1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

TIỂU LUẬN đề tài pháp luật về mang thai hộ với việc bảo vệ quyền lợi trẻ em

25 11 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 25
Dung lượng 150,65 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Để cải thiện tình trạng nàythì mang thai hộ là một trong những giải pháp hiệu quả mà nhiều người lựa chọn.Trước đây, mang thai hộ là vấn đề bị pháp luật nghiêm cấm tuy nhiên tình trạng m

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH

BÀI TIỂU LUẬN

Đề tài: Pháp luật về mang thai hộ với việc bảo vệ

quyền lợi trẻ em

Môn Luật Hôn nhân và Gia đình Giảng viên: Lê Thị Mận

Nhóm: 01 Lớp: DS44A DANH SÁCH NHÓM

Trang 2

MỤC LỤC

Trang 3

LỜI MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Hiện nay, trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng các trường hợp vô sinh,hiếm muộn xảy ra ngày càng nhiều trên thực tế Việc các cặp vợ chồng muốn đượclàm cha làm mẹ và có một gia đình của chính mình với những đứa con của họ là nhucầu thiết yếu của mỗi cặp vợ chồng cũng như của xã hội Việc này ảnh hưởng rất lớnđến hạnh phúc của mỗi gia đình, mỗi cá nhân, nền tảng gia đình chính là mầm móngxây dựng xã hội mà gia đình hạnh phúc thì xã hội mới trở nên tốt đẹp được Dù việcphát triển khoa học công nghệ trên thế giới đã đạt đến trình độ cao và kỹ thuật về hỗtrợ sinh sản khá phát triển tuy nhiên vẫn còn tồn đọng những khó khăn nhất định xongviệc giải quyết vấn đề về sinh sản đối với những cặp vợ chồng vô sinh, hiếm muộn vẫnchưa được giải quyết triệt để Theo Tổ chức Y tế thế giới, khu vực châu Á - Thái BìnhDương là nơi có tỷ lệ sinh thấp nhất và tỷ lệ vô sinh cao nhất Cách đây không lâu,nhiều chuyên gia đã lo sợ về một sự bùng nổ dân số không thể kiểm soát được, tuynhiên quỹ đạo này đã đảo chiều khá nhanh và ít nhất 60 quốc gia hiện đã có tỉ lệ sinhthấp hơn đáng kể so với mức độ cần duy trì1 Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) dự báo:

Vô sinh và hiếm muộn là vấn đề nguy hiểm thứ 3, chỉ đứng sau ung thư và bệnh timmạch ở thế kỷ 21 và căn bệnh này dần trở nên phổ biến ở các nước Châu Á trong đó cóViệt Nam Theo Kết quả nghiên cứu do Bệnh viện Phụ sản Trung ương và Đại học Y

Hà Nội tiến hành cho thấy, tỷ lệ vô sinh tại Việt Nam đang gia tăng, đáng báo động là

có khoảng 50% cặp vợ chồng vô sinh có độ tuổi dưới 302 Để cải thiện tình trạng nàythì mang thai hộ là một trong những giải pháp hiệu quả mà nhiều người lựa chọn.Trước đây, mang thai hộ là vấn đề bị pháp luật nghiêm cấm tuy nhiên tình trạng mangthai hộ ngày nay đã được pháp luật các quốc gia dự liệu và quy định cụ thể vào cácvăn bản quy phạm pháp luật để tạo điều kiện cho các cặp vợ chồng vô sinh, hiếmmuộn được làm cha làm mẹ như mong muốn Tuy nhiên, không phải ở quốc gia nàoquy định về mang thai hộ cũng thuận lợi và dễ dàng Quy định về mang thai hộ ở ViệtNam đã được Quốc hội thông qua lần đầu tiên và được ghi nhận trong Luật HNGĐ

2014, đáp ứng nhu cầu chính đáng của những cặp vợ chồng vô sinh, hiếm muộn LuậtHNGĐ 2014 quy định cụ thể nội dung liên quan đến chế định mang thai hộ, tránh sựlạm dụng quy định của pháp luật vào mục đích đẻ thuê chỉ để kiếm lợi hay phục vụcho những kẻ buôn bán người và nội tạng Và câu hỏi đặt ra là liệu chế định mang thai

hộ này đã thực sự áp dụng được vào thực tiễn một các triệt để hay chưa, hay còn có

1 Bài viết “Tỷ lệ vô sinh ở Việt Nam đang gia tăng”, Trang tin điệt tử Đảng Bộ Thành phố Hồ Chí Minh,

https://www.hcmcpv.org.vn/tin-tuc/ty-le-vo-sinh-o-viet-nam-dang-gia-tang-1420289248

2 Bài viết: “Tỉ lệ vô sinh ở Việt Nam đang vào mức cảnh báo”,

Trang 4

https://dantri.com.vn/suc-khoe/ti-le-vo-sinh-o-viet-những bất cập nào tồn tại hay không và liệu https://dantri.com.vn/suc-khoe/ti-le-vo-sinh-o-viet-những quy định về mang thai hộ của phápluật Việt Nam đã thực sự bảo vệ được quyền lợi của các bên, nêu được đầy đủ nghĩa

vụ của các bên trong mang thai hộ và những quy định này đã bảo vệ được quyền lợicủa những đứa trẻ sinh ra và lớn lên bằng chế định mang thai hộ này hay chưa Chính

vì vậy nên nhóm tác giả đã chọn đề tài “Pháp luật về mang thai hộ với việc bảo vệquyền lợi trẻ em” làm đề tài nghiên cứu

2 Tình hình nghiên cứu.

Vấn đề về mang thai hộ là một vấn đề quan trọng và vô cùng cấp thiết hiện nay,tuy nhiên vẫn còn khá mới mẻ và chưa có nhiều đề tài nghiên cứu và vấn đề này, do đóviệc tìm hiểu về mang thai hộ hiện này còn gặp nhiều khó khăn và hạn chế Tiêu biểu

có các bài viết, luận văn mà nhóm tác giả tìm hiểu được đã đi vào nghiên cứu về chếđịnh mang thai hộ:

- Khóa luật tốt nghiệp “Mang thai hộ một số vấn đề lý luận và thực tiễn” của tácgiả Nguyễn Minh Thái - ngành Luật Kinh tế Viện Đại học Mở Hà Nội Khóaluận đã nêu nêu được một số vấn đề lý luận xoay quanh chế định mang thai hộ

từ đó đưa ra đánh giá về tính thực tiễn của chế định mang thai hộ

- Luận văn Thạc sĩ “Mang thai hộ theo Luật Hôn nhân và gia đình 2014” của tácgiả Phạm Thị Hương Giang – khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội chuyênngành Dân sự và tố tụng dân sự Luận văn đã nghiên cứu phân tích và làm rõnội dung quy định về vấn đề mang thai hộ trong Luật Hôn nhân và gia định năm

2014 và đánh giá tính cụ thể và sát thực tiễn của quy định pháp luật về chế địnhmang thai hộ

- Bài viết của tác giả Nguyễn Thị Hương – khoa Luật Dân sự, trường Đại họcLuật Thành phố Hồ Chí Minh đăng trên báo Pháp luật Thành phố Hồ Chí Minhngày 13/02/2001 Bài viết đã đề cập tới nhiều khía cạnh pháp lý của việc mangthai hộ; từ những phân tích về việc xác định cha, mẹ, con đến việc cần thiết phảiquy định về thỏa thuận mang thai hộ, điều kiện của các bên trong quan hệ mangthai hộ

- Còn có các bài viết được đăn trên các tạp chí như: Bài viết “Quy định về mangthai hộ - một nội dung mới trong Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014” của tácgiả Nguyễn Quế Anh đăng trên tạp chí Dân chủ và pháp luật số 8 (281) năm2015; Bài viết “Quy định về mang thai hộ - điểm mới trong Luật Hôn nhân vàgia đình năm 2014” của tác giả Nguyễn Văn Lâm đăng trên tạp chí Quản lý Nhànước – Học viện Hành chính số 237; Bài viết “Một số vấn đề về thực hiện quyđịnh của pháp luật hiện hành về mang thai hộ ở Việt Nam” của tác giả Ths.TrầnĐức Thắng đăng trên tạp chí Nghề Luật số 2 năm 2016

Trang 5

- Có thể kể đến những bài viết như: “Mang thai hộ: nên cho phép để kiểm soáttốt” trên báo phunuonline.com.vn ngày 17/8/2013; “Chính thức cho phép mangthai hộ vì mục đích nhân đạo” trên báo http://hn.24h.com.vn/ ngày 19/06/2014;

“Luật cho phép mang thai hộ, tình trạng đẻ thuê còn diễn ra?” trên trang webhttp://www.luattrungnguyen.vn/ ngày 12/07/2014 Các bài viết này đều chothấy được thực trạng của việc mang thai hộ ở Việt Nam, nêu lên được vềnhwungx vấn đề xoay quanh chế định này và cũng nêu ra một số hạn chế củapháp luật, đánh giá sơ bộ về các quy định mới của pháp luật chứ chưa đi sâuvào nghiên cứu, phân tích, đánh giá để làm rõ hơn về những quy định mà phápluật đưa ra

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là những vấn đề lý luận về mang thai hộ với việcbảo vệ quyền lợi trẻ em, các quy định của pháp luật về mang thai hộ và khả năng ápdụng quy định về mang thai hộ vào thực tiễn hiện nay cùng một số kiến nghị pháp luật

5 Phương pháp nghiên cứu

Để hoàn thiện đề tài nghiên cứu, nhóm tác giả đã sử dụng các phương pháp:

- Phương pháp chứng minh để đưa ra các dẫn chứng, chứng minh

- Phương pháp tổng hợp thống kê tài liệu

- Phương pháp phân tích, giải thích

6 Kết cấu bài tiểu luận

Bài tiểu luận gồm phần mục lục, phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu thamkhảo, nội dung của bài tiểu luận gồm 3 chương:

Chương 1: Lý luận chung về mang thai hộ

Chương 2: Quy định pháp luật hiện hành về mang thai hộ vì mục đích nhân đạo.Chương 3: Thực trạng mang thai hộ tại Việt Nam hiện nay và một số kiến nghị vềviệc mang thai hộ

Trang 6

Chương 1: Lý luận chung về mang thai hộ

1.1 Khái niệm chung về mang thai hộ

1.1.1 Khái niệm mang thai hộ

Ở Việt Nam hiện nay, khái niệm mang thai hộ được hiểu là: “Mang thai hộ (tiếng

Anh: surrogacy) là việc một người phụ nữ mang thai và sinh con thay cho người khác Người nhận con là cha mẹ của đứa trẻ, chứ không phải người mang thai hộ Nhiều ca mang thai hộ thực hiện bằng cách cấy trứng đã thụ tinh của cặp cha mẹ vào tử cung của người mang thai hộ Thông thường việc này cần phải có sự dàn xếp và thỏa thuận giữa người thuê và người được thuê 3 ” Làm mẹ là thiên chức cao quý của người phụ

nữ, ai cũng có quyền làm mẹ, mang nặng đẻ đau chín tháng mười ngày, tất cả vì cáithiên chức ấy Nhưng đôi khi, cha mẹ có thể vì nhiều lý do như bị vô sinh hoặc điềukiện sức khỏe không cho phép, ở nữ giới có thể mắc các bệnh lý về phụ khoa như hộichứng buồng trứng đa nang, rối loạn hệ thống miễn dịch, u xơ tử cung, Nam giới cóthể mắc các bệnh như giãn tĩnh mạch thừng tinh, bệnh lý tại tinh hoàn, viêm nhiễmđường sinh dục, tinh trùng yếu, ung thư, Ở những trường hợp này, họ phải thuê ngườikhác để sinh con hộ mình, họ thực sự mong muốn thực hiện được trách nhiệm làm cha,làm mẹ của mình, mong muốn trao tình yêu thương cho những đứa con của mình Chonên, việc mang thai hộ một phần đã bù đắp được những thiếu thốn mà những ngườinhư họ mới hiểu được Nhưng cũng có những trường hợp phụ nữ không bị vô sinhnhưng ngại mang thai, có một số người đã từng mang thai nhưng vì lí do ngoài ý muốn

bị xảy thai, hoặc một số người bị trầm cảm khi mang thai Cho nên họ cảm thấy sợ khinghĩ đến việc tiếp tục mang thai, họ bị ám ảnh về tâm lý Họ sẵn sàng chi trả một sốtiền cho bọn buôn người để buộc phụ nữ khác mang thai hộ mình, hoặc cũng có nhữngđường dây buôn người đã thuê người mang thai hộ, sau đó tước đoạt đứa trẻ để đembán cho người khác Hành động này xét về mặt pháp lý lẫn nhân đạo đều là hành viđáng lên án Do vậy, mang thai hộ là một hoạt động rất dễ bị lợi dụng để kiếm lợinhuận, hoặc thực hiện buôn bán phụ nữ và trẻ em, nên cần phải quy định rất chặt chẽ

về điều kiện thực hiện (cấm thực hiện vì mục đích thương mại, cấm thực hiện vớingười độc thân, chỉ cho phép họ hàng mang thai hộ cho nhau)

Mang thai hộ là một việc làm đầy tính nhân đạo nhưng không phải ai cũng thựchiện được Do vậy, pháp luật Việt Nam quy định chặt chẽ về điều kiện mang thai hộtại khoản 2 Điều 95 Luật HNGĐ 2014 nêu rõ cặp vợ chồng vô sinh có quyền nhờmang thai hộ vì mục đích nhân đạo, và cặp vợ chồng này phải đáp ứng 03 điều kiệnsau:

- Có xác nhận của tổ chức y tế về việc người vợ không thể mang thai và sinh conngay cả khi áp dụng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản

- Vợ chồng đang không có con chung

3 Theo Bách khoa toàn thư Việt Nam, http://bachkhoathu.itrithuc.vn/index.php?title=Mang_thai_h%E1%BB%99

Trang 7

- Đã được tư vấn về y tế, pháp lý, tâm lý

Những điều kiện này là yêu cầu bắt buộc mà những người tìm đến mang thai hộphải đáp ứng, bởi vì việc mang thai hộ có thể dẫn tới những tranh chấp phức tạp vềquyền nuôi con, cũng như gây ra nhiều vấn đề về đạo đức Đặc biệt, nếu thủ tục vàđiều kiện mang thai hộ không chặt chẽ, việc này có thể bị lợi dụng để kiếm lợi nhuận,biến phụ nữ và trẻ em thành món hàng để mua bán (buôn người), thiên chức làm mẹ vàgiá trị về tình mẫu tử của con người sẽ bị biến dạng và chà đạp Theo Luật HNGĐ

2014 quy định thì chúng ta có thể dựa vào mục đích của việc mang thai hộ để phânloại, mang thai hộ được chia thành hai loại: mang thai hộ vì mục đích nhân đạo vàmang thai hộ vì mục đích thương mại

1.1.2 Mang thai hộ vì mục đích nhân đạo

Theo Luật HNGĐ hiện hành, cụ thể tại khoản 22 Điều 3 Luật HNGĐ 2014 thìmang thai hộ vì mục đích nhân đạo là việc một người phụ nữ tự nguyện, không vì mụcđích thương mại giúp mang thai cho cặp vợ chồng mà người vợ không thể mang thai

và sinh con ngay cả khi áp dụng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản, bằng việc lấy noãn của người

vợ và tinh trùng của người chồng để thụ tinh trong ống nghiệm, sau đó cấy vào tử cungcủa người phụ nữ tự nguyện mang thai để người này mang thai và sinh con Mang thai

hộ vì mục đích nhân đạo phải được thực hiện trên cơ sở tự nguyện của các bên thôngqua thỏa thuận và được xác lập bằng văn bản Hình thức mang thai hộ này quy định rấtchặt chẽ về điều kiện của từng bên về thỏa thuận mang thai hộ cụ thể là thỏa thuậnphải được lập thành văn bản và có công chứng; khi lập thỏa thuận thì vợ chồng bênnhờ mang thai hộ có thể ủy quyền cho nhau, văn bản ủy quyền phải có công chứng,không được ủy quyền cho người khác xác lập thỏa thuận, về thủ tục đề nghị thực hiện

kỹ thuật mang thai hộ vì mục đích nhân đạo quy định cụ thể tại Điều 14 Nghị định10/2015/NĐ-CP quy định về sinh con bằng thủ tục thụ tinh trong ống nghiệm và điềukiện mang thai hộ vì mục đích nhân đạo (Nghị định 10/2015/NĐ-CP)

1.1.3 Mang thai hộ vì mục đích thương mại

Mang thai hộ vì mục đích nhân đạo - cái tên cũng cho thấy rằng việc mang thai hộchỉ với mục đích hỗ trợ cho những cặp vợ chồng không có khả năng tự sinh con; vậy

mà mục đích cao đẹp đó đang bị biến tướng trở thành mang thai hộ vì mục đíchthương mại Theo Luật HNGĐ 2014 tại khoản 23 Điều 3 thì mang thai hộ vì mục đíchthương mại là việc một người phụ nữ mang thai cho người khác bằng việc áp dụng kỹthuật hỗ trợ sinh sản để được hưởng lợi về kinh tế hoặc lợi ích khác Làm mẹ là thiênchức cao quý, mà thiên chức cao quý thật sự không đánh đổi được bằng tiền, nhiềungười sẵn sàng chấp nhận mang thai hộ để đổi lấy số tiền cho việc mang thai đó Đứa

bé được sinh ra như một sản phẩm của giao dịch mua bán trái phép vì mục đích kinh

tế, điều này trái với đạo đức con người, trái với luật pháp Việt Nam Hiện nay, tình

Trang 8

trạng buôn bán trẻ em đang là vấn đề nhức nhối, theo báo cáo của Bộ Công an, trong 5năm (2012-2017), có khoảng hơn 3.000 nạn nhân bị mua bán và nghi vấn bị mua bán,trong đó, 90% nạn nhân bị bán sang Trung Quốc Số nạn nhân bị mua bán và nghi vấn

bị mua bán là 3.090 người, trong đó, chủ yếu là phụ nữ, trẻ em (chiếm trên 90%)4.Người có hành vi thực hiện mang thai hộ vì mục đích thương mại, tùy theo tính chất,mức độ và hậu quả xảy ra, có thể bị xử lý hành chính, thậm chí phải chịu trách nhiệmhình sự theo quy định của pháp luật

Mang thai hộ là một chủ đề được quan tâm nhiều trong những năm gần đây, LuậtHNGĐ 2014 đã bắt kịp thực tiễn khi chính thức ban hành quy định cho phép mang thai

hộ vì mục đích nhân đạo Với những điều luật đầy tính nhân văn, quyền và nghĩa vụcủa người mang thai hộ cũng như người nhờ mang thai hộ đều được bảo vệ Cũng từđây mở ra nhiều cơ hội cho các bậc làm cha, làm mẹ thực hiện được trọng trách caoquý của mình, đem lại hạnh phúc gia đình trọn vẹn Chính thức cho phép mang thai hộbằng hình thức nhân đạo đã mở ra nhiều cơ hội cho những cặp vợ chồng mong mỏi cócon và cũng là cơ chế pháp lý cần thiết để tránh việc mang thai hộ biến tướng thành

“đẻ thuê” (hay còn gọi là mang thai hộ vì mục đích thương mại)

có đủ điều kiện về mang thai hộ, bao gồm các loại giấy tờ được quy định hướng dẫntại khoản 1 Điều 14 Nghị định 10/2015 NĐ-CP Vì vậy, để được phép tiến hành mangthai hộ các cặp vợ chồng phải chuẩn bị đầy đủ hồ sơ theo các quy định trên và gửi đến

cơ sở được pháp thực hiện thủ thuật này như Bệnh viện Phụ sản Trung ương; Bệnhviện Đa khoa Trung ương Huế; Bệnh viện Phụ sản Từ Dũ TP Hồ Chí Minh… Trongthời hạn 30 ngày, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ theo quy định, cơ sở được cho phép thựchiện kỹ thuật mang thai hộ phải có kế hoạch điều trị để thực hiện kỹ thuật mang thai

hộ, trường hợp không thể thực hiện được kỹ thuật này thì phải trả lời bằng văn bản,đồng thời nêu rõ lý do

4

Bài viết “Tình hình tội phạm mua bán người trong giai đoạn hiện nay và một số giải pháp phòng ngừa”, Cổng

thông tin điện tử Viện Kiểm Sát Nhân dân tối cao, nguoi/tinh-hinh-toi-pham-mua-ban-nguoi-trong-giai-doan-h-d14-t7696.html

Trang 9

https://vksndtc.gov.vn/thong-tin/phong-chong-ma-tuy mua-ban-Ngoài ra, Luật HNGĐ 2014 tạo cơ chế pháp lý khá hoàn chỉnh cho việc mangthai hộ, quy định cho phép mang thai hộ khi bảo đảm các điều kiện: Không vì mụcđích thương, chỉ cho phép với những người cùng trong dòng họ hoặc chứng minh có

họ hàng 3 đời Các quy định này nhằm tránh xảy ra các tranh chấp phát sinh như điềukiện của người mang thai hộ và người nhờ mang thai hộ (tuổi, sức khỏe, số lần mangthai…); quyền và nghĩa vụ của các bên (trong đó có trường hợp tai biến sản khoa đốivới người nhờ mang thai hộ (nếu có), trách nhiệm của các bên trong trường hợp đứatrẻ sinh ra bị khuyết tật, dị tật; thủ tục hành chính; biện pháp kỹ thuật hỗ trợ sinh sản

1.3 Ý nghĩa của việc mang thai hộ:

Việc mang thai hộ ngày nay mang ý nghĩa theo nhiều góc độ từ phương diện xãhội, đến y học và pháp lý Về góc độ xã hội mang thai hộ được hiểu là một hiện tượngtồn tại và phát triển sự sống con người Về y học mang thai hộ được hiểu là việc mộtngười phụ nữ mang thai và sinh con cho một cặp vợ chồng vô sinh có áp dụng phươngpháp thụ tinh trong ống nghiệm Cho dù việc mang thai hộ mang ý nghĩa ở góc độ nào

đi nữa thì đây cũng được xem là một bước đột phá trong công tác lập pháp, mở raniềm hy vọng mới cho nhiều cặp vợ chồng vô sinh hiếm muộn không thể sinh con.Mang ý nghĩa nhân văn sâu sắc, đáp ứng nhu cầu thực tiễn của các cặp vợ chồng mongmuốn được thực hiện quyền làm cha mẹ Thậm chí ở một số quốc gia phạm vi mangthai hộ rất rộng, không chỉ là việc dành cho cặp vợ chồng không có khả năng sinh sản

mà còn dành cho những ông bố bà mẹ đơn thân có nhu cầu làm cha làm mẹ Mang thai

hộ có thể nhìn nhận theo góc độ tích cực lẫn tiêu cực, cụ thể như thông thường ngườinhờ mang thai hộ sẽ tìm kiếm những người đang có nhu cầu về kinh tế và có thể giúp

đỡ họ, đổi lại họ có thể hỗ trợ ngược lại cho người được nhờ mang thai hộ Giúp bảo

vệ quyền lợi của bà mẹ và trẻ em Tạo khung pháp lý an toàn trong các giao dịch mangthai hộ và có cơ chế phân biệt được với trường hợp mang thai hộ vì mục đích thươngmại như hiện nay, tranh chấp có thể phát sinh, đồng thời không tránh khỏi phát sinhviệc mang thai hộ vì mục đích thương mại

Trang 10

Chương 2: Quy định pháp luật hiện hành về mang thai hộ vì mục đích nhân

đạo.

2.1 Điều kiện mang thai hộ vì mục đích nhân đạo

Để việc mang thai hộ vì mục đích nhân đạo được tiến hành trên cơ sở tự nguyện,bảo vệ quyền con người và tránh hành vi mang thai hộ diễn ra trái pháp luật thì ngườimang thai hộ và người được nhờ mang thai hộ vì mục đích nhân đạo phải đáp ứng cácđiều kiện nhất định về mặt hình thức và nội dung Cụ thể tại Điều 95 Luật HNGĐ

2014 là các điều kiện về nội dung, quy định về điều kiện riêng của các bên về điềukiện, quyền và nghĩa vụ phát sinh từ khi thỏa thuận từ khi bắt đầu sử dụng biện pháp

hỗ trợ kỹ thuật mang thai hộ đến khi sinh con và các sự kiện pháp lý xảy ra sau nàygiữa các bên Còn về mặt hình thức bằng văn bản phải công chứng được quy định cụthể tại Điều 96 Luật HNGĐ 2014

Điều 95 Luật HNGĐ 2014 đã quy định về điều kiện mang thai hộ vì mục đíchnhân đạo phải đáp ứng bốn điều kiện sau:

Thứ nhất, việc mang thai hộ vì mục đích nhân đạo phải được thực hiện trên cơ sở

tự nguyện giữa các bên và được thành lập bằng văn bản

Thứ hai, điều kiện đối với người nhờ mang thai hộ là vợ chồng phải đáp ứng điềukiện tại khoản 2 Điều 95 Luật HNGĐ 2014

Thứ ba, điều kiện đối với người mang thai hộ phải đáp ứng theo khoản 3 LuậtHNGĐ 2014

Thứ tư, việc mang thai hộ vì mục đích nhân đạo không được trái với quy định củapháp luật về sinh con bằng kĩ thuật hỗ trợ sinh sản

Ngoài ra, tại Điều 96 Luật HNGĐ 2014 cũng quy định về thỏa thuận mang thai hộphải đáp ứng các quy định về mặt hình thức Đây cũng là một trong những điều kiệnquan trọng để công nhận tính hợp pháp việc mang thai hộ vì mục đích nhân đạo Đểtránh sau này nếu có bất kì sự kiện pháp lý nào phát sinh thì các bên có căn cứ xácđịnh các quyền và nghĩa vụ theo đúng thỏa thuận ban đầu

2.1.1 Thực hiện trên cơ sở giữa các bên và thành lập bằng văn bản

Tính tự nguyện là điều kiện quan trọng trong chế định về điều kiện mang thai hộ

vì mục đích nhân đạo Việc mang thai hộ là hành vi ảnh hưởng trực tiếp tới quyềnnhân thân của các bên đặc biệt là người được nhờ mang thai hộ Nó ảnh hưởng không

ít đến sức khỏe người mang thai và có khả năng nguy hiểm đến tính mạng Do đó cầnphải tự nguyện thỏa thuận trong trường hợp này, tránh hành vi bị ép buộc hay vì mụcđích sinh lợi nào khác Điều kiện về tính tự nguyện được quy định cụ thể tại khoản 1

Điều 95 Luật HNGĐ 2014 Theo đó quy định “việc mang thai hộ vì mục đích nhân

đạo phải được thực hiện trên cơ sở tự nguyện của các bên và phải thành lập thành văn bản” Với quy định này lại đặt ra cho chúng ta câu hỏi rằng, vậy “cơ sở tự nguyện”

Trang 11

được xác định như thế nào giữa các bên và cách thức thành lập bằng văn bản cụ thể rasao? Để giải thích cho vấn đề trên thì tại Điều 96 Luật HNGĐ 2014 đã nên ra thỏathuận và điều kiện về văn bản một cách cụ thể Thỏa thuận này được thành lập dựatrên cơ sở tự nguyện giữa các bên Nghĩa là bên nhờ mang thai hộ và người mang thai

hộ thống nhất với nhau về mọi thỏa thuận mà không bị ép buộc hoặc cưỡng chế với bất

kì cách thức nào, và đương nhiên phải có văn bản theo đúng quy định của pháp luật.Tại khoản 1 Điều 96 Luật HNGĐ 2014 có qui định thỏa thuận về mang thai hộ vìmục đích nhân đạo giữa người nhờ mang thai hộ và người mang thai hộ phải có cácnội dung cơ bản sau:

a) Thông tin đầy đủ về bên nhờ mang thai hộ và bên mang thai hộ theo các điềukiện có liên quan quy định tại Điều 95 của Luật này;

b) Cam kết thực hiện các quyền, nghĩa vụ quy định tại Điều 97 và Điều 98 củaLuật này;

c) Việc giải quyết hậu quả trong trường hợp có tai biến sản khoa; hỗ trợ để đảmbảo sức khỏe sinh sản cho người mang thai hộ trong thời gian mang thai và sinhcon, việc nhận con của bên nhờ mang thai hộ, quyền và nghĩa vụ của hai bên đốivới con trong trường hợp con chưa được giao cho bên nhờ mang thai hộ và cácquyền, nghĩa vụ khác có liên quan;

d) Trách nhiệm dân sự trong trường hợp một hoặc cả hai bên vi phạm cam kết theothỏa thuận

Nhìn chung, các nội dung cơ bản trên trong thỏa thuận giữa các bên chỉ mang tínhgợi mở cho các bên có căn cứ xác lập các thỏa thuận riêng, còn việc thỏa thuận cụ thểnhư thế nào là do ý chí giữa các bên

Ngoài ra, thỏa thuận về việc mang thai hộ được lập thành văn bản phải đáp ứngquy định tại khoản 2 Điều 95 Luật HNGĐ 2014: Thỏa thuận về việc mang thai hộ phảiđược lập thành văn bản có công chứng Trong trường hợp vợ chồng bên nhờ mang thai

hộ ủy quyền cho nhau hoặc vợ chồng bên mang thai hộ ủy quyền cho nhau về thỏathuận thì việc ủy quyền phải lập thành văn bản có công chứng Việc ủy quyền chongười thứ ba không có giá trị pháp lý Như vậy, việc ủy quyền chỉ cho phép ủy quyềncho vợ hoặc chồng của hai bên và không chấp nhận việc ủy quyền cho người thứ ba.Bởi lẽ đối với hành vi mang thai hộ, ý chí của các bên là vô cùng quan trọng, cho nênkhông thể tùy tiện ủy quyền cho bất cứ cá nhân nào khác nhằm đảm bảo tính tựnguyện giữa các bên

Đối với thỏa thuận giữa bên mang thai hộ và bên nhờ mang thai hộ với cơ sở y tếthực hiện việc sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản thì thỏa thuận này phải có xácnhận của người có thẩm quyền của cơ sở y tế này Theo đó, cặp vợ chồng vô sinh phải

Trang 12

nộp đơn đề nghị đến cơ sở y tế có thẩm quyền để được thực hiện kỹ thuật mang thaihộ:

- Theo quy định tại Điều 14 Nghị định 10/2015/NĐ-CP thì cặp vợ chồng vô sinh

gửi hồ sơ đề nghị thực hiện kỹ thuật mang thai hộ vì mục đích nhân đạo đến cơ sở

khám bệnh, chữa bệnh được phép thực hiện kỹ thuật này

- Điều 13 Nghị định 10/2015/NĐ-CP quy định 03 cơ sở y tế sau có thẩm quyền

thực hiện kỹ thuật mang thai hộ vì mục đích nhân đạo:

2.1.2 Điều kiện đối với người mang thai hộ:

Việc mang thai hộ là hành vi liên quan trực tiếp đến quyền nhân thân của mỗingười Pháp luật Việt Nam cho phép việc mang thai hộ nhưng phải vì mục đích nhânđạo Tuy nhiên, để quản lý chặt chẽ việc mang thai hộ, tránh việc mang thai hộ vì mụcđích thương mại, xem con người như công cụ sinh sản thì tại khoản 2 Điều 95 Luật

HNGĐ 2014 quy định về điều kiện đối với người nhờ mang thai hộ như sau: “2 Vợ

chồng có quyền nhờ người mang thai hộ khi có đủ các điều kiện sau đây: a) Có xác nhận của tổ chức y tế có thẩm quyền về việc người vợ không thể mang thai và sinh con ngay cả khi áp dụng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản; b) Vợ chồng đang không có con chung; c) Đã được tư vấn về y tế, pháp lý, tâm lý”

Thứ nhất, có xác nhận của tổ chức y tế có thẩm quyền về việc người vợ không thểmang thai và sinh con ngay cả khi áp dụng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản Đây là quy địnhkhá nghiêm ngặt, bởi tránh trường hợp dù người vợ có khả năng mang thai nhưng vìnhiều lí do cá nhân như sợ mang thai, không muốn mang thai, mà thuê người khácmang thai hộ

Thứ hai, vợ chồng đang không có con chung: Quy định này còn gây khá nhiềutranh cãi bởi việc vợ chồng có một con chung nhưng người vợ lại mất khả năng sinhsản hoặc người con chung của vợ chồng mắc bệnh hiểm nghèo, Việc quy định vợchồng phải đang không có con chung thì mới được phép nhờ người mang thai hộ đôikhi lại là quy định gây ra cản trở trong những trường hợp trên, không phù hợp với thựctế

Thứ ba, đã được tư vấn về y tế, pháp lý, tâm lý: Việc quy định vợ chồng phải được

tư vấn về y tế, pháp lý, tâm lý trước khi nhờ mang thai hộ giúp vợ chồng có cái hìnhdung cụ thể và chuẩn bị tinh thần một cách tốt nhất để đón nhận đứa con chung bằngphương pháp nhờ người mang thai hộ Bởi trên thực tế, rất nhiều cặp vợ chồng nhờmang thai hộ, khi nhận con lại có cảm giác không như ý muốn vì không mang nặng đẻđau thì tình mẫu tử có thể khó nảy sinh được Về mặc pháp lý, vợ chồng nhờ mang thai

Ngày đăng: 29/04/2022, 07:11

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w