1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Biểu tượng trăng trong Trường thơ Loạn (1930 - 1945)

10 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 10
Dung lượng 328,53 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu góp phần chỉ ra biểu tượng ánh trăng của Trường thơ Loạn trong phong trào Thơ Mới mang đặc điểm gì nổi bật, vận động theo quy luật như thế nào; chỉ ra được những dấu ấn của chủ nghĩa tượng trưng, yếu tố tâm linh chi phối đến biểu tượng Trăng trong sáng tác của Trường thơ Loạn với mong muốn hiểu thêm tài năng và số phận trắc trở của Trường thơ kì dị, độc đáo này.

Trang 1

Kỷ yếu Hội nghị Khoa học Sinh viên năm học 2015-2016

Trường Đại học Sư phạm, Đại học Huế, tháng 12/2015, tr: 190-199

LÊ NGUYỄN NGỌC TRAI

Khoa Ngữ văn

óm tắt: iểu tượng là một hình thức nghệ thuật được nhà văn, nhà thơ

chọn lựa tinh xảo để xây dựng và đưa vào tác phẩm nhằm thể hiện chủ đề, tư

tưởng Tìm hiểu về Trường thơ Loạn (phong trào Thơ Mới 1930 - 1945),

chúng tôi đặc biệt ấn tượng với hình ảnh lặp lại với tần số cao và xuyên suốt

mạch nguồn thi ca và trở thành biểu tượng độc đáo của Trường thơ đó là

Trăng Trăng trong Trường thơ Loạn xuất hiện dưới nhiều góc cạnh từ hiển

nhiên trần trụi đến chìm ẩn biểu thị những góc khuất của tâm hồn Tựu

trung, Trăng trong Trường thơ Loạn như một thực thể của tạo hóa ban phát

ánh sáng lung linh huyền nhiệm lạ kỳ như một thực thể có linh hồn

ừ khóa: biểu tượng, trăng, Trường thơ Loạn

1 MỞ ĐẦU

Trăng là nguồn cảm hứng vô tận của thi nhân muôn đời Trăng trở thành hình tượng nghệ thuật, motip nghệ thuật mà ta thường gặp thơ xưa và nay Tuy nhiên ở mỗi giai đoạn văn học, mỗi trường phái, Trăng có những nét đẹp, nét độc đáo riêng Tìm hiểu Trăng trong Trường thơ Loạn là ta tìm hiểu biểu tượng nghệ thuật được xây dựng với những đặc trưng khác lạ, thể hiện cá tính sáng tạo, phong cách của những nhà thơ trong Trường thơ Loạn gồm ích Khê, Yến Lan, hế Lan Viên, Hàn Mặc Tử Trước 1945, đã

có nhiều bài viết về phong trào Thơ Mới nhưng bàn luận về Trường thơ Loạn hầu như rất hiếm, có chăng chỉ là những bài viết nhỏ lẻ về các tác giả của nhóm thơ này trên các tạp chí Ngoài những người bạn thân thiết trong nhóm hiểu rõ khuynh hướng sáng tác của Trường thơ nên có những cái nhìn tương đối xác đáng với Hàn Mặc Tử, còn lại các nhà phê bình đều chỉ đứng từ xa xa, chưa thâm nhập vào được một Trường thơ với khuynh hướng sáng tác quá mới mẻ này Nội dung bài báo của chúng tôi góp phần chỉ

ra biểu tượng ánh trăng của Trường thơ Loạn trong phong trào Thơ Mới mang đặc điểm

gì nổi bật, vận động theo quy luật như thế nào; chỉ ra được những dấu ấn của chủ nghĩa tượng trưng, yếu tố tâm linh chi phối đến biểu tượng Trăng trong sáng tác của Trường thơ Loạn với mong muốn hiểu thêm tài năng và số phận trắc trở của Trường thơ kì dị, độc đáo này

2 IỂU TƯỢNG TRĂNG TRONG THƠ Í H KHÊ

ích Khê là một thần dân tích cực của Trường thơ Loạn Bích Khê xuất hiện trên thi đàn Việt Nam như nhà cách tân đi xa hơn cả so với các nhà thơ đương thời Sự ra đời của tập Tinh huyết (1939) đã tạo được ấn tượng mạnh mẽ bởi sự mới lạ và biến ảo khôn

lường, đúng như lời bình của Hàn Mặc Tử trong lời tựa tập thơ: Thi sĩ Bích Khê là người

có đôi mắt rất mơ, rất mộng, rất ảo, nhìn vào sự thực thì sự thực sẽ thành chiêm bao, nhìn vào chiêm bao lại thấy xô sang địa hạt huyền diệu Ta có thể sánh văn thơ của Bích Khê

Trang 2

như đóa hoa thần dị” Trong mạch nguồn sáng tạo ấy, Trăng xuất hiện khá nhiều và trở

thành biểu tượng được xây dựng mang đậm phong cách thơ ích Khê

Người ta chú ý nhiều đến ích Khê với lối thơ tượng trưng, như chính thi nhân đã từng

hơn một lần tuyên ngôn bằng thơ: Hỡi lời ca man dại/ Điệu nhạc thở hơi rừng/- Đêm

nay xuân đã lại/ Thuần túy và tượng trưng (Xuân tượng trưng, Tinh huyết Trong lời

tuyên ngôn ấy, trăng hiện ra trong một vẻ đẹp thật ngọt ngào và tinh khiết: Nâng lên núm vú đồi/ Sữa trăng nhi nhỉ giọt/” (Xuân tượng trưng, Tinh huyết Trăng đã thật sự

là một phần của con người, là nguồn sống, nguồn sữa mát lành sữa trăng gắn với thiên

chức cao quý của người mẹ Một ý nghĩa thật th t Điều thú vị là mọi sự giao hòa,

ân ái, mơ màng gắn với tính nhục thể, trần trụi c ng đều được nhà thơ nhìn dưới con

mắt trần tục mà v n ý nhị, cụ thể mà tượng trưng để tha thiết gọi, để vang lời ca: Thơ

l a thể – giai nhân tuần trăng m t Nữ thần ơi Ta Nô lệ bên người (Duy tân, Tinh

huyết) Trong từng chi tiết, lời thơ thấm nhuần quan điểm thẩm m tượng trưng, mang

tư tưởng mới mẻ, hiện đại

Không chỉ là thơ lõa thể trong sáng tác ích Khê còn vẽ nên một bức Tranh lõa thể

để sau này nhà nghiên cứu Hoài Thanh gọi đó là những câu thơ hay vào bực nhất trong thơ Việt Nam [2, tr 217] ó lẽ ích Khê là người đầu tiên vẽ tranh lõa thể bằng thơ và

đưa vào trong thơ táo bạo như thế này Và trăng c ng xuất hiện trong tổng hòa bức

tranh nghệ thuật ấy đầy gợi tình, quyến r , mơ màng tình ái: Đêm u huyền ngủ mơ trên mái tóc Vài chút trăng say đọng ở làn môi (Tranh lõa thể, Tinh huyết Khi giới thiệu Bích Khê trong Thi Nhân Việt Nam, Hoài Thanh đã d n lại lời phẩm bình rất xứng đáng của Hàn Mặc Tử Tranh l a thể”, sự trần truồng dâm đãng đã nhường lại cho ý vị nên thơ của hương, của nhạc, của trăng, của tuyết” [2, tr 218] hính trong lời thơ thi

nhân tự nhận là vẻ đẹp khiêu dâm nhưng Trăng v n giữ lấy nét thanh tịch , thanh tao

mà không quá trần trụi, thô tục: Người thi nhân v đ p của hiêu dâm Trăng thanh tịch c n l ng trong thơ cảm Nhạc vô minh h ng sôi trên n t chữ (Tranh lõa thể, Tinh

huyết Vẽ xong bức tranh này thì ích Khê quả là xứng tầm danh họa bất đắc dĩ Như vậy để ca tụng vẻ đẹp hài hòa của cơ thể người thiếu nữ thi nhân đã sử dụng biểu tượng Trăng như là một minh họa rất thực, rất tình, rất thanh mà rất mộng Vấn đề nhục cảm đi vào trong thơ ích Khê nó mang hương thơm và nhạc điệu của đam mê và khoái

cảm, dễ chấp nhận hơn: Nàng Hở nàng Hãy cắn vào hồn ta Hồn nguyệt bạch ran lên chiều háo h c ( àn chân, Tinh huyết ; i Say hư t m i dào tuôn ý t i Điên rồ

m i ngợp ánh trăng sao i Dâm cuồng m i biết giá trăng sao Yêu b ng mộng là mơ tim sáng láng (Trái tim, Tinh huyết

Ngoài ra, Trăng còn được lấy làm thước đo đánh giá chuẩn mực cho vẻ đẹp thiên nhiên,

con người: Những m t trời, nhan sắc đ p như trăng (Sắc đẹp, Tinh huyết Đây là

thước đo cổ điển, mang giá trị trường cửu ưới cái nhìn siêu thực của ích Khê không chỉ con người mà thiên nhiên, vạn vật đất trời, v trụ này đều thanh tao và quyến r mê

hồn: Múi trăng sao như ngọc Ngọt lịm đến linh hồn (Quả măng cụt, Tinh huyết

Trang 3

ên cạnh sự cách tân theo xu hướng hiện đại đã trở thành một đòi hỏi cấp bách của thời đại, ích Khê không bán mình cho phương Tây mà luôn trở về với cội nguồn đậm

chất Á Đông truyền thống: Và m i m - trên viễn cổ Đông phương” ( uy tân, Tinh

huyết Các nhà thơ đương thời quá sùng bái phương Tây, thường nêu tên các nhà thơ đi đầu trường phái Tượng trưng, Siêu thực như một tấm gương tôn thờ, lấy thơ của họ làm

đề từ trong tác phẩm của mình (điển hình là Xuân iệu , ích Khê v n gắn bó với Đường thi và thơ ca dân tộc hính vì thế, Trăng nhiều lúc được ích Khê gọi bằng từ Hán Việt đậm chất cổ điển, sang trọng và điệp lại hai lần trong một khổ thơ nhằm gây

ấn tượng: “Níu cho ta, cho ta muôn yến nguyệt Ngọc Kiều ơi – này húc Lạc Mai Hoa Níu cho ta, cho ta muôn yến nguyệt C n đây em, này húc Mộng Cầm Ca

(Mộng ầm a, Tinh huyết ùng trong một bài thơ ấy mà ở khổ này là nguyệt, khổ kia lại là Trăng rất linh hoạt, biến hóa Ở khổ sau đó, tác giả gọi là Trăng gần g i thân thuộc và miêu tả thứ ánh sáng màu vàng lung linh đặc trưng Trăng không còn là một thực thể tự nhiên chịu tác động chi phối của những xúc cảm của con người mà đã nhuốm màu lên một không gian ảo diệu, không gian thuộc về tâm linh của hồn và

mơ : Trăng gây vàng, vàng gây lên sắc trắng Của hương hồ im l ng tợ bài thơ Trăng gây vàng, vàng gây lên sắc trắng Của hồn thu đi lạc ở trong mơ (Mộng ầm

Ca, Tinh huyết Tuy nhiên, dù cùng nói về mối quan hệ giữa Trăng và hồn , cùng nói

về khát khao được vượt ra khỏi những giới hạn, những quy luật của tạo hóa nhưng rõ

ràng cách thể hiện của ích Khê và Hàn Mặc Tử có nét khác biệt Một bên là sự im

l ng , là đi lạc ; một bên là hoảng hồn lên, gi n sững sờ : Tiếng gà gáy rụng trăng đầu hạ Tôi hoảng hồn lên, gi n sững sờ (Một miệng trăng, Đau thương

Điều đó không có nghĩa biểu tượng Trăng trong thơ ích Khê không mãnh liệt, cuồng điên hỉ có điều nó chìm ẩn bên trong những đợt sóng ngầm dữ dội cơ hồ chực đợi để

trào ra xẻ phăng tất cả mọi không gian lồng in bóng nguyệt: Người cho ta một thanh gươm rất sắc / Ô vung lên cắt mạch nguyệt vàng xanh (Mộng ầm a, Tinh huyết

Phải chăng đó là lư i gươm của thần linh trao cho ích Khê tự đứng lên bảo vệ, theo đuổi tận cùng con đường thơ?

Hòa vào khuynh hướng đậm màu sắc tượng trưng, siêu thực của Trường thơ Loạn,

Trăng trong thơ ích Khê có sự biến hóa kỳ ảo, như mộng mà rất thực: Lờ mờ đường lên mây Ch n trăng vừa tầm v i Chàng ơi, vàng r ng đây Kề môi say ân ái (Ng hành sơn, Tinh huyết Đặc biệt, phần cuối Tinh huyết” mang tên Cuồng và ánh

sáng” có bài hâu rất độc đáo và thể hiện khá tập trung bút pháp siêu thực và tượng

trưng của ích Khê Hồn thơ lãng du tìm kiếm biểu tượng Trăng vừa rực r , sáng chói

vừa vô ảnh vô hình: Tôi mượn tình câm m m lưỡi trăng Để nghe r rượi đã bay lan ( hâu II, Tinh huyết , Nhưng, nhiệm màu Trư c mắt, ánh trăng hường Bay lả tả – muôn hoa đều nín thở” ( hâu III, Tinh huyết); có lúc lại như say mê điên dại, Trăng

c ng vì thế bị xô đẩy từ cái thực sang cái ảo: i bình vàng, ôi ch n ngọc đầy hương

i hồ nguyệt đọng nhiều trăng lấp loáng (Sọ người, Tinh huyết Để rồi Trăng được thoát tục và phiêu bồng trong cõi mơ vô hạn của thi nhân: Trăng gây vàng, vàng gây lên sắc trắng Của hồn thu đi lạc ở trong mơ (Mộng ầm a, Tinh huyết

Trang 4

3 IỂU TƯỢNG TRĂNG TRONG THƠ YẾN LAN

Những ai yêu thơ, đã một lần lướt qua khu vườn Thơ Mới ngày ấy dường như đã để lòng mình lại, vương vấn Bến My Lăng, để tiếng gọi đò khắc khoải ấy d n mình đến với chàng thi sĩ tài hoa xứ Đồ Bàn c , đến với Yến Lan Trong suốt một thời gian dài, tên tuổi và sự nghiệp thơ văn của Yến Lan dường như bị lãng quên Gần trọn một thế kỷ dâng hiến cho đời biết bao khúc nhạc lòng mà người đời dường như cố tình hờ hững, mấy ai biết đến nhà văn Yến Lan ho đến những năm gần đây tác phẩm của ông - sau khi vượt qua sự sàng lọc khắc nghiệt của thời gian - đã được tuyển chọn, in trong hàng

loạt các tuyển tập những bài thơ hay Trong cuốn Thi nhân Việt Nam”, nhà phê bình Hoài Thanh nhận định: Xem thơ Yến Lan tôi mơ màng như đi trong mây mù Khi đầu thì c ng hay hay, nhưng lâu dần cơ hồ như ngạt thở Chỉ thấy mờ mờ những con đường chảy, êm như những d ng sông, và nhất là cái vừng trăng vẫn thường ám ảnh các nhà thơ Bình Định [2, tr 146] ường như tác giả Thi nhân Việt Nam không mấy mặn mà

lắm với Yến Lan, tuy nhiên trong nhận định của mình ông c ng nhận thấy một nét đặc

trưng của thơ Yến Lan mà cho đến tận bây giờ người đọc c ng v n bị cuốn hút: "cái hông hí lạ lạ nhưng nh nhàng dễ hiến người ta thích [2, tr 146]

ao đời nay, thi sĩ yêu Trăng trong thế bị động, vầng trăng là đối tượng để yêu để được say đắm thở than Có lẽ chính vầng trăng phát ra thứ ánh sáng diệu kỳ, lạ l m khiến thi

sĩ bị ám ảnh khôn nguôi Thứ ánh sáng kỳ ảo đó, với Hàn Mặc Tử, trăng ở xa đến vậy

mà ông đã sở hữu được để rồi: Ai mua trăng tôi bán trăng cho ? và say trong Trăng: Gió rít tầng cao trăng ngã ngữa/ Vỡ tan thành v ng đọng vàng hô/ Ta n m trong

v ng trăng đêm ấy/ Sáng d y điên cuồng mửa máu ra (Say trăng, Đau thương) Ánh

trăng trong thơ Xuân iệu, thường gợi một không gian rộng đến choáng ngợp như một

sự đối lập với nỗi cô đơn, nhỏ bé của con người: Trong vườn đêm ấy nhiều trăng quá/ Ánh sáng tuôn đầy các lối đi… Trăng sáng, trăng xa, trăng rộng quá/ Hai người, nhưng chẳng b t bơ vơ (Trăng, Thơ thơ hắc chỉ có Yến Lan mới rơi vào trường hợp hạn hữu như thế này: Quê ngoại bên ia bãi cát vàng/ M tôi về lỡ chuyến đ ngang/ Cơn đau trở dạ hông giường chíếu/ Tôi lọt l ng ra giữa bãi trăng ( ệnh trăng

Quê hương trong mỗi con người là sự mặc định của số phận Tìm hiểu về cuộc đời riêng của thi nhân, ta biết cha Yến Lan đã bao lần vượt qua bến sông, lần theo câu hát để đến với một thôn nữ dệt lụa, sau này chính là mẹ ông Mối tơ duyên đầy thi vị ấy đã cho chúng ta một thi sĩ ngay từ thuở lọt lòng Hoài niệm ấu thơ v n theo ông đi vào thơ thật trữ tình, tự nhiên, trong sáng đến vô ngần ng tự nhận mình mang bệnh trăng – một thứ bệnh thuộc về nỗi nhớ khắc khoải trong tiềm thức, gieo vào hồn thơ ởi vậy, ông được ánh trăng vây phủ, bao bọc, nâng niu vỗ về khi vừa lọt lòng mẹ trên bãi cát vàng, dưới ánh trăng Từ đó ánh trăng là tình yêu, là thôi thúc tìm về, là cội nguồn sáng tạo Với Yến Lan Trăng là chủ động, trăng ấp ủ, nó là chất vi lượng bồi bổ cho cơ thể:

“Trăng đi từ tóc đi vào máu/ Như sữa tuôn d ng chảy hắp thân/ Tôi yêu trăng quá, mê trăng quá/ Như má yêu môi, đến đến gần” ( ệnh trăng Cho nên một lẽ tất yếu trong tâm lí người là:“Từ thuở lên hai đã yêu trăng/ Đã bồng đã ấp, đã nâng niu/ Ban ngày tôi ngủ trong l ng m / Lại ngủ trong trăng lúc tắt chiều” (Say trăng

Trang 5

Yến Lan đã nhẹ nhàng, đĩnh đạc bước vào làng thơ cùng ến My Lăng với hình ảnh ông lái đò u buồn, đợi khách trên bến sông đầy Trăng huyền ảo, ánh trăng chạy dọc theo thời gian và chiếu sáng lung linh như một nhân chứng lạnh lùng chờ đợi khắc khoải suốt

bao năm, mãi đây v n còn ám ảnh lòng khách thơ: Nhưng đêm ia đến một chàng ỵ mã/ Nhúng đầy trăng màu áo ngọc lưu ly/ Chàng gọi đ , gọi đ như hối hả/ Sợ trăng vàng rơi huất lối chưa đi ( ến My Lăng, ến My Lăng Bến My Lăng ấy ở đâu?

Câu hỏi ấy đã vang lên trong tâm trí của biết bao người khi tiếp xúc với thi phẩm ấy Tiếng gọi đò ngày ấy, chỉ tiếng "gọi đò thôi mà đủ sức "run rẩy cả ngành trăng" dội vào tâm trí tuổi thơ, đi suốt cả cuộc đời của thi sĩ như một nỗi niềm khắc khoải, đớn đau, oán trách và c ng tiếng gọi đò ấy thôi neo lòng người lại với bến My Lăng Những năm cuối đời, ông v n còn thường nhắc đến bến My Lăng niềm mong mỏi được đắm

mình trong bến sông xưa: Thăm quê về lại bến trăng xưa/ C n tưởng đêm nay đ ng gọi đ / Chưa ịp nh ra l ng có h n/ Chèo ai c p bến đã vang hua (Nhớ bến My

Lăng, ến My Lăng) Thực ra bến My Lăng là một hồi ức được biến hóa ng thừa

nhận rằng bài thơ Bến My Lăng của mình ra đời trong lúc xuất thần, mang ấn tượng tiếng gọi đò thuở bé: Tiếng gọi đ , gọi đ như oán trách Gọi đ thôi run rẩy cả ngành trăng ( ến My Lăng, ến My Lăng ng có khi Yến Lan nhập hồn vào ông lái đò ở bến sông u uẩn: “ ng lão vẫn say trăng n m gối sách Để thuyền hồn rời hỏi Bến My Lăng” ( ến My Lăng, ến My Lăng) ng lái đò c ng là một nghệ sĩ đích thực: đọc

sách, rồi buông câu, uống rượu, có khi thổi sáo nhưng v n cô đơn trên cái bến sông đìu hiu mênh mông đến rợn ngợp Trên bến sông ấy, xuất hiện ánh trăng ma quái, lúc ẩn lúc hiện với muôn hình vạn trạng Ở đây, bến sông là biểu tượng cho bến bờ hạnh phúc, con

đò là giấc mơ về sự ra đi, đi để tìm cho mình những chân trời mới, gặp những con người mới Nỗi lòng của người lái đò chỉ còn biết thổ lộ với trăng mà thôi! Và trên bến sông huyền thoại ấy, Yến Lan là ông lái đò đã đưa thơ của mình cập bến, neo vào lòng độc giả sau này…

Ánh trăng góp phần tạo nên không gian thực vừa là không gian tâm tưởng mang màu sắc huyền thoại Tìm hết tất cả những bến sông ở ình Định và khắp đất nước mình, khó có cái bến sông trăng lạnh buốt nào mà lại mê hồn đến như thế như trong thơ của Yến Lan hàng thi sĩ của trường thơ Loạn đã ra đi cùng bạn hữu nhưng cái bến My Lăng do ông sáng tạo ra thì v n cứ ám ảnh người đọc cho đến tận hôm nay ó lẽ bến sông trăng ấy chỉ có trong thơ Yến Lan, trong những tầng sâu nhớ quên của nhà thơ

4 IỂU TƯỢNG TRĂNG TRONG THƠ HẾ LAN VIÊN

Nếu như Hàn Mặc Tử là vị chúa Trường thơ Loạn thì hế Lan Viên là vị tướng của Trường thơ ấy c ng với hai thần dân tích cực là Yến Lan và ích Khê Tư duy thơ của

hế Lan Viên có cách tiếp cận riêng với đời sống Không dừng lại ở xúc cảm, ở bề ngoài của sự vật, hiện tượng, cái nhìn nghệ thuật của nhà thơ muốn khám phá sự vật ở cái bề sâu, ở cái bề sau, ở cái bề xa Sự nghiệp sáng tác của hế Lan Viên in dấu trong Trường thơ Loạn chủ yếu là những tác phẩm in trong tập Điêu tàn (1937) ng như các thành viên trong Trường thơ Loạn, biểu tượng Trăng được nhà thơ họ hế xây dựng lối phong cách đặc trưng riêng của mình bên cạnh những nét đặc trưng của Trường thơ

Trang 6

Đọc hết tập Điêu tàn người thưởng thức còn đọng lại bao nhiêu là cung bậc cảm xúc

về một thời sáng sủa, táo bạo, l y lừng và nghe mãi những tiếng căm hờn đắm đuối như ánh sáng của vầng trăng tan ra thành khí lạnh; cả những vẻ hoang tàn rã rời một khi sao

v … hế Lan Viên tự nhận mình là con dân nước hàm, kiếp trước vốn nòi giống Chiêm Thành vì thế ông đã khóc không chỉ bằng nước mắt mà còn khóc bằng cả con tim, bằng máu của mình trước sự diệt vong của một thời đại vàng son Với nguồn cảm hứng đó, biểu tượng Trăng mang những nét độc đáo, ma quái gắn liền kiểu tâm trạng thuộc về thế giới tâm linh, hư ảo: Mây chắp lụa dài vây núi biếc/ Sương xây mồ bạc

giấu trăng vàng/ Thuyền ai giỡn nư c sông Ngân ấy/ Mà để sao sa xuống c i trần

(Mơ trăng, Điêu tàn

o đặc điểm thoát ly hiện thực, hình ảnh thơ trong Điêu tàn thường giàu tính khái quát, yếu tính cá thể hóa Những biểu tượng mang tính chất muôn thuở: mây, gió, trăng sao và những nấm mồ [3, tr 55] đặc biệt Trăng giờ đây được nhà thơ khoác thêm cho cái màu sắc điêu tàn của tư tưởng chủ quan Trăng không còn là thứ ánh sáng huyền diệu, thơ

mộng là ánh mà mở ra cả vùng trăng với đêm rạn v , cựa quậy, đảo điên: c ng c n vài

v ng đêm u ám Đang điên cuồng giãy giụa giữa vùng trăng (Trăng điên, Điêu tàn Ngay sau đó, thi nhân tự hỏi và tự ngộ ra, tự chấp nhận lấy với em và Trăng: Mà mảnh trăng

c ng điên rồi em ạ B ng dưng sao rơi xuống đáy hố sâu? (Trăng điên Không còn là

v ng Trăng đã rơi rụng, vụn v chìm xuống hư vô thành từng mảnh

Trong tập Điêu tàn tác giả thường nhắc đến nỗi tiếc thương nước non hàm, giống dân Hời, hồn hiêm quốc Nhưng thực tiễn thơ, những gì còn tồn tại quá hoang tàn,

mờ nhạt, xa xôi Trăng lúc này như những sợi tơ lòng mỏng manh ướp lấy nỗi sầu khổ,

ưu tư để rồi cuối cùng trơ trọi những tổn thương, mờ lạnh: Tháng ngày qua, gạch Chàm đua nhua rụng Gạch Chàm đua nhau đổ dư i ánh trăng mờ (Những sợi tơ

lòng, Điêu tàn

Hiện thực trong Điêu tàn là hiện thực của một tâm trạng u uất, bị dồn nén nhưng không phải mặt tích cực, mặt phản ánh đời sống, mà chỉ là những giấc mơ huyền ảo, những, mộng tưởng viễn vông nhưng mãnh liệt, điên cuồng Vì vậy, Trăng xuất hiện không ở trong trạng thái lung linh, rực sáng mà yếu mờ, tràn ngập bóng người hư vô,

mồ ma tàn lạnh: “B ng vội vàng trong bao mồ lạnh lẽo Liên miên giăng dư i ánh trăng mờ yếu Những bóng người vùn vụt đuổi bay ra” (Tiếng trống, Điêu tàn

Nếu như triết lý nhà Phật đã từng bảo các đệ tử rằng: Này các đệ tử, ta nói cho mà biết nư c ngoài bể hơi chỉ có một vị là vị m n, đạo ta dạy đây, c ng có một vị là vị giải thoát mà thôi thì tác giả Điêu tàn c ng đã gào lên một cách tuyệt vọng: i biết làm sao cho ta thoát hỏi Ngoài c i Ta chìm ng p trong bóng tối Cho linh hồn vụt đến

sự Trăng Mây Mà sáp nh p vào tuổi tên cây cỏ ( õi ta, Điêu tàn Như vậy, Trăng trở

thành biểu tượng của thế giới nơi mà con người thoát ly để trốn khổ Trong tư tưởng muốn giải thoát khỏi cái bể khổ ấy, cái khổ mà đạo Phật quan niệm có tính chất chủ quan, bản ngã, còn cái khổ Điêu tàn muốn nói đến có tính chất khách quan

Trang 7

4 IỂU TƯỢNG TRĂNG TRONG THƠ HÀN MẶ TỬ

Hàn Mặc Tử là một nhà thơ thiên tài nhưng yểu mệnh, một kiếp nhân sinh quá ngắn ngủi lại lắm thương đau ng ghé trọ trần gian chỉ ngót hai tám năm ng được xem là

vị chúa của Trường thơ Loạn [1, tr 251], là người có công rất lớn trong việc đưa những tên tuổi trong Trường thơ Loạn có một chỗ đứng riêng và đến gần hơn với bạn đọc Khi ông mất chẳng còn ai tha thiết với hoạt động này nữa bởi vị chúa đã đem linh hồn đi rồi Nhưng có lẽ do những bi thương của cuộc đời dành cho số phận mà từ

đó những tinh hoa phát tiết làm nên những bài thơ bất hủ mãi mãi với thời gian ó thể nói thơ Hàn tràn ngập ánh trăng, đâu đâu c ng thấy Trăng và Trăng trở thành biểu tượng đặc sắc góp phần thể hiện tài năng, phong cách thơ Hàn

Trước hết, Trăng Hàn Mặc Tử là hiện thân của những xung đột nhục dục giữa thực tại đời sống thi nhân (thân vóc gầy yếu của Hàn thi sĩ, tính tình hiền hậu giản phác và tình yêu trắc trở, trớ trêu… với khát vọng nhục cảm mãnh liệt, thậm chí tới điên cuồng Trăng trong thơ Hàn là hình ảnh kí thác cho những muốn mong hoá giải xung đột này!

Khác Xuân iệu, Trăng Hàn khêu gợi, tình tứ chứ không mộng mơ, hờ hững: “Bóng nguyệt leo song sờ sẫm gối Gió thu lọt cửa cọ mài chăn” (Thức khuya, Lệ thanh thi tập ; không cần kín đáo, đậy che: ìa bóng nguyệt trần truồng tắm Lộ cái huôn vàng dư i đáy he” ( ẽn lẽn, Gái quê)

Được hình tượng hóa như một nổi niềm chơi vơi trong tình yêu Trăng bỗng là thực

thể gợi cảm Một cảm xúc bất chợt phô diễn qua ngôn ngữ huyền hoặc nhưng lại dể

dàng khơi dậy dâng trào lai láng sự chờ đợi của tình yêu Ta bắt gặp một hình ảnh

phóng túng, vượt qua mọi lề thói: Trăng n m sóng s ai trên cành liễu Đợi gió đông về

để lả lơi ( ẽn lẽn, Gái quê Hay câu thơ tình tứ mà táo bạo vô cùng: Bóng trăng trong ch n ngả nghiêng, lả lơi tắm mát làm duyên gợi tình Thậm chí, Trăng trở thành đối tượng tình tứ bạo dạn: Ta thích len vào trong đám lau Núp chờ trăng xuống để quàng nhau (Mơ, Gái quê) Như vậy, Trăng là hiện thân cho những xung đột nhục dục

nhưng ẩn đằng sau đó là biểu tượng cho cái đẹp duyên dáng, tuyệt đối chân như

Mùa trăng gắn liền với những con bệnh hủi Ở Hàn, cái cô đơn trong mọi nẻo tâm trạng

ám ảnh thân xác! Đêm về, chỉ còn ánh trăng là bạn, là nơi bấu víu: vừa là kẻ đoạ đày, vừa là cứu cánh ơn đau cơ thể dấy lửa làm cháy lên cơn đau tinh thần – nghịch lại cái

u hàn của Trăng đêm, xô thi nhân đến bờ chết chóc! Rốt cục, Trăng chính là lối thoát duy nhất, là hình ảnh kí thác nhằm hoá giải xung đột này! hất điên trong ánh trăng là liều thuốc tự vệ đương nhiên – một thứ v khí duy nhất, độc nhất chống lại cái thực tại

đen tối đang đối diện thi nhân! Trăng trở thành chỗ dựa của hồn: Tôi đau đ n và rùng rợn đến vô biên Tôi dìm hồn xuống một v ng trăng êm Cho trăng ng p trăng dồn lên

t i ngực (Hồn là ai?, Đau thương)

Trăng trong Hàn Mặc Tử đâu chỉ sống trong trạng thái cuồng điên và siêu thực mà nó

còn mang vẻ đẹp thanh khiết, rất thực của tạo hóa: Thu về nhuộm thắm n t hoàng hoa Sương đẫm trăng lồng bóng thư t tha” (Hoa cúc, Lệ thanh thi tập)

Trang 8

Trăng biến hóa kỳ ảo vô cùng, có khi hữu thể như có thể nắm bắt được và có khi vô hình mông lung trong cõi phi tưởng xứ rất trừu tượng siêu hình, có khi trong sáng hồn nhiên yêu kiều và có khi mê hoặc điên dại đến kinh hoàng: Người trăng ăn vận toàn trăng cả Gò má riêng thôi lại đỏ hườm (Say trăng, Đau thương , đó là ảo! Vui thay cảnh trăng sáng Ái tình bắt đầu căng (Sáng trăng, Đau thương , đó là đời thường, rất

đời! Thuyền ai đ u bến sông trăng đó Có trở trăng về ịp tối nay ” (Đây thôn Vĩ ạ,

Đau thương , đó là mộng, rất mộng mơ!… Trên, trong và giữa hai thế giới ấy phát sinh xung đột đi ra từ thảm kịch của Hàn Mặc Tử (từ dùng của hế Lan Viên khiến Trăng Hàn siêu thực, kì ảo

ù hồn thơ điên loạn, cuồng say đến mức nào thì nhà thơ v n bị ám ảnh, bị chi phối bởi

ý thức thời gian: Cố làm ngơ hông biết đến thời gian Đến bông hoa tàn tạ v i trăng ngàn” (Đôi ta, Đau thương àng ý thức về thời gian, con người càng nhận ra sự ngắn

ngủi, không có gì là tồn tại mãi, ngay cả Trăng c ng có lúc già yếu , c ng có ngày

anh nằm chết như trăng : Bởi ánh trăng ngà đã yếu đuối Sương lam thấm áo lạnh hông hay” (Nói chuyện với gái quê ; Với sao sương, anh nằm chết như trăng … ù

thi sĩ cố làm ngơ đi chăng nữa thì sau cùng điều còn lại đó là sự tri nhận cái hữu hạn của đời người! Hồn thơ điên loạn đến mấy, cuồng say đến mấy thì v n chịu một ám ảnh rất lớn về kiếp người tàn phai Hồn thơ ra sức chống trả, để rồi tự khẳng định cái vô hạn

v n tồn tại nhưng không phải là vô hạn kiếp người: “Chỉ có trăng sao là bất diệt Cái gì hác nữa thảy đi qua”

Hoá giải xung đột này v n là Trăng theo cách của thi nhân: “Lạy Chúa tôi Vầng trăng cao giá lắm Xin ban ơn b ng cách ánh thêm lên” (Vầng trăng, Thượng thanh thi tập ; cuối cùng là hoà nhập v trụ: Ta bay lên, bay lên Gió tiễn ta đưa t i nguyệt thiềm Ta

ở c i cao nhìn trở xuống Lâng lâng mây hói quyện trăng lên” Ước muốn được bay

lên cõi siêu thoát tìm đến nơi nguyệt thềm , được thỏa khát khao quyện trăng lên Trăng soi rọi lòng người, cứu rỗi linh hồn Người điên mộng mị, quay cuồng

5 KẾT LUẬN

Như vậy, trong Trường thơ Loạn, Trăng không những được thi vị hóa, nhân cách hóa như nhiều nhà thơ khác mà còn được hiện thực hóa ngay trong cái không khí thi vị ấy

Trăng giăng mắc khắp cả không gian, thời gian của sự sống: Không gian dày đ c toàn trăng cả Tôi c ng trăng mà nàng c ng trăng” (Huyền ảo, Đau thương , i Say hư t

m i dào tuôn ý t i Điên rồ m i ngợp ánh trăng sao” (Trái tim, Tinh huyết ; là bến sông quê kỉ niệm ấu thơ Thăm quê về lại bến trăng xưa/ Còn tưởng đêm nay đ ng gọi

đ ” (Nhớ bến My Lăng, ến My Lăng , là áo quần để mặc: “Áo ta rách rư i trời hông

vá Suốt bốn mùa trăng m c vải trăng” (Lang thang, Đau thương), là dòng sữa ngọt ngào: Nâng lên núm vú đồi/ Sữa trăng nhi nhỉ giọt ”(Xuân tượng trưng, Tinh huyết Quan trọng hơn, Trăng đã là nàng – người con gái xuân thì lơi lả: Đêm u huyền ngủ mơ trên mái tóc Vài chút trăng say đọng ở làn môi (Tranh lõa thể, Tinh huyết , Trăng n m sóng soãi trên cành liễu Đợi gió đông về để lả lơi ( ẽn lẽn, Gái quê

Trang 9

Trăng trong trường thơ Loạn từ một khách thể bên ngoài để ngắm để say đã trở thành bản ngã trong thơ: Mà mảnh trăng c ng điên rồi em ạ B ng dưng sao rơi xuống đáy

hố sâu (Trăng điên ,“Trăng đi từ tóc đi vào máu/ Như sữa tuôn d ng chảy hắp thân” ( ệnh trăng Trăng như hòa quyện vào từng tế bào cơ thể, Trăng mang chính tâm

tư, nỗi lòng thi sĩ Trăng là thi sĩ, thi sĩ là Trăng Và hơn thế, nó như một cứu cánh, một biểu tượng tuyệt mĩ mà thi nhân khát khao có được hẳng thế mà khi bị đày vào lãnh cung của sự chia lìa , cái hố sâu ngăn cách của một tấm tình yêu đơn phương vô vọng, của một thân phận mặc cảm đang bị giày vò bởi thân xác đớn đau, bởi sự đổ v của thời đại nhà thơ ước ao trăng về như một cứu tinh, cứu chuộc, một điểm tựa duy nhất để hóa

giải trạng huống đau thương: “Níu cho ta, cho ta muôn yến nguyệt Ngọc Kiều ơi – này húc Lạc Mai Hoa Níu cho ta, cho ta muôn yến nguyệt C n đây em, này húc Mộng Cầm Ca (Mộng ầm a, Tinh huyết , i biết làm sao cho ta thoát hỏi Ngoài

c i Ta chìm ng p trong bóng tối Cho linh hồn vụt đến sự Trăng Mây Mà sáp nh p vào tuổi tên cây cỏ ( õi ta, Điêu tàn Trăng như thấm đượm vị mặn của muối và vị mặn

của đời

ó phải vì thế mà ánh trăng trong những tác phẩm trên dù được miêu tả rất đẹp nhưng hiếm thấy để diễn tả d u chỉ một niềm vui, trái lại ám ảnh bao nỗi sầu biệt li muôn thuở Điều này có vẻ đã thay đổi ở những tác phẩm văn học từ ách mạng tháng Tám năm

1945 trở đi Trong một không khí khác khi mọi biến chuyển đau thương của cá nhân, thời cuộc thay đổi, Trăng trong các tác phẩm thời kì này nằm trong cảm hứng bao trùm của tình yêu quê hương đất nước, có sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa cảm xúc cá nhân - cái riêng - với thế giới con người đang lao động, đấu tranh, với chủ nghĩa anh hùng cách mạng - cái chung Người say trăng không phải bất cứ lúc nào c ng hoàn toàn tự do, thư

thái để thưởng trăng, đôi khi đành l hẹn: Trăng vào cửa sổ đ i thơ Việc quân đang

b n xin chờ hôm sau” (Tin thắng trận, Hồ hí Minh và phải chờ xong việc chung mới thanh thản đón nhận nó: “Giữa d ng bàn bạc việc quân Khuya về bát ngát trăng ngân đầy thuyền” (Nguyên tiêu, Hồ hí Minh

Trăng dù nhiều khi không viên mãn, tràn đầy (trăng tàn, trăng khuyết nhưng bao giờ

c ng đẹp, c ng gợi lên niềm vui sống lạc quan, lí tưởng Trăng là biểu tượng của cuộc sống thanh bình yên vui, của đất nước giàu truyền thống văn hóa dân tộc được kết tinh

trong vẻ mặt của người mẹ Kinh ắc: Lửa đèn leo l t soi tình m Khuôn m t bừng lên như dựng trăng ( ên kia sông Đuống, Hoàng ầm , trong trọn vẹn nghĩa tình quân dân “Rừng thu trăng rọi h a bình Nh ai tiếng hát ân tình thủy chung” (Việt ắc, Tố Hữu Nhiều khi Trăng là môi trường thử thách người lính trong cuộc chiến: Đêm nay rừng hoang sương muối Đ ng cạnh bên nhau chờ gi c t i Đầu súng trăng treo” (Đồng chí - Chính Hữu Trăng mang màu sắc lãng mạn, biểu tượng cho vẻ đẹp

tinh thần chiến đấu, lí tưởng hòa bình Trăng vừa thực, vừa ảo nhưng không mang tính chất siêu thoát của chủ nghĩa tượng trưng, siêu thực như Trường thơ Loạn

Tìm hiểu biểu tượng Trăng trong Trường thơ Loạn (phong trào Thơ Mới, 1930-1945 qua từng sáng tác của mỗi thành viên ích Khê, Yến Lan, hế Lan Viên, Hàn Mặc Tử giúp ta hiểu hơn các lớp ý nghĩa dạng của biểu tượng này một cách cụ thể Vì cùng một

Trang 10

khuynh hướng sáng tác mang đậm tính tượng trưng, siêu thực nên biểu tượng Trăng hiện lên vừa có nét gặp g , tương đồng nhưng không hoàn toàn đồng nhất húng v n kết tinh được những nét riêng tiêu biểu cho phong cách, cá tính sáng tạo của mỗi người

mà không gây ra sự nhàm chán cho người thưởng thức Trăng muôn đời v n tràn ngập trong dòng chảy thi ca nhưng để tạo nên bản sắc riêng trở thành biểu tượng xuất sắc, xứng đáng với đặc trưng riêng của vị trí một Trường thơ và từ đó làm phong phú hơn biểu tượng Trăng nghệ thuật thì quả là điều đáng trân trọng

À Ệ AM K Ả

[1] Lữ Huy Nguyên (2000 Hàn M c Tử, thơ và đời, NX Văn học, Hà Nội

[2] Hoài Thanh, Hoài Chân (2011) Thi nhân Việt Nam, NX Văn học

[3] Nguyễn á Thành (1999 Thơ Chế Lan Viên v i phong cách suy tưởng, NX Giáo

dục

[4] Quan điểm nghệ thuật của Trường thơ Loạn,

http://www2.vjol.info/index.php/KHH/article/viewFile/17652/15666

[5] Trường thơ Loạn – Wikipedia tiếng Việt,

https://vi.wikipedia.org/wiki/ rườ g_thơ_ oạ

LÊ NGUYỄN NGỌ TRAI

SV lớp Văn 3 , khoa Ngữ văn, trường Đại học Sư phạm, Đại học Huế

ĐT: 0167 447 4308, Email: lengoctrai1502@gmail.com

Ngày đăng: 29/04/2022, 08:58

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w