Bài viết này nhằm tập trung làm rõ hoạt động của lực lượng du kích trong quá trình chiến đấu và phục vụ chiến đấu, từ đó rút ra những kết luận về vai trò và đóng góp của lực lượng này trong đợt tiến công giải phóng tỉnh Quảng Trị năm 1972.
Trang 1Kỷ yếu Hội nghị Khoa học Sinh viên năm học 2015-2016
Trường Đại học Sư phạm, Đại học Huế, tháng 12/2015, tr: 215-223
TRƯƠNG TIẾN ĐẠT
Khoa Lịch sử
Tóm tắt: Phát huy vai trò là một trong những lực lượng tại chỗ, lực
lượng du kích trong đợt tiến công giải phóng tỉnh Quảng Trị (từ ngày
30-3 đến ngày 1-5-1972) đã có những đóng góp quan trọng vào thắng
lợi chung của chiến dịch Bài viết này nhằm tập trung làm rõ hoạt
động của lực lượng du kích trong quá trình chiến đấu và phục vụ chiến
đấu, từ đó rút ra những kết luận về vai trò và đóng góp của lực lượng
này trong đợt tiến công giải phóng tỉnh Quảng Trị năm 1972
Từ khóa: lực lượng du kích, đợt tiến công, dẫn đường, chiến đấu,
phục vụ chiến đấu
1 ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong cuộc tiến công chiến lược 1972, Quảng Trị là hướng tấn công chính sau đó mở rộng ra toàn miền Nam Bắt đầu từ ngày 30-3-1972 và đến ngày 1-5-1972, tỉnh Quảng Trị - tỉnh đầu tiên ở miền Nam được hoàn toàn giải phóng Trong thắng lợi chung đó, lực lượng du kích Quảng Trị đã có những đóng góp hết sức quan trọng, cùng với lực lượng bộ đội chủ lực đập tan tuyến phòng thủ mạnh nhất của Việt Nam cộng hòa, giải phóng quê hương
2 NỘI DUNG VẤN ĐỀ
Sau thất bại trong cuộc hành quân “Lam Sơn 719”, đánh ra Đường 9 - Nam Lào (1971),
Mỹ và Việt Nam cộng hòa nỗ lực củng cố vùng đất “địa đầu giới tuyến” thành tuyến phòng thủ kiên cố và mạnh nhất ở miền Nam Việt Nam, tiếp tục thực hiện âm mưu
“dùng người Việt đánh người Việt” Đến tháng 2-1972, quân lực Việt Nam cộng hòa tại Trị - Thiên mà trọng điểm là chiến trường Quảng Trị, có 2 sư đoàn bộ binh, 2 lữ đoàn thủy quân lục chiến, 4 tiểu đoàn và 94 đại đội bảo an, 302 trung đội dân vệ, 14 tiểu đoàn pháo binh, 3 thiết đoàn và trên 5.000 cảnh sát [7, tr 334], chia thành ba tuyến như sau: i Tuyến ngoài cùng (là nơi giáp ranh với ta) kéo dài từ biển Đông đến biên giới Việt - Lào thực hiện nhiệm vụ phát hiện, ngăn chặn lực lượng ta từ xa [7, tr 335]; ii Tuyến giữa là tuyến phòng thủ cơ bản và là tuyến quan trọng nhất, gồm các điểm cao và các căn cứ như động Ông Do, điểm cao 52, 365, 241, kéo đến Cồn Tiên, Dốc Miếu, Cửa Việt,
Trang 2Quán Ngang Tuyến này thực hiện việc ngăn chặn các cuộc tiến công của ta, bảo vệ các
cứ điểm của chúng bên trong thị xã, thị trấn và các kho tàng, tuyến giao thông trọng yếu của chúng [7, tr 335]; iii Tuyến trong cùng hay tuyến phòng thủ dự bị từ quốc lộ 1 kéo
ra biển Đông, tập trung căn cứ tại các thị trấn, thị xã như Đông Hà, Ái Tử, Quảng Trị,
La Vang, Hải Lăng [7, tr 335]
Về phía ta, trước những chuyển biến của cuộc kháng chiến, tháng 5-1971, Bộ Chính trị Trung ương Đảng họp và đề ra nhiệm vụ cấp thiết là “giành thắng lợi quyết định trong năm 1972, buộc đế quốc Mỹ phải chấm dứt chiến tranh bằng thương lượng trên thế thua” [6, tr 332-323] Tháng 8-1971, Bộ Chính trị ra Nghị quyết mở cuộc tiến công chiến lược năm 1972 trên ba hướng: Nam Bộ, Trị - Thiên và Tây Nguyên [6, tr 333] Trên cơ sở phân tích tình hình, Hội nghị Thường vụ Tỉnh ủy Quảng Trị (đầu năm 1972)
đã đặt mục tiêu “phấn đấu giành cho được quyền làm chủ về trên 75% đến 95% dân số” [1, tr 40] Để thực hiện mục tiêu trên, Thường vụ Tỉnh ủy và Ban chỉ huy quân sự tỉnh
đã xem xét, tổ chức, bố trí lực lượng vũ trang địa phương vào các hướng phù hợp
Về lực lượng du kích tại Quảng Trị, từ cuối năm 1971 đến đầu năm 1972, lực lượng này được phát triển và củng cố Du kích toàn tỉnh có 2.597 đồng chí, trong đó 4 huyện đồng bằng có 1.086 đồng chí với 406 du kích mật [9] Ngay từ đầu năm, Nghị quyết Tỉnh ủy
và Đảng ủy Tỉnh đội cũng đã nhận định về khả năng đánh lớn trong năm 1972, chủ trương việc đẩy mạnh hoạt động đấu tranh của toàn quân, toàn dân một cách toàn diện hơn nữa, trong đó chú trọng việc chuẩn bị cơ sở vật chất, thực hiện tốt công tác hậu cần
và chuẩn bị chiến trường cho bộ đội chủ lực
Ngay từ tháng 1-1972, Tỉnh uỷ và Tỉnh đội đã chấn chỉnh lực lượng trong đó có dân quân du kích cho các huyện, xã tổ chức thành những đội biệt động của huyện và tổ vũ trang công tác của xã, tiến hành luồn sâu, bám sát đồng bằng bám sát thôn xã, các khu tập trung nhằm móc nối cơ sở, phát động quần chúng diệt ác trừ gian, đồng thời chuẩn
bị mục tiêu để phục vụ cho bộ đội địa phương, bộ đội chủ lực thọc xuống tiêu diệt các
tụ điểm ác ôn và các lực lượng bảo an, dân vệ kịp thời khi chiến dịch mở ra Gio Linh
và Cam Lộ được bố trí lực lượng đầu tiên, tạo cơ sở mở đợt tiến công lần thứ nhất của chiến dịch về sau này
Tại Gio Linh, các lực lượng được chia thành 4 cụm:
- Khu bắc: Sử dụng lực lượng du kích Trung Giang, Trung Hải, Trung Sơn và Gio An bao vây bức hàng, bức rút căn cứ Dốc Miếu
- Khu đông: Lực lượng du kích Gio Hà, Gio Mai, Gio Hải,Gio Mỹ kết hợp cùng một lực lượng bộ đội địa phương tiến hành diệt các cụm ác ôn và lực lượng kìm kẹp khu tập trung Xuân Khánh, đưa dân khu tập trung ra theo hướng quy định, phát động quần
Trang 3chúng nổi dậy
- Khu giữa Gio Lễ - Quán Ngang, lực lượng du kích Gio Lễ cùng lực lượng du kích Trung Giang, Trung Hải, Gio Mỹ kết hợp cùng bộ đội địa phương tập trung giải quyết khu tập trung Quán Ngang đưa dân về làng cũ theo hướng quy định, sau đó phát triển về
Hà Thượng, Lạc Tân phát động quần chúng
- Khu Tân Tường: Lực lượng du kích Trung Giang, Trung Hải, Trung Sơn phối hợp với các lực lượng khác tập trung phá kìm kẹp tại khu tập trung Tân Tường
Tại Cam Lộ, lực lượng du kích được chia làm 3 khu:
- Khu A: lực lượng du kích 3 xã Cam Giang, Cam Thanh, Cam Thuỷ cùng với một lực lượng bộ đội địa phương tác chiến tại địa bàn xa mình, đồng thời giải quyết khu vực ngà
Tư Sòng, diệt lực lượng kìm kẹp phát động quần chúng nổi dậy
- Khu B: lực lượng du kích chính trị xã Cam Mỹ cùng phối hợp với các lực lượng khác giải quyết lực lượng kìm kẹp tại chỗ, chú trọng 2 trụ sở xã Cam Hương, Cam Thái và phát động quần chúng nổi dậy
- Khu C: Lực lượng du kích, cán bộ chính trị xã Cam Chính, Cam Nghĩa, Ba Lòng kết hợp với lực lượng nòng cốt bên trong tiêu diệt và làm tan rã toàn bộ lực lượng kìm kẹp
ở khu định cư dân khu vực chợ Cùa và khu định cư dân Hướng Hoá ở Côn Trung (Mai Lộc) sau khi đánh tan bộ máy kìm kẹp ở đây phát động quần chúng nhân dân nổi dậy và đưa dân về làng cũ theo hướng quy định [9]
Sau khi phân tích tình hình và cân nhắc lần cuối, ngày 13-3-1972, Trung ương Đảng quyết định chọn Trị - Thiên là hướng tiến công chính, chủ yếu là chiến trường Quảng Trị Đảng ủy Bộ Tư lệnh chiến dịch tiến công Trị - Thiên được thành lập Đồng chí Lê Trọng Tấn làm Tư lệnh, đồng chí Lê Quang Đạo làm Chính ủy Đồng chí Hồ Sỹ Thản
và Trần Đồng (cán bộ tỉnh Quảng Trị) được chỉ định tham gia Đảng ủy chiến dịch Đồng chí Văn Tiến Dũng được cử làm đại diện của Quân ủy Trung ương trực tiếp chỉ đạo hướng tiến công chiến lược trong tại Trị - Thiên [6, tr 333] Ngày 19-3-1972, Thường vụ Tỉnh ủy Quảng Trị mở Hội nghị tiếp thu và thảo luận, đề ra kế hoạch thực hiện Nghị quyết Hội nghị Đảng ủy Bộ Tư lệnh chiến dịch Trị - Thiên Trong đó, Hội nghị đã nhấn mạnh việc “phối hợp chặt chẽ với đòn tấn công của chủ lực, phát huy cao
độ đòn nổi dậy của quần chúng tiêu diệt và làm tan rã của hệ thống kìm kẹp của địch, hình thành mặt trận tấn công địch để phối hợp với đòn tấn công của chủ lực” [9] Dù còn những khó khăn nhất định trước khi chiến dịch nổ ra như cơ sở nội tuyến của ta chưa được phổ biến tình hình, khả năng hậu cần tại chỗ còn yếu nhưng phát huy cao độ
ý chí chiến đấu, phục vụ chiến đấu, quân và dân trên chiến trường Quảng Trị hết sức tin tưởng vào khả năng thắng lợi của chiến dịch Vì lẽ đó, để thực hiện tốt nhiệm vụ quan
Trang 4trọng trong chiến dịch lần này, lực lượng du kích cũng đã đảm đương một phần vai trò nhất định
Thường vụ Tỉnh ủy và Ban Chỉ huy quân sự tỉnh Quảng Trị đã quyết định tổ chức lãnh đạo, chỉ huy các lực lượng vũ trang tỉnh, trong đó có du kích địa phương làm hai hướng: Hướng bắc gồm Gio Linh, Cam Lộ và Đông Hà dưới sự chỉ huy của đồng chí Nguyễn Sanh, hướng này thực hiện nhiệm vụ phối hợp cùng với bộ đội chủ lực đập vỡ tuyến phòng thủ phía bắc của địch tiêu diệt và làm tan rã toàn bộ lực lượng kìm kẹp giải phóng các địa bàn phía bắc, đồng thời tiến hành truy lùng tàn quân địch, giải quyết hậu quả chiến tranh đưa dân các khu tập trung về các hướng đã quy định từng bước ổn định đời sống của quần chúng, củng cố vùng giải phóng xây dựng chính quyền cách mạng, tham gia phục vụ bộ đội chủ lực để phát triển thế tấn công về phía nam, hoàn thành tốt nhiệm vụ chiến dịch
Ở hướng nam, Triệu Phong, Hải Lăng và thị xã Quảng Trị do đồng chí Nguyễn Đức Dũng phụ trách được chỉ thị cùng với bộ đội chủ lực phối hợp hình thành “mặt trận du kích chiến tranh sau lưng địch” nhằm phối hợp đòn tấn công của quân dân ở phía bắc Quảng Trị, tổ chức tiên diệt và làm tan tã một bộ phận kìm kẹp của địch, nhanh chóng giành thế làm chủ ở một số xã trọng điểm Sau khi địa bàn phía bắc tỉnh được giải phóng, tại địa bàn phía nam sẽ phát huy cao độ lực lượng tại chỗ phối hợp với bộ đội chủ lực tiêu diệt, tiêu hao làm tan rã lực lượng kìm kẹp của địch, hỗ trợ nhân dân, đưa phong trào quần chúng nổi dậy đấu tranh vũ trang chính trị, thực hiện binh vận phối hợp để đập tan toàn bộ
bộ máy chính quyền địch tiến lên giải phóng toàn bộ tỉnh Quảng Trị [9]
Lực lượng du kích cùng bộ đội tỉnh, các đội biệt động được chỉ đạo tổ chức trở lại bám sát từng địa bàn các xã, huyện, tổ chức đánh nhỏ, rộng khắp nhưng có trọng điểm, từ vùng giáp ranh đến đồng bằng, tạo thế đan cài, giam chân kẻ thù, tiêu hao sinh lực địch với phương châm đánh tiêu diệt [9] Trong gần ba tháng đầu năm 1972 (tính đến trước khi cuộc tiến công diễn ra), du kích tỉnh đã hoạt động tích cực, vừa tiêu hao sinh lực địch, vừa chống địch đánh đánh phá, dồn dân, tạo điều kiện giữ gìn, củng cố lực lượng chính trị để thực hiện phối kết hợp khi đòn tiến công và nổi dậy diễn ra Bên cạnh đó, cùng các lực lượng khác, du kích tham gia thực hiện tốt công tác hậu cần, chuẩn bị cho chiến dịch Ngoài ra, lực lượng du kích mật được cài vào trong hàng ngũ địch còn thực hiện nhiệm vụ nắm bắt tình hình địch, thế bố trí lực lượng và các vị trí trọng yếu, đáp ứng yêu cầu khi chiến dịch diễn ra
Tiêu biểu trong những hoạt động đó, có thể kể đến thành tích đánh địch tại điểm cao 31
do du kích Trung Giang phối hợp cùng 4 đội biệt động Gio Linh thực hiện vào tháng 1-1972 phá hủy toàn bộ công sự; tháng 3-1972, du kích Cam Chính gài mìn làm nổ tung thùng phiếu để chống cuộc bầu cử hội đồng nhân dân xã do địch tổ chức làm nhân dân
Trang 5phấn khởi [9]
Sau khi bố trí lực lượng đảm bảo cho chiến dịch diễn ra, trước thời khắc nổ súng chiến dịch, mỗi cán bộ, chiến sĩ trong đó có lực lượng du kích đều nhận thức sâu sắc về ý nghĩa của chiến dịch này và hạ quyết tâm vượt qua gian khổ, bất chấp hi sinh để đập tan
hệ thống phòng ngự “kiên cố nhất chiến trường Đông Dương”, nêu cao tinh thần “Tất cả
vì Quảng Trị thân yêu” [1, tr 39]
Nhờ sự chuẩn bị đó nên khi cuộc tiến công chiến lược nổ ra, lực lượng du kích đã phối hợp tích cực với bộ đội chủ lực, như dẫn đường, phối hợp chiến đấu, tiến hành truy kích, gọi hàng địch; bao vây các đồn bốt, khu tập trung, phá kìm kẹp, phát động quần chúng nổi dậy giải phóng quê hương
Tại Gio Linh, ở khu vực Dốc Miếu, từ đêm 30-3 đến 31-3-1972, du kích xã Trung Hải
và Trung Giang đã đánh vào các lô cốt, hầm ngầm, gây thương vong nặng 1 tiểu đoàn địch, buộc chúng phải tháo chạy Tại Quán Ngang, cùng lực lượng vũ trang huyện, du kích xã Gio Lễ, Gio Sơn, Trung Sơn, Trung Hải và Trung Giang tấn công vào các đơn vị bảo an, dân vệ [8, tr 225] Tại Gio Hà, đêm 30 rạng ngày 31-3-1972, du kích xã phối hợp với bộ đội địa phương chớp lấy thời cơ giải phóng toàn bộ xã dù “chưa có đòn chủ lực của ta áp đảo” [8, tr 226-227] Tại Gio Mỹ, cũng trong thời gian này, du kích xã phối hợp với một đơn vị chủ lực đánh chiếm cầu Bến Ngự và sớm làm chủ vị trí [8, tr 227] Từ ngày 31-3 đến 1-4-1972, bằng các đòn tấn công liên tục tại thôn xã, du kích Gio Hải đã phát động quần chúng nổi dậy làm chủ quê hương Ta gọi hàng được 150 tên, thu 80 súng [8, tr 226]
Trong ngày 1-4-1972, du kích Cam Lộ tham gia tấn công địch ở điểm cao 241, đồng thời cùng bộ đội chặn địch, đánh thiệt hại nặng mũi phản kích của chúng do Lữ đoàn
147 đảm nhiệm ở đèo Cùa [2, tr.335-336] Tại khu tập trung Tân Tường, cũng trong ngày 1-4, du kích hai huyện Gio Linh, Cam Lộ phối hợp cùng lực lượng biệt động, an ninh vũ trang bao vây các căn cứ, đồn bốt địch, giải phóng khu tập trung, hướng dẫn quần chúng về làng cũ [8, tr 227] Trước khí thế tiến công, ngày 2-4-1972, du kích địa phương cùng bộ đội đánh chiếm chi khu quân sự Cam Lộ, giải phóng hoàn toàn huyện [2, tr 336]
Tại Đông Hà, sáng 9-4-1972, lực lượng du kích Đông Giang, Đông Thanh cùng bộ đội địa phương và chủ lực vượt sông Hiếu Tuy nhiên, trước sức kháng cự của địch, ta phải
tổ chức nhiều trận tập kích tiêu hao lực lượng bộ binh và xe tăng địch ở Tây Trì, chùa Tám Mái và cầu Đông Hà nhằm giữ vững trận địa [4, tr 272] Sau thời gian củng cố lực lượng, đến sáng 28-4-1972, du kích Đông Hà và các lực lượng chủ lực, bộ đội địa phương tiến công toàn diện vào cứ điểm Đông Hà Nhờ nắm bắt rõ địa hình, lực lượng
du kích tại chỗ đã dẫn đường cho bộ đội tiến công đúng vào các vị trí địch, chiếm lĩnh
Trang 6các đường phố “Chính du kích là những “chiến sĩ hoa tiêu” dẫn đường lợi hại cho bộ đội chủ lực” [4, tr 273-274] Ở phía nam Đông Hà, du kích cùng bộ đội đột nhập, làm chủ cứ điểm tại làng Trung Chỉ, diệt trên 100 tên, bắn cháy 2 xe tăng [4, tr 273] Du kích Triệu Lương và Triệu Lễ phối hợp cùng bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương đánh chiếm các cao điểm 23, 25, 26, 30 và 32, tạo bàn đạp tiến công cầu Lai Phước, nhanh chóng cùng bộ đội công binh phá sập cây cầu huyết mạch nối Đông Hà với Ái Tử, cắt đứt đường rút lui của địch khiến chúng phải bỏ xe, pháo lội sang sông
Những ngày đầu tháng 4-1972, tại Triệu Phong và Hải Lăng, quân đội Sài Gòn mở nhiều trận càn Du kích tại các địa phương này đã chủ động chiến đấu, kiên cường bám trụ tại quê hương và đẩy lùi được nhiều đợt càn quét của địch, gây cho chúng những tổn thất nhất định Đến cuối tháng 4-1972, trong khí thế hừng hực của chiến dịch đợt hai, du kích Triệu Lễ, Triệu Thượng, Triệu Ái, Triệu Giang (Triệu Phong) luôn “kề vai sát cánh” cùng bộ đội trong những trận đánh ác liệt, làm tròn nhiệm vụ giải phóng Ái Tử - nơi đóng Sở Chỉ huy Sư đoàn 3 quân đội Sài Gòn và thực hiện truy kích địch
Trên hướng đông Triệu Phong, lực lượng du kích và nhân dân đã tích cực phối hợp với
bộ đội chủ lực tiêu diệt địch ở cầu Bồ Bản, Mỹ Lộc, tiến thẳng lên Đại Hào, đánh sang Long Quang, Ba Bến, Linh Yên và Chợ Cạn Các xã vùng đồng bằng Triệu Trạch, Triệu Sơn, Triệu Tài được giải phóng [7, tr 83-84] Ở các xã còn lại trên địa bàn huyện, được đòn tiến công của bộ đội chủ lực hỗ trợ, lực lượng du kích đã phát động quần chúng giải phóng làng, xã mình Trên đà thắng lợi, bộ đội chủ lực được du kích xã Triệu Thành dẫn đường, phối hợp tiến vào giải phóng thị xã Quảng Trị [7, tr 84]
Tại thị xã Quảng Trị, cùng với bộ đội chủ lực và bộ đội địa phương, du kích xã Triệu Thượng đã tiến công địch, bức hàng 1 đại đội bảo an và dân vệ ở hai thôn Xuân Yên, Trung Kiên [5, tr.252-253] Trên hướng nam - cánh chia cắt chiến dịch, du kích phối hợp với bộ đội tiến công hệ thống phòng thủ của địch Ngày 30-4-1972, ta đánh chiếm cầu Dài, cầu Bến Đá, làm chủ đoạn quốc lộ 1 giữa hai cầu, chia cắt lực lượng địch, mở rộng vùng kiểm soát; cũng trong đêm này, lực lượng an ninh thị xã phối hợp với du kích chặn đánh thành công lực lượng tàn binh địch co cụm ở thôn Thạch Hãn [5, tr 254] Các đợt phản kích của Lữ đoàn 369 thủy quân lục chiến đều bị ta bẻ gãy [5, tr 254]
Ở Hải Lăng, tại mặt trận phía đông, du kích phối hợp với bộ đội chủ lực “vừa tấn công địch, vừa phát động nhân dân nổi dậy”, đẩy mạnh công tác binh địch vận, tiến hành tiêu diệt, đánh chiếm các đồn bốt, xóa bỏ hệ thống kìm kẹp của địch một cách đắc lực Du kích và nhân dân xã Hải Vĩnh chủ động chiếm đồn Thi Ông, du kích xã Hải Ba chiếm cảng Mỹ Thủy, du kích xã Hải Thiện truy kích tàn binh gọi hàng và bắt hàng trăm tên rút chạy, thu hàng trăm vũ khí các loại [3, tr 263], du kích cùng nhân dân nhiều xã khác trên địa bàn cũng vùng lên giải phóng quê nhà Trong quá trình tiến công, ngày
Trang 728-4-1972, khi địch âm mưu chuyển 200 tù nhân là cán bộ, chiến sĩ cách mạng của ta từ lao xá Quảng Trị vào Thừa Thiên Huế, đến địa phận huyện Hải Lăng bị pháo ta nã dồn dập, tiếp đó, lực lượng du kích xã Hải Thượng, Hải Lâm và bộ đội địa phương đã phối hợp chặn đánh địch và phá cầu Bốn Thước giải thoát cho đồng chí, đồng đội của mình Cán bộ, chiến sĩ của ta được giải thoát hết sức phấn khởi, mau chóng “tỏa về các địa phương, một số lên rừng, tiếp tục hoạt động, tham gia cuộc “tiến công và nổi dậy” [5, tr 253], [10, tr 454]
Bên cạnh chiến đấu cùng bộ đội chủ lực và bộ đội địa phương, lực lượng du kích đã không quản khó khăn, hăng hái tiếp lương, tải đạn cho bộ đội, phục vụ chiến đấu, tình nguyện tham gia bổ sung vào lực lượng ra tiền tuyến Ngoài ra, du kích còn tổ chức quần chúng cùng tham gia sơ cứu, chăm sóc thương binh, đưa thương binh và tử sĩ về tuyến sau
Đáp ứng những yêu cầu của chiến dịch đặt ra, một bộ phận du kích từ các địa bàn tỉnh được nhanh chóng giải phóng trong đợt đầu ta tiến công đã lên đường, bổ sung vào tiền tuyến, tham gia trên các địa bàn còn chưa được giải phóng Sau khi giải phóng, để đáp ứng yêu cầu chiến dịch, huyện Gio Linh đã bổ sung cho Triệu Phong và Hải Lăng 50 chiến sĩ du kích [8, tr 235], các địa bàn khác cũng gửi lực lượng du kích vào tham gia chiến đấu và phục vụ chiến đấu
Tại nhiều xã của huyện Triệu Phong, cùng với quần chúng nhân dân, lực lượng du kích
đã tích cực đào hầm hào, công sự, tiếp tế lương thực, thực phẩm cho bộ đội, đồng thời còn chăm sóc, đưa đón bộ đội bị thương trong chiến đấu hay hi sinh về tuyến sau [7], điển hình như nhân dân và du kích xã Triệu Tài (Triệu Phong) huy động và phục vụ bộ đội 3 tấn lương thực, cùng hàng trăm ngày công phục vụ chiến đấu, nhân dân và du kích
xã Triệu An (Triệu Phong) hoàn thành nhiệm vụ vận chuyển bộ đội, tiếp tế lương thực, đạn dược từ Vĩnh Linh vào Cửa Việt
Không những thế, công tác đưa tù binh và nhân viên trong bộ máy chính quyền địch về tuyến sau cũng có sự tham gia của lực lượng du kích, đảm bảo cho việc thực hiện lập chính quyền cách mạng sau khi các địa bàn được giải phóng, hoàn tất việc vây bắt, truy lùng tàn binh và giải tán chính quyền các cấp của địch
Chính những hoạt động tích cực phục vụ chiến đấu của lực lượng du kích tỉnh Quảng Trị
đã góp công vào chiến thắng chung của quân và dân ta trên chiến trường trọng điểm này
3 KẾT LUẬN
Qua trình bày trên, có thể thấy, trong suốt quá trình diễn ra đợt tiến công giải phóng tỉnh Quảng Trị, lực lượng du kích tại chỗ có vai trò rất lớn
Một là, du kích tỉnh Quảng Trị là một lực lượng vũ trang tại địa phương rất thông thuộc
Trang 8địa bàn, mưu trí và gan dạ, trong quá trình chiến đấu, lực lượng du kích đã làm tốt công tác nắm bắt tình hình, góp phần chuẩn bị chiến trường, tích cực dẫn đường cho bộ đội chủ lực tiến công địch, xứng đáng là những “thổ địa”, những “hoa tiêu”
Hai là, du kích tỉnh vừa phát huy những đặc điểm của lực lượng vũ trang địa phương,
tiến hành đánh nhỏ, đánh tiêu hao, tiêu diệt sinh lực địch, vừa phối hợp chiến đấu cùng
bộ đội chủ lực và bộ đội địa phương Trong quá trình chiến đấu, ngoài đấu tranh vũ trang, du kích tỉnh còn phát động, tổ chức quần chúng nhân dân đấu tranh chính trị, nổi dậy giành chính quyền ở một số địa bàn hay thực hiện công tác binh địch vận đạt hiệu quả Giữa cuộc chiến đấu oanh liệt, lực lượng du kích còn thực hiện tốt nhiệm vụ phục
vụ chiến đấu, tiếp lương, tải đạn ra tuyến trước và đưa thương binh, tử sĩ về tuyến sau
Ba là, trong thắng lợi chung của đợt tiến công giải phóng tỉnh Quảng Trị từ ngày 30-3
đến ngày 1-5-1972, không thể phủ nhận vai trò và những đóng góp của lực lượng dân quân du kích tỉnh Quảng Trị Thiết nghĩ, đề tài này cần được quan tâm và mở rộng hơn, không chỉ mang tính khoa học, góp phần làm rõ hơn về quá trình tổ chức tác chiến phối hợp ba thứ quân, về nghệ thuật quân sự của ta trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, mà còn bổ sung vào nội dung giáo dục cho thế hệ trẻ Quảng Trị Tuy nhiên, điều trước tiên hết mà nội dung bài viết mong muốn đề cập đến chính là sự tri ân sâu sắc đối với những chiến sĩ du kích đã chiến đấu, hi sinh hay mất mát một phần thân thể vì sự nghiệp vĩ đại giải phóng tỉnh nhà, giải phóng miền Nam, hoàn thành cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] Bùi Công Ái - Trần Tiến Hoạt (1992) Quảng Trị 1972, Xí nghiệp in Thừa
Thiên - Huế, Huế
[2] Ban Chấp hành Đảng bộ huyện Cam Lộ (2002) Lịch sử Đảng bộ huyện Cam
Lộ (1930-2000), NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội
[3] Ban Chấp hành Đảng bộ huyện Hải Lăng (1995) Lịch sử Đảng bộ huyện Hải
Lăng (1930-1975), tập II (sơ thảo), Quảng Trị
[4] Ban Chấp hành Đảng bộ thị xã Đông Hà (2000) Lịch sử Đảng bộ thị xã Đông
Hà (1930-1999), NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội
[5] Ban Chấp hành Đảng bộ thị xã Quảng Trị (1999) Lịch sử Đảng bộ thị xã
Quảng Trị (1930-1995), NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội
[6] Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Quảng Trị (1999) Lịch sử Đảng bộ Quảng Trị
(1954 - 1975), tập II, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội
[7] Thường vụ Đảng ủy và Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Quảng Trị (1998) Quảng Trị
lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975), Quảng Trị
Trang 9[8] Thường vụ Huyện ủy Gio Linh (1995) Lịch sử Đảng bộ huyện Gio Linh
1930-1975 (sơ thảo), Quảng Trị
[9] Tỉnh bộ Quảng Trị (1972) Báo cáo tổng hợp diễn biến và kết quả tấn công nổi
dậy của lực lượng địa phương Quảng Trị năm 1972 (tài liệu số hóa), Phòng
Lưu trữ Văn phòng Tỉnh ủy Quảng Trị
[10] Tỉnh ủy Quảng Trị - Bộ Quốc phòng (2012) 40 năm giải phóng tỉnh Quảng Trị
và chiến đấu bảo vệ Thành Cổ (1972-2012), NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội
TRƯƠNG TIẾN ĐẠT
SV lớp Sử 4C, khoa Lịch sử, trường Đại học Sư phạm, Đại học Huế
ĐT: 0123 510 7089, Email: truongtiendatqt81@gmail.com