1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phát triển chuỗi cung ứng để cải thiện mạng lưới thương mại cho nông sản

16 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 16
Dung lượng 691,34 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phát triển chuỗi cung ứng (CM) và cải thiện mạng lưới thương mại (TN) cho nông sản (TN-ap) được nước muốn thông qua xuất khẩu nông sản để đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa bắt kịp quan tâm. Ở Việt Nam, dù đã đạt nhiều thành tựu, nhưng các hoạt động này chưa được như kỳ vọng, còn nhiều hạn chế, yếu kém bởi nhiều nguyên nhân. Để đáp ứng đòi hỏi thực tiễn, cần tiến hành phân vùng kinh tế, chỉ ra cơ cấu sản phẩm, phát triển các CM toàn cầu để cải thiện TN quốc tế cho nông sản.

Trang 1

PHÁT TRIỂN CHUỖI CUNG ỨNG

ĐỂ CẢI THIỆN MẠNG LƯỚI THƯƠNG MẠI CHO NÔNG SẢN

ThS Lê Quốc Anh - Trường Đại học Kinh tế Quốc dân Phạm Thùy Nguyên - Công ty TNHH Robert Bosch

Lê Thị Trâm Anh - Đại học New South Wales, Australia

Tóm tắt: Phát triển chuỗi cung ứng (CM) và cải thiện mạng lưới thương mại (TN) cho

nông sản (TN-ap) được nước muốn thông qua xuất khẩu nông sản để đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa bắt kịp quan tâm Ở Việt Nam, dù đã đạt nhiều thành tựu, nhưng các hoạt động này chưa được như kỳ vọng, còn nhiều hạn chế, yếu kém bởi nhiều nguyên nhân Để đáp ứng đòi hỏi thực tiễn, cần tiến hành phân vùng kinh tế, chỉ ra cơ cấu sản phẩm, phát triển các CM toàn cầu để cải thiện TN quốc tế cho nông sản Các vùng dùng khả năng còn lại, phát triển chuyên canh cấp vùng, cùng CM tầm quốc gia để cải thiện TN-ap giữa các vùng Từng vùng triển khai các CM phi nông sản, cả của đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), xác định tổng cầu và địa chỉ, dùng khả năng còn lại, phát triển sản xuất để cải thiện TN-ap trong vùng Đẩy mạnh lai tạo giống, đổi mới kinh doanh; hoàn thiện thể chế, xử lý

vi phạm thương mại, hình thành TN-ap phát triển

Từ khóa: Chuỗi cung ứng, mạng lưới thương mại, Việt Nam

SUPPLY CHAIN DEVELOPMENT

TO IMPROVE TRADE NETWORK FOR AGRICULTURAL PRODUCTS

Abstract: Supply chain development and agricultural products’ trade network

improvement are topics of interest for countries aiming to accelerate the catch-up industrialization process through agricultural product exports In Vietnam, besides many achievements, these activities have not been up to expectations, there are still many limitations and weaknesses due to several reasons To meet the practical demands, it is necessary to conduct economic zoning, specify the product assortment, develop global supply chains to improve the international trade networks for agricultural products The regions, using the remaining capacity, need to develop specialized cultivation at the regional level and join the national supply chains to improve the interregional trade networks for agricultural products Each region needs to deploy non-agricultural supply chains including those of foreign direct investment (FDI), determine total demand and delivery destinations, and use remaining capacity to develop production to improve trade networks for regional agricultural products It is important to promote crossbreeding, innovate business; perfect institutions, deal with trade violations, create trade networks for

agricultural products to grow

Keywords: Supply chain, trade network, Vietnam

Trang 2

1 Đặt vấn đề

Công cuộc Đổi mới do Đảng ta lãnh đạo, đã biến Việt Nam từ nền kinh tế khủng hoảng ở thập kỷ 1980, tăng trưởng thấp và không có tích luỹ khi thu nhập quốc dân (GNI) sản xuất chỉ bằng 80 - 90% GNI sử dụng (Nguyễn Bá Khoáng, 2005) Kim ngạch xuất khẩu năm 1985 chỉ có 698 triệu rúp-đôla; năm 1986 lạm phát 774,7%; năm 1987 phải nhập 468.600 tấn lương thực, GDP/người năm 1989 mới 98 USD Đến năm 2020, đã có tổng sản phẩm quốc nội (GDP) đứng 40 thế giới, GNI/người cao hơn mức bình quân của nhóm nước có thu nhập trung bình thấp Thành nước xuất khẩu hàng đầu về 6 loại nông sản; về đích sớm trước mục tiêu thiên niên kỷ của Liên hợp quốc về giảm nghèo Song, TN-ap chưa được như kỳ vọng, giá nông sản tại ruộng thấp, nông dân thu lợi ít, nhiều người bỏ ruộng, bỏ ao Nông sản “trôi nổi” trên thị trường, năm 2020 có tới 139 vụ ngộ độc thực phẩm Hiện tượng “được mùa rớt giá” liên tục xảy ra; chỉ 3 tháng đầu năm 2021 đã có 40

lô hàng thủy sản xuất khẩu bị trả về (Lâm Nghi, 2021) Người tiêu dùng phải mua giá cao, gian thương hưởng lợi, nhà nước thất thu thuế Nhiều nơi, nông dân gần như tự túc tự cấp, còn 2,5 triệu hộ với 10 triệu khẩu nghèo theo chuẩn mới Cản trở việc qua Hiệp định thương mại tự do (FTA) Việt Nam - EU (EVFTA), đưa nông sản vào thị trường 18.000 tỷ USD Gây khó cho việc nâng cao thu nhập cho 65,4% dân sống ở nông thôn, đe dọa mục tiêu thành nước có thu nhập cao vào năm 2045 của Đại hội 13 Cần cải thiện TN-ap như thế nào, dựa vào đâu để khắc phục rủi ro, ngăn nguy cơ “cường quốc nông nghiệp sụp đổ” (Lê Quốc Phương, dẫn theo San Ngọc, 2015) Giúp khai thác các FTA, đẩy nhanh công cuộc xóa đói giảm nghèo, hướng tới trở thành nền nông nghiệp hiện đại, hiệu quả Để góp phần làm sáng rõ các vấn đề trên, bài viết này tập trung nghiên cứu: (i) Phát triển CM để cải thiện TN-ap ở nền kinh tế chuyển đổi, phát triển chưa cao, hội nhập sâu rộng; (ii) Thực trạng phát triển CM để cải thiện TN-ap ở Việt Nam; và (iii) Giải pháp thúc đẩy việc phát triển CM để cải thiện TN-ap ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay

2 Cơ sở lý thuyết, thực tiễn và phương pháp nghiên cứu

2.1 Cơ sở lý thuyết

Đã có nhiều nghiên cứu về CM, về TN; song nghiên cứu về CM nông sản, về

TN-ap còn ít Trong đó, nghiên cứu về phát triển CM nhằm cải thiện TN-TN-ap còn là khoảng trống nghiên cứu Song, nếu không cải thiện TN-ap, thì nông nghiệp Việt vẫn phát triển chậm chạp, rời rạc, không bền vững Ít giúp cải thiện chất lượng tăng trưởng, làm chậm việc cải thiện đời sống nông dân; làm lãng phí lợi thế cung cấp nông sản, cũng như cơ hội khai thác EVFTA của nước ta Tính thời sự và hữu ích đòi hỏi đề tài này cần được nghiên cứu sớm và sâu Mặt khác, là chuyên đề phân tích kinh tế chưa được nghiên cứu, để thực hiện, trước tiên cần xây dựng khung lý thuyết Để có cơ sở vững chắc, đảm bảo cho các

CM được phát triển khoa học, TN-ap được cải thiện phù hợp, cần chắt lọc và hệ thống hóa kiến thức cần thiết từ kinh tế vĩ mô, kinh tế vi mô, kinh tế phát triển, quản trị học Để giải pháp đưa ra sát thực, có thể chủ động dẫn dắt hoạt động thực tiễn, cần dựa vào hiện trạng, đặc thù, tiềm lực, định hướng phát triển CM và TN-ap của Nhà nước Để các chuỗi và mạng này của đất nước phát triển ngang tầm, hòa nhập nhanh vào “quỹ đạo” hội nhập quốc

tế, cần dựa vào các FTA, cùng diễn biến và thông tin về các vấn đề trên Tất cả hợp lại tạo

Trang 3

thành khung lý thuyết “Phát triển CM để cải thiện TN-ap ở nền kinh tế chuyển đổi, hội nhập sâu rộng, phát triển chưa cao”, với các nội dung chính như sau:

2.1.1 Tổng quan về mạng lưới thương mại cho nông sản ở một quốc gia

TN là hệ thống các chuỗi giá trị tiêu thụ sản phẩm của một hay nhiều hãng khác nhau trên phạm vi một lãnh thổ nhất định (Đỗ Minh Thụy, 2017) Chi tiết hơn, tùy trường hợp cụ thể, TN được xem như là tập hợp của các loại hình cơ sở kinh doanh thương mại nhằm thực hiện mọi mua bán hàng hóa, dịch vụ trong ba góc độ: cùng một địa bàn, như một hoặc nhiều: xã, huyện, tỉnh, vùng, quốc gia; cùng một hoặc nhiều tổ chức kinh tế, như: hợp tác xã, doanh nghiệp, ngành, khu vực kinh tế; hoặc cùng một hoặc nhiều sản phẩm, như: xăng dầu, dược liệu Như vậy, TN-ap ở một quốc gia chỉ là một nội dung hẹp trong lĩnh vực TN, song khá rộng vì nông sản là phạm trù phức tạp Theo Hiệp định Nông nghiệp 2018 của Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên hiệp quốc (FAO), nông sản bao gồm các loại hàng hoá có nguồn gốc từ hoạt động nông

nghiệp, như: (i) Các sản phẩm nông nghiệp cơ bản như lúa gạo, lúa mỳ, bột mỳ, sữa,

động vật sống, cà phê, hồ tiêu, hạt điều, chè, rau quả tươi ; (ii) Các sản phẩm phái sinh như bánh mỳ, bơ, dầu ăn, thịt ; và (iii) Các sản phẩm được chế biến từ sản phẩm

nông nghiệp như bánh kẹo, sản phẩm từ sữa, xúc xích, nước ngọt, rượu, bia, thuốc lá, bông xơ, da động vật thô (VCCI, 2018)

Hình 1 Mạng lưới thương mại điển hình của một nhà sản xuất nông sản

Nguồn: Các tác giả tổng hợp

Số mạng và quy mô từng mạng rất khác nhau giữa các vùng, tùy vào số nông sản cần tiêu thụ qua mạng, sản lượng và khả năng bảo quản sau thu hoạch, cùng quy mô lãnh thổ, số lượng và phân bố dân cư Vùng nào có sản xuất nông sản hàng hóa đều cần có

TN-ap, song mức độ phát triển của từng mạng còn tùy vào trình độ phát triển kinh tế, vì TN chỉ

là một phần trong lĩnh vực dịch vụ trong cơ cấu kinh tế của vùng Tóm lại, TN-ap ở một quốc gia bao gồm các mạng lưới tiêu thụ cho từng nông sản, nhóm nông sản và toàn bộ nông sản nói chung; cần phát triển hài hòa, cân đối ở ba phương diện: với thế giới, giữa các vùng và trong nội bộ từng vùng

2.1.2 Chuỗi cung ứng - tác nhân đặc biệt đối với mạng lưới thương mại cho nông sản

CM là hệ thống các tổ chức, con người, hoạt động, thông tin, nguồn lực liên quan đến việc vận chuyển sản phẩm, dịch vụ, từ nhà cung cấp, sản xuất, đến người tiêu dùng Là quy trình sản xuất, phân phối một loại sản phẩm từ đầu vào đến đầu ra, giúp cung gặp cầu,

để hàng tồn kho là tối thiểu, làm tăng giá trị và năng lực cạnh tranh cho sản phẩm Thúc đẩy vận chuyển toàn cầu, đồng bộ hóa cung - cầu cho đối tác, làm tăng hiệu quả cho thành

Nhà bán lẻ

Tổng đại lý Nhà bán buôn

Nhà sản

xuất nông

sản

Người tiêu dùng cuối cùng

Trang 4

viên; là hình thức thương mại hiện đại, nên sự phát triển của CM có ảnh hưởng lớn tới TN nói chung, tới TN-ap nói riêng

Hình 2 Khái quát về chuỗi cung ứng

Nguồn: Lê Quốc Anh & cộng sự (2019)

Ảnh hưởng của CM nói chung tới TN-ap đã lớn, thì dĩ nhiên ảnh hưởng đó sẽ càng lớn khi là CM nông sản Đó là hệ thống gồm tất cả các hoạt động, tổ chức, tác nhân, công nghệ, thông tin, tài nguyên và dịch vụ liên quan đến sản xuất nông sản thực phẩm cho thị trường tiêu dùng Chuỗi bao gồm các lĩnh vực nông nghiệp thượng nguồn và hạ nguồn từ việc cung cấp các đầu vào nông nghiệp (như hạt giống, phân bón, thức ăn gia súc, thuốc hoặc thiết bị) đến sản xuất, xử lý sau thu hoạch, chế biến, vận chuyển, tiếp thị, phân phối và bán lẻ

Hình 3 Chuỗi cung ứng nông sản

Nguồn: OECD & FAO (2016)

Chuỗi còn bao gồm các dịch vụ hỗ trợ như khuyến nông, nghiên cứu và phát triển, thông tin thị trường Từ đó bao gồm nhiều loại hình tổ chức kinh tế, từ các hộ, tổ chức nông dân, hợp tác xã và doanh nghiệp, kể cả các quỹ đầu tư, các tổ chức tài chính và quỹ

tư nhân (OECD & FAO, 2016) Như vậy, CM nông sản là CM sản phẩm điển hình, song

có thêm bốn khâu nhỏ ở phần “hậu sản xuất” để khắc phục đặc điểm khó bảo quản, nhằm giảm tổn thất sau thu hoạch cho nông sản

Hình 4 Ba phân khúc của chuỗi cung ứng sản phẩm ra ngoài vùng

Nguồn: Các tác giả tổng hợp

Dòng thông tin Dòng vật chất

Phân phối

Bán lẻ Người tiêu

dùng

Sản xuất

Cung cấp nguyên

vật liệu

Dòng thông tin Dòng vật chất

Phân phối

Bán lẻ

Người tiêu dùng cuối cùng

Sản xuất

Cung cấp

đầu vào cho

nông

nghiệp

Hậu sản xuất:

- Xử lý sau thu hoạch Chế biến - Vận chuyển

- Tiếp thị

Logistics của CM

PHẦN CỦA CM

Ở VÙNG SẢN XUẤT

Từ “Cung cấp ” đến “Phân phối”

PHẦN CỦA CM

Ở VÙNG TIÊU THỤ Bán buôn - Bán lẻ

Trang 5

CM nông sản và TN-ap có cùng đối tượng, nhiệm vụ, đều nhằm nâng cao mức thương mại hóa cho nông sản, tăng thu nhập cho nông dân Song do khâu “cung cấp đầu vào cho nông nghiệp” tách biệt với NT, các khâu sau “phân phối” nằm ngoài vùng, nên

CM nông sản khác với TN-ap Nhưng đa phần còn lại của CM nông sản đều là phần quan trọng trong TN, nên có thể xem CM là phần TN đặc biệt của nông sản, có thể cùng tồn tại

và tác động qua lại với nhau

2.1.3 Phát triển chuỗi cung ứng để cải thiện mạng lưới thương mại cho nông sản

2.1.3.1 Tổng quan về phát triển chuỗi cung ứng để cải thiện mạng lưới thương mại cho nông sản

Có hai dạng phát triển CM để cải thiện TN-ap, một là phát triển CM phi nông sản,

mở ra thị trường lớn, ổn định cho TN-ap hoạt động, phục vụ chiến lược phát triển Hai là phát triển CM nông sản, vừa nâng cấp một phần của TN-ap lên hiện đại, vừa qua sự mở rộng các khâu tác động đến phần còn lại của mạng Tuy các khâu của CM nông sản, từ

“sản xuất” đến “bán lẻ” gần như có cấu trúc hình ống, liên kết theo lối “win - win”, nông sản đủ điều kiện lần lượt đi qua, không tác động qua lại với bên ngoài Nhưng khi CM nông sản phát triển phù hợp vẫn tác động lớn đối với TN-ap, với ba tác động cải thiện là thông qua: (i) Nông sản tạo CM, là nông sản chủ lực hoặc chính của vùng, được sản xuất

từ các khả năng nổi bật hoặc lớn, chủ yếu được xuất khẩu, hoặc xuất sang vùng khác, nên việc xây dựng chuỗi là thúc đẩy chuyên môn hóa nông nghiệp

Hình 5 Phân phối khả năng phát triển nông nghiệp của vùng vào phục vụ

mạng lưới thương mại cho nông sản

Nguồn: Các tác giả tổng hợp

Nhưng nông sản đều có gốc từ cây trồng, vật nuôi, phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên, và chỉ thành nông sản tạo chuỗi khi vùng có lợi thế nổi bật hoặc lớn về nuôi trồng, các vùng khác không có, hay có nhưng không thuận lợi bằng Khi vùng có CM nông sản, thì nông sản này được ưu tiên sản xuất; làm thu hẹp thể loại và sản lượng các nông sản khác, giúp tái cơ cấu TN-ap của vùng (ii) Mở rộng các CM để tăng nguồn nông sản xuất khẩu, hoặc xuất sang vùng khác, song khả năng nông nghiệp trong vùng là có hạn, bị khống chế bởi đất đai và lao động nông nghiệp Phát triển chuỗi này tất phải lấn chiếm đất đai, sung dụng lao động dành cho nông sản khác, để mở rộng diện tích canh tác, bổ sung nhân lực cho các khâu, nhất là “hậu sản xuất” Việc thu gọn này bởi đã đưa nông nghiệp đi vào chuyên môn hóa sâu, giúp lao động trong vùng có công việc ổn định và thu nhập cao

Phần của CM nông sản toàn cầu trong vùng Phần của CM nông sản quốc gia trong vùng Nông sản chủ lực

Các nông sản khác TN-ap tại chỗ trong vùng Các khả năng còn lại

Nông sản chính

Khả năng lớn

Khả năng nổi bật

KHẢ NĂNG PHÁT TRIỂN

NÔNG NGHIỆP

SẢN XUẤT

RA NÔNG SẢN KÊNH TIÊU THỤ ĐƯA VÀO

Trang 6

hơn (iii) Phát triển các CM nông sản phù hợp trên quy mô cả nước, sẽ đưa nhiều nông sản chất lượng cao từ vùng khác đến, cạnh tranh với nông sản cùng loại trong TN-ap trong vùng Nếu chúng thực sự có ưu thế vượt trội, thì qua môi giới, trung gian hoặc xúc tiến thương mại, sẽ thâm nhập vào các đầu mối trong NT Nhờ đó, vừa cải thiện chất lượng nông sản cho TN tại vùng, vừa góp phần nâng cao hiệu quả cho sản xuất nông nghiệp ở các vùng khác, có liên quan

2.1.3.2 Phát triển chuỗi cung ứng để cải thiện mạng lưới thương mại cho nông sản ở nền kinh tế có khu vực doanh nghiệp còn non yếu, nông nghiệp chuyên môn hóa chưa sâu, công nghiệp thiên về gia công, lắp ráp

Nước có nền kinh tế với các đặc điểm trên, thì ngoài các đô thị lớn, các “cực” phát triển đã có TN-ap tương đối phát triển; còn lại đa số các vùng cơ cấu kinh tế phân tán Có

ít doanh nghiệp đủ tầm làm “hạt nhân cấu trúc”, “đại gia” kinh tế chủ yếu là trang trại, phát triển tự phát Ít ngành chuyên môn hóa tầm cỡ nên thiếu các CM, kể cả CM nông sản cơ bản, nhiều tiềm năng nông sản có khả năng tạo chuỗi chưa phát lộ TN-ap ở đây đơn giản, chủ yếu là chợ dân sinh, nguồn hàng tùy tiện và không ổn định Để cải thiện TN-ap tại đây, cần quy hoạch và triển khai ngay các CM nông sản ở cả ba cấp, vạch rõ tiềm năng, định hình “trục chính” cho TN Đồng thời, phát triển CM theo các hướng: (i) Ở nơi doanh nghiệp còn non yếu, cần vạch ra trong định hướng phát triển: các CM phi nông sản sẽ được đầu tư theo các lộ trình Nhà nước đầu tư hoặc thu hút đầu tư để khai thác tiềm năng nông nghiệp nổi trội của vùng trong cơ cấu khả năng của cả nước, nhất là tiềm năng sản xuất hàng xuất khẩu Hướng cải thiện TN-ap là tập trung làm tốt việc cung cấp lương thực, thực phẩm thiết yếu để tiếp sức trong buổi đầu khó khăn cho các doanh nghiệp vừa được đầu tư (ii) Ở nơi nông nghiệp chuyên môn hóa chưa sâu, cần đánh giá lại các vùng chuyên môn hóa hiện có theo các FTA có hiệu lực Xác định các nông sản tạo chuỗi, hợp lực các trang trại, hợp tác xã và hộ kinh doanh đang nuôi trồng, kết hợp với đầu tư mở rộng - để phát triển các CM tương ứng Hướng cải thiện TN-ap là bên việc phát triển các đầu mối đang cung ứng hiệu quả, tập trung mở rộng nông sản giầu tiềm năng, tăng cường trao đổi nông sản giữa các vùng theo hướng xuất - nhập bù trừ (iii) Ở nơi công nghiệp thiên về gia công, lắp ráp, là nơi dễ phát triển các CM, bởi các cơ sở đó đa phần thuộc khâu “sản xuất” của các CM của nước tiên tiến Hơn nữa, FDI chỉ đến nơi có nhiều lợi thế, nên nơi này còn dễ phát triển các CM phi nông sản khác, nhờ lộ trình nội địa hóa thì khi dự án FDI hết thời hạn hoạt động vẫn có CM “nội” kế tục Hướng cải thiện TN-ap là tổ chức để phục vụ tốt nhu cầu nông sản cho các khu công nghiệp, doanh nghiệp FDI, hình thành vành đai rau - quả - thực phẩm cho khu công nghiệp Số lượng CM mà mỗi vùng có thể phát triển - kể

cả CM nông sản toàn cầu và quốc gia, tùy vào số loại nông sản mà vùng có lợi thế trong cơ cấu khả năng của cả nước Quy mô của mỗi CM tùy thuộc vào sản lượng sản phẩm mà khi sản xuất ra vẫn đảm bảo khả năng cạnh tranh, mang lại lợi nhuận cho các chủ thể tham gia chuỗi

2.1.3.3 Phát triển chuỗi cung ứng để cải thiện mạng lưới thương mại cho nông sản ở nền kinh tế chuyển đổi, hội nhập sâu rộng, phát triển chưa cao

Nước có nền kinh tế với các đặc điểm này, thì “bộ khung” kinh tế đã cơ bản định hình, trong nước đã có nhiều CM kể cả phi nông sản và nông sản Trong đó, nhiều CM

Trang 7

toàn cầu đang xuất khẩu hiệu quả; nhiều CM của nước khác bổ sung cho kinh tế trong nước, nhưng cũng gây áp lực cho thị trường nội địa Nhiều TN-ap đã khá ổn định, phát triển hiệu quả, song còn phân tán về đầu mối với nhiều nông sản chất lượng thấp, chưa đủ mức an toàn Để cải thiện TN-ap tại các vùng, các nước này cần nghiên cứu, đánh giá và quy hoạch lại các CM đã có Chỉ ra ưu nhược và hướng điều chỉnh, nhất là với các CM nông sản ở cả ba cấp vùng, để định hình “các tuyến” trong NT-ap Đồng thời, tiếp tục phát triển CM theo các hướng: (i) Ở vùng chưa hoàn tất sự nghiệp chuyển đổi kinh tế, cần chỉ

ra, điều chỉnh theo nguyên tắc thị trường, thậm chí phá dỡ các CM được thành lập một cách duy ý chí trước đây Tận dụng các quan hệ kinh tế đã có, phục hồi và phát triển các

CM sản phẩm đến các thị trường cũ, tiếp tục xuất khẩu các sản phẩm truyền thống, cung cấp các sản phẩm mới được thị trường thế giới chấp nhận Tập trung cải thiện TN-ap theo hướng tận dụng hạ tầng thương mại đã có, phát huy các mạng đang hoạt động hiệu quả, điều chỉnh các mạng hoạt động rời rạc, hướng vào phục vụ cho các chủ thể được đầu tư theo các CM được quy hoạch

Hình 6 Tương tác giữa các chuỗi với mạng lưới thương mại cho nông sản

Nguồn: Các tác giả tổng hợp

(ii) Ở vùng đã hội nhập kinh tế sâu rộng, cần ưu tiên cho việc sản xuất các sản phẩm xuất khẩu sang các đối tác trong các FTA, nhất là FTA thế hệ mới Chủ động mở rộng mặt hàng và quy mô xuất khẩu của các CM mới; dự báo các CM nông sản ngoại thâm nhập vào cùng cơ cấu và quy mô hàng hóa nông sản kéo theo Ở các vùng này, cần cải thiện TN-ap theo hướng khai thác tốt các khả năng phát triển nông nghiệp còn lại, tổ chức lại các đầu mối để hợp tác theo quan điểm “win - win” với CM nông sản của đối tác nước ngoài (iii) Ở vùng phát triển chưa cao - tức đã phát triển tương đối cao so với mức thu nhập thấp, nhưng cần phát triển lâu và nhiều mới có thể đạt mức thu nhập cao, thì cần đánh giá lại để tiến hành tái cơ cấu CM Tập trung vào việc thu gọn

cơ cấu sản phẩm, loại dần các sản phẩm đã giảm lợi thế hoặc khó cạnh tranh - làm giảm lợi nhuận biên, kết hợp với các chương trình hỗ trợ của chính phủ, phát hiện các nông sản có triển vọng Việc cải thiện TN-ap tại đây cần dựa vào tổng thể tác động qua lại giữa các CM với TN hiện hữu, từng bước thành lập các TN-ap mới phát triển cho vùng còn khó khăn

Nhà bán lẻ

Tổng đại lý

Nhà bán buôn

Nhà sản

xuất nông

sản

Người tiêu dùng cuối cùng Các CM nông sản quốc gia của vùng khác Các CM nông sản của các quốc gia khác

Các CM nông sản toàn cầu hoặc

quốc gia có trong vùng

Các CM phi nông sản toàn cầu của quốc gia có trong vùng

Các CM phi nông sản toàn cầu của nước khác có trong vùng

Thượng

nguồn cho

nông

nghiệp

Trang 8

2.1.4 Kinh nghiệm phát triển mạng lưới thương mại cho nông sản của Thái Lan, và phát triển chuỗi cung ứng Cọ dầu của Malaysia

Thái Lan, tuy còn đến 60% lao động làm trong nông nghiệp, nhưng đã là nước có thu nhập trung bình cao Thành tựu đó có được là nhờ nước này: (i) Có nền nông nghiệp hàng hóa phát triển, nhiều nông sản có thương hiệu mạnh, giữ vị trí hàng đầu thế giới về giá trị xuất khẩu như gạo, đường, hoa quả, thủy sản (ii) Luôn coi trọng cải thiện chất lượng nông sản cùng phát triển thương hiệu, chú trọng các tiêu chuẩn quốc tế về an toàn, truy xuất nguồn gốc, với mục tiêu trở thành “bếp ăn của thế giới” (iii) Nòng cốt là mối quan hệ giữa “bốn nhà” (nhà nước, nhà khoa học, thương nhân và nông dân), kết hợp khéo léo giữa kinh nghiệm canh tác truyền thống với áp dụng tiến bộ khoa học và công nghệ (iv) Tổ chức tốt TN-ap: trong nước tập trung vào hệ thống giao thông và chợ, cách thu mua, thủ tục mua và giảm tổn thất sau thu hoạch (v) Tích cực thâm nhập thị trường quốc

tế, với hai hướng chính: các nước lân cận, và các thị trường lớn Âu - Mỹ; có nhiều chính sách khuyến khích, hỗ trợ phát triển sản xuất và xuất khẩu nông sản chế biến Chú trọng thu hút đầu FDI, đẩy mạnh đầu tư vào khu vực còn khó khăn, chú trọng phát triển cơ sở hạ tầng để phát triển nông nghiệp số hóa trong tương lai (Quỳnh Dương, 2020)

Bảng 1 Một vài chỉ số của Việt Nam, Thái Lan và Malaysia Diện

tích (km 2 )

Dân số

2020 (người)

Lao động*

2020

Năm

1989

Năm

2020

Tăng (lần)

Năm

1991

Năm

2020

Tăng (lần)

Việt

Nam

331.212 97.335.583 35% 95 2.786 29,3 110 2.660 24,2

Thái Lan 510.890 69.799.978 60% 1.295 7.189 5,6 1.660 7.050 4,2 Malaysia 653.290 32.365.998 16% 2.216 10.40

2

4,7 2.560 10.580 4,1

Nguồn: WB, GSO Ghi chú: (*) Tỷ lệ lao động làm trong nông nghiệp

Việc trở thành nhà cung cấp dầu cọ số một thế giới vừa giúp Malaysia sắp trở thành nước có thu nhập cao, vừa là ví dụ kinh điển về tổ chức CM nông sản ở nước đang phát triển Suốt 30 năm qua, Malaysia luôn nhất quán và “đồng bộ” trong việc thực hiện kế hoạch phát triển sản xuất và thương mại dầu cọ Họ đã: (i) Chọn cọ dầu vì đó là nguyên liệu cần thiết cho bữa ăn hằng ngày của người muốn giữ cho chất cholesterol trong máu không tăng, nên có lượng khách hàng thường xuyên lớn (ii) Nhằm vào hai đối tượng: các doanh nghiệp có vốn sản xuất và hàng vạn người dân nghèo không đất đai canh tác - nên rất quan trọng với việc nâng cao GNI/người cho đất nước (iii) Nhà nước làm tăng độ hấp dẫn cho kế hoạch, bằng việc đầu tư nghiên cứu giống cọ dầu tốt nhất, phương pháp canh tác thích hợp nhất cho các vùng, có chính sách thuế đặc biệt cho người đầu tư trồng trên đất mới khai phá, và cho các trang trại chuyển sang trồng cọ dầu (iv) Với người dân khai khẩn đất mới để trồng cọ dầu, Nhà nước cho vay ưu đãi để họ hăng hái bỏ công sức thành lập trang trại cọ dầu (v) Dân nghèo, không đất canh tác, được vay vốn WB để xây dựng nông trường cọ dầu, dùng vốn đó kiến thiết mặt bằng, phát triển hạ tầng xã hội và cơ sở hạ

Trang 9

tầng phục vụ chuyên môn hóa về sản xuất cọ dầu Điểm nhấn là dân nghèo được nhà nước cho ký nhận nợ để nhận một nhà ở, một lô đất, giống cây và phân bón, hạn trả trong vòng

20 năm và bắt đầu được trừ nợ khi có thu hoạch Kết quả, đa phần đã trả xong nợ trong vòng 15 năm, từ dân nghèo, họ thành người có nhà có đất, và tiếp tục trồng cọ dầu dựa vào nghiên cứu, quy hoạch của nhà nước Malaysia còn luôn mở rộng việc chế biến các loại thực phẩm từ dầu cọ, khuyến khích xây dựng các nhà máy tinh chế dầu cọ xuất khẩu, xúc tiến tiêu thụ dầu cọ trên khắp thế giới (Trần Ái Châu, 2016)

2.2 Phương pháp nghiên cứu

Dựa vào khung lý thuyết “Phát triển CM để cải thiện TN-ap ở nền kinh tế chuyển đổi, hội nhập sâu rộng, phát triển chưa cao” vừa được xây dựng, xác định các lĩnh vực cần nghiên cứu, các đối tượng cần tiếp cận, các nguồn tài liệu cần tham khảo Từ nguồn tài liệu thu thập được, tiến hành nghiên cứu định tính, với các phương pháp chính là phương pháp phân tích và tổng hợp lý thuyết, phương pháp chuyên gia, phương pháp phân tích tổng kết kinh nghiệm, phương pháp nghiên cứu lịch sử Trên quan điểm duy vật biện chứng: dùng phép diễn dịch để suy đoán hệ quả tất yếu, dùng phép so sánh để đưa ra nhận định trung gian, sử dụng phép quy nạp để đưa ra kết luận, tổng hợp lại để đề đạt kiến nghị, giải pháp

Dữ liệu được thu thập từ Diễn đàn Kinh tế Thế giới (WEF), Ngân hàng Thế giới (WB), Bộ Công Thương, Tổng cục Thống kê (GSO), Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) Các số liệu không chú dẫn nguồn về thương mại là dẫn theo Báo cáo Xuất nhập khẩu Việt Nam 2020 của Bộ Công Thương; về các tổ chức kinh tế nông nghiệp là dẫn theo Sách trắng Hợp tác xã Việt Nam 2021 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư

3 Kết quả và thảo luận

3.1 Thực trạng phát triển các chuỗi cung ứng để cải thiện mạng lưới thương mại cho nông sản ở Việt Nam

3.1.1 Các thành tựu Việt Nam đã đạt được trong phát triển các chuỗi cung ứng để cải thiện mạng lưới thương mại cho nông sản ở Việt Nam

Việt Nam, từ năm 1954 ở miền Bắc và từ năm 1975 trên quy mô cả nước, nhất là những năm 1979 - 1986, phát triển nền kinh tế tập trung Từ bao diêm, cái bát được chuyên môn hóa; từ cân đường, bìa đậu được “kế hoạch”; nông sản bán theo “tem phiếu” tại cửa hàng Các “CM” và TN này được xây dựng và điều hành theo mệnh lệnh hành chính, bỏ qua nguyên tắc thị trường, mua bán nông sản bị “ngăn sông, cấm chợ” Phần lớn CM, TN

đó đã “đứt gẫy”, tê liệt khi sang cơ chế thị trường, song đã giúp nước ta vượt qua giai đoạn

1977 - 1994 nhiều khó khăn từ bị Mỹ cấm vận, Trung Quốc “trở mặt”, Liên Xô tan rã; đến khủng hoảng kinh tế, có nguy cơ vỡ nợ quốc gia (Quoc Anh Le and Thi Tram Anh Le,

2019) - có nhiều thành tựu, kinh nghiệm trong tổ chức CM và TN-ap Từ ngày Đổi mới,

Việt Nam chuyển sang nền kinh tế nhiều thành phần, triển khai cơ chế kinh tế thị trường, thực hiện mở cửa kinh tế với bên ngoài Nhờ đó, nhiều CM được xây dựng và phát triển, nhất là từ năm 2013, khi có Nghị quyết 22/NQ-TW về hội nhập quốc tế, tiêu biểu là các

CM của Vinamilk, True Milk, Viettel Nhiều doanh nghiệp FDI giữ vị trí quan trọng trong

CM toàn cầu của Samsung, Intel, Nokia, LG, Canon, Honda Đặc biệt, hơn 10 năm qua nhiều CM nông sản đã từng bước hình thành và phát triển, TN-ap dần được cải thiện, giúp

Trang 10

cho kim ngạch xuất khẩu các nông sản chính có xu hướng tăng lên không ngừng

Bảng 2 Kim ngạch xuất khẩu các hàng nông sản chính của Việt Nam (triệu USD)

1995 2000 2005 2010 2015 2020

Hàng thủy sản 621,40 1.478,50 2.732,50 5.016,90 6.568,80 8.412,68 Hàng rau, hoa, quả 56,10 213,10 235,50 460,30 1.839,30 3.269,25

Sắn và sản phẩm của

Nguồn: GSO

Đến cuối năm 2019, cả nước có 8.496 xã nhưng có 8.528 chợ làm đầu mối tiêu thụ nông sản Trong đó có 224 chợ loại I, tức có trên 400 điểm kinh doanh, được xây dựng kiên cố, hiện đại theo quy hoạch ở vị trí trung tâm, được họp thường xuyên Liên kết sản xuất, tiêu thụ nông sản được chú trọng, đến tháng 02 năm 2021, 56/63 tỉnh/thành đã có chính sách khuyến khích; 48/63 tỉnh/thành có danh mục cần khuyến khích; 16/63 tỉnh/thành phê duyệt 359 dự án Đã xây dựng 1.621 chuỗi nông sản an toàn cho 2.346 sản phẩm, 26 mô hình chuỗi liên kết giữa hộ nông dân - hợp tác xã - doanh nghiệp trong sản xuất và tiêu thụ mía đường và lúa gạo Còn tư vấn xây dựng liên kết 74 chuỗi sản xuất sản phẩm chủ lực, 357 mô hình khuyến nông; xây dựng thương hiệu và quảng bá cho 257 nông sản Còn có 271 tổ chức khoa học, gần 587.000 hộ nông dân, 4.028 hợp tác xã nông nghiệp tham gia liên kết với 1.867 doanh nghiệp hoạt động trong nông nghiệp (Hải Lâm & Phúc Sơn, 2021) Nhờ đó, TN-ap đã từng bước được cải thiện đáng kể cả về số lượng, chất lượng, ở nhiều cấp vùng và trên quy mô cả nước

3.1.2 Các hạn chế chủ yếu trong phát triển các chuỗi cung ứng để cải thiện mạng lưới thương mại cho nông sản ở Việt Nam

Điển hình là: (i) Các CM phi nông sản chủ yếu được phân bố ở các thành phố lớn, các tỉnh ưu đãi thu hút đầu tư cao, thường “kịch trần” với FDI, hoặc ven đường cao tốc ở vùng gần biển Đó thường là nơi có mạng lưới tiêu thụ cho nông sản đã được quy hoạch và triển khai khá đồng bộ từ nhiều năm trước, nên tác động giúp cải thiện mạng này trong thời gian tới không lớn (ii) Các CM nông sản trong phạm vi quốc gia chủ yếu do tư thương thao túng, dẫn đến người sản xuất bị ép giá, ép nuôi trồng ngoài quy hoạch; còn có việc nuôi trồng theo phong trào, khiến không ít cây công nghiệp phải chặt bỏ Mới chủ yếu có CM cho nông sản cơ bản, hoặc một vài nông sản chế biến ở các vùng kinh doanh phát triển; nông sản phái sinh hầu hết mới có trên TN-ap ở phạm vi nhỏ hẹp (iii) Nhiều CM nông sản ngoại đang làm việc cải thiện

Ngày đăng: 29/04/2022, 09:36

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1. Mạng lưới thương mại điển hình của một nhà sản xuất nông sản - Phát triển chuỗi cung ứng để cải thiện mạng lưới thương mại cho nông sản
Hình 1. Mạng lưới thương mại điển hình của một nhà sản xuất nông sản (Trang 3)
viên; là hình thức thương mại hiện đại, nên sự phát triển của CM có ảnh hưởng lớn tới TN nói chung, tới TN-ap nói riêng - Phát triển chuỗi cung ứng để cải thiện mạng lưới thương mại cho nông sản
vi ên; là hình thức thương mại hiện đại, nên sự phát triển của CM có ảnh hưởng lớn tới TN nói chung, tới TN-ap nói riêng (Trang 4)
Hình 2. Khái quát về chuỗi cung ứng - Phát triển chuỗi cung ứng để cải thiện mạng lưới thương mại cho nông sản
Hình 2. Khái quát về chuỗi cung ứng (Trang 4)
Hình 5. Phân phối khả năng phát triển nông nghiệp của vùng vào phục vụ mạng lưới thương mại cho nông sản  - Phát triển chuỗi cung ứng để cải thiện mạng lưới thương mại cho nông sản
Hình 5. Phân phối khả năng phát triển nông nghiệp của vùng vào phục vụ mạng lưới thương mại cho nông sản (Trang 5)
Hình 6. Tương tác giữa các chuỗi với mạng lưới thương mại cho nông sản - Phát triển chuỗi cung ứng để cải thiện mạng lưới thương mại cho nông sản
Hình 6. Tương tác giữa các chuỗi với mạng lưới thương mại cho nông sản (Trang 7)
Bảng 2. Kim ngạch xuất khẩu các hàng nông sản chính của Việt Nam (triệu USD) 1995 2000 2005 2010 2015 2020  - Phát triển chuỗi cung ứng để cải thiện mạng lưới thương mại cho nông sản
Bảng 2. Kim ngạch xuất khẩu các hàng nông sản chính của Việt Nam (triệu USD) 1995 2000 2005 2010 2015 2020 (Trang 10)
Bảng 3. Quy mô bình quân về diện tích và GDP năm 2019 của đơn vị tổ chức kinh tế chiến lược của một vài quốc gia  - Phát triển chuỗi cung ứng để cải thiện mạng lưới thương mại cho nông sản
Bảng 3. Quy mô bình quân về diện tích và GDP năm 2019 của đơn vị tổ chức kinh tế chiến lược của một vài quốc gia (Trang 11)
GDP (tỷ USD)  - Phát triển chuỗi cung ứng để cải thiện mạng lưới thương mại cho nông sản
t ỷ USD) (Trang 11)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w