1. Trang chủ
  2. » Kinh Tế - Quản Lý

HÃY PHÂN TÍCH VAI TRÒ, Ý NGHĨA VÀ MỐI QUAN HỆ QUA LẠI GIỮA 4 NGUYÊN TẮC CƠ BẢN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

13 14 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 13
Dung lượng 40,22 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TRƯỜNG KHOA TIỂU LUẬN HÃY PHÂN TÍCH VAI TRÒ, Ý NGHĨA VÀ MỐI QUAN HỆ QUA LẠI GIỮA 4 NGUYÊN TẮC CƠ BẢN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở VIỆT NAM HIỆN NAY Họ và tên Lớp Khoa Giảng viên hướng dẫn Hà nội, năm 2022 Hà Nội 2021 MỤC LỤC LỜI MỞ ĐẦU 3 PHẦN 1 LÝ LUẬN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ KINH TẾ VÀ VAI TRÒ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ KINH TẾ 4 1 1 Khái niệm quản lý nhà nước 4 1 2 Đặc điểm của quản lý nhà nước 4 1 3 Khái niệm quản lý nhà nước về kinh tế.

Trang 1

KHOA………….

*** TIỂU LUẬN HÃY PHÂN TÍCH VAI TRÒ, Ý NGHĨA VÀ MỐI QUAN HỆ QUA LẠI GIỮA 4 NGUYÊN TẮC CƠ BẢN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở VIỆT NAM HIỆN NAY Họ và tên: ………

Lớp: ………

Khoa: ………

Giảng viên hướng dẫn: ………

Hà nội, năm 2022

Trang 2

MỤC LỤC

LỜI MỞ ĐẦU 3

PHẦN 1: LÝ LUẬN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ KINH TẾ VÀ VAI TRÒ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ KINH TẾ 4

1.1 Khái niệm quản lý nhà nước 4

1.2 Đặc điểm của quản lý nhà nước 4

1.3 Khái niệm quản lý nhà nước về kinh tế 5

1.4 Ý nghĩa và vai trò của quản lý nhà nước về kinh tế 5

PHẦN 2: MỐI QUAN HỆ QUA LẠI GIỮA 4 NGUYÊN TẮC CƠ BẢN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 7

2.1 Các nguyên tắc cơ bản quản lý nhà nước về kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở việt nam hiện nay 7

2.1.1 Nguyên tắc Nhà nước điều tiết nền kinh tế bằng pháp luật dựa trên cơ sở tôn trọng các quy luật của nền kinh tế thị trường: 7

2.1.2 Nguyên tắc thực hiện phân công, phân cấp, phân quyền trong quản lý Nhà nước về kinh tế 9

2.1.3 Nguyên tắc Nhà nước tiến hành thúc đẩy liên kết kinh tế vùng, bảo đảm tính thống nhất của nền kinh tế Quốc dân: 11

2.1.4 Nguyên tắc mở rộng hợp tác kinh tế đối ngoại với yêu cầu các bên cùng có lợi, không xâm phạm độc lập, chủ quyền và lãnh thổ của nhau 12

2.2 Liên hệ thực tiễn ở nước ta hiện nay 12

TÀI LIỆU THAM KHẢO………12

Trang 3

LỜI MỞ ĐẦU

Nước ta hiện nay đang ở trong giai đoạn giữa cho sự cất cánh của nền kinh tế Sau gần

30 năm đổi mới, Việt Nam đã có những bước tiến vuợt bậc Sự phát triển này chính là do sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng và Nhà nước trong việc điều hành nền kinh tế một cách linh hoạt, hiệu quả Lựa chọn con đường mô hình kinh tế để đảm bảo cho nền kinh tế phát triển theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, định hướng xã hội chủ nghĩa là một vấn đề không

hề đơn giản Việc nhận thức đúng về vai trò, ý nghĩa và các nguyên tắc của quản lý nhà nước

về kinh tế thị trường phải là việc đầu tiên Do đó nghiên cứu vai trò của quản lý nhà nước về kinh tế rất cần thiết và quan trọng

Chính vì lý do đó, em xin phép được đi sâu vào đề tài: “Hãy phân tích vai trò, ý

nghĩa và mối quan hệ qua lại giữa 4 nguyên tắc cơ bản quản lý nhà nước về kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở việt nam hiện nay”

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tiểu luận gồm hai phần:

Phần 1: Lý luận quản lý nhà nước về kinh tế và ý nghĩa, vai trò quản lý nhà nước về kinh tế Phần 2: Mối quan hệ qua lại giữa 4 nguyên tắc cơ bản quản lý nhà nước về kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở việt nam hiện nay

PHẦN 1: LÝ LUẬN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ KINH TẾ VÀ VAI TRÒ

QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ KINH TẾ.

1.1 Khái niệm quản lý nhà nước

+ Nhà nước là gì?

Nhà nước là 1 tổ chức quyền lực, chính trị của xã hội có giai cấp, có lãnh thổ, dân cư

và chính quyền độc lập, có khả năng đặt ra và thực thi pháp luật nhằm thiết lập trật tự xã hội nhất định trong phạm vi lãnh thổ của mình Nhà nước là một tổ chức đặc biệt có các dấu hiệu đặc trưng sau: phân bố dân cư theo đơn vị hành chính - lãnh thổ; các bộ máy quyền lực công; có chủ quyền tối cao trong phạm vi lãnh thổ của đất nước mình; có quyền quy định các loại thuế mang tính bắt buộc đối với cá nhân, tổ chức trong xã hội

+ Quản lý là gì?

Là sự tác động của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý nhằm đạt được mục tiêu quản lý Còn về việc tác động theo cách nào sẽ phụ thuộc vào các lĩnh vực khác nhau, các góc độ khoa học khác nhau, cũng như cách tiếp cận của người nghiên cứu

+ Cùng với sự xuất hiện của nhà nước, quản lý nhà nước là sự tác động có tổ chức và điều chỉnh bằng quyền lực Nhà nước đối với hành vi hoạt động của con người và các quá trình xã hội nhằm duy trì và phát triển trật tự pháp luật và các mối quan hệ xã hội để thực hiện nhiệm vụ và chức năng của Nhà nước trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội và

Trang 4

bảo vệ tổ quốc Xã hội chủ nghĩa Xét theo nghĩa rộng, quản lý nhà nước là tất cả hoạt động của bộ máy nhà nước, bao gồm: hoạt động lập pháp, hành pháp đến tư pháp

1.2 Đặc điểm của quản lý nhà nước

Dựa trên khái niệm, ta có thể dễ dàng rút ra được một số đặc điểm nổi bật của quản lý nhà nước như sau:

- Thứ nhất, Quản lý nhà nước (QLNN) mang tính quyền lực tối cao, tính mệnh lệnh đơn phương của nhà nước Được thiết lập dựa trên cơ sở mối quan hệ “ủy quyền” và “sự phục tùng”

- Thứ hai, QLNN mang tính khoa học, tính kế hoạch: Đặc điểm này đòi hỏi nhà nước cần có sự tổ chức các hoạt động quản lý của mình lên đối tượng bị quản lý phải nhất quán, cụ thể dựa trên những kế hoạch đã được vạch ra từ trước và phải được nghiên cứu một cách khoa học

- Thứ ba, mang tính tổ chức và điều chỉnh: Tính tổ chức ở đây có thể được hiểu là khoa học về cách thức thiết lập mối quan hệ giữa con người với con người phục vụ cho quá trình quản lý xã hội Còn tính điều chỉnh chính là cách mà nhà nước sử dụng các công cụ pháp luật để buộc đối tượng bị quản lý phải tuân theo những quy luật xã hội khách quan

- Thứ tư, mang tính liên tục, ổn định: Hoạt động quản lý nhà nước phải diễn ra thường xuyên, liên tục, không bị gián đoạn bắt kịp với sự vận động biến đổi của đối tượng quản lý Các quyết định của nhà nước phải có tính ổn định, không được thay đổi quá nhanh Điều này giúp cho các chủ thể quản lý có điều kiện kiện toàn hoạt động của mình và hệ thống hành vi xã hội được ổn định

1.3 Khái niệm quản lý nhà nước về kinh tế

Quản lý nhà nước về kinh tế là sự tác động mang tính tổ chức và pháp quyền của Nhà nước đối với nền kinh tế quốc dân nhằm mục đích sử dụng hiệu quả nhất nguồn lực kinh tế, các cơ hội để đạt được các mục tiêu về phát triển kinh tế quốc gia đặt ra

Quản lý nhà nước về kinh tế vừa là một môn khoa học vừa là nghệ thuật, nghề nghiệp bởi vì nó có đối tượng nghiên cứu, nhiệm vụ nghiên cứu riêng Đó là các quy luật và các vấn

đề mang tính quy luật của các mối quan hệ trực tiếp, gián tiếp giữa các chủ thể tham gia vào hoạt động kinh tế của xã hội Tính khoa học có nghĩa là hoạt động quản lý của Nhà nước trên thực tế không thể phụ thuộc vào ý chí chủ quan hay sở thích của một cá nhân hay một

cơ quan Nhà nước nào mà phải dựa trên các phương pháp, nguyên tắc xuất phát từ thực tiễn

và được kiểm nghiệm bằng thực tiễn

Bên cạnh đó, QLNN về kinh tế còn chịu ảnh hưởng rất lớn từ trình độ nghiệp vụ, bản lĩnh, phẩm chất và phong cách làm việc của đội ngũ cán bộ quản lý kinh tế; khả năng thích nghi, phương pháp và hình thức tổ chức của bộ máy quản lý kinh tế của Nhà nước Tính nghệ thuật thể hiện ở việc linh hoạt xử lý các tình huống thực tiễn kinh tế xảy ra trên cơ sở các nguyên lý khoa học Bởi bản thân khoa học không thể đưa ra sự giải đáp cho mọi tình huống phát sinh trong hoạt động thực tiễn, nó chỉ có thể chỉ ra các nguyên lý khoa học làm

cơ sở cho các hoạt động quản lý thực tế Còn vận dụng một cách hiệu quả, tối ưu nhất những nguyên lý này vào thực tiễn lại phụ thuộc nhiều vào kiến thức, tài năng của các nhà quản lý kinh tế Nó đồng thời cũng là một nghề nghiệp bởi bộ máy quản lý Nhà nước là hệ thống tổ

Trang 5

chức bao gồm nhiều cơ quan, nhiều bộ phận, cá nhân có những quyền hạn, chức năng khác nhau nhằm đảm bảo tổ chức và quản lý có hiệu quả các lĩnh vực kinh tế

1.4 Ý nghĩa và vai trò của quản lý nhà nước về kinh tế

Thứ nhất, trong nền kinh tế thị trường, nhiều doanh nghiệp không có đủ khả năng để

tự giải quyết các vấn đề của chính mình nảy sinh trong quá trình hoạt động sản xuất, kinh doanh Vì vậy cần đến sự tác động của Nhà nước nhằm điều chỉnh, giải quyết các “ách tắc”, trở ngại trong hoạt động của doanh nghiệp Một vài vấn đề chủ yếu như:

- Hợp đồng, giải quyết hợp đồng

- Môi trường kinh doanh: Nhà nước xây dựng khung pháp lý phù hợp, tạo điều kiện cho doanh nghiệp có một môi trường kinh doanh thuận lợi, không xâm hại lẫn nhau và đồng thời cũng không gây ảnh hưởng đến đời sống của người dân xung quanh Sự can thiệp của Nhà nước còn nâng cao hiệu lực quản lý vĩ mô nền kinh tế quốc dân, đảm bảo thị trường được vận động ổn định, phát huy tối đa vai trò tự chủ, năng động của các thành phần kinh tế trong sản xuất kinh doanh

Thứ hai, quản lý nhà nước đóng vai trò hạn chế, ngăn ngừa những các lỗ hổng tiêu

cực, các mặt trái của nền kinh tế thị trường Chẳng hạn như:

- Thị trường cạnh tranh độc quyền, thị trường cạnh tranh không hoàn hảo

- Lạm phát, suy thoái, khủng hoảng kinh tế

- Ranh giới giàu nghèo rõ rệt, bất công xã hội

- Mất ổn định, nảy sinh nhiều vấn đề xã hội khác

Như vậy, Nhà nước cần tạo ra những công cụ điều tiết thị trường ở tầm vĩ mô để sửa chữa và khắc phục, những “khuyết tật” tồn tại và kiềm chế tính tự phát của nền kinh tế thị trường

Thứ ba, đối với đặc thù riêng của nền kinh tế của Việt Nam: Việt Nam đang là một

quốc gia có xuất phát điểm thấp và phát triển trong điều kiện nền kinh tế có nhiều biến động

Do đó, việc thực hiện tốt vai trò quản lý kinh tế – xã hội là một tất yếu, đóng vai trò cực kỳ quan trọng đối với Nhà nước Thể hiện rõ nét ở các điểm chính như:

- Thực hiện mục tiêu phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, vận hành theo

cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa

- Tạo hành lang pháp luật an toàn bảo vệ lợi ích chính đáng cho mọi thành phần kinh

tế tham gia

- Hỗ trợ người dân trong làm ăn kinh tế

- Can thiệp vào những lỗ hổng của thị trường

- Bảo vệ môi trường sinh thái

PHẦN 2: MỐI QUAN HỆ QUA LẠI GIỮA 4 NGUYÊN TẮC CƠ BẢN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở

VIỆT NAM HIỆN NAY 2.1 Các nguyên tắc cơ bản quản lý nhà nước về kinh tế thị trường định hướng

xã hội chủ nghĩa ở việt nam hiện nay

Trang 6

Nguyên tắc quản lý nhà nước về kinh tế: là những quy tắc, chuẩn mực được nhà nước định ra, thống nhất, xuyên suốt và bắt buộc phải tuân theo trong những giai đoạn xã hội nhất định đối với hoạt động quản lý nhà nước về kinh tế

2.1.1 Nguyên tắc Nhà nước điều tiết nền kinh tế bằng pháp luật dựa trên cơ sở tôn trọng các quy luật của nền kinh tế thị trường:

Thứ nhất, Nhà nước quản lý nền kinh tế bằng pháp luật:

Trước đây, trong cơ chế tập trung quan liêu bao cấp, nền kinh tế được đặt dưới sự chỉ huy bởi kế hoạch hoá tập trung cao độ với những nguyên tắc kế hoạch hoá thống nhất, tập trung dân chủ, kết hợp quản lý theo ngành với quản lý theo địa phương và vùng lãnh thổ Về cơ bản, đây là những nguyên tắc phù hợp với cơ chế kinh tế thời trước

Với cơ chế mới, hoạt động kinh tế diễn ra hết sức phức tạp với sự đa dạng của các quan hệ kinh tế, các chủ thể, lợi ích, các hình thức sở hữu Nhà nước có nhiệm vụ bảo đảm cho nền kinh tế ổn định, phát triển, có tính tổ chức cao và theo định hướng đã chọn Không thể quản lý theo lối cũ bằng các biện pháp hành chính, mệnh lệnh mà phải đổi mới quản lý Theo đó, pháp luật là công cụ chủ yếu và có hiệu quả nhất để Nhà nước quản lý xã hội nói chung và quản lý nền kinh tế nói riêng Nhà nước phải xây dựng, hoàn thiện một hệ thống pháp luật trong đó có hệ thống pháp luật về kinh tế sao cho phù hợp với nền kinh tế quốc dân

Có thể nói, quản lý kinh tế bằng pháp luật là nguyên tắc cơ bản trong bối cảnh nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa

-Pháp luật là sự thể chế hoá đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng trong lĩnh vực kinh tế Bằng pháp luật, Nhà nước xác định chiến lược phát triển, mục tiêu phát triển kinh tế cũng như quy hoạch và cơ cấu nền kinh tế

-Việc xác lập khuôn khổ pháp luật cho các hoạt động kinh tế trong nền kinh tế thị trường được xem như là một điều kiện tiên quyết đảm bảo cho thi trường hoạt động có hiệu quả Vì môi trường pháp lý ảnh hưởng trực tiếp đến các quyết định kinh doanh của các chủ thể kinh tế

-Bên cạnh đó, với những thuộc tính vốn có của nó, pháp luật bảo đảm xác lập các mối quan hệ kinh tế phức tạp, nảy sinh trong nền kinh tế bảo đảm vận hành cơ chế để ngăn chặn

và xử lý những trường hợp vi phạm trong sản xuất kinh doanh Trung tâm của pháp luật kinh

tế là là bảo vệ các lợi ích chính đáng của các chủ thể trên thị trường, không cho phép xâm phạm một cách tuỳ tiện quyền sở hữu

-Bước vào cơ chế thị trường, Nhà nước thành lập các toà kinh tế, lập ra các toàn án kinh tế cũng như ban hành các vă bản pháp luật Trong đó, vai trò của pháp luật kinh tế thể hiện ở các mặt sau:

+Pháp luật kinh tế xác định địa vị pháp lý các tổ chức và đơn vị kinh tế;

+Bằng pháp luật kinh tế, nhà nước điều chỉnh các hành vi kinh doanh xác định các hành vi kinh doanh hợp pháp, kinh doanh phi pháp;

Trang 7

+Tạo ra các luật chơi một cách bình đẳng cho các chủ thể kinh doanh, phát huy tính tích cực và hạn chế các mặt tiêu cực của thị trường

 Như vậy, có thể nói rằng: trong nền kinh tế hành hoá nhiều thành phần theo cơ chế thị trường, sự quản lý của Nhà nước bằng pháp luật trở nên đặc biệt và có ý nghĩa quan trọng

Thứ hai, Nhà nước quản lý nền kinh tế trên cơ sở tôn trọng các quy luật của nền kinh tế thị trường:

Kinh tế thị trường là nền kinh tế mà trong đó người mua và người bán tác động với nhau theo những quy luật cơ bản (quy luật giá trị, quy luật cung cầu, quy luật cạnh tranh, quy luật lưu thông tiền tệ ) nhằm xác định một cách đúng đắn giá cả và số lượng hành hoá, dịch vụ trên thị trường

Theo đó, nền kinh tế thị trường có các quy luật cơ bản:

- Quy luật giá trị:

Quy luật giá trị là quy luật kinh tế cơ bản của sản xuất hàng hoá Ở đâu có sản xuất và trao đổi hàng hoá thì ở đó có sự hoạt động của quy luật giá trị Quy luật giá trị điều tiết việc sản xuất và lưu thông hàng hóa thông qua sự biến động của cung - cầu thể hiện qua giá cả trên thị trường

-Quy luật cung cầu:

Cung - cầu tác động lẫn nhau và ảnh hưởng trực tiếp đến giá cả Đây là sự tác động phức tạp theo nhiều hướng và nhiều mức độ khác nhau Quy luật cung - cầu tác động khách quan và rất quan trọng Nếu nhận thức được chúng thì chúng ta vận dụng để tác động đến hoạt động sản xuất kinh doanh theo chiều hướng có lợi cho quá trình tái sản xuất xã hội

 Nhà nước có thể vận dụng quy luật cung - cầu thông qua các chính sách, các biện pháp kinh tế như: giá cả, lợi nhuận, tín dụng, hợp đồng kinh tế, thuế, thay đổi cơ cấu tiêu dùng

-Quy luật canh tranh:

Cạnh tranh là sự tác động lẫn nhau giữa các nhóm người, giữa người mua và người bán hay giữa người sản xuất và người tiêu dùng

Cạnh tranh như một tất yếu trong nền kinh tế hàng hoá Cạnh tranh có tác dụng san bằng các giá cả mấp mô để có giá cả trung bình, giá trị thị trường và giá cả sản xuất đều hình thành từ cạnh tranh trong nội bộ ngành và giữa các ngành

-Quy luật lưu thông tiền tệ:

Quy luật lưu thông tiền tệ là quy luật xác định lượng tiền cần cho lưu thông Lượng tiền cần cho lưu thông chính bằng tỷ số giữa tổng giá cả hàng hoá với tốc độ lưu thông tư bản Nếu quy luật canh tranh, quy luật cung - cầu làm giá hàng hoá vận động, san bằng thì quy luật lưu thông tiền tệ giữa mối liên hệ cân bằng giữa hàng và tiền

-Ngoài ra còn một số loại quy luật khác như: quy luật tỷ suất lợi nhuận có xu

hướng giảm, quy luật khủng hoảng kinh tế, quy luật tâm lý… cũng ảnh hưởng đến cơ

chế thị trường

Trang 8

 Các quy luật cơ bản của nền kinh tế thị trường có tác dụng to lớn trong việc quy định số lượng hàng hoá lưu thông trên thị trường, định giá cả hàng hoá và tốc độ lưu thông tiền tệ, điều tiết, lưu thông hàng hoá, kích thích cải tiến kỹ thuật hợp lý hoá sản xuất, tăng năng suất lao động thúc đẩy lực lượng sản xuất xã hội phát triển Với việc Nhà nước tôn trọng các quy luật thị trường, mỗi cá nhân được tạo điều kiện để phát huy cao nhất sức sáng tạo và tự do tiến hành các hoạt động sản xuất, kinh doanh, tự do cạnh tranh, tự do trao đổi trong khuôn khổ của luật pháp và dựa trên tín hiệu của thị trường, sự điều tiết của thị trường Đảng cộng sản và Nhà nước xã hội chủ nghĩa Việt Nam luôn nhận thức, tôn trọng và vận dụng đầy đủ các quy luật cơ bản của nền kinh tế thị trường vào việc hoạch định các chính sách giá cả, kế hoạch hoá nền Kinh tế quốc dân, thực hiện hoạch toán kinh tế sao cho phù hợp với điều kiện phát triển của Việt Nam, bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa của nền kinh tế

2.1.2 Nguyên tắc thực hiện phân công, phân cấp, phân quyền trong quản lý Nhà nước về kinh tế

Có thể nói, nguyên tắc phân công, phân cấp, phân quyền là một trong những nội dung

cơ bản của tổ chức nhà nước nói chung và quản lý nhà nước về kinh tế nói riêng Ở Việt Nam, vấn đề phân công, phân cấp, phân quyền đang được chú ý với tính cách là một nhiệm

vụ chính trị quan trọng của quá trình cải cách nền hành chính nhà nước Để đạt được những hiệu quả như mong muốn, cần phải nắm vững nội dung cũng như vận dụng một cách linh hoạt các nguyên tắc này trong quá trình quản lý Nhà nước về kinh tế

Phân công: phân công ở đây là phân công trách nhiệm.

+ Từ sau đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI, trên tinh thần đổi mới tư duy về kinh tế, nhà nước giao quyền tự chủ động sản xuất kinh doanh ,tự chịu trách nhiệm về việc bảo toàn

và phát triển vốn cũng như toàn bộ hoạt động của mình, làm tròn các nghĩa vụ đối với nhà nước Nhà nước nói chung, các cơ quan Nhà nước nói riêng chỉ quản lý hành chính về kinh

tế bằng cách định hướng để nền kinh tế phát triển đúng hướng, tạo môi trường thuận lợi cho

sự phát triển kinh tế

+Trong việc phân công trách nhiệm giữa các ngành, các cấp cũng như trách nhiệm của tập thể và cá nhân cần phải xác định rõ ràng để không chồng chéo, vô hiệu hoá lẫn nhau Trách nhiệm của trung ương và trách nhiệm của từng địa phương cũng như trách nhiệm của các cơ quan quản lý tổng hợp (chính phủ, uỷ ban nhân dân các cấp ) và các cơ quan quản lý ngành (các bộ, sở, phòng ) cũng phải được phân định một cách rõ ràng

Phân cấp: phân cấp ở đây là phân cấp quản lý.

+Phân cấp quản lý được hiểu là chuyển giao nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan quản lý nhà nước cấp trên đối với cơ quan nhà nước cấp dưới thực hiện thường xuyên, ổn định, lâu dài trên cơ sở pháp luật Thực chất của phân cấp quản lý về kinh tế xác định là sự phân chia thẩm quyền theo các cấp hành chính phù hợp với yêu cầu của tình hình nền kinh tế Tuy nhiên có ý kiến cho rằng, phân cấp quản lý được hiểu là “sự phân chia các đơn vị hành

Trang 9

chính-lãnh thổ và phân công thẩm quyền hợp lý giữa các cấp chính quyền tương ứng cho phù hợp với chức năng, nhiệm vụ và đặc điểm của mỗi cấp để nhằm thực hiện hiệu quả hơn hoạt động quản lý nhà nước về kinh tế

+ Dù được gọi tên khác nhau, song ở đâu quyền lực nhà nước cũng cần được phân chia một cách hợp lý giữa chính quyền trung ương và chính quyền địa phương Từ gần ba thập kỷ qua, đặc biệt là từ hơn 05 năm trở lại đây, Việt Nam đã thực hiện phân cấp quản lý kinh tế mạnh mẽ cho chính quyền địa phương

+Như vậy, liên quan đến khái niệm phân cấp có hai nội dung cần lưu ý là xác định thẩm quyền của mỗi cấp hành chính trong các văn bản quy phạm pháp luật và chuyển giao thẩm quyền của cấp trên cho cấp dưới bằng các quyết định cụ thể nhằm mục tiêu nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước

Phân quyền: phân quyền ở đây được hiểu là phân chia thẩm quyền theo lãnh thổ”.

Hay nói cách khác nó thể hiện việc “pháp luật quy định vị trí pháp lý của các cấp chính quyền địa phương”

+Phân quyền theo cấp lãnh thổ là nguyên tắc tổ chức thực hiện quyền lực, theo đó, nhà nước trung ương chuyển giao (thông qua hiến pháp và luật) cho các hội đồng dân biểu địa phương những quyền hạn độc lập và toàn vẹn (bao gồm cả phương tiện vật chất, tài chính, nhân sự ) trong phạm vi đó nó thực hiện một cách chủ động, độc lập và tự chịu trách nhiệm

+ Phân chia quyền lực trong quản lý kinh tế giữa chính quyền trung ương và địa phương là cũng một trong số những nội dung quan trọng, tác động đáng kể tới sự hình thành

và thực thi các chính sách điều tiết kinh tế Với cách tiếp cận như vậy, “Phân quyền theo chiều dọc cũng thể hiện sự phân cấp giữa trung ương và địa phương, giữa cơ quan nhà nước cấp trên với cơ quan nhà nước cấp dưới

 Có thể nói, việc thực hiện phân công, phân cấp, phân quyền để nâng cao hiệu lực, hiệu quả và năng lực quản lý của nhà nước trong kinh tế cũng được xem là vấn đề hết sức cần thiết Vì vậy, việc quản lý kinh tế của Nhà nước đang hướng vào việc giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa nhà nước, thị trường và doanh nghiệp, nhằm tạo môi trường cạnh tranh bình đẳng giữa các thành phần kinh tế

2.1.3 Nguyên tắc Nhà nước tiến hành thúc đẩy liên kết kinh tế vùng, bảo đảm tính thống nhất của nền kinh tế Quốc dân

Liên kết kinh tế vùng: là sự liên kết giữa các ngành kinh tế mang tính hợp tác, bổ

sung lẫn nhau giữa các địa phương, các vùng có nét tương đồng về vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên, phân bố dân cư, nhằm mục đích tăng cường sức hút thúc đẩy phát triển của địa phương trong vùng

Hiện nay Việt Nam có bảy vùng kinh tế quan trọng, đó là: trung du và miền núi Bắc

Bộ, đồng bằng sông Hồng, Bắc Trung Bộ, duyên hải Nam Trung Bộ, Tây Nguyên, Đông Nam Bộ và đồng bằng sông Cửu Long

Trang 10

Các nghiên cứu của các nhà học giả vùng về liên kết vùng đã nêu lên các nguyên tắc liên kết vùng cơ bản là:

- Nguyên tắc thứ nhất: Phân bố lãnh thổ các ngành và phân bố vùng phải dựa trên các lợi thế so sánh mà có thể làm cho tổng chi phí sản xuất và phân phối sản phẩm đến thị trường thấp nhất

- Nguyên tắc thứ hai là sự song hành sử dụng nguyên liệu cho nhiều nơi sẽ làmgiảm hiệu suất sử dụng nguồn lợi và làm mất đi các lực liên kết vùng Do vậy, nguyên tắc tối ưu hóa sử dụng nguồn lợi được nêu lên như là chỉ tiêu quan trọng cần được lưu ý khi phân bố lãnh thổ phát triển

- Nguyên tắc thứ ba là hiệu quả quy mô Các chi phí trên một đơn vị sản phẩm sẽ giảm khi sản lượng gia tăng Việc lựa chọn quy mô hợp lý phải dựa trên sự phân tích chi tiết cầu thị trường trong và ngoài nước, phân tích các mối liên kết giữa các nhà máy cùng loại sản phẩm

 Có thể nói, đây được xem là phương pháp tiếp cận hiệu quả và là chìa khoá nhằm đảm bảo sự phân bổ không gian tối ưu cho các hoạt động kinh tế - xã hội trong vùng, huy động nguồn lực với sự phối hợp chặt chẽ của các bên liên quan và đảm bảo sự phát triển đồng đều giữa các vùng lãnh thổ

Bên cạnh đó, liên kết vùng sẽ giúp giảm áp lực về cơ sở hạ tầng, nâng cao chất lượng dịch vụ đô thị và năng lực cạnh tranh của toàn vùng Cơ chế điều phối liên ngành vùng góp phần giải quyết các thách thức về biến đổi khí hậu và thúc đẩy phát triển kinh tế bền vững Quá trình liên kết (thông qua thương mại quốc tế) sẽ chuyển các hoạt động kém tranh cạnh sang các vùng có cạnh tranh hơn là hoàn toàn phù hợp đối với sự thịnh vượng của các vùng Tạo được sự liên kết vùng vững chắc sẽ nâng cao hiệu quả đầu tư, tránh tình trạng đầu tư dàn trãi, lãng phí và sự cạnh tranh không lành mạnh giữa các vùng kinh tế

Thời gian qua, Nhà nước ta đã tích cực thực hiện nhiều hoạt động theo chức năng, nhiệm vụ được giao nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế vùng; làm đầu mối và điều phối nhiều hoạt động để các địa phương, các cấp, các ngành tăng cường liên kết trong phát triển các sản phẩm chủ lực, từ đó nhằm đảm bảo tính thống nhất của nền kinh tế quốc dân

2.1.4 Nguyên tắc mở rộng hợp tác kinh tế đối ngoại với yêu cầu các bên cùng có lợi, không xâm phạm độc lập, chủ quyền và lãnh thổ của nhau

- Nhiệm vụ đối ngoại là tiếp tục giữ vùng môi trường hòa bình và tạo điều kiện quốc

tế thuận lợi để đẩy mạnh phát triển kinh tế xã hội, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước xây dựng và bảo vệ tổ quốc đảm bảo độc lập và chủ quyền quốc gia

- Mở rộng quan hệ nhiều mặt song phương đa phương với các nước và vùng lãnh thổ, các trung tâm chính trị kinh tế quốc tế lớn, các tổ chức quốc tế theo nguyên tắc tôn trọng độc lập chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, bình đẳng cùng có lợi, giải quyết các bất đồng và tranh chấp bằng thương lượng hòa bình

Ngày đăng: 29/04/2022, 09:06

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w