1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Thực trạng sức khỏe tâm thần ở lứa tuổi học sinh trung học cơ sở

7 20 2

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 640,34 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ở lứa tuổi học sinh trung học cơ sở (THCS), đây được coi là thời kì phát triển phức tạp nhất. Đồng thời là giai đoạn khiến học sinh (HS) THCS dễ nảy sinh, có các vấn đề về sức khoẻ tâm thần (SKTT). Việc quan tâm đến SKTT cho HS THCS là rất cần thiết và có ý nghĩa quan trọng.

Trang 1

THỰC TRẠNG SỨC KHỎE TÂM THẦN

Ở LỨA TUỔI HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ

HỒ THỊ HÃO Khoa Tâm lý - Giáo dục, Trường Đại học Sư phạm Huế, Đại học Huế

Tóm tắt: Ở lứa tuổi học sinh trung học cơ sở (THCS), đây được coi là thời kì phát

triển phức tạp nhất Đồng thời là giai đoạn khiến học sinh (HS) THCS dễ nảy sinh,

có các vấn đề về sức khoẻ tâm thần (SKTT) Việc quan tâm đến SKTT cho HS THCS

là rất cần thiết và có ý nghĩa quan trọng Bảng kiểm kê hành vi ở trẻ em từ 6 đến 18

tuổi (Youth Self Report - YRS) của Achenbach đã được sử dụng để tìm hiểu thực

trạng SKTT của học sinh THCS Nghiên cứu tiến hành trên 278 HS được lựa chọn

ngẫu nhiên từ khối 8 và khối 9 Kết quả nghiên cứu cho thấy tỉ lệ HS có nguy cơ về

các vấn đề SKTT và HS có các vấn đề về SKTT ở mức độ khá cao Tỉ lệ HS có

những hành vi hướng nội cao hơn hướng ngoại Than phiền cơ thể và lo âu trầm cảm

là những hành vi có vấn đề về SKTT thường gặp nhất ở các em Trên cơ sở nghiên

cứu thực trạng SKTT ở lứa tuổi HS THCS, nghiên cứu cũng đã đề xuất các biện pháp

giúp cải thiện SKTT ở lứa tuổi HS THCS

Từ khóa: Sức khỏe tâm thần, hành vi hướng nội, hành vi hướng ngoại, học sinh

trung học cơ sở

1 ĐẶT VẤN ĐỀ

Lứa tuổi HS THCS, lứa tuổi được gọi với nhiều cái tên khác nhau như: “thời kỳ quá độ”,

“tuổi khó bảo”, “tuổi khủng hoảng”, “tuổi bất trị”, Đây được coi là thời kì phát triển phức tạp

nhất, và cũng là thời kì chuẩn bị quan trọng cho những bước trưởng thành sau này, với sự phát

triển có nhiều biến động nhất Ở lứa tuổi này, trẻ sẽ có sự khủng hoảng trong quan hệ với người

lớn, trẻ muốn tự khẳng định bản thân, trong khi đó sự phụ thuộc vào cha mẹ ở trẻ là rất lớn Từ

đây, có thể dễ tạo ra mâu thuẫn giữa trẻ và cha mẹ Đối với trẻ ở lứa tuổi này, cảm xúc của các

em rất phong phú và phức tạp, bồng bột, không kiềm chế được cảm xúc của bản thân Tính dễ

kích động ở HS THCS dễ khiến cho các em rơi vào trạng thái tiêu cực (buồn bực, muốn ở mình,

khép kín bản thân), hành vi là rối loạn cảm xúc, ứng xử, tăng động, có vấn đề với bạn bè, chống

đối thầy cô và ba mẹ, trầm cảm, lo âu, Những rối loạn này đã ảnh hưởng tiêu cực đến kết quả

học tập, các mối quan hệ cũng như cuộc sống của các em Những yếu tố này có thể khiến HS

THCS dễ nảy sinh các vấn đề về SKTT

Thành phố Huế, thành phố được mệnh danh là thành phố mộng mơ, mang trong mình

một truyền thống hiếu học lâu đời với những con người hiền hòa, nhưng với sự xuất hiện của

công nghệ 4.0 và nền kinh tế thị trường thì SKTT của HS nói chung và của THCS nói riêng

không thể tránh khỏi các tác động tiêu cực Chính vì vậy, đây là vấn đề cần được phụ huynh,

giáo viên, nhà trường và xã hội quan tâm Để có những giải pháp cải thiện SKTT ở HS THCS,

cần thiết tiến hành các nghiên cứu về thực trạng SKTT của lứa tuổi này

2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Để đánh giá thực trạng SKTT của HS Trường THCS Phạm Văn Đồng và HS Trường

THCS Thống Nhất, Thành phố Huế, chúng tôi sử dụng bảng kiểm kê hành vi ở trẻ em từ 6 đến

18 tuổi, bản tự báo cáo (Youth Self Report - YRS) – một trong những thang đo trong hệ thống

đánh giá dựa vào thực chứng của Achenbach Bảng kiểm kê này nhằm đánh giá 09 nhóm hành

vi SKTT, bao gồm hành vi thu mình, than phiền cơ thể, lo âu - trầm cảm (thuộc dạng hành vi

hướng nội); hành vi vấn đề xã hội, rối loạn tư duy, rối loạn chú ý (thuộc dạng hành vi trung

Trang 2

gian); hành vi sai phạm, công kích (thuộc hành vi hướng ngoại) và nhóm hành vi hỗn hợp Trong nghiên cứu này, chúng tôi tiến hành đánh giá các nhóm hành vi về SKTT

Các biểu hiện hành vi được đánh giá theo ba mức độ: mức 1: không có hành vi (tương ứng với không có vấn đề về SKTT); mức 2: hành vi thỉnh thoảng hoặc đôi khi có (tương ứng với có nguy cơ về SKTT – mức ranh giới giữa có và không có các vấn đề về SKTT); mức 3: hành vi biểu hiện thường xuyên (tương ứng với có vấn đề về SKTT)

Để thu thập thông tin và số liệu về thực trạng SKTT ở HS, chúng tôi đã sử dụng phương pháp điều tra bằng bảng hỏi và phương pháp thống kê toán học Sử dụng phần mềm SPSS để phân tích và xử lí số liệu

Nghiên cứu tiến hành khảo sát trên 278 HS các khối 8, 9 Trường THCS Phạm Văn Đồng

và Trường THCS Thống Nhất thuộc Thành phố Huế Các lớp được chọn ngẫu nhiên

3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1 Đánh giá chung về tình trạng sức khỏe tâm thần của học sinh trường trung học cơ sở

Như đã nói ở các phần trên, trong nghiên cứu này, chúng tôi tập trung đánh giá về nhóm hành vi hướng nội và hướng ngoại, các hành vi rối loạn khác Qua nghiên cứu phân tích, xử lý kết quả trắc nghiệm, chúng tôi đã lọc ra các hành vi theo nhóm hướng nội, hướng ngoại và tổng chung SKTT, kết quả được thể hiện ở bảng 1

Bảng 1 Sức khỏe tâm thần của học sinh THCS

% 63,2 5,8 31,0 76,8 7,7 15,5 61,3 9,7 29,0

% 56,9 19,5 23,6 74,8 7,3 17,9 48,8 15,4 35,8

% 120,1 25,3 54,6 151,6 15 33,4 110,1 25,1 64,8

Từ kết quả của bảng 1 cho thấy, trong mẫu HS được nghiên cứu, tỉ lệ HS có nguy cơ về SKTT và có vấn đề về SKTT khá cao Trong tổng số 278 HS được khảo sát tại địa bàn Thành phố Huế, có tới 32,4% HS có vấn đề về SKTT và 12,6% HS có nguy cơ có vấn đề về SKTT Đồng thời, kết quả nghiên cứu ở bảng 1 cũng cho thấy, tỉ lệ HS có vấn đề về hướng nội cao hơn hướng ngoại (27,3% so với 16,7%)

Dưới góc độ giới tính, trong mẫu nghiên cứu này, chúng tôi tìm thấy được sự khác biệt Học sinh nữ có các vấn đề về SKTT chiếm tỉ lệ cao hơn HS nam (35,8% so với 29,0%), tỉ lệ các hành vi hướng nội ở HS nam cao hơn HS nữ (31,0% so với 23,6%), ngược lại tỉ lệ các hành

vi hướng ngoại ở HS nữ cao hơn HS nam (17,9% so với 15,5%)

3.2 Các biểu hiện của các nhóm hành vi

3.2.1 Nhóm hành vi hướng nội

Thu mình

Hành vi thu mình của HS THCS được xem xét ở 7 biểu hiện và kết quả được trình bày ở bảng 2

Trang 3

Bảng 2 Các biểu hiện của hành vi thu mình

Thích ở một mình hơn là với mọi người 0,81 0,75

Từ chối không nói chuyện với mọi người 0,34 0,53

Kín đáo, luôn tự giữ kín mọi chuyện (hay bí mật) 0,96 0,66

Cảm thấy quá mệt mỏi, kiệt sức (ít hoạt động) 0,55 0,64

Cảm thấy thất vọng, buồn rầu chán nản 0,55 0,66

Né tránh, không muốn hòa nhập với mọi người 0,32 0,52

Trong số những biểu hiện hành vi nêu trên, hành vi kín đáo, luôn tự giữ kín mọi chuyện

là hành vi phổ biến nhất ở HS THCS ở cả 2 Trường THCS được khảo sát (X= 0,96) Con số trên phản ánh cho chúng ta thấy sự phát triển nhảy vọt về mặt thể chất ở lứa tuổi HS THCS, đây là thời kỳ trưởng thành và phát triển mạnh mẽ của cơ thể Đặc biệt, Sự trưởng thành về mặt sinh dục là yếu tố quan trọng nhất của sự phát triển cơ thể của thiếu niên Thiếu niên hay lóng ngóng vụng về, cố gắng che giấu sự vụng về của mình bằng điệu bộ không tự nhiên, cầu kỳ Mặt khác, các em ở lứa tuổi này có tâm lý e ngại, xấu hổ, có nhiều tâm sự, thắc mắc (đặc biệt

là ở các em gái) Các em cũng rất sợ sự quan sát, sự nhận xét của bạn bè, người lớn Thực tế, ở một số gia đình, các em vẫn còn được cha mẹ nuông chiều, chăm sóc như trẻ con, làm cho các

em có cảm giác bị xúc phạm Hoặc ở các gia đình mà mối quan hệ giữa cha mẹ và trẻ không được tốt, làm cho các em có những phản ứng mạnh mẽ hay ngấm ngầm chống đối Chính điều

đó, làm cho các em ít chia sẻ hay không muốn chia sẻ với ba, mẹ (luôn tự giữ kín mọi chuyện)

và khiến các em thích ở một mình hơn là với mọi người (X = 0,81) Vì vậy, người lớn (đặc biệt là cha mẹ) cần tôn trọng, tin tưởng, quan tâm các em và không quên động viên, chia sẻ với các em để các em có thể chia sẻ những cảm xúc thật của bản thân

Học tập của thiếu niên ở lứa tuổi này có nhiều thay đổi, bên cạnh việc học tập, các em còn rất tích cực, hăng hái tham gia vào các họat động ở trường Do vậy, giao tiếp được mở rộng (bạn bè, thầy cô), vốn hiểu biết tăng và các em khẳng định được vai trò của mình trong nhóm, tập thể Từ đó, né tránh không muốn hòa nhập với mọi người là biểu hiện các em ít mắc phải nhất (X = 0,32)

Để giúp các em phát triển về mặt giao tiếp cũng như các mối quan hệ khác và tránh được hiện tượng né tránh, không muốn giao tiếp; thích ở một mình hơn ở các em thì cần tạo điều kiện cho các em tham gia vào các hoạt động tập thể, lành mạnh; tạo ra các sân chơi bổ ích Thông qua các hoạt động đó, các em sẽ có cơ hội chia sẻ những băn khoăn, suy nghĩ, tình cảm của mình

Than phiền cơ thể

Bảng 3 Các biểu hiện của hành vi than phiền cơ thể

Mắt bị rối loạn (tích về đau mắt) 0,41 0,63

Nổi ban hoặc các biểu hiện ngoài gia 0,32 0,60

Đau dạ dày hoặc đau nữa bụng 0,54 0,66

Trang 4

Hành vi than phiền cơ thể là khá phổ biến ở lứa tuổi HS THCS Trong những biểu hiện hành vi mà chúng tôi đã tiến hành khảo sát được thể hiện ở bảng 3

Qua bảng số liệu trên, ta thấy biểu hiện cảm thấy quá mệt mỏi xấu hiện nhiều nhất với giá trị trung bình (X = 0,67), tiếp đó là biểu hiện đau đầu (X = 0,65) Sự không cân đối ngay trong sự phát triển của hệ thống tim mạch (thể tích tim tăng rất nhanh, tim trở nên hoạt động mạnh mẽ hơn, nhưng đường kính của các mạch máu phát triển chậm) Đo đó đôi khi ta thường thấy ở một số thiếu niên có hiện tượng mệt mỏi, đau đầu, đặc biệt khi các em tham gia vào các hoạt động có thời gian dài, lao động nặng nhọc và trong môi tường khắc nghiệt

Ngoài sự phát triển không đồng đều của hệ thống tim mạch, còn có các áp lực từ việc học tập, thi cử, hệ thần kinh của thiếu niên còn chưa thể chịu đựng được những kích thích có cường độ mạnh, đơn điệu, tác động kéo dài Các mối quan hệ có vấn đề không tốt như đã nêu

ở phần trên cũng là một các nguyên nhân gây nên các hiện tượng như đau đầu, hoa mắt, chóng mặt Vì vậy, cần có sự quan tâm đúng mức của gia đình và nhà trường trong việc khuyến khích, động viên các em tham gia vào các hoạt động văn nghệ, thể thao, vui chơi lành mạnh, phù hợp với lứa tuổi của các em

Mặc khác, Bị nôn mữa (X = 0,25) và buồn nôn hoặc lợm giọng (X = 0,29) là các hành

vi các em ít mắc phải nhất Tuy các chỉ số ở mức thấp, nhưng chúng ta không được bỏ qua các biểu hiện này Vì hành vi này có thể gây ra cho trẻ sự mệt mỏi, chán ăn, ảnh hưởng không nhỏ đến sức khỏe cũng như công việc học tập và hoạt động của trẻ Bởi vậy, điều cần thiết trước mắt là các bậc cha mẹ, nhà giáo dục cần phát hiện kịp thời các hành vi trên, đồng thời nhanh chóng tìm ra nguyên nhân cụ thể để có biện pháp điều trị kịp thời

Lo âu - trầm cảm

Bảng 4 Các biểu hiện của hành vi lo âu – trầm cảm

Cố tình gây thương tích hoặc có hành động định tự tử 0,16 0,60

Không ai yêu mình cả (không ai quý) 0,61 0,66

Thấy mọi người xa lánh, hay làm hại mình 0,50 0,62

Theo nghiên cứu về một số yếu tố ảnh hưởng đến sức khỏe tâm trí của HS ở một số Trường THCS của một số thành phố ở Việt Nam có những phát hiện đáng chú ý về tình trạng

lo âu và trầm cảm ở HS Tỉ lệ học sinh có biểu hiện lo âu là 12,3% và trầm cảm là 8,4% (Lê Thị Kim Dung, 2007)

Trang 5

Trong số 16 biểu hiện ở bảng 4, hành vi e thẹn, dễ bối rối, xấu hổ là biểu hiện HS THCS mắc phải nhiều nhất lên tới (X = 0,86) Như đã nói ở các phần trên, sự phát triển không đồng đều của hệ xương (đặc biệt là xương tay, xương chân) gây cho các em sự lóng lóng, vụng về Điều đó khiến cho các em sự xấu hổ về sự vụng về đó Hơn nữa hiện tượng dậy thì tạo cho các

em tâm lí bối rối, e thẹn khi giao tiếp, quan tâm với bạn bè khác giới Đó cũng chính là nguyên nhân khiến cho các em cảm thấy bối rối hoặc căng thẳng (X = 0,79)

Kết quả khảo sát cho thấy, trong số những biểu hiện lo âu – trầm cảm trên thì hành vi cố tình gây thương tích hoặc có hành động định tự tử (X = 0,16), có ý nghĩ chán đời muốn chết (X = 0,21) là những hành vi xuất hiện ít nhất

Mặc dù những hành vi này chiếm không nhiều, nhưng nó thực sự đáng để chúng ta lo ngại về xu hướng gia tăng tự tử ở nước ta Những áp lực về học hành, thi cử; xung đột giữa cha

mẹ và con cái; sức ép từ gia đình, môi trường sống, học tập; các mối quan hệ, sợ hãi thất bại; thiếu kỹ năng xử lý tình huống, các kỹ năng xã hội, giải quyết xung đột… khiến các em chưa biết cách cân bằng tâm lý dẫn tới những hành động dại dột Vì vậy, việc trang bị những kiến thức, kỹ năng cho các em ở lứa tuổi này là điều cần thiết và có ý nghĩa rất quan trọng để các

em có một cuộc sống tinh thần khỏe mạnh và có những kỹ năng mềm cấn thiết trong các hoàn cảnh khó khăn

3.2.2 Nhóm hành vi hướng ngoại

Hành vi sai phạm

Bảng 5 cho thấy, trong các biểu hiện của hành vi sai phạm còn tồn tại ở các HS THCS trên địa bàn Tp Huế

Bảng 5 Các biểu hiện của hành vi sai phạm

Không cảm thấy có lỗi sau khi làm những việc không nên làm 0,29 0,53

Chơi với những bạn hay quấy rối, phá phách 0,27 0,74

Thích chơi với các bạn lớn tuổi hơn mình 0,84 0,73

Qua bảng số liệu trên ta có thể thấy các hành vi như: Thích chơi với các bạn lớn tuổi hơn mình (X = 0,84); nói tục, chửi bậy (X = 0,73); hay nói dối và gian lận (X = 0,45); thích

nghịch lửa (X = 0,34) còn xuất hiện nhiều ở trẻ

Ở lứa tuổi HS THCS, sự tự nhận thức của các em còn hời hợt, chủ quan, nông cạn Mặt khác, sự tự đánh giá người khác ở các em còn mang tính cứng nhắc, hạn chế, chưa đủ khách quan Các giá trị sống chưa được hình thành một cách vững chắc nên các em dễ bị tiêm nhiễm các thói hư, tật xấu từ môi trường xung quanh, từ đó ảnh hường đến nhân cách của các em sau này Do vậy, cần xây dựng cuộc sống tập thể của các em, nơi mà nhiều mối quan hệ có giá trị

Trang 6

đúng đắn, mối quan hệ này sẽ hình thành ở các em lòng tự tin vào sự đánh giá của mình, là những yêu cầu ngày càng cao đối với hành vi, hoạt động của các em cũng đồng thời cho sự phát triển về mặt tự ý thức của các em

Hành vi công kích

Hành vi công kích là những hành vi mang tính chất gây hấn, khiêu khích, chống đối lại người khác, nó được thể hiện ra bên ngoài bằng các biểu hiện cụ thể trong bảng 6

Bảng 6 Các biểu hiện của hành vi công kích

Thấy mình có ý nghĩa với mọi người 0,17 0,39

Thay đổi tình cảm, cảm xúc đột ngột 0,97 0,71

Trong các biểu hiện của hành vi công kích, hành vi thay đổi tình cảm, cảm xúc đột ngột (X= 0,97); hay cãi cọ (X = 0,91); nói quá nhiều; hay cáu giận là những hành vi khá nghiêm

trọng xuất hiện nhiều ở HS THCS

Tâm lí của trẻ ở lứa tuổi này luôn khẳng định rằng mình đúng nên dễ xảy ra các mâu thuẫn với bạn bè và mọi người xung quanh, hơn nữa sự phát triển về mặt tâm sinh lý không đồng đều, đặc biệt là quá trình hưng phấn mạnh hơn quá trình ức chế khiến các em gặp nhiều khó khăn trong việc kiểm soát các hành vi của bản thân

Ngoài ra, trong nghiên cứu này chúng tôi cũng tiến hành nghiên cứu về hành vi vấn đề

xã hội, rối loạn chú ý, rối loạn tư duy (thuộc nhóm hành vi trung gian) và nhóm hành vi hỗn hợp Nhưng trong bài báo này, chúng tôi xin đề cập tới nhóm hành vi hướng nội và nhóm hành

vi hướng ngoại, vì đây là những nhóm hành vi phổ biến về vấn đề SKTTở lứa tuổi HS THCS

4 KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ

Kết quả khảo sát thực trạng SKTT ở lứa tuổi HS THCS tại 2 Trường THCS trên địa bàn Thành phố Huế cho thấy tỉ lệ HS có vấn đề về SKTT và có nguy cơ có vấn đề về SKTT khá cao, các dạng hành vi hướng nội cao hơn các dạng hành vi hướng ngoại, tỉ lệ HS nữ có các vấn

đề về SKTT cao hơn HS nam Thu mình, than phiền cơ thể, lo âu trầm cảm là các dạng hành vi

Trang 7

xuất hiện nhiều nhất ở các em Sự phát triển về tâm sinh lí, áp lực học tập, gia đình, các mối quan hệ khác đã có những tác động không hề nhỏ đến SKTT ở lứa tuổi HS THCS Nếu những

áp lực này ở các em ko được tháo gỡ thì sẽ ảnh hưởng không những tới SKTT ở các em mà còn ảnh hưởng tới hoạt động học tập, văn nghệ thể thao của các em Từ kết quả nghiên cứu trên, chúng tôi đưa ra một số biện pháp giúp cải thiện sức khỏe tâm thần ở lứa tuổi HS THCS tại Thành phố Huế:

- Giáo viên trong các trường cần được trang bị những kiến thức, hiểu biết cơ bản về SKTT,

từ đó họ có thể nhận biết, phát hiện kịp thời các hành vi, biểu hiện SKTT ở HS THCS và có những biện pháp cải thiện phù hợp

- Nhà trường cần có sự quản lý chặt chẽ việc dạy, học thêm để giảm các áp lực học tập cho HS, đồng thời, xây dựng các chương trình học ngoại khóa phù hợp cho từng khối lớp

- Các tổ chức đoàn, đội phải tạo nhiều sân chơi và hoạt động bổ ích thu hút sự tham gia tích cực của HS

- Giáo dục các giá trị sống, giá trị đạo đức, kỹ năng sống cho HS, giúp HS có thể đối mặt với những khó khăn trong học tập, cuộc sống bằng một cảm xúc, suy nghĩ tích cực Thông qua

đó, giúp HS hình thành và phát triển nhân cách một cách tốt nhất

- Xây dựng gia đình êm ấm hạnh phúc; các thành viên trong gia đình có sự gắn kết, chia

sẻ với nhau Từ đó, các em có thể bày tỏ ý kiến, chia sẻ những cảm xúc thật của mình với người khác

- Giáo viên phải là cầu nối giữa gia đình với nhà trường, xã hội trong việc giáo dục, phát hiện và phòng ngừa các vấn đề SKTT ở HS THCS

- Thành lập các văn phòng hỗ trợ tâm lí/ tham vấn tâm lí trong các trường học để hỗ trợ kịp thời, giải quyết các vấn đề, khó khăn trong tâm lí mà các em đang gặp phải

TÀI LIỆU THAM KHẢO

[1] Nguyễn Bá Phu (2011) Tâm lý học phát triển, Đại học Sư phạm Huế

[2] Vũ Thị Nho (2000) Tâm lý học phát triển, NXB, Đại học Quốc gia, Hà Nội

[3] Năm 2018, Tình trạng rối loạn tâm thần tuổi vị thành niên, 16/11/2019,

https://vnexpress.net/suc-khoe/tinh-trang-roi-loan-tam-than-tuoi-vi-thanh-nien-3709019.html

[4] Năm 2018, Báo cáo tóm tắt Sức khỏe tâm thần và tâm lý xã hội của trẻ em và thanh niên tại một

số tỉnh và thành phố ở Việt Nam, 8/10/2019,

https://www.unicef.org/vietnam/media/1016/file/B%C3%A1o%20c%C3%A1o%20t%C3%B3

m%20t%E1%BA%AFt.pdf

Ngày đăng: 29/04/2022, 10:32

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1. Sức khỏe tâm thần của học sinh THCS - Thực trạng sức khỏe tâm thần ở lứa tuổi học sinh trung học cơ sở
Bảng 1. Sức khỏe tâm thần của học sinh THCS (Trang 2)
3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU - Thực trạng sức khỏe tâm thần ở lứa tuổi học sinh trung học cơ sở
3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU (Trang 2)
Bảng 3. Các biểu hiện của hành vi than phiền cơ thể - Thực trạng sức khỏe tâm thần ở lứa tuổi học sinh trung học cơ sở
Bảng 3. Các biểu hiện của hành vi than phiền cơ thể (Trang 3)
Bảng 2. Các biểu hiện của hành vi thu mình - Thực trạng sức khỏe tâm thần ở lứa tuổi học sinh trung học cơ sở
Bảng 2. Các biểu hiện của hành vi thu mình (Trang 3)
Qua bảng số liệu trên, ta thấy biểu hiện cảm thấy quá mệt mỏi xấu hiện nhiều nhất với giá trị trung bình ( X = 0,67), tiếp đó là biểu hiện đau đầu (X  = 0,65) - Thực trạng sức khỏe tâm thần ở lứa tuổi học sinh trung học cơ sở
ua bảng số liệu trên, ta thấy biểu hiện cảm thấy quá mệt mỏi xấu hiện nhiều nhất với giá trị trung bình ( X = 0,67), tiếp đó là biểu hiện đau đầu (X = 0,65) (Trang 4)
Trong số 16 biểu hiện ở bảng 4, hành vie thẹn, dễ bối rối, xấu hổ là biểu hiện HS THCS mắc phải nhiều nhất lên tới ( X   = 0,86) - Thực trạng sức khỏe tâm thần ở lứa tuổi học sinh trung học cơ sở
rong số 16 biểu hiện ở bảng 4, hành vie thẹn, dễ bối rối, xấu hổ là biểu hiện HS THCS mắc phải nhiều nhất lên tới ( X = 0,86) (Trang 5)
đúng đắn, mối quan hệ này sẽ hình thành ở các em lòng tự tin vào sự đánh giá của mình, là những yêu cầu ngày càng cao đối với hành vi, hoạt động của các em.. - Thực trạng sức khỏe tâm thần ở lứa tuổi học sinh trung học cơ sở
ng đắn, mối quan hệ này sẽ hình thành ở các em lòng tự tin vào sự đánh giá của mình, là những yêu cầu ngày càng cao đối với hành vi, hoạt động của các em (Trang 6)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w