tính được tỷ lệ tăng trưởng củasản lượng như sau:
Trang 18h: Tỷ lệ tăng trưởng của vốn
n: Tỷ lệ tăng trưởng lao động
Biểu thức trên cho thấy:tăng trưởng của sản lượng có mối quan hệ thuận với tiến
bộ của công nghệ và tỷ lệ tăng trưởng của vốn và lao động
Trong một nền kinh tế ở “thời đại hoàng kim”có sự cân bằng trong tăng trưởngcủa các yếu tố sản lượng,vốn và lao động
Gọi đầu tư ròng là I và I K
lệ tăng trưởng của công nghệ và lao động Điều này cho thấy,không thể có thunhập trên đầu người tăng nếu không có sự tiến bộ của công nghệ
5 Mô hình Harrod - Domar:
Trang 19Mô hình Harrod - Domar giải thích mối quan hệ giữa tốc độ tăng trưởngkinh tế với yếu tố tiết kiệm và đầu tư.
Để xây dựng mô hình, các tác giả đưa ra 2 giả định:
- Lao động đầy đủ việc làm, không có hạn chế với cung lao động
- Sản xuất tỷ lệ với khối lượng máy móc
Nếu gọi: Y : Là sản lượng năm t
g =Yt Y : Tốc độ tăng trưởng kinh tế Y : Sản lượng gia tăng trong kì
S : Tổng tiết kiệm trong năm
s =
Yt
S
: Tỷ lệ tiết kiệm/GDP ICOR : Tỷ lệ gia tăng của vốn so với sản lượng
Từ đây suy ra: Y ICO s*YR
Phương trình phản ánh tốc độ tăng trưởng kinh tế:
Y ICO
Y s
Như vậy, theo Harrod - Domar, tiết kiệm là nguồn gốc của tăng trưởng kinh
tế Muốn gia tăng sản lượng với tốc độ g thì cần duy trì tỷ lệ tích luỹ để đầu tưtrong GDP là s với hệ số ICOR không đổi Mô hình thể hiện S là nguồn vốn của I,đầu tư làm gia tăng vốn sản xuất (K), gia tăng vốn sản xuất sẽ trực tiếp gia tăng
Y Cũng lưu ý rằng, do nghiên cứu ở các nước tiên tiến,nhằm xem xét vấn đề:
Trang 20để duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế 1% thì đầu tư phải tăng bao nhiêu, nên nhữngkết luận của mô hình cẩn được kiểm nghiệm kỹ khi nghiên cứu đối với các nướcđang phát triển như ở nước ta Ở những nước đang phát triển, vấn đề không đơnthuần chỉ là duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế như cũ mà quan trọng là phải tăng vớitốc độ cao hơn Đồng thời do thiếu vốn, thừa lao động, họ thường sử dụng nhiềunhân tố khác phục vụ tăng trưởng.
6 Lý thuyết phát triển cân đối (balanced growth):
Những người ủng hộ quan điểm phát triển cân đối (như R Nurkse, Rosenstein Rodan.) cho rằng phải phát triển đồng đều ở tất cả mọi ngành kinh tế quốc dân đểnhanh chóng công nghiệp hóa và chuyển dịch cơ cấu Luận cừ của họ như sau:
Trong quá trình phát triển, tất cả các ngành có liên quan mật thiết với nhau, "đầura" của ngành này là "đầu vào" của ngành kia và như vậy, sự phát triển đồng đều
và cân đối chính là đòi hỏi sự cân bằng cung cầu trong sản xuất
- Sự phát triển cân đối giữa các ngành như thế giúp tránh được các ảnh hưởng tiêucực của thị trường thế giới và hạn chế được mức độ phụ thuộc vào các nền kinh tếkhác, qua đó tiết kiệm được nguồn ngoại tệ
- Một nền kinh tế dự trên cơ cấu cân đối giữa tất cả các ngành là nền tảng vữngchắc đảm bảo sự độc lập chính trị của các nước đang phát triển
Lý thuyết này khi đưa ra được các quốc gia đang phát triển đi theo con đườngcông nghiệp hóa hướng nội (công nghiệp hóa thay thế nhập khẩu) rất ưa chuộng.tuy nhiên, khi được áp dụng thực tế đã bộc lộ những yếu điểm như sau:
- Việc phát triển một cơ cấu kinh tế cân đối và hoàn chỉnh đã đẩy các nền kinh tếđến chỗ khép kín và tách biệt với thế giới bên ngoài: điều này đi ngược lại với xuthế quốc tế hóa và toàn cần hóa kinh tế đang diễn ra trên thế giới và không tậndụng được những lợi ích tích cực từ môi trường bên ngoài đem lại
- Các nền kinh tế đang phát triển không đủ nguồn lực về nhân tài, vật lực để cóthể thuc hiện được những mục tiêu cơ cấu đặt ra
7 Lý thuyết phát triển không cân đối (unbalanced growth) hay các "cực tăng trưởng":
Trang 21Những đại diện tiêu biểu của lý thuyết này (A Hirschman, F Perrons.) cho rằngkhông thể và không nhất thiết đảm bảo tăng trưởng bền vững bằng cách duy trì cơcấu cân đối liên ngành đối với mọi quốc gia Họ lập luận như sau:
- Việc phát triển không cân đối sẽ tạo ra kích thích đầu tư Nếu cung bằng câutrong tất cả các ngành thì sẽ triệt tiêu động lực đầu tư nâng cao năng lực sản xuất
Ðể phát triển được, cần phải tập trung đầu tư vào một số ngành nhất định, tạo ramột "cú hích" thúc đẩy và có tác dụng lôi kéo đầu tư trong các ngành khác theokiểu lý thuyết số nhân, từ đó kéo theo sự phát triển của nền kinh tế
- Trong mỗi giai đoạn phát triển, vai trò "cực tăng trưởng" của các ngành trongnền kinh tế là không giống nhau Vì vậy, cần tập trung những nguồn lực (vốnkhan hiếm) cho một số lĩnh vực cụ thể trong một thời điểm nhất định
- Do trong thời kỳ đầu của quá trình công nghiệp hóa, các nước đang phát triển rấtthiếu các nguồn lực sản xuất và không có khả năng phát triển cùng một lúc đồng
bộ tất cả các ngành hiện đại Vì thế, phát triển không cân đối gần như là một sựlựa chọn bắt buộc
Cách đặt vấn đề phát triển một cơ cấu không cân đối và mở cửa ra bên ngoài của
lý thuyết này là chấp nhận sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các nền kinh tế, mà thườngthì các quốc gia chậm phát triển chịu nhiều thiệt thòi hơn cho nên lúc đầu lýthuyết này không được các nước đang phát triển đang theo mô hình công nghiệphóa hướng nội và phát triển cân đối mặn mà cho lắm nhưng càng về sau thì lýthuyết này càng được thừa nhận rộng rãi, nhất là từ sau sự thành công của cácnước công nghiệp hóa mới (NICs) Từ thập niên 1980 trở lại đây, lý thuyết này đãđược nhiều nước đang phát triển áp dụng với mô hình công nghiệp hóa mở cửa vàhướng ngoại
III VAI TRÒ CỦA ĐẦU TƯ VỚI TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ QUA CÁC
LÝ THUYẾT KINH TẾ VÀ ĐẦU TƯ:
1 Đầu tư tác động đến tổng cung của nền kinh tế.
1.1 Lí thuyết tăng trưởng kinh tế của trường phái cổ điển.
Lý thuyết cổ điển về tăng trưởng kinh tế do các nhà kinh tế học cổ điển nêu ra màcác đại diện tiêu biểu là Adam Smith và David Ricardo Adam Smith (1723-1790)được coi là người sáng lập ra kinh tế học và là người đầu tiên nghiên cứu lý luận
Trang 22tăng trưởng kinh tế một cách có hệ thống Trong tác phẩm “Của cải của các quốcgia”, ông đã nghiên cứu về tính chất, nguyên nhân tăng trưởng kinh tế và làm thếnào để tạo điều kiện cho kinh tế tăng trưởng Nội dung cơ bản của tác phẩm nàylà:
Lao động là nguồn gốc cơ bản để tạo ra của cải cho đất nước
Chính phủ không có vai trò thúc đẩy tăng trưởng kinh tế
“Ai có gì được nấy”
1.2 Quan điểm tăng trưởng kinh tế của K.Marx:
Theo Marx, sức lao động đối với nhà tư bản là một loại hàng hóa đặc biệt, giá trị
sử dụng của hàng hóa sức lao động không giống như giá trị sử dụng của các loạihàng hóa khác, vì nó có thể tạo ra một giá trị lớn hơn giá trị của bản thân nó, giátrị đó bằng giá trị sức lao động cộng với giá trị thặng dư
1.3 Lí thuyết tân cổ điển về đầu tư :
Các nhà kinh tế tân cổ điển bác bỏ quan điểm cổ điển cho rằng sản xuất trong mộttình trạng nhất định đòi hỏi những tỷ lệ nhất định về lao động và vốn, họ cho rằngvốn và lao động có thể thay thế cho nhau, và trong quá trình sản xuất có thể cónhiều cách kết hợp giữa các yếu tố đầu vào Đồng thời họ cho rằng tiến bộ khoahọc kỹ thuật là yếu tố cơ bản để thúc đẩy sự phát triển kinh tế
1.4 Mô hình Harrod-Domar:
1.4.1 Giới thiệu chung về mô hình:
Mô hình này coi đầu ra của bất kỳ một đơn vị kinh tế nào, dù là một công
ty, một ngành công nghiệp hay toàn bộ nền kinh tế phụ thuộc vào tổng số vốn đầu
tư cho nó
1.4.2 Kết luận của Harrod – Domar:
Tốc độ tăng trưởng luôn phụ thuộc vào tiết kiệm và hệ số ICOR, tồn tại 3 trạngthái tốc độ tăng trưởng khác nhau:
- Tốc độ tăng trưởng bảo đảm : g w k s (dự kiến)
- Tốc độ tăng trưởng thực tế: g r k s (thực tế)
Trang 23- Tốc độ tăng trưởng tự nhiện (g f )
→ Khái niệm về thời kỳ vàng: g w g r g f
1.5 Lý thuyết tăng trưởng kinh tế của trường phái kinh tế hiện đại:
Các nhà kinh tế học hiện đại ủng hộ việc xây dựng một nền kinh tế hỗn hợp, trong
đó thị trường trực tiếp xác định những vấn đề cơ bản của tổ chức kinh tế, nhànước tham gia điều tiết có mức độ nhằm hạn chế những mặt tiêu cực của thịtrường
CHƯƠNG II: SỰ TÁC ĐỘNG CỦA ĐẦU TƯ ĐẾN TĂNG TRƯỞNG VÀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ QUA CÁC LÝ THUYẾT KINH TẾ VỀ ĐẦU TƯ:
I.Tổng quan về đầu tư phát triển của Việt Nam trong thời gian qua:
Kể từ khi thực hiện công cuộc “ đổi mới” đến nay,kinh tế và xã hội Việt Nam đã
có những thay đổi mạnh mẽ.Trong hai thập kỷ đó,Việt Nam đã và đang hội nhậpvào nền kinh tế thế giới.Những thay đổi này đã tác động mạnh mẽ đến thươngmại,đầu tư và tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam.Đổi mới chính thức được thực hiện
từ năm 1986,bắt đầu bằng việc chuyển đổi nền kinh tế từ cơ chế kế hoạch hóa tậptrung sang kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa,tạo nên nhiều thay đổitrong các lĩnh vực xã hội,chính trị và kinh tế
Trong 10 năm trở lại đây ở Việt Nam, đầu tư trong nước và nước ngoài tăng cao
đã tạo đà tăng trưởng kinh tế mạnh, nhưng vì kinh tế nước ta chưa có sự chuyểnbiến đáng kể về năng suất lao động, năng lực cạnh tranh, hiệu quả kinh tế, nênphát triển chưa bền vững và hiệu quả đầu tư bị đánh giá vào loại thấp nhất trongcùng khu vực
1.Đầu tư trong nước:
Đầu tư trong nước là hoạt động đầu tư mà nguồn vốn đầu tư trong nước đượctài trợ từ nguồn vốn tích lũy của ngân sách nhà nước, của doanh nghiệp và tiếtkiệm trong dân cư
Dựa vào bảng sau ta có thể thấy được tổng vốn đầu tư toàn xã hội của khu vựctrong nước luôn tăng cao và chiếm tỉ trọng lớn trong đầu tư toàn xã hội:
Trang 24
Tổng số
Trong đóKinh tế Nhà nước Kinh tế ngoài nhà
nước
Khu vực cóvốn đầu tưnước ngoài
Trong vốn đầu tư của khu vực Nhà nước: vốn từ ngân sách Nhà nước năm
2008 đạt 129203 tỷ đồng, chiếm 61.8% tổng vốn đầu tư khu vực kinh tế Nhà nước
và năm 2009 vốn từ ngân sách đạt 184941 tỷ đồng chiếm 64,3 % tổng vốn đầu tưtrong nước Vốn đầu tư từ ngân sách Nhà nước do địa phương quản lý ước tínhthực hiện 66,7 nghìn tỷ đồng, bằng 102,7% kế hoạch năm,trong đó các địaphương có số vốn thực hiện lớn tập trung ở Hồ Chí Minh (9,9 tỷ đồng),HàNội(6,3 tỷ đồng),Nghệ An,Bà Rịa-Vũng Tàu,Bình Dương,Hải Phòng,Lâm Đồng
Trang 25
Vào năm 2009 trong bối cảnh suy giảm kinh tế, những khó khăn trong sản xuấtkinh doanh và hiệu quả đầu tư kinh doanh giảm sút đã ảnh hưởng trực tiếp đến cáchoạt động đầu tư phát triển Trước tình hình đó, Chính phủ đã thực hiện các giảipháp kích cầu đầu tư, tăng cường huy động các nguồn vốn, bao gồm việc ứngtrước kế hoạch đầu tư ngân sách nhà nước (NSNN) của các năm sau, bổ sungthêm nguồn vốn trái phiếu Chính phủ, vốn tín dụng đầu tư, tín dụng xuất khẩu, tíndụng đào tạo lại cho người lao động bị mất việc làm… Với những nỗ lực đó,nguồn vốn đầu tư toàn xã hội năm 2009 đã đạt được những kết quả tích cực Ướctính tổng đầu tư toàn xã hội năm 2009 đạt 708,5 nghìn tỷ đồng, bằng 42,2% GDP,tăng 16% so với năm 2008 Trong đó, nguồn vốn đầu tư nhà nước (gồm đầu tư từngân sách nhà nước, nguồn trái phiếu Chính phủ, nguồn tín dụng đầu tư theo kếhoạch nhà nước và nguồn đầu tư của các doanh nghiệp nhà nước) là 321 nghìn tỷđồng, tăng 43,3% so với năm 2008; nguồn vốn đầu tư của tư nhân và của dân cư
là 220,5 nghìn tỷ, tăng 22,5% Những kết quả này cho thấy các nguồn lực trongnước được huy động tích cực hơn
1050 tỷ đồng, bằng 83,6%; Bộ Xây dựng 689,5 tỷ đồng, bằng 69,7% kế hoạch năm2010
Trang 26Những năm gần đây các doanh nghiệp ngoài quốc doanh đã trở thành độnglực tăng trưởng Năm 2008 lĩnh vực công nghiệp, trong khi khối kinh tế nhà nước
có tốc độ tăng trưởng bình quân tám tháng là 6,5%, thấp hơn nhiều so với tốc độtoàn ngành, thì khu vực kinh tế ngoài nhà nước có tốc độ tăng cao nhất là 21,7%
Số doanh nghiệp ngoài quốc doanh năm 2007 đã lên đến khoảng 260.000 doanhnghiệp với tổng số vốn khoảng 600.000 tỷ đồng Ở khu vực này năm 2004 chiếmtới 19,6 % đầu tư toàn xã hội và đến năm 2006 thì vốn đầu tư của những doanhnghiệp ngoài quốc doanh đã là 132 nghìn tỷ đồng gấp 2 lần đầu tư nước ngoài vàchiếm 34% tổng đầu tư xã hội, tạo gần 50% GDP của cả nước Cũng trong nhữngnăm 2006, 2007 đã có rất nhiều dự án đầu tư của các doanh nghiệp ngoài quốcdoanh được phê duyệt và theo thống kê của tổng cục thống kê thì khu vực này đãđầu tư là 187,8 nghìn tỷ đồng chiếm 40,7% tổng đầu tư toàn xã hội
Ngoài nguồn vốn thu hút từ các doanh nghiệp ngoài quốc doanh và nguồn vốnđầu tư phát triển của nhà nước hoạt động đầu tư còn được lấy từ các quỹ tín dụng.Năm 2000 tín dụng cho toàn bộ nền kinh tế là 156 nghìn tỷ đồng chiếm 35%GDP
và đến năm 2004 là 420 nghìn tỷ đồng chiếm 59%GDP Trong năm 2007 vốn tíndụng phát triển của nhà nước ước tính đạt 40,3 nghìn tỷ đồng , đạt kế hoạch đề ratrong năm
Nguồn vốn trong dân cư cũng đóng vài trò quan trọng vào nội lực của nướcta.Theo thống kê ở Việt Nam từ năm 1990 - 2007 hộ gia đình tíết kiệm được10,3% và đầu tư 4,2%, thặng dư 6,1%.Năm 2004 nguồn vốn trong dân cư đạt 69,5nghìn tỷ đồng Ngoài ra, chính phủ còn thực hiện phát hành trái phiếu chính phủvới dự tính số lượng phát hành là 110 nghìn tỷ đồng từ năm 2004 – 2010,năm
2009 phát hành được 36 nghìn tỷ đồng và dự kiến năm 2010 là 56 nghìn tỷ đồng.Chính phủ còn phát hành cả trái phiếu chính phủ ra nước ngoài và thí điểm của nó
là năm 2005 chính phủ đã phát hành 750 triệu USD trái phiếu chính phủ là nguồnvốn để đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng,giao thông vận tải
2.Đầu tư nước ngoài:
2.1.Đầu tư trực tiếp nước ngoài:
Đến năm 2009 tính sơ bộ cả nước có 1208 dự án được cấp giấy chứng nhận đầu tưvới tổng vốn đăng ký mới đạt 23107,3 triệu USD, và tổng số vốn thực hiện là 10
Trang 27tỷ USD.Trong 12 tháng năm 2010, ước tính các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài
đã giải ngân được 11 tỷ USD, tăng 10% so với cùng kỳ năm 2009 Trong đó, giảingân của các nhà đầu tư nước ngoài ước đạt 8 tỷ USD Các dự án đầu tư nướcngoài triển khai trong năm 2010 đạt được mục tiêu giải ngân đề ra
Xuất khẩu của khu vực ĐTNN (kể cả dầu khí) trong năm 2010 dự kiến đạt 38,8 tỷUSD, tăng 27,8% so với cùng kỳ và chiếm 53,1% tổng xuất khẩu cả nước Nếukhông tính dầu thô, khu vực ĐTNN dự kiến xuất khẩu 33,9 tỷ USD, chiếm 46%tổng xuất khẩu và tăng 40,1% so với cùng kỳ 2009 Nhập khẩu của khu vựcĐTNN năm 2010 đạt 36,5 tỷ USD, tăng 39,9% so với cùng kỳ và chiếm 42,8%tổng nhập khẩu cả nước Trong năm 2010, khu vực ĐTNN xuất siêu 2,35 tỷ USD,trong khi cả nước nhập siêu 12,375 tỷ USD; nếu không tính xuất khẩu dầu thô,khu vực ĐTNN nhập siêu 2,59 tỷ USD, chiếm 20,9% giá trị nhập siêu cả nước.Theo các báo cáo nhận được, tính đến ngày 21 tháng 12 năm 2010 cả nước có 969
dự án mới được cấp GCNĐT với tổng vốn đăng ký 17,23 tỷ USD, tăng 2,5% sovới cùng kỳ năm 2009
Trong 12 tháng đầu năm 2010, có 269 lượt dự án đăng ký tăng vốn đầu tư vớitổng vốn đăng ký tăng thêm là 1,37 tỷ USD, bằng 23,5% so với cùng kỳ năm2009
Tính chung cả cấp mới và tăng vốn, trong 12 tháng đầu năm 2010, các nhà đầu tưnước ngoài đã đăng ký đầu tư vào Việt Nam 18,59 tỷ USD, bằng 82,2% so vớicùng kỳ 2009
2.2.Đầu tư nước ngoài gián tiếp:
Đa phần vốn vay ODA ưu đãi đều dùng cho công cuộc xoá đói giảm nghèo,phát triển nông nghiệp nông thôn, giao thông vận tải và thông tin liên lạc Hiệnnay, ngân hàng thế giới là cơ quan viện trợ đa phương lớn nhất, Nhật Bản là quốcgia viện trợ song phương lớn nhất cho Việt Nam Xét về viện trợ không hoàn lạithì Pháp là lớn nhất và Đan Mạch là thứ nhì Ngoài ra theo số liệu đến năm 2008,hiện có trên 50 Nhà tài trợ song phương và đa phương đã cung cấp nguồn Hỗ trợphát triển chính thức (ODA) cho Việt Nam với mức cam kết năm sau cao hơnnăm trước tổng cộng trên 42 tỷ USD
Trang 28Việc thực hiện vốn cam kết hay nói cách khác là tốc độ giải ngân của Việt Namcòn chậm và chưa đạt được hiệu quả cao và đang có xu hướng sút giảm trong thờigian 3 năm trở lại đây Tốc độ giải ngân chậm gây ra việc lãng phí, thất thoát vốngây ra gánh nặng nợ không cần thiết cho thế hệ sau và gây ảnh hưởng xấu cho khảnăng thu hút các nguồn đầu tư quốc tế khác
Từ năm 1993 đến nay (tính đến hết tháng 10 năm 2008), Chính phủ Việt Nam vàcác nhà tài trợ đã ký các điều ước quốc tế cụ thể về ODA với tổng số vốn đạt35,217 tỷ USD, chiếm 82,98% tổng vốn ODA cam kết trong thời kỳ này, trong đóvốn ODA vay ưu đãi chiếm khoảng 80%, vốn ODA không hoàn lại chiếm khoảng20%.Trong thời kỳ 1993-2008 (tính đến hết tháng 10 năm 2008), tổng vốn ODAgiải ngân đạt 22,065 tỷ USD, chiếm 52% tổng vốn ODA cam kết và 62,65% tổngvốn ODA ký kết
Ngoài nguồn vốn tài trợ ODA, ở Việt nam còn có khoảng 600 các tổ chức phiChính phủ quốc tế hoạt động với số tiền viện trợ hàng năm lên đến 200 triệu USDtrong nhiều lĩnh vực khác nhau, liên quan trực tiếp đến đời sống người dân tại cácvùng nông thôn, miền núi, vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc
2.3.Đầu tư ra nước ngoài của Việt Nam:
ĐẦU TƯ RA NƯỚC NGOÀI PHÂN THEO NGÀNH
(Tính tới ngày 31/12/2007-chỉ tính các dự án còn hiệu lực)
Nguồn:Cục đầu tư nước ngoài-Bộ Kế Hoạch Đầu tư
Tính đến hết năm 2007, qua 16 năm thực hiện ĐTRNN, Việt Nam có 265
dự án ĐTRNN còn hiệu lực với tổng vốn đầu tư 2,006 tỷ USD, vốn thực hiện đạtkhoảng 800 triệu USD, chiếm 40% tổng vốn ĐTRNN Quy mô vốn đầu tư bình
Trang 29quân đạt 7,5 triệu USD/dự án Qua từng giai đoạn, quy mô vốn đầu tư đã tăng dần,điều này cho thấy tác động tích cực của khuôn khổ pháp lý đối với hoạt độngĐTRNN của các doanh nghiệp Việt Nam; cũng như sự trưởng thành về mọi mặtcủa doanh nghiệp nhà nước tham gia vào hoạt động ĐTRNN.Còn đến năm 2009thì có 472 dự dán với vốn đăng ký là 7723,9 triệu USD.
Trong giai đoạn 1989-1998 có 18 dự án ĐTRNN với tổng vốn đăng ký trên 13,6triệu USD; quy mô vốn đầu tư bình quân đạt 0,76 triệu USD/dự án
Thời kỳ 1999-2005 có 131 dự án ĐTRNN với tổng vốn đăng ký đạt 731,4 triệuUSD, gấp 7 lần về số dự án và gấp 53 lần về tổng vốn đầu tư đăng ký so với thời
kỳ 1989-1998; quy mô vốn đầu tư bình quân đạt 5,58 triệu USD/dự án, cao hơngiai đoạn 1989-1998
Từ năm 2006 tới hết năm 2007 có 116 dự án ĐTRNN với tổng vốn đăng ký đạttrên 1,26 tỷ USD; tuy chỉ bằng 88% về số dự án, nhưng tăng 72,4% về tổng vốnđầu tư đăng ký so với giai đoạn 1999-2005; quy mô vốn đầu tư bình quân đạt 10,8triệu USD/dự án, cao hơn thời kỳ 1999-2005
Tính đến hết tháng 02/2010, Việt Nam có 575 dự án của các doanh nghiệp ViệtNam đầu tư ra 55 quốc gia và vùng lãnh thổ với tổng vốn đầu tư của nhà đầu tưViệt Nam đạt trên 10 tỷ Đô la Mỹ
a) ĐTRNN phân theo ngành:
Các doanh nghiệp Việt Nam ĐTRNN tập trung chủ yếu vào lĩnh vực công nghiệp(113 dự án, tổng vốn đầu tư là 1,5 tỷ USD) chiếm 42,6% về số dự án và 75% tổngvốn đăng ký ĐTRNN Trong đó, có một số dự án quy mô vốn đầu tư trên 100triệu USD, như: Công ty cổ phần đầu tư và phát triển điện Việt-Lào đầu tư 2 dựán: Thủy điện Xekaman 1, tổng vốn đầu tư 441,6 triệu USD và) Thủy điệnXekaman 3, tổng vốn đầu tư 273 triệu USD
Tập đoàn Dầu khí Việt Nam đầu tư 243 triệu USD thăm dò khai thác dầu khí tạiAngiêri Công ty Đầu tư phát triển dầu khí đầu tư 2 dự án thăm dò khai thác dầukhí tại Madagascar (vốn 117,36 triệu USD) và tại I Rắc (vốn 100 triệu USD).Tiếp theo là lĩnh vực nông-lâm-ngư nghiệp (53 dự án, tổng vốn đăng ký ĐTRNN
là 286 triệu USD) chiếm 20% về số dự án và 14,26% tổng vốn đăng ký ĐTRNN.Trong đó, đa số là dự án đầu tư trồng cao su, cây công nghiệp tại Lào với một số
dự án quy mô lớn như: Công ty cổ phần cao su Dầu Tiếng Việt -Lào, vốn đầu tư
Trang 3081,9 triệu USD; Công ty cao su Đắc Lắc, vốn đầu tư 32,3 triệu USD; Công ty cổphần cao su Việt-Lào, vốn đầu tư 25,5 triệu USD.
Lĩnh vực dịch vụ (99 dự án ĐTRNN, tổng vốn đăng ký ĐTRNN là 215,5 triệuUSD) chiếm 37,3% về số dự án và 10,7% tổng vốn đăng ký ĐTRNN Trong đó,
có một số dự án lớn như: Công ty viễn thông quân đội Viettel đầu tư 27 triệu USDtại Campuchia để khai thác mạng viễn thông di động, Công ty cổ phần đầu tư Việt
Sô đầu tư 35 triệu USD để xây dựng Trung tâm thương mại, văn phòng cho thuêtại Moscow-Liên bang Nga, Công ty dịch vụ kỹ thuật dầu khí đầu tư 21 triệu USDtại Singapore để đóng mới tàu chở dầu Còn lại là các dự án có quy mô vừa vànhỏ đầu tư vào các địa bàn như Hoa Kỳ, Nhật Bản, Trung Quốc
b) ĐTRNN phân theo đối tác:
Các doanh nghiệp Việt Nam đã đầu tư tại 37 quốc gia và vùng lãnh thổ, nhưngchủ yếu tại: Châu Á (180 dự án, tổng vốn đầu tư là 1,3 tỷ USD), chiếm 68% về số
dự án và 65% tổng vốn đầu tư đăng ký, trong đó, tập trung đầu tư sản xuất khai thác khoáng sản, trồng cao su tại Lào (98 dự án, tổng vốn đầu tư là 1,04 tỷUSD), chiếm 37% về số dự án và 51,8% tổng vốn đầu tư đăng ký Châu Phi có 2
điện-dự án thăm dò, khai thác dầu khí của Tập đoàn Dầu khí Việt Nam, chiếm 18%tổng vốn đầu tư đăng ký (1 dự án đầu tư 243 triệu USD tại Angiêri sau giai đoạnthăm dò, thẩm lượng dự án đã phát hiện có dầu và khí ga và 1 dự án đầu tư 117,36triệu USD tại Madagasca hiện có kết quả khả quan) Châu Âu có 36 dự án, tổngvốn đầu tư là 100,5 triệu USD, chiếm 13,5% về số dự án và khoảng 5% tổng vốnđầu tư đăng ký, trong đó, Liên bang Nga có 12 dự án, tổng vốn đầu tư là 78 triệuUSD
c) Tình hình thực hiện dự án ĐTRNN:
Tính đến hết năm 2007, các dự án ĐTRNN đã giải ngân vốn khoảng 800 triệuUSD, chiếm 40% tổng vốn ĐTRNN Trong số các dự án đã triển khai thực hiện,lĩnh vực công nghiệp chiếm tỷ trọng lớn nhất, bằng 67% tổng vốn thực hiện và đạtkhoảng 60% tổng vốn đăng ký trong lĩnh vực công nghiệp, trong đó một số dự ánlớn đã triển khai thực hiện, như Dự án thăm dò dầu khí lô 433a & 416b tạiAngiêria và lô SK305 ở Malaysia của Tập đoàn Dầu khí Việt Nam đã giải ngân
Trang 31vốn khoảng 150 triệu USD Hiện tại lô 433a-416b ở Angiêri (giếng MOM-2 cóphát hiện dầu khí, giếng MOM-6 bis cho dòng dầu 5.100 thùng/ngày) và lô hợpđồng SK305 ở Malaysia (giếng DANA-1X cho dòng dầu 3.100 thùng/ngày) Dự
án đầu tư sang Singapore của Công ty Dịch vụ kỹ thuật dầu khí (PTSC) đã gópvốn thực hiện 22,7 triệu USD Dự án thủy điện Xekaman 3 tại Lào đang xây dựngcác hạng mục công trình theo tiến độ với vốn thực hiện khoảng 100 triệu USD.Ngoài ra, các dự án trồng cây công nghiệp, cao su tại 4 tỉnh Nam Lào đang tíchcực triển khai thực hiện theo kế hoạch: Công ty Cao su Đắc Lắc đầu tư vốn thựchiện khoảng 15 triệu USD, Tập đoàn công nghiệp cao su Việt Nam đã triển khaiđầu tư thực hiện 20 triệu USD để trồng, sản xuất và chế biến cao su theo tiến độ,nhưng do tiến độ giao đất chậm nên khó khăn cho kế hoạch sản xuất của doanhnghiệp Nguyên nhân vì công tác đền bù giải phóng mặt bằng thiếu những quyđịnh thống nhất (về quy hoạch đất đai) từ trung ương đến chính quyền địaphương Một số dự án trong lĩnh vực dịch vụ cũng đã triển khai thực hiện như:Công ty TNHH cà phê Trung Nguyên đầu tư sang Singapore hoạt động hiệu qua,
đã đưa hương vị cà phê Việt Nam giới thiệu với bạn bè quốc tế Công ty cổ phầnphần mềm FPT đầu tư sang Nhật Bản đã hợp tác đào tạo được một ngũ lập trìnhviên phần mềm có trình độ quốc tế Công ty cổ phần đầu tư Việt Sô đã góp vốn2,5 triệu USD xây dựng Trung tâm cộng đồng đa năng TP HCM tại Liên bangNga Dự án được chính quyền thành phố Moscow chấp thuận đầu tư (quyết định2288-RP ngày 15/11/2005) và giao đất (biên bản giao đất 1739 ngày 19/12/2007),
đã chọn được nhà thầu thi công và thuê công ty tư vấn và được phê chuẩn giảipháp kiến trúc của kiến trúc sư trưởng thành phố Dự kiến cuối năm 2008 khởicông xây dựng sau khi được cơ quan chức năng Liên bang Nga phê duyệt, thẩmđịnh xong thiết kế kỹ thuật và một số khác (phòng cháy chữa cháy, bảo vệ môitrường.v.v.) Công ty viễn thông Quân đội (Viettel) đầu tư sang Campuchia đangtriển khai theo tiến độ đề ra v.v…Bên cạnh đó, còn có dự án đầu tư trong côngnghiệp sản xuất hàng may mặc tại Lào của Công ty Scavi Việt Nam (một doanhnghiệp 100% vốn của Việt kiều Pháp thành lập theo Luật Đầu tư nước ngoài tạiViệt Nam) đang hoạt động rất hiệu quả
Trang 32II.TỔNG QUAN VỀ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ TRONG THỜI GIAN QUA:
Kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội 5 năm 2006-2010 và Chiến lược phát triển kinhtế-xã hội 10 năm 2001-2010 Kết quả hoạt động sản xuất, kinh doanh của năm
2010 là cơ sở và đặt nền tảng cho việc xây dựng và thực hiện Kế hoạch phát triểnkinh tế-xã hội năm 2011, năm đầu của Kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội 5 năm2011-2015 và Chiến lược phát triển kinh tế-xã hội 10 năm 2011-2020
Kết quả phục hồi tốc độ tăng trưởng kinh tế:
Tốc độ tăng tổng sản phẩm trong nước cao hơn năm 2009
Với quyết tâm cao của cả nước, Việt Nam được đánh giá là một trong những nướcsớm vượt qua giai đoạn khó khăn và phục hồi nhanh sau khủng hoảng tài chínhtoàn cầu Tổng sản phẩm trong nước (GDP) năm 2010 ước tính tăng 6,78% so vớinăm 2009, trong đó quý I tăng 5,84%; quý II tăng 6,44%; quý III tăng 7,18% vàquý IV tăng 7,34% Đây là mức tăng khá cao so với mức tăng 6,31% của năm
2008 và cao hơn hẳn mức 5,32% của năm 2009, vượt mục tiêu đề ra 6,5% Trong6,78% tăng chung của nền kinh tế, khu vực nông, lâm nghiệp và thuỷ sản tăng2,78%, đóng góp 0,47 điểm phần trăm; công nghiệp, xây dựng tăng 7,7%, đónggóp 3,20 điểm phần trăm và khu vực dịch vụ tăng 7,52%, đóng góp 3,11 điểmphần trăm
Tốc độ tăng tổng sản phẩm trong nước(theo giá so sánh 1994)
%
Phân theo khu vực kinh tế
Nông, lâm nghiệp và thuỷ sản 1,82 2,78