Trên cơ sở phân chia các tiểu trường nghĩa “vườn” trong thơ Nguyễn Bính trước 1945, trong bài viết này tác giả đi sâu phân tích các đặc điểm ngữ pháp của chúng, bao gồm đặc điểm từ loại, chức năng cú pháp (ở cấp độ ngữ đoạn và cấp độ câu), từ đó đưa ra những khám phá mới về phong cách ngôn ngữ thơ Nguyễn Bính.
Trang 1Kỷ yếu Hội nghị Khoa học Sinh viên năm học 2015-2016
Trường Đại học Sư phạm, Đại học Huế, tháng 12/2015, tr: 173-181
NGUYỄN THỊ NGA Khoa Ngữ văn
Tóm tắt: Trên cơ sở phân chia các tiểu trường nghĩa “vườn” trong thơ
Nguyễn Bính trước 1945, trong bài báo này, chúng tôi đi sâu phân tích các
đặc điểm ngữ pháp của chúng, bao gồm đặc điểm từ loại, chức năng cú pháp
(ở cấp độ ngữ đoạn và cấp độ câu), từ đó đưa ra những khám phá mới về
phong cách ngôn ngữ thơ Nguyễn Bính
Từ khóa: trường nghĩa, vườn, thơ Nguyễn Bính
1 DẪN NHẬP
Trong tiếng Việt, việc tập hợp các từ trong vốn từ vựng lại với nhau theo quan hệ cùng trường tạo điều kiện cho việc nghiên cứu sự phong phú về vốn từ trong một ngôn ngữ, đồng thời còn cho thấy đặc trưng tư duy của con người trong quá trình sử dụng Trong
hệ thống ngôn ngữ , có hai dạng quan hệ chung nhất là: quan hệ trực tuyến (quan hệ dọc) và quan hệ tuyến tính (quan hệ ngang) Căn cứ vào các dạng quan hệ đó, có thể phân loại các trường nghĩa thành: trường nghĩa biểu vật và trường nghĩa biểu niệm (trường nghĩa dọc), trường nghĩa tuyến tính (trường nghĩa ngang) Ngoài ra, có thể kể đến trường liên tưởng vừa có tính chất trường nghĩa dọc vừa có tính chất trường nghĩa ngang do tính chất liên hội Khảo sát các đặc điểm ngữ pháp của lớp từ thuộc một trường từ vựng – ngữ nghĩa trong một phong cách ngôn ngữ cụ thể là việc làm cần thiết, góp phần xây dựng bức tranh hoàn chỉnh về lớp từ đó trong thực tế sử dụng Với việc vận dụng quan điểm Ngôn ngữ học chức năng của Cao Xuân Hạo, chúng tôi đã thực hiện việc tìm hiểu các đặc điểm ngữ pháp của lớp từ thuộc trường nghĩa “vườn” trong thơ Nguyễn Bính trước năm 1945 Có thể thấy rằng, nghiên cứu ngôn ngữ văn chương dưới góc nhìn ngôn ngữ học là cách làm đang được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm và
là hướng đi khả dụng cho những tìm tòi mới
Trong nền thơ ca hiện đại Việt Nam, Nguyễn Bính là một tên tuổi tiêu biểu cho phong cách thơ “chân quê” Trong thơ ông, trường từ vựng – ngữ nghĩa về “vườn” là một bộ phận khá phong phú và mang được những đặc sắc riêng của ngôn ngữ thơ Nguyễn Bính, đặc biệt là bộ phận thơ trước năm 1945 Nghiên cứu về trường nghĩa “vườn” trong thơ Nguyễn Bính trước năm 1945 trên bình diện Ngữ pháp là cách tiếp cận mới đối với một phong cách ngôn ngữ thơ ca tưởng đã quen thuộc này
2 CÁC TIỂU TRƯỜNG NGHĨA “VƯỜN” TRONG THƠ NGUYỄN BÍNH TRƯỚC 1945
2.1 Tiêu chí phân lập các tiểu trường
Theo Hoàng Phê trong “Từ điển Tiếng Việt” thì “vườn” được định nghĩa “là khu đất thường ở sát cạnh nhà, được rào kín xung quanh để trồng rau, hoa hay cây ăn quả” [5,
Trang 2tr 1.446] Nhìn chung, khái niệm “vườn” được hiểu với tư cách là một bộ phận của ngôi nhà và bản thân “vườn” cũng là một hệ thống bao gồm nhiều yếu tố tạo thành Tính hệ thống của khái niệm “vườn” là một điều kiện và cũng là tiêu chí cho sự phân lập các tiểu trường nghĩa “vườn” trong thơ Nguyễn Bính Dựa trên cở sở lý thuyết về trường từ vựng – ngữ nghĩa, căn cứ vào nét nghĩa chung lớn nhất là “vườn” cùng với sự gặp gỡ của các nét nghĩa riêng của các từ mà Nguyễn Bính sử dụng trong thơ, có thể phân chia trường nghĩa “vườn” trong thơ Nguyễn Bính thành các tiểu trường theo các tiêu chí sau: Theo mối quan hệ ngang (tuyến tính), có thể thấy khả năng kết hợp với từ “vườn” để tạo thành tiểu trường chỉ tên gọi của “vườn” của các từ trong thơ Nguyễn Bính
Căn cứ vào sự tương đồng trong nét nghĩa biểu vật của từ để phân lập thành các tiểu trường chỉ đặc điểm của “vườn” và chỉ bộ phận của “vườn”
Dựa trên cấu trúc biểu niệm (hoạt động) (của người) (có cách thức) (tiến hành trong vườn) để phân lập tiểu trường chỉ hoạt động của con người trong “vườn”
2.2 Hệ thống các tiểu trường
Bảng 1 Bảng thống kê các tiểu trường nghĩa “vườn” trong thơ Nguyễn Bính trước 1945
Qua khảo sát, có thể thấy tiểu trường chỉ tên gọi của “vườn” trong thơ Nguyễn Bính rất
phong phú, bao gồm 37 đơn vị khác nhau Trong công trình Trường nghĩa “vườn”
trong thơ ca Việt Nam và sự tri nhận về ý niệm “vườn”, Nguyễn Thị Huyền đã khảo sát
được 16 đơn vị chứa tên gọi của “vườn” Có thể thấy, con số mà Nguyễn Bính đem lại cho tên gọi “vườn” đã thể hiện phần nào tài năng và sự sáng tạo của nhà thơ Tiểu trường nghĩa chỉ tên gọi của “vườn” là một tiểu trường nghĩa tuyến tính, do đó, có thể dựa trên mô hình của Nguyễn Thị Huyền để phân tích các yếu tố trong tiểu trường này như sau:
1- Tên gọi = yếu tố đơn vị (có hoặc không) + yếu tố chỉ loại: đây là mô hình tạo ra tên
gọi khái quát mà trong thơ Nguyễn Bính, ta bắt gặp 2 đơn vị: mảnh vườn (1 lần), vườn
(11 lần)
2- Tên gọi = yếu tố chỉ loại + yếu tố chỉ đặc điểm riêng: đây là mô hình tên gọi cụ thể của “vườn” Trong thơ Nguyễn Bính, ta có thể chia nhóm tên gọi này thành các nhóm nhỏ 1/ yếu tố chỉ loại + bộ phận của vườn:14 đơn vị Đây là nhóm phong phú nhất, bao
gồm: vườn dâu (7 lần), vườn chè (3 lần), vườn hồng (3 lần), vườn cải (3 lần), vườn đào
(3 lần), vườn cam (2 lần), vườn lê (2 lần), vườn hoa nở (1 lần), vườn mía (3 lần), vườn hoa cúc (1 lần), vườn cúc (1 lần), vườn cây (1 lần), vườn đất (2 lần), vườn mai (1 lần)
2/ yếu tố chỉ loại + chủ thể của vườn: 5 đơn vị: vườn tôi (2 lần), vườn ai (1 lần), vườn
Trang 3nhà (1 lần), vườn anh (1 lần), vườn tiên giới (1 lần) 3/ yếu tố chỉ loại + tính chất của
vườn: 8 đơn vị: vườn hoang (4 lần), vườn tiên (2 lần), vườn trần (1 lần), vườn cũ (3
lần), vườn vắng (1 lần), vườn ngự (1 lần), vườn hoa nở (1 lần), vườn suông (1 lần) 4/
yếu tố chỉ loại + tên riêng: 4 đơn vị: vườn Thanh (5 lần), vườn Thượng uyển (1 lần),
vườn Ngự uyển (1 lần), vườn Nam (1 lần) 5/ yếu tố chỉ loại + thời gian: 3 đơn vị: vườn xuân (1 lần), vườn chiều (1 lần), vườn khuya (1 lần) 6/ yếu tố chỉ loại + từ chỉ xuất: 1
đơn vị: vườn này (1 lần)
Tiểu trường chỉ đặc điểm của “vườn” trong thơ Nguyễn Bính là tiểu trường nhỏ nhất
với ít thành phần nhất Trong tiểu trường này, chúng tôi khảo sát được 6 đơn vị: xác xơ
(1 lần), xa vắng (1 lần), xiêu (1 lần), vắng (1 lần), hoang (4 lần), mới (1 lần)
Tiểu trường chỉ bộ phận của “vườn” là một trường nghĩa biểu vật, bao gồm những từ
có sự đồng nhất về ý nghĩa biểu vật chỉ bộ phận của khu vườn Ở đây, chúng tôi khảo sát những bộ phận vô sinh và hữu sinh tồn tại trong một khu vườn Tiểu trường này gồm
34 đơn vị: giậu (5 lần), giàn (6 lần), bờ (3 lần), dây (2 lần), đất (1 lần), cây (11 lần),
hoa (47 lần), lá (17 lần), bông (2 lần), cành/nhành (5 lần), chồi (1 lần), cúc (4 lần), cau (1 lần), trầu/giầu (3 lần), mồng tơi (1 lần), dâu (7 lần), bưởi (2 lần), cải (1 lần), cam (4 lần), đào (1 lần), cần (2 lần), xoan đào (1 lần), cỏ (5 lần), xương rồng (1 lần), rau (2 lần), quả/trái (2 lần), hoa màu (1 lần), chuối (1 lần), cùi dừa (1 lần), bướm (22 lần), chim (3 lần), mẫu đơn (1 lần), hồng(2 lần), đào (1 lần) Do hiện tượng nhiều nghĩa biểu
vật nên các từ chỉ cây cối trong khu vườn còn thuộc các trường nghĩa biểu vật khác dựa trên nét nghĩa thực vật Do vậy, trong thơ Nguyễn Bính, ta có thể bắt gặp rất nhiều các
từ chỉ thực vật như hoa, lá, cành, mai, cúc,…xuất hiện trong ngữ cảnh cho phép ta xác
định nó thuộc trường nghĩa thực vật chung: Bữa ấy mưa xuân phơi phới bay/ Hoa xoan
lớp lớp rụng vơi đầy; Bỗng một ngày hè hoa phượng thắm/ Nở đầy trong lá phượng xanh tươi hoặc thuộc các trường nghĩa khác: Lá rơi theo gió lá bay/ Bên hồ ta đứng đắm say ta nhìn; Lữ hành bắc gặp quán cơm/ Bầy ong bắt gặp mùi thơm hoa rừng;…
Khi khảo sát những từ chỉ sinh vật trong vườn, chúng tôi chỉ xét những trường hợp xuất hiện trong ngữ cảnh cho phép xác định nó là bộ phận của “vườn” Trong tiểu trường chỉ
bộ phận của “vườn”, có thể thấy có những từ được sử dụng nhiều lần như hoa (47 lần),
bướm (22 lần), lá (17 lần)
Tiểu trường chỉ hoạt động của con người trong “vườn”không phải là một tiểu trường
đa dạng nhưng lại có những giá trị quan trọng khi phân tích ngôn ngữ thơ Nguyễn Bính
Có 12 đơn vị thuộc tiểu trường này: hái (10 lần), nhặt (5 lần), đốn (2 lần), trồng/giồng
(9 lần), chặt (1 lần), xem (2 lần), đuổi (1 lần), bắt (2 lần), ngắt (1 lần), hôn hoa (1 lần), trẩy (1 lần),thăm (2 lần).Qua lớp từ tìm thấy trong tiểu trường này, có thể thấy rằng,
Nguyễn Bính nói về vườn nhưng không phải là quan tâm tới những lao động trong khu vườn mà để thể hiện những tâm hồn quê nhẹ nhàng, lắm lúc mơ mộng Theo cấu trúc biểu niệm (hoạt động) (của người) (có cách thức) (tiến hành trong vườn) thì tiểu trường chỉ hoạt động của con người trong “vườn” không còn đơn thuần là những từ chỉ hoạt động tác động vật lý của con người đến khu vườn mà nó bao hàm cả những hoạt động
Trang 4tâm lý diễn ra khi con người ở trong vườn, có liên quan đến vườn Đặc điểm này tạo ra một khả năng chuyển nghĩa cao trong ngôn ngữ thơ Nguyễn Bính
3 ĐẶC ĐIỂM TỪ LOẠI CỦA LỚP TỪ THUỘC TRƯỜNG NGHĨA “VƯỜN” TRONG THƠ NGUYỄN BÍNH TRƯỚC NĂM 1945
“Từ loại – đó là sự phân định vốn từ của một ngôn ngữ cụ thể thành những loại, những lớp hạng dựa vào những đặc trưng ngữ pháp” [6, tr 8] Sự phân định từ loại “chính là dựa vào mối quan hệ giữa tư duy với phạm trù từ loại; mỗi từ được coi là một đơn vị hoàn chỉnh về nghĩa và ngữ pháp, thể hiện sự thống nhất giữa cái biểu hiện và cái được biểu hiện” [6, tr 13] Theo quan điểm của Ngôn ngữ học chức năng, Cao Xuân Hạo đưa
ra hệ thống từ loại tiếng Việt bao gồm: danh từ, đại từ, vị từ, lượng từ, tình thái từ, liên
từ, giới từ
Có thể phân định từ loại cho lớp từ thuộc trường nghĩa “vườn” trong thơ Nguyễn Bính như sau:
Vị từ
Vị từ trạng thái không
Vị từ hành động
Hoạt động của con người trong “vườn”
VTHĐ chuyển thái 4
Tiểu trường chỉ bộ phận của “vườn” là những danh từ nhưng lại được phân chia khá phức tạp do tính chất thành phần của nó Nhóm các từ chỉ bộ phận thuộc về kết cấu của
“vườn” (vô sinh) gồm những danh từ đơn vị: mảnh vườn, giàn, giậu, bờ Nhóm từ chỉ sinh vật và đất đai trong “vườn” bao gồm những danh từ khối: đất, hoa, lá, cúc, cau,
trầu/giầu, mồng tơi, dâu, bưởi, cải, cam, cần, xoan đào, đào, cỏ, xương rồng , rau, hoa màu, chuối, cùi dừa, bướm, chim, chồi, dây, quả/trái Một số từ trong nhóm này là
những danh từ khối chỉ chủng loại, được chuyển loại thành các danh từ đơn vị: cây,
giàn, giậu
Tiểu trường chỉ đặc điểm của khu vườn bao gồm những từ thuộc nhóm vị từ trạng thái không thường tồn (vật trạng) Những vị từ này biểu thị tính chất và tình trạng của khu
vườn: xác xơ, xa vắng, xiêu, vắng, hoang, mới Tuy nhiên, khi đi vào thơ Nguyễn Bính,
một số từ thuộc nhóm này đã có sự chuyển loại từ một vị từ trạng thái không thường tồn
sang một vị từ trạng thái thường tồn: Một bông cúc nở trong vườn vắng; Một thửa vườn
hoang bên cạnh am Có thể thấy, vắng, hoang vốn không phải là một trạng thái thuộc về
tính chất thường tồn của khái niệm “vườn” Nhưng ở đây, Nguyễn Bính đã dùng các từ này để gọi tên, định danh cho “vườn” như là một trạng thái thuộc về bản chất, thường tồn của “vườn” Sự chuyển loại này mang tính chất tạm thời và thuộc về sáng tạo nghệ
thuật của Nguyễn Bính
Trang 5Tiểu trường chỉ hoạt động của con người trong “vườn” bao gồm những vị từ hành động,
được phân chia cụ thể như sau: Vị từ hành động chuyển vị: đuổi, bắt, nhặt; vị từ hành động chuyển thái: hái, chặt, ngắt, trẩy; vị từ hành động tạo tác: trồng/giồng; vị từ hành động tri giác: xem, hôn, ngắm
Sự phân định từ loại của lớp từ thuộc trường nghĩa “vườn” như trên cho thấy, Nguyễn Bính sử dụng một vốn từ khá phong phú về “vườn” Việc tạo ra những sắc thái biểu cảm, những khả năng kết hợp mới cho lớp từ thuộc trường nghĩa này đã tạo nên màu sắc riêng cho thơ ông
4 CHỨC NĂNG CÚ PHÁP CỦA LỚP TỪ THUỘC TRƯỜNG NGHĨA “VƯỜN” TRONG THƠ NGUYỄN BÍNH TRƯỚC 1945
4.1 Ở cấp độ ngữ đoạn
4.1.1 Chức năng làm thành tố trung tâm
Kết quả phân chia từ loại đã cho thấy, lớp từ thuộc trường nghĩa “vườn” trong thơ Nguyễn Bính trước năm 1945 bao gồm danh từ và vị từ Đặc điểm về từ loại này quy định chức năng cú pháp của chúng ở cấp độ ngữ đoạn: lớp từ này có khả năng làm thành
tố trung tâm của các ngữ danh từ và ngữ vị từ Qua khảo sát 58 bài thơ có xuất hiện lớp
từ thuộc trường nghĩa “vườn”, chúng tôi nhận thấy Nguyễn Bính đã tạo ra một hệ thống các ngữ đoạn khá phong phú
Phân loại ngữ Ngữ đoạn
Thành tố trung tâm do lớp từ thuộc trường nghĩa “vườn” đảm nhận
Dựa trên chất liệu các tiểu trường tên gọi, bộ phận, đặc điểm của “vườn”, Nguyễn Bính
đã tạo nên 144 ngữ danh từ với 24 thành tố trung tâm do lớp từ thuộc trường nghĩa
“vườn” đảm nhận, trong đó, có thể kể đến một số ngữ cơ bản như:
Ngữ gọi tên “vườn” với thành tố trung tâm là “vườn” Trong nhóm này có đến 40 ngữ
được tạo ra Với yếu tố “vườn”, nhà thơ đã kết hợp cho nó những định ngữ chỉ loại như:
hoa, cây, đào, cúc, lê, mía,…; những định ngữ hạn định như: Thanh, Ngự Uyển, Nam, tôi, nhà, anh, chiều, khuya,…; những định ngữ miêu tả như: vắng, hoang, Nhìn chung,
thành tố trung tâm vườn là một thành tố có nhiều khả năng kết hợp để tạo thành ngữ danh từ Các ngữ danh từ được tạo ra bởi thành tố trung tâm chỉ loại vườn này chính là
tiểu trường chỉ tên gọi của vườn trong hệ thống các tiểu trường thuộc trường nghĩa
“vườn” trong thơ Nguyễn Bính
Ngữ danh từ chỉ các bộ phận trong khu vườn với thành tố trung tâm là các danh từ
trong lớp từ thuộc tiểu trường chỉ bộ phận của “vườn” như: hoa (20 ngữ đoạn), bướm (4 ngữ đoạn), lá (9 ngữ đoạn), cây (5 ngữ đoạn), cành (4 ngữ đoạn), giậu (5 ngữ đoạn),… Trung tâm hoa là thành tố trung tâm có nhiều khả năng kết hợp nhất trong thơ Nguyễn Bính với các định ngữ chỉ loại như: cam, cúc, lê, đào,…; định ngữ hạn định như: vườn
Trang 6Thượng Uyển; các định ngữ miêu tả như: tươi, non, trắng, vàng,… Qua thống kê, có thể
thấy rằng hầu như tất cả các danh từ thuộc tiểu trường bộ phận của “vườn” đều trở
thành trung tâm trong các ngữ danh từ chỉ bộ phận của “vườn”
Các ngữ vị từ trong thơ Nguyễn Bính được tạo nên bởi các trung tâm thuộc hai tiểu trường chỉ đặc điểm của “vườn” và hoạt động con người trong “vườn” Có tất cả 25 ngữ
vị từ chứa các trung tâm này, có thể kể đến như: hái (6 ngữ đoạn), nhặt (4 ngữ đoạn),
trồng (4 ngữ đoạn), xem (2 ngữ đoan), chặt (1 ngữ đoạn),… Các trung tâm của ngữ vị
từ này, khi là những vị từ hành động thì được kết hợp với các bổ ngữ trực tiếp chỉ đối
tượng của hành động đó, tức là các danh từ chỉ bộ phận khu vườn: hoa, cây,…; hay kết hợp với bổ ngữ gián tiếp thông qua chuyển tố cho (hái cho giàn giầu) hoặc tự mình làm thành ngữ đoạn như: hái, đốn, hôn… Khi là vị từ trạng thái, tự nó sẽ làm thành một ngữ đoạn như xiêu
4.1.2 Chức năng làm thành tố phụ
Bên cạnh việc đảm nhiệm chức năng làm thành tố trung tâm, các từ trong lớp từ thuộc
trường nghĩa “vườn” trong thơ Nguyễn Bính còn giữ chức năng làm thành tố phụ định ngữ Ở đây, các danh từ giữ chức năng làm định ngữ chỉ loại và hạn định, các vị từ
trạng thái làm định ngữ miêu tả
Các danh từ làm định ngữ chỉ loại chủ yếu là danh từ thuộc tiểu trường bộ phận của
“vườn” Ngoài ra, từ vườn trong tiểu trường chỉ tên gọi của “vườn” cũng tham gia đảm nhiệm chức năng này (một thửa vườn hoang, cây vườn) Có 19 đơn vị làm định ngữ chỉ loại, bao gồm: cây, hoa, lá, cau, giầu, mồng tơi, dâu, cam, cần, xoan đào, mai, bướm,
cải, đào, đất, bưởi, cần, cỏ, cau, trong đó nhiều nhất là hai định ngữ hoa và bướm Một
số danh từ cũng tham gia đảm nhiệm chức năng làm định ngữ hạn định như: cúc trong
vườn hoa cúc, cau trong một hàng cau Các định ngữ miêu tả trong ngữ danh từ do các
vị từ chỉ đặc điểm của “vườn” đảm nhận, bao gồm: vắng (vườn vắng), xưa (vườn Thanh
xưa), xác xơ (một mảnh vườn xác xơ), mới (vườn đất mới), xa vắng (vườn dâu xa vắng)
Trong các ngữ vị từ liên quan đến trường nghĩa “vườn”, các bổ ngữ do các danh từ, ngữ
danh từ chỉ bộ phận của “vườn” đảm nhiệm, gồm 7 đơn vị: hoa, đào, dâu, cải, cam, cúc,
cây Trong số đó chỉ có giàn giầu là bổ ngữ gián tiếp (hái cho giàn giầu) Các bổ ngữ
trong các ngữ vị từ bổ sung ý nghĩa đối tượng của hoạt động con người, cũng là cơ sở
để tập hợp tiểu trường các hoạt động của con người trong “vườn”
4.2 Ở cấp độ câu
Nguyễn Bính sáng tác chủ yếu bằng thể lục bát và thất ngôn Đặc điểm nổi bật của câu thơ Nguyễn Bính là mỗi câu thơ thường là một cấu trúc Đ – T lớn được tạo ra bởi nhiều
cấu trúc Đ – T nhỏ hơn trong các dòng thơ: Tôi ra đứng ở đầu làng/Ngùi trông theo chị
khuất ngàn dâu thưa; Tháng ngày qua cửa buồng the/ Chị ngồi nhặt cánh hoa lê cuối mùa… Như vậy, để hiểu được ý thơ Nguyễn Bính, ta phải đặt câu thơ trong một sự liên
kết về ngữ pháp với các câu thơ khác Tuy nhiên, với nhiệm vụ làm rõ chức năng của các ngữ đoạn trong việc làm thành phần câu, chúng tôi sẽ tách các dòng thơ ra và coi như đó là một câu độc lập Trong trường hợp này, sẽ có nhiều câu rơi vào dạng cấu trúc
Trang 7một phần (tỉnh lược), chúng tôi cũng sẽ chỉ tập trung làm rõ chức năng của các ngữ đoạn chứa lớp từ thuộc trường nghĩa “vườn” trong thơ Nguyễn Bính Chúng tôi xét chức năng cú pháp của lớp từ này ở cấp độ câu trên cơ sở chức năng của các ngữ đoạn
mà chúng là trung tâm ngữ Có thể thống kê các chức năng cú pháp ở cấp độ câu của các ngữ đoạn đó theo bảng sau:
ĐỀ
4.2.1 Chức năng làm Đề
“Đề là thành phần trực tiếp của câu nêu rõ cái phạm vi ứng dụng của điều được nói bằng thành phần trực tiếp thứ hai: Thuyết” [2, tr 41], bao gồm Ngoại Đề và Nội Đề Do
đó, xuất hiện trong vị trí này là các ngữ danh từ có trung tâm là các từ thuộc tiểu trường tên gọi, bộ phận của “vườn” Về chức năng làm Đề ngữ, các ngữ đoạn được tạo ra bởi lớp từ thuộc trường nghiã “vườn” trong thơ Nguyễn Bính đảm nhận được cả ba vị trí: Ngoại Đề, Chủ Đề, Khung Đề
Về Ngoại Đề, có thể thấy một số câu thơ như: Lá lộc chồi tơ tay ngọc hái; Vườn dâu nó
thẹn với đôi tay ngà Tuy nhiên, chức năng làm Ngoại Đề của các ngữ đoạn do lớp từ
thuộc trường nghĩa “vườn” làm trung tâm là không nhiều trong các câu thơ Nguyễn Bính
Khi đảm nhiệm chức năng Khung Đề trong câu thơ, phần lớn các ngữ danh từ sẽ đứng
độc lập, khó nhận diện: Qua giậu tầm xuân thấy bướm nhiều; Vườn trần theo bướm
phấn hương bay Điều này khiến cho chủ thể trong câu thơ được nhấn mạnh, tạo nên giá
trị nghệ thuật của câu thơ
Các ngữ danh từ phần lớn tham gia vào thành phần Chủ Đề, có thể kể đến các ngữ danh
từ chỉ có một thành tố trung tâm như: Cúc bao lần nở, lá vàng bao rơi; Đất đổi hoa
màu nhà đổi chủ Ngoài ra, các ngữ đoạn chỉ tên gọi của “vườn”, bộ phận của “vườn”
đều có khả năng tham gia cấu tạo thành phần Chủ Đề trong câu thơ Nguyễn Bính:
“Vườn dâu nó thẹn với đôi tay ngà”; “Một bông cúc nở trong vườn vắng” Trong kết
quả thống kê các ngữ đoạn, có thể thấy, các danh từ “vườn”, “hoa”, “bướm”, “lá”,…
có khả năng tạo nhiều ngữ danh từ nhất Đồng thời, số lần xuất hiện của chúng trong thơ Nguyễn Bính cũng rất cao, do đó, các ngữ danh từ này tham gia nhiều nhất vào chức năng làm Đề của câu Do số lượng các ngữ danh từ được tạo ra bởi lớp từ thuộc trường nghĩa “vườn” trong thơ Nguyễn Bính là rất nhiều nên các Chủ Đề trong câu thơ của ông rất phong phú Đặc điểm này của Chủ Đề làm sáng tỏ một đặc điểm của ngôn ngữ thơ Nguyễn Bính đó là thường hướng đến các đối tượng của tự nhiên để tỏ lòng, thủ thỉ, và cũng là để mượn hình ảnh thiên nhiên mà nói về con người Chính vì thế, thiên nhiên
trong thơ Nguyễn Bính luôn mang hình bóng con người
Trang 84.2.2 Chức năng làm Thuyết
Thuyết là thành phần trực tiếp của câu, nêu lên nội dung của nhận định, có hiệu lực trong phạm vi được đưa ra ở phần Đề Với 12 đơn vị từ vựng chỉ hoạt động của con người trong “vườn” làm trung tâm ngữ, có tất cả 25 ngữ vị từ được tạo ra Khi tham gia
vào cấu trúc câu thơ, các ngữ vị từ này chủ yếu đảm nhận vai trò Thuyết ngữ: “Vườn
dâu em hái, mẹ già em thương”; “Nhặt giữ giùm con dăm cánh thôi”;…
Do đặc điểm câu thơ Nguyễn Bính, mỗi câu thơ thường là một thành phần của một cấu trúc Đ – T lớn hơn, cùng với quyền tỉnh lược đồng sở chỉ của Đề ngữ, các câu thơ của
Nguyễn Bính đa phần là câu một thành phần, tức là câu chỉ có phần Thuyết: Nhặt giữ
giùm con dăm cánh thôi; Xem cúc yêu sương mỉm miệng cười; Hôn như muốn uống
bao sương lệ;… Trong số các ngữ vị từ được đảm nhận chức năng làm Thuyết ngữ thì
ngữ vị từ có trung tâm là “hái” xuất hiện nhiều lần trong vai trò này nhất (8 lần) Nguyễn Bính không dành nhiều câu thơ cho những hoạt động này nhưng sự xuất hiện của các các thuyết ngữ đứng độc lập (câu một phần) ấy đã tạo ra ấn tượng sâu sắc về
hình ảnh con người thôn dã nhưng nhiều mơ mộng trong thơ Nguyễn Bính
4.2.3 Chức năng làm thành phần phu Trạng ngữ:
Các ngữ đoạn có chứa lớp từ thuộc trường nghĩa “vườn” trong thơ Nguyễn Bính khi đảm nhận chức năng Trạng ngữ sẽ phải kết hợp với các giới từ, tuy nhiên, đây cũng không phải là chức năng thường gặp trong thơ ông (4 trạng ngữ) Ta bắt gặp một số câu
thơ như: Trong vườn sương tán màu xanh; Một bông cúc nở trong vườn vắng;… Chỉ
có một trường hợp ngữ Trạng ngữ được lược bớt giới từ, đứng độc lập do áp lực của thể
thơ: Bờ vắng, chim cu ồn tiếng gáy
Trạng ngữ xuất hiện không nhiều trong câu thơ Nguyễn Bính và đôi khi dễ nhầm lẫn với Khung Đề Tuy nhiên, việc tham gia vào thành phần Trạng ngữ đã thể hiện được tính chất “không gian” của lớp từ thuộc trường nghĩa “vườn” trong thơ Nguyễn Bính Như vậy, lớp từ thuộc trường nghĩa “vườn” trong thơ Nguyễn Bính trước năm 1945, với đặc điểm từ loại của mình đã tham gia thực hiện các chức năng cú pháp ở cả cấp độ ngữ đoạn và câu Việc tham gia của lớp từ phong phú này vào cấu trúc thành phần câu thơ Nguyễn Bính đã góp phần thể hiện tính chất dân dã trong thơ ông
5 KẾT LUẬN
Việc áp dụng lý thuyết ngôn ngữ học vào nghiên cứu ngôn ngữ văn chương bao giờ cũng tính đến những sáng tạo của cá nhân trong sáng tác Đối với việc tìm hiểu về trường nghĩa “vườn” trong thơ Nguyễn Bính trước năm 1945 cũng vậy, lý thuyết về Từ vựng – ngữ nghĩa và Ngữ pháp tiếng Việt là công cụ để khai phá và làm sáng tỏ một vẻ đẹp trong ngôn ngữ thơ Nguyễn Bính “Vườn” trong thơ Nguyễn Bính đã trở thành một biểu tượng nghệ thuật Nguyễn Bính viết nhiều về “vườn”, đến mức ta có thể thấy hồn thơ của ông như một khu vườn muôn màu muôn vẻ Trong thơ ông, ta bắt gặp những
“mảnh vườn”, những “vườn hoa nở” với hoa, lá , cành, với những giàn giầu, những giậu mồng tơi… Xét trên phương diện là những hình ảnh thơ, chúng thể hiện cái chất “chân
Trang 9quê” của Nguyễn Bính Và đứng trên phương diện từ vựng – ngữ nghĩa học, ta lại nhìn nhận chúng như là sự thể hiện vốn ngôn ngữ phong phú của nhà thơ Vốn ngôn ngữ ấy vừa mang tính dân tộc, vừa là kết quả của sự sáng tạo ngôn từ của tác giả Trường nghĩa
“vườn” trong thơ Nguyễn Bính trước năm 1945, khi được nghiên cứu kết hợp với lý thuyết Ngữ pháp tiếng Việt lại càng làm rõ hơn khả năng của chúng trong việc tạo thành các ngữ đoạn và câu thơ Sự kết hợp này ẩn chứa sức sáng tạo to lớn của nhà thơ, là nơi nhà thơ gửi gắm những dụng ý nghệ thuật của mình
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] Cao Xuân Hạo (2007) Tiếng Việt – mấy vấn đề ngữ âm, ngữ pháp, ngữ nghĩa, NXB
Giáo dục
[2] Cao Xuân Hạo (2007) Ngữ pháp chức năng tiếng Việt: Câu trong Tiếng Việt, NXB
Giáo dục
[3] Cao Xuân Hạo (2007) Ngữ pháp chức năng tiếng Việt: Ngữ đoạn và từ loại, NXB
Giáo dục
[4] Đỗ Hữu Châu (2007) Giáo trình từ vựng học tiếng Việt, NXB Đại học Sư phạm
[5] Hoàng Phê (2010) Từ điển Tiếng Việt, NXB Đà Nẵng
[6] Lê Biên (1993) Từ loại tiếng Việt hiện đại, NXB Trường Đại học Sư phạm Hà Nội
[7] Nguyễn Bính toàn tập, NXB Văn học
[8] Nguyễn Thị Bạch Nhạn (1986) Bài giảng Từ vựng – Ngữ nghĩa tiếng Việt hiện đại,
NXB Đại học Huế
[9] Nguyễn Thị Hiền (2012) Trường nghĩa “vườn” trong thơ ca Việt Nam và sự tri nhận
của người Việt về ý niệm “vườn”, Tạp chí Nghiên cứu Văn học
NGUYỄN THỊ NGA
SV lớp Văn 3B, khoa Ngữ văn, trường Đại học Sư phạm, Đại học Huế
ĐT: 0164 825 4955, Email: nganguyen011093@gmail.com