LỜI NÓI ĐẦU Giáo trình PHƯƠNG PHÁP GIẢNG DẠY CHUYÊN NGÀNH ĐIỆN nhằm giúp sinh viên khoa Điện của Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật TP.HCM làm tài liệu học tập, hoặc cĩ thể dùng làm tài liệ
Trang 2ThS Nguyễn Trọng Thắng (chủ biên)
TS Võ Thị Xuân - ThS Lưu Đức Tuyến
GIÁO TRÌNH
PHƯƠNG PHÁP GIẢNG DẠY CHUYÊN NGÀNH ĐIỆN
NHÀ XUẤT BẢN ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Trang 3LỜI NÓI ĐẦU
Giáo trình PHƯƠNG PHÁP GIẢNG DẠY CHUYÊN NGÀNH ĐIỆN nhằm giúp sinh viên khoa Điện của Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật TP.HCM làm tài liệu học tập, hoặc cĩ thể dùng làm tài liệu tham khảo cho sinh viên ngành Điện – Điện tử, Điện tử –Viễn thơng và các ngành khác liên quan đến lĩnh vực Điện – Điện tử
Giáo trình trình bày những lí thuyết cơ bản: Tổng quan về dạy học chuyên ngành Điện; Phương pháp dạy học các mơn lí thuyết và phương pháp dạy học các mơn thực hành ngành Điện
Để giúp sinh viên dễ dàng trong việc học tập và nghiên cứu, ngồi những nội dung cơ bản, giáo trình trình cịn trình bày sâu về những vấn đề chung của lí luận dạy học, tính đặc thù của tri thức và giáo viên chuyên ngành Điện
Các tác giả
Trang 4MÔ-ĐUN 1: TỔNG QUAN VỀ DẠY HỌC CHUYÊN NGÀNH ĐIỆN
MÔ-ĐUN 1
TỔNG QUAN VỀ DẠY HỌC CHUYÊN NGÀNH ĐIỆN
THỜI LƢỢNG: Lí thuyết: g Thực hành: g Tổng cộng: g
THỨ TỰ BẮT BUỘC CỦA MÔ ĐUN
: ĐN1 - Những vấn đề chung của lí luận dạy học chuyên ngành điện
: ĐN2 - Tính đặc thù của tri thức ngành điện
: ĐN3 - Nguyên tắc dạy học chuyên ngành điên
: ĐN4 - Phương pháp dạy học chuyên ngành điện
: ĐN5 - Tính đặc thù của giáo viên dạy ngành điện
MỤC TIÊU CỦA MÔ ĐUN
Sau khi học xong mô đun này học viên có khả năng:
- Hiểu biết những vấn đề cơ bản của lí luận dạy học chuyên ngành điện, về tính đặc thù của tri thức ngành điện, về các công việc của người giáo viên dạy học các môn học ngành điện, về các phương pháp và các nguyên tắc dạy học chuyên ngành điện
- Biết cách vận dụng những phương pháp, các thủ thuật dạy học thích hợp với nguyên tắc và tính đặc thù của ngành điện
- Hình thành những phẩm chất tốt đẹp như lòng yêu tri thức, yêu nghề, ý thức sẵn sàng học hỏi, phát triển năng lực tư duy
Trang 5MÔ-ĐUN 1: TỔNG QUAN VỀ DẠY HỌC CHUYÊN NGÀNH ĐIỆN
ĐƠN NGUYÊN 1
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG CỦA LÍ LUẬN DẠY HỌC
CHUYÊN NGÀNH ĐIỆN
A MỤC TIÊU
Sau khi học xong đơn nguyên này người học có khả năng:
- Biết được những vấn đề chung của lí luận dạy học chuyên ngành điện, cụ thể là biết được khái niệm về lí luận dạy học chuyên ngành điện và đối tượng nghiên cứu, các phương pháp nghiên cứu của lí luận dạy học chuyên ngành điện
- Biết được các nhiệm vụ của lí luận dạy học chuyên ngành điện, cũng như các mối quan hệ giữa lí luận dạy học chuyên ngành điện với các khoa học khác
1.1 Lí luận dạy học chuyên ngành điện và đối tƣợng nghiên cứu của nó
Lí luận dạy học chuyên ngành điện là một bộ phận của giáo dục học kỹ thuật
chuyên nghiệp, là bộ môn nghiệp vụ của ngành sư phạm kỹ thuật; lí luận dạy học chuyên ngành điện hình thành và phát triển cùng với sự hình thành và phát triển của lĩnh vực dạy kỹ thuật nghề nghiệp chuyên ngành điện Đó là sự vận dụng những lí luận dạy học đại cương vào việc nghiên cứu những đặc điểm dạy và học các môn học thuộc chuyên ngành điện; nghiên cứu lí thuyết và thực hành dạy học phù hợp với đặc thù của tri thức ngành điện
Các phạm trù cơ bản nhất đặc trưng cho lí luận dạy học chuyên ngành điện là
quá trình dạy học, nội dung dạy học, nguyên tắc dạy học, phương pháp dạy học và các hình thức tổ chức dạy học chuyên ngành điện
Đối tượng nghiên cứu của lí luận dạy học chuyên ngành điện là quá trình dạy
học các môn học chuyên ngành điện ở các trường đại học, cao đẳng, THCN và dạy nghề cùng với các quy luật của nó Nói một cách cụ thể hơn thì đối tượng của lí luận dạy học chuyên ngành điện bao gồm:
Trang 6MÔ-ĐUN 1: TỔNG QUAN VỀ DẠY HỌC CHUYÊN NGÀNH ĐIỆN
- Nhiệm vụ của dạy học kỹ thuật nghề nghiệp chuyên ngành điện
- Bản chất của quá trình dạy học kỹ thuật nghề nghiệp chuyên ngành điện
- Các nguyên tắc dạy học kỹ thuật nghề nghiệp chuyên ngành điện
- Mục đích, nội dung và phương pháp dạy học kỹ thuật nghề nghiệp chuyên ngành điện
- Các hình thức tổ chức dạy học kỹ thuật nghề nghiệp chuyên ngành điện
- Kiểm tra, đánh giá kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo của học sinh kỹ thuật nghề nghiệp chuyên ngành điện
- Tổ chức quản lí quá trình dạy học kỹ thuật nghề nghiệp chuyên ngành điện
1.2 Nhiệm vụ của lí luận dạy học chuyên ngành điện
Nhiệm vụ của lí luận dạy học chuyên ngành điện là nghiên cứu quá trình dạy học các môn học thuộc chuyên ngành điện ở các trường đại học, cao đẳng, THCN và dạy nghề, nghiên cứu những mối liên hệ biện chứng giữa mục đích, nội dung, phương pháp, phương tiện, để tìm ra những quy luật của nó Trên cơ sở đó xây dựng hệ thống
lí luận phản ánh những mối liên hệ biện chứng của quá trình dạy học chuyên ngành điện, xác định các luận điểm cơ bản làm cơ sở cho việc xây dựng nội dung, nguyên tắc, phương pháp, hình thức tổ chức dạy học chuyên ngành điện, từ đó hình thành những giải pháp nhằm nâng cao chất lượng của quá trình dạy học này, góp phần đào tạo nguồn nhần lực chất lượng cao phục vụ cho công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Các trường đại học và cao đẳng sư phạm kỹ thuật với chức năng đào tạo đội ngũ giáo viên dạy kỹ thuật nghề nghiệp cho các trường đại học, cao đẳng, THCN và dạy nghề; do đó lí luận dạy học chuyên ngành điện cũng có nhiệm vụ trang bị cho sinh viên
hệ thống kiến thức và kỹ năng sư phạm nghề dạy học chuyên ngành điện Cụ thể là:
- Hệ thống kiến thức về lí luận dạy học chuyên ngành điện cũng như những tri thức về mục đích, nội dung, phương pháp, phương tiện, các hình thức tổ chức dạy học các môn học thuộc chuyên ngành điện
- Hệ thống kỹ năng sư phạm nghề như kỹ năng phân tích chương trình, lập kế hoạch dạy học, kỹ năng sử dụng sáng tạo các phương pháp dạy học, sử dụng thành thạo các đồ dùng, phương tiện dạy học, kỹ năng tổ chức và điều khiển hoạt động học tập cho học sinh
- Từ đó bồi dưỡng cho sinh viên năng lực dạy học, năng lực giáo dục thông qua dạy học và năng lực nghiên cứu khoa học giáo dục Đồng thời góp phần bồi dưỡng phẩm chất đạo đức và tình cảm nghề nghiệp của người giáo viên dạy kỹ thuật chuyên ngành điện
1.3 Các phương pháp nghiên cứu lí luận dạy học chuyên ngành điện
Để xây dựng và phát triển lí luận dạy học chuyên ngành điện thường phải vận dụng nhiều phương pháp nghiên cứu khác nhau Cụ thể thường sử dụng những phương pháp sau đây:
Trang 7MÔ-ĐUN 1: TỔNG QUAN VỀ DẠY HỌC CHUYÊN NGÀNH ĐIỆN
- Phương pháp quan sát: tức nghiên cứu bằng cách tri giác trực tiếp các đối tượng
nghiên cứu trong nhiều hoàn cảnh khác nhau nhằm thu được những số liệu, tài liệu cụ thể và cảm tính trực quan đặc trưng của về đối tượng Khi thực hiện phương pháp quan sát có thể sử dụng thêm nhiều phương tiện kỹ thuật để hổ trợ như máy ảnh, máy ghi âm, máy quay phim
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu: là phương pháp thu thập thông tin qua các loại
tài liệu có liên quan đến các nội dung nghiên cứu nhằm thu thập những khái
niệm, tư tưởng cơ bản về vấn đề nghiên cứu
- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm: là phương pháp kết hợp lí luận với thực tiễn,
đem lí luận phân tích thực tiễn Tổng kết kinh nghiệm ở các trường, các giáo viên, học viên và cả bản thân, để từ đó rút ra những kết luận được khái quát và
sắp xếp theo một hệ thống nhất định
- Phương pháp trò chuyện: đây là quá trình giao tiếp trực tiếp với các đối tượng
theo một chương trình đã vạch ra nhằm thu thập các dữ kiện Các cuộc nói chuyện trao đổi có thể được tổ chức ở hình thức các cuộc hội đàm với giáo viên, với sinh viên, học sinh, với các chuyên gia, với cán bộ quản lí Phương pháp trò chuyện thành công khi biết vận dụng linh hoạt các thủ thuật trong giao tiếp và truyền thông như tạo không khí chan hòa, cởi mở, tự nhiên, khéo léo gợi mở để
được nghe các đối tượng trình bày về những vấn đề đang quan tâm nghiên cứu
- Phương pháp điều tra bằng phiếu: Đây là phương pháp thu lượm thông tin, tư
liệu cần thiết một cách đại trà thông qua những phiều hỏi ý kiến được người nghiên cứu xây dựng sẵn Nội dung các câu hỏi chính xác, với sự diễn đạt rõ ràng sao cho mọi người khi xem đều hiểu như nhau có ý nghĩa quan trọng trong
việc thu thập những thông tin có độ tin cậy cao
- Phương pháp thực nghiệm sư phạm: Thực nghiệm sư phạm được sử dụng khi
muốn kiểm định một số giả thuyết hay muốn thấy rõ ảnh hưởng của những tác động nhất định đến cá nhân hay một nhóm học sinh, nhờ đó mà có thể xác định
những cải tiến cần thiết góp phần nâng cao chất lượng đào tạo
- Phương pháp trắc nghiệm tâm lí: Đây là phương pháp được áp dụng khi cần giải
quyết các vấn đề liên quan đến động cơ học tập, đặc điểm nhân thức, kết quả học tập của người học hay đánh giá kết quả giảng dạy của giáo viên Phương pháp này sử dụng các trắc nghiệm tâm lí học và giáo dục học được chuẩn bị rất công phu, đảm bảo tính khách quan và được tiêu chuẩn hóa, dùng để đo lường khách quan một hay nhiều khía cạnh của một nhân cách hoàn chỉnh qua những câu trả lời bằng ngôn ngữ hay phi ngôn ngữ (ký hiệu) hoặc bằng những hành vi khác (như biểu hiện tâm lí ) nhằm đánh giá việc ứng xử và kết quả hoạt động của
một người hay nhóm người
- Phương pháp thống kê: Là phương pháp sử dụng các phép tính thống kê để xử lí
số liệu thu lượm từ các cuộc khảo sát, điều tra, trao đổi, thực nghiệm … và từ kết quả của nó giúp cho việc đánh giá các vấn đề được khách quan và chính xác, cũng như giúp đưa ra các biện pháp cải tiến thích hợp nhằm hoàn thiện sản phẩm nghiên cứu
Trang 8MÔ-ĐUN 1: TỔNG QUAN VỀ DẠY HỌC CHUYÊN NGÀNH ĐIỆN
Tóm lại, việc sử dụng những phương pháp nghiên cứu trên đây nên thực hiện một cách linh hoạt và sáng tạo mới đem lại hiệu quả cao trong việc nghiên cứu lí luận dạy học chuyên ngành điện
1.4 Mối quan hệ giữa lí luận dạy học chuyên ngành điện với các khoa học khác
Lí luận dạy học có quan hệ gần gũi với các môn học khác, cụ thể là các môn học sau đây:
- Triết học có quan hệ mật thiết đến lí luận dạy học chuyên ngành điện là lí luận
về nhận thức Lí luận nhận thức là một bộ phận của triết học duy vật biện chứng,
nó nghiên cứu nguồn gốc, các quy luật cơ bản, các hình thức và phương pháp nhận thức thế giới khách quan Do đó lí luận nhận thức là cơ sở phương pháp luận của lí luân dạy học chuyên ngành điện, nó trang bị cho lí luận dạy học chuyên ngành điện những quan điểm khoa học về các hiện tượng xảy ra trong quá trình dạy học chuyên ngành điện
- Logic học giúp cho việc nghiên cứu một cách logic quá trình dạy học chuyên
ngành điện Logic học giúp cho người giáo viên vận dụng hợp lí các nguyên tắc, phương pháp và các hình thức tổ chức dạy học; đảm bảo được tính logic trong nội dung dạy học, trong suy nghĩ, trong hoạt động dạy và học
- Sinh lí học thần kinh cấp cao đã giúp cho việc xây dựng cơ sở sinh lí học cho các nguyên tắc, phương pháp và hình thức tổ chức dạy học chuyên ngành điện
- Tâm lí học mà đặc biệt là tâm lí học sư phạm, nghiên cứu những đặc điểm tâm lí
của con người trong quá trình dạy học và giáo dục; do đó nó giúp cho lí luận dạy học chuyên ngành điện xây dựng được cơ sở tâm lí học của quá trình dạy học chuyên ngành điện, giúp nâng cao chất lượng và hiệu quả dạy học chuyên ngành điện
- Toán học, đặc biệt là toán thống kê, đã được áp dụng rộng rãi trong việc xử lí
các số liệu trong quá trình khảo sát, nghiên cứu lí luận dạy học chuyên ngành điện, cũng như được vận dụng vào việc nghiên cứu và thực hiện dạy học chương
trình hóa, dạy học bằng máy tính
2 QUÁ TRÌNH DẠY HỌC CHUYÊN NGÀNH ĐIỆN
2.1 Khái niệm
Quá trình dạy học chuyên ngành điện là quá trình tương tác và thống nhất của
hai hoạt động dạy và học các môn học thuộc chuyên ngành điện của giáo viên và học sinh, phản ánh tính chất hai mặt của quá trình dạy học toàn vẹn, qua đó các nhiệm vụ
dạy học nói chung, các nhiệm vụ dạy học chuyên ngành điện nói riêng được thực hiện
2.2 Các nhiệm vụ của quá trình dạy học chuyên ngành điện
Quá trình dạy học chuyên ngành điện mang tính mục đích rất cao, thể hiện rõ qua các mục đích cụ thể sau đây:
Trang 9MÔ-ĐUN 1: TỔNG QUAN VỀ DẠY HỌC CHUYÊN NGÀNH ĐIỆN
- Nhiệm vụ giáo dưỡng: Giáo dưỡng là nhiệm vụ quan trọng cơ bản nhất nhằm
giúp hình thành cho người học hệ thống kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo nghề nghiệp thuộc chuyên ngành điện để người học có khả năng hoạt động sáng tạo trong lĩnh vực ngành điện Kỹ năng, kỹ xảo nghề nghiệp thể hiện qua tính chính xác, nhanh gọn của thao tác, động tác Mặt khác thông qua cách thức tổ chức hoạt động thực hành, thực tập cũng đã hình thành kỹ năng kỹ xảo và phát triển các năng lực nhận thức và năng lực hành động; đặc biệt là phát triển khả năng làm việc nhóm
và năng lực tư duy kỹ thuật nghề nghiệp Nói cách khác quá trình dạy học chuyên ngành điện không chỉ làm cho người học nắm vững hệ thống kiến thức
về lĩnh vực chuyên môn của mình mà còn biết vận dụng chúng vào thực tiễn nghề nghiệp một cách sáng tạo góp phần làm tăng chất lượng cuộc sống của cá nhân và cộng đồng
- Nhiệm vụ giáo dục các phẩm chất nhân cách: Giáo dục nhân cách là nhiệm vụ
quan trọng, là mục đích phải đạt tới của bất kỳ quá trình dạy học nào Giáo dục trong dạy học là con đường giáo dục hiệu quả nhất, các phẩm chất đạt được toàn diện và vững chắc nhất Chính vì lẽ đó mà thông qua quá trình dạy học chuyên ngành điện dã giúp hình thành cho người học những phẩm chất nhân cách như lòng yêu nghề và sự hứng thú đối với công việc, đức tính kiên trì, bền bỉ, cẩn thận, khéo léo, linh động; thói quen làm việc có kỹ thuật, có kỹ luật, bảo đảm an toàn lao động, có tác phong công nghiệp và đạt năng suất cao; tinh thần trách nhiệm đối với công việc, ý thức tiết kiệm nguyên vật liệu, bảo vệ của công, tính khách quan, trung thực trong kiểm tra đánh giá công việc, sản phẩm
- Nhiệm vụ phát triển trí tuệ cho người học: Trên cơ sở cung cấp những kiến
thức chuyên ngành, rèn luyện kỹ năng thực hành luôn có những mức độ khó khăn nhất định đòi hỏi người học phải có những cố gắng tích cực để vươn tới chiếm lĩnh tri thức, nhờ đó mà trí tuệ phát triển Thêm vào đó quá trình dạy học chuyên ngành điện theo hướng hiện đại thông qua các phương pháp dạy học tích cực lấy người học làm trung tâm nên bên cạnh việc bổi dưỡng kiến thức, còn rất chú trọng đến việc bồi dưỡng phương pháp tư duy sáng tạo cho người học; nhờ
đó mà năng lực trí tuệ của người học có điều kiện phát triển nhanh chóng
Tóm lại, quá trình dạy học chuyên ngành điện phải thực hiện cả ba nhiệm vụ trên, ba nhiệm vụ này gắn bó chặt chẽ, tác động biện chứng với nhau và cùng phát triển Mỗi nhiệm vụ là tiền đề cho các nhiệm vụ khác, nhiệm vụ này là kết quả của nhiệm vụ kia và kết quả cuối cùng đạt được phải là nhân cách của người học
2.3 Nội dung dạy học chuyên ngành điện
Nội dung dạy học chuyên ngành điện là hệ thống kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo nghề nghiệp trong lĩnh vực điện Nội dung dạy học chuyên ngành điện cũng là sự phản ánh tổng hợp các nguyên lí khoa học, quy trình kỹ thuật của nghề nghiệp thuộc lĩnh vực điện, nó phản ảnh một cách khái quát những kinh nghiệm thực tiễn trong việc thực hiện các quy trình công nghệ của các quá trình sản xuất trong lĩnh vực điện, là sự tích lũy có chọn lọc từ những nguồn kinh nghiệm chung và những kinh nghiệm riêng về các ngành nghề trong lĩnh vực điện qua nhiều thế hệ
Trang 10MÔ-ĐUN 1: TỔNG QUAN VỀ DẠY HỌC CHUYÊN NGÀNH ĐIỆN
2.4 Hình thức tổ chức dạy học chuyên ngành điện
Hình thức tổ chức dạy học là cách thức tổ chức quá trình học tập cho người học
theo một trật tự và chế độ nhất định, phù hợp với mục đích, nội dung dạy học nhằm thực hiện các nhiệm vụ dạy học đã quy định Hình thức tổ chức dạy học chuyên ngành điện là sự vận dụng linh hoạt các hình thức dạy học để thực hiện quá trình học tập các nội dung thuộc chuyên ngành điện Dưới đây là các hình thức tổ chức dạy học chuyên ngành điện phổ biến:
- Hình thức dạy học toàn lớp: Đây là hình thức tổ chức cơ bản và phổ biến nhất
của quá trình dạy học; diễn ra trong một khoảng thời gian nhất định (một số tiết học hay giờ học), tại một địa điểm xác định (phòng học), với một số lượng học sinh nhất định, có trình độ phát triển đồng đều, nội dung dạy học được thực hiện
kế tiếp nhau theo một chương trình, một kế hoạch cụ thể được định trước Ở hình thức này người giáo viên chủ yếu sử dụng các phương pháp dạy học truyền thống – đó là cách thức dạy học với hoạt động của giáo viên làm trung tâm Người giáo viên giữ vai trò độc tôn, ban phát kiến thức, truyền tải thông tin từ đầu thầy sang đầu trò thông qua những phương pháp như thuyết trình, diễn giảng Học sinh đóng vai trò khách thể, chỉ thụ động lắng nghe, ghi chép và suy nghĩ theo cách suy nghĩ của thầy Đối với dạy học thực hành thì hình thức dạy học theo lớp thích hợp cho các hướng dẫn ban đầu
- Hình thức dạy học hợp tác: Hình thức này có mục tiêu phát triển hoạt động độc
lập của người học Quá trình dạy học là quá trình tương tác giữa giáo viên và học sinh trong mối quan hệ hợp tác, đồng thời cũng có sự trợ giúp lẫn nhau giữa những người học
- Hình thức dạy học theo nhóm: Ở hình thức này, lớp học được chia thành nhiểu
nhóm Đối với dạy học thực hành thì hình thức dạy học theo nhớm thích hợp cho hoạt động hướng dẫn thường xuyên
- Hình thức tham quan, ngoại khóa: Đây là hình thức tổ chức cho người học thâm
nhập thực tế nghề nghiệp, bằng cách trực tiếp quan sát những hoạt động nghề nghiệp chuyên ngành điện diễn ra trên thực tế, thường là tại các cơ quan, nhà máy, xí nghiệp nhờ đó người học có điều kiện tiếp cận được các trang thiết bị
kỹ thuật hiện đại trong ngành điện, được mở mang, cập nhật thêm kiến thức chuyên môn Ngoài ra, người học có thể tìm ra mối liên hệ giữa kiến thức học được ở trường với thực tiễn, rút ra những bài học bổ ích nhằm tự mình hoàn thiện thêm khối tri thức chuyên ngành của mình Để quá trình tham quan đạt được kết quả tốt đòi hỏi người tổ chức phải quan tâm đến việc lựa chọn địa điểm, lập kế hoạch hoạt động cụ thể
- Hình thức dạy học cá nhân: thích hợp cho các trường hợp cá biệt, cụ thể hóa
việc đánh giá kiến thức người học
- Hình thức bài tập ở nhà, tự học: Đây là hình thức học sinh học ngoài giờ lên lớp
không có mặt trực tiếp của giáo viên Tự học thường được tiến hành ở nhà, ở thư viện là cách học hoàn toàn độc lập theo phương pháp tự nghiên cứu Nội dung công việc tự học chủ yếu là các bài tập về nhà, các bài học cũ, chuẩn bị bài mới
Trang 11MÔ-ĐUN 1: TỔNG QUAN VỀ DẠY HỌC CHUYÊN NGÀNH ĐIỆN
hay nghiên cứu thêm tư liệu để đào sâu những vấn đề đã học trên lớp Với hình thức tự học thì người học còn có thể rèn luyện các kỹ năng thực hành nghề nghiệp thông qua quá trình thực hiện các công việc đã được thực hành trên xưởng trường
3 MỘT SỐ KHÁI NIỆM CƠ BẢN
Giáo dục: Giáo dục là một hình thái ý thức xã hội, là hiện tượng văn minh của
xã hội loài người Giáo dục xuất hiện và phát triển gắn bó cùng với loài người ở đâu
có con người, ở đó có giáo dục (tính phổ biến) Khi nào còn loài người, lúc đó còn giáo
dục (tính vững hằng).Về bản chất, giáo dục là sự truyền đạt và tiếp thu kinh nghiệm lịch sử xã hội của các thế hệ loài người Về mục đích giáo dục là sự định hướng của thế
hệ trước cho sự phát triển của thế hệ sau Về phương thức giáo dục là cơ hội giúp cho
mỗi cá nhân đạt tới hạnh phúc, và là cơ sở đảm bảo cho sự kế thừa, tiếp nối và phát triển những thành quả văn hóa của xã hội loài người Nói cách khác giáo dục là khoa học về quá trình giáo dục con người, là toàn bộ sự tác động của môi trường tự nhiên và
xã hội nhằm hình thành mẫu nhân cách theo yêu cầu của xã hội
Đào tạo: Là giáo dục theo nghĩa hẹp, đó là hoạt động giáo dục thông qua trường
lớp
Giáo dƣỡng: Là quá trình cung cấp kiến thức khoa học, hình thành phương pháp
nhận thức và kỹ năng thực hành sáng tạo cho người học thông qua con đường dạy học Nói cách khác giáo dưỡng là sự hình thành hệ thống kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo cho người học trong các lĩnh vực khoa học, kỹ thuật, nghệ thuật , tức bồi dưỡng học vấn cho người học
Học : Học là hoạt động có đối tượng, trong đó người học là chủ thể, khái niệm khoa học là đối tượng để chiếm lĩnh
- Về bản chất học là sự tiếp thu, xử lí thông tin chủ yếu bằng các thao tác trí tuệ
dựa vào vốn sinh học và vốn đạt được của cá nhân; từ đó có được tri thức, kỹ năng, thái độ mới
- Học là quá trình tự giác tích cực, tự lực chiếm lĩnh khái niệm khoa học, dưới sự
điều khiển sư phạm của giáo viên
- Chiếm lĩnh khái niệm khoa học là mục đích của học Chiếm lĩnh là hiểu biết sâu
sắc khái niệm, biến nó trở thành vốn tri thức riêng của bản thân và có thể vận dụng thành thục tri thức đó để chiếm lĩnh các tri thức khác Khi chiếm lĩnh khái niệm thành công, nó sẽ dẫn tới đồng thời ba mục đích bộ phận là: trí dục (nắm vững khái niệm); phát triển (tư duy khái niệm); giáo dục (thái độ đạo đức)
- Học có hai chức năng thống nhất với nhau: lĩnh hội (tiếp thu thông tin dạy của
thầy) và tự điều khiển quá trình chiếm lĩnh khái niệm khoa học của mình (tự giác, tích cực, tự lực)
- Nội dung của học là toàn bộ hệ thống khái niệm của môn học, cấu trúc lôgic của
môn học, các phương pháp đặc trưng của khoa học, ngôn ngữ của khoa học và biết vận dụng những hiểu biết đó vào việc tiếp tục học tập và lao động
Trang 12MÔ-ĐUN 1: TỔNG QUAN VỀ DẠY HỌC CHUYÊN NGÀNH ĐIỆN
- Phương pháp học là phương pháp nhận thức, phương pháp chiếm lĩnh khái niệm
khoa học phản ánh đối tượng của nhận thức, biến các hiểu biết của nhân loại thành vốn tri thức của bản thân Đó là phương pháp mô tả, giải thích và vận dụng khái niệm khoa học
Dạy: Dạy là sự tổ chức và điều khiển tối ưu quá trình học sinh chiếm lĩnh tri
thức (khái niệm khoa học), trong và bằng cách đó hình thành và phát triển nhân cách
- Về bản chất dạy là sự tổ chức nên những tình huống học tập, trong đó học sinh
sẽ hoạt động tích cực dưới sự hướng dẫn của giáo viên nhằm đạt mục đích dạy học
- Mục đích của dạy là điều khiển sự học tập của học sinh
- Chức năng của dạy: dạy có chức năng kép là vừa truyền đạt thông tin dạy vừa
điều khiển hoạt động học
- Nội dung của dạy: theo chương trình quy định
Dạy học: Là quá trình hoạt động trí lực và thể lực của thầy và trò trong mối quan
hệ tương tác với nhau nhằm thực hiện các nhiệm vụ dạy học
Lĩnh hội: Là quá trình tiếp thu, hiểu, ghi nhớ và vận dụng tốt những tri thức đã
học được
Tóm lại, lí luận dạy học chuyên ngành điện nghiên cứu mục đích, nhiệm vụ, nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức và những điểu kiện dạy học các môn học thuộc chuyên ngành điện nhằm tìm ra những quy luật, biện pháp nâng cao chất lượng dạy học các môn học thuộc chuyên ngành điện
Trang 13MÔ-ĐUN 1: TỔNG QUAN VỀ DẠY HỌC CHUYÊN NGÀNH ĐIỆN
ĐƠN NGUYÊN 2
PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC CHUYÊN NGÀNH ĐIỆN
A MỤC TIÊU
Sau khi học xong đơn nguyên này người học có khả năng:
- Biết được khái niệm, bản chất và đặc điểm của phương pháp dạy học nói chung
và phương pháp dạy học chuyên ngành điện nói riêng, đồng thời cũng như biết
được những vấn đề cơ bản có liên quan đến phương pháp dạy học chuyên ngành
điện như phân loại PPDH, các đặc điểm của PPDH
- Phân biệt được đặc điểm của PPDH hiện đại với PPDH truyền thống
- Biết được những định hướng đổi mới phương pháp dạy học
B PHƯƠNG TIỆN
- Tài liệu
- Bảng phấn, máy chiếu, máy vi tính
C NỘI DUNG
1 KHÁI NIỆM PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC
Ngày nay có nhiều cách định nghĩa khác nhau về phương pháp dạy học (PPDH),
mỗi định nghĩa nhấn mạnh đến một vài khía cạnh nào đó về bản chất của PPDH ở một
lĩnh vực nghiên cứu nhất định
Theo quan điểm của nhà giáo dục học B P Exipop thì PPDH là phương tiện,
cách thức, con đường đạt tới những mục đích nhất định, để giải quyết những nhiệm vụ
nhất định
Theo quan điểm của các nhà tâm lí học thì PPDH được xem là phương thức tổ
chức dạy học với sự vận động của nội dung dạy học như: phương thức lĩnh hội chung
(theo V V Davưdov và D B Elconin), phương thức lĩnh hội bằng chương trình hóa
(theo B F Skiner); phương thức lĩnh hội tài liệu theo các giai đoạn (theo P Ia
Galperin)
Theo quan điểm của lí luận dạy học thì PPDH được xem như là “phương án kết
hợp các thủ thuật giảng dạy và học tập nhằm đạt mục đích dạy học” (B P Exxipop,
Trang 14MÔ-ĐUN 1: TỔNG QUAN VỀ DẠY HỌC CHUYÊN NGÀNH ĐIỆN
M A Danilova, T A Ilina); “… cấu trúc vận hành có hệ thống hoạt động của giáo
viên và học sinh, trong đó phương pháp học là hàng đầu, còn phương pháp dạy là sự
tổ chức học tập” (V Okon); “… nhân tố tích hợp hoạt động dạy và học” (M N
Xkatkin, I Ia Lerner); và “… hình thức vận động của nội dung dạy học, phù hợp với
mục đích của lí luận dạy học mà giáo viên đặt ra trước mình và trước học sinh trong một thời điểm học tập nào đó” (E I Petropxki)(1)
Dù có nhiều quan điểm khác nhau về PPDH nhưng chúng ta có thể khái quát hóa
về PPDH như sau:
- Về hiện tượng: PPDH là sự vận động có định hướng do giáo viên xác định, được
hình thành bởi đặc điểm đa dạng của nội dung, mục tiêu, trình độ học vấn, hình thức tổ chức, phương tiện dạy học … và đương nhiên nó phụ thuộc nhiều vào yếu tố chủ quan của người giáo viên như phong cách, sở trường, năng lực chuyên môn, nghệ thuật sư phạm, …
- Về bản chất: PPDH là cấu trúc có tính tự giác tham gia vào tiến trình dạy học,
làm cho nội dung dạy học tồn tại và vận động trong mối quan hệ biện chứng với nhau
- Dấu hiệu bản chất của PPDH là tính hướng đích Mỗi PPDH chỉ có duy nhất một con đường biểu hiện trong hiện thực, đó là thông qua nội dung dạy học
Ba đặc điểm cơ bản của PPDH là:
- Liên quan đến phạm trù hoạt động Hoạt động bao gồm nhiều mặt như tổ chức, nhận thức, kích thích động cơ, kiểm tra, đánh giá, giao tiếp (cách ứng xử, thái độ,
cử chỉ) và giải quyết tình huống, …
- Liên quan đến phạm trù lí luận: PPDH tồn tại khách quan, dựa trên những nguyên lí khoa học xác định chứ không phải là kinh nghiệm
- Liên quan đến phạm trù nghệ thuật: cùng áp dụng một mô hình PPDH giống nhau nhưng mức độ thành công tùy thuộc tài năng và sự sáng tạo của mỗi giáo viên Như vậy việc sử dụng PPDH có tính nghệ thuật và phụ thuộc vào năng lực
và sở trường của từng giáo viên
Việc nghiên cứu và triển khai về PPDH thường được tiến hành theo 4 cấp độ:
- Lí luận dạy học chung
- Lí luận dạy học các bộ môn
Trang 15MÔ-ĐUN 1: TỔNG QUAN VỀ DẠY HỌC CHUYÊN NGÀNH ĐIỆN
vận dụng sáng tạo các PPDH thích hợp với từng nội dung cần truyền đạt, đúng thời điểm, đối tượng, đúng mục đích và đặc biệt là biết vận dụng tổng hợp các PPDH một cách hợp lí để có thể đạt hiệu quả dạy học cao nhất Dưới đây là một số cách phân loại PPDH phổ biến
Dựa vào mục đích của lí luận dạy học; Đa-nhi-lốp và Ê-xi-pốp đã phân ra các nhóm PPDH sau đây:
- Các PPDH dùng khi nghiên cứu tài liệu mới, hình thành kỹ năng, kỹ xảo
- Các PPDH dùng khi ôn tập, củng cố kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo
- Các PPDH dùng khi ứng dụng kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo
- Các PPDH dùng khi kiểm tra, đánh giá kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo
Dựa vào phương tiện giao tiếp giữa thầy và trò, dựa vào nguồn cung cấp tri thức cho học sinh, Pe-rốp-xki và Golant đã phân ra các nhóm PPDH như sau:
- Các PPDH dùng ngôn ngữ: gồm có phương pháp thuyết trình (có hai hình thức là giảng thuật và diễn giảng hay thuyết giảng), phương pháp đàm thoại, phương pháp thảo luận
Dựa vào hoạt động của giáo viên và học sinh, Sharma phân PPDH làm hai loại
- PPDH lấy giáo viên làm trung tâm
- PPDH lấy học sinh làm trung tâm
Dưới đây là tổng hợp ma trận các “phương pháp và kỹ thuật dạy học” của Viện
TITI (thuộc một dự án của Thụy Sĩ về giáo dục nghề nghiệp ở Nepal
Trang 16MÔ-ĐUN 1: TỔNG QUAN VỀ DẠY HỌC CHUYÊN NGÀNH ĐIỆN
MA TRẬN CÁC PHƯƠNG PHÁP VÀ KỸ THUẬT DẠY HỌC
(Viện TITI; Nepal)
4 Nghiên cứu tình huống (case study/ incident)
6 Đào tạo dựa trên máy vi tính (computer based
7 Hội chẩn (lâm sàng) [conference (clinic)]
11 Các bài đọc trực tiếp (directed reading)
18 Giáo viên mời ngoài (expert guest)
Trang 17MÔ-ĐUN 1: TỔNG QUAN VỀ DẠY HỌC CHUYÊN NGÀNH ĐIỆN
22 Thảo luận nhóm bể cá (fishbowl discussion)
25 Thực hành có hướng dẫn (guided practice)
28 Nói có minh họa (inlustrated talk)
29 Bài tập trong rỗ (in-braket exercise)
30 Nghiên cứu độc lập (independent study)
31 Thực hành độc lập (independent practice)
35 Các bài tập phòng thí nghiệm / ở xưởng
36 Các hợp đồng học tập (learning contracts)
38 Bài tập thư viện [library assignment (reading)]
43 Kĩ thuật nhóm định danh (nominal group
47 Thảo luận nhóm (panel discution, colloquy)
49 Đưa ra sự thực hiện ( performance try-out)
Trang 18MÔ-ĐUN 1: TỔNG QUAN VỀ DẠY HỌC CHUYÊN NGÀNH ĐIỆN
51 Dạy học chương trình hóa (programmed
57 Bài giảng phản ánh (reflective lecture)
61 Thảo luận nhóm nhỏ (nhóm lan truyền) [small
3 PPDH TRUYỀN THỐNG VÀ PPDH HIỆN ĐẠI
PPDH truyền thống thường được hiểu là những cách thức dạy học quen thuộc có
từ lâu đời đã được bảo tồn và duy trì qua nhiều thế hệ Về cơ bản, PPDH truyền thống lấy hoạt động dạy của giáo viên làm trung tâm Đây là hệ thống “ban phát” kiến thức,
là quá trình chuyển tải thông tin từ đầu thầy sang đầu trò Giáo viên là người thuyết trình, diễn giảng, học sinh là người nghe, nhớ, ghi chép và suy nghĩ theo cách suy nghĩ của thầy Với PPDH truyền thống thì giáo viên là chủ thể, học sinh là khách thể
PPDH truyền thống có ưu điểm là nội dung bài dạy có tính hệ thống, tính logic cao, trong khi nhược điểm của nó là học sinh bị áp đặt và tiếp thu kiến thức quá thụ động, giờ học dễ đơn điệu, buồn chán, hạn chế rất nhiều tính tự lập suy nghĩ của học sinh Thêm vào đó PPDH truyền thống thiên về lí luận mà ít chú trọng đến kỹ năng thực hành của người học
PPDH hiện đại xuất hiện ở các nước phương tây từ đầu thế kỷ XX và phát triển
mạnh từ nữa sau của thế kỷ PPDH hiện đại có ảnh hưởng sâu rộng ở nhiều nước trền thế giới, trong đó có Việt Nam, tuy nhiên việc vận dụng PPDH hiện đại và thực tiễn ở nước ta hiện nay vẫn còn quá nhiều hạn chế PPDH hiện đại là cách thức dạy học theo lối phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh Trong đó, giáo viên là người giữ vai trò hướng dẫn, tổ chức, gợi ý, nêu tình huống, kích thích hứng thú, suy nghĩ, phân xử các ý kiến đối lập của học sinh, … giúp cho học sinh tự tìm kiếm, khám phá những tri thức mới Như vậy phương pháp này đã nâng cao vai trò của người học
PPDH hiện đại có ưu điểm là rất chú trọng kỹ năng thực hành, vận dụng giải quyết các vấn đề thực tiễn, coi trọng rèn luyện và tự học Tuy nhiên PPDH hiện đại
Trang 19MÔ-ĐUN 1: TỔNG QUAN VỀ DẠY HỌC CHUYÊN NGÀNH ĐIỆN
vẫn có hạn chế là nếu học sinh không tập trung cao sẽ không hệ thống được kiến thức theo logic khoa học
4 ĐỔI MỚI PPDH
Nhiều người cho rằng đổi mới PPDH là áp dụng các PPDH mới thay cho các PPDH
cũ (các PPDH truyền thống) Cách hiểu này là không thật sự chính xác về đổi mới PPDH Quan điểm khoa học về đổi mới PPDH phải xuất phát từ những cơ sở sau đây:
- Đổi mới PPDH phải bắt đầu từ quan điểm dạy học lấy người học làm trung tâm
Điều cần chú ý là dạy học lấy người học làm trung tâm phải được thể hiện trong tất cả các thành phần của quá trình dạy học, từ mục tiêu, nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức và đánh giá
- Đổi mới PPDH phải tuân thủ các nguyên tắc tích cực hóa c ác hoạt động học tập
của học sinh Đây thực chất là quá trình tổ chức, hướng dẫn học sinh tự tìm hiểu,
phát hiện và giải quyết vấn đề trên cơ sở tự giác và được tự do, được tạo khả năng và điều kiện để họ có thể chủ động trong hoạt động học tập của họ
- Đổi mới PPDH là sự kết hợp hài hòa các PPDH khác nhau, phù hợp với từng
tình huống dạy học để đạt được mục tiêu và hiệu quả của bài dạy Mỗi PPDH dù truyền thống hay hiện đại đều có những ưu điểm, hạn chế riêng và có những phạm vi ứng dụng ưu tiên; không một PPDH nào là hoàn hảo, là vạn năng cho mọi đối tượng, mọi loại nội dung và mọi tình huống dạy học Do vậy việc sử dụng thành thạo, vận dụng hài hòa các PPDH kể cả truyền thống lẫn hiện đại một cách đúng lúc đúng chổ trong các tình huống dạy học khác nhau, phù hợp với năng lực và sở trường của mình mới là điều quan trọng bậc nhất trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả bài dạy
- Đổi mới PPDH liên quan mật thiết với việc sử dụng có hiệu quả các phương tiện
và thiết bị dạy học Nhiều người cho rằng việc đổi mới PPDH nhất thiết phải có trang thiết bị hiện đại Điều này không hoàn toàn chính xác Việc sử dụng đúng phương pháp, biết khai thác triệt để ưu điểm của các phương tiện dạy học đơn giảng rẻ tiền như bảng phấn, phim trong, bảng treo tường, … sẽ hổ trợ rất nhiều cho việc áp dụng các PPDH mới Tuy nhiên việc sử dụng thích hợp các thiết bị nghe nhìn hiện đại như truyền hình, máy chiếu đa năng, máy vi tính với các phần mềm dạy học mô phỏng … sẽ tăng tính hiệu quả dạy học khi áp dụng các PPDH mới
- Một số định hướng đổi mới PPDH Viện Nghiên cứu Phát triển Giáo dục và Dự án
“Tăng cường các trung tâm dạy nghề” do chính phủ Thụy Sĩ tài trợ, đã định hướng
những hoạt dộng sau đây sẽ làm tăng cường hiệu quả học tập của học sinh:
Tạo cơ hội tham gia tích cực hơn của người học trong quá trình dạy học
Sử dụng đa dạng hơn các phương pháp và kỹ thuật dạy học
Dành nhiều thời gian hơn cho các bài tập, các nhiệm vụ thực tế
Có nhiều tài liệu trực quan hơn trong quá trình dạy học
Trang 20MÔ-ĐUN 1: TỔNG QUAN VỀ DẠY HỌC CHUYÊN NGÀNH ĐIỆN
Có nhiều nguồn thông tin phản hổi tới giáo viên hơn
Có nhiều đánh giá dựa trên năng lực thực hiện hơn
Dành nhiều thời gian hơn cho các hoạt động thực hành, thực tập
Dành nhiều thời gian hơn cho việc truyền thông những vấn đề học tập
Dành nhiều thời gian hơn cho các hoạt động nhóm nhỏ
Dành nhiều thời gian hơn cho các bài tập giải quyết vấn đề
- Ngày nay, ở các nước có nền giáo dục phát triển trên thế giới đã định hướng cho việc vận dụng và đổi mới phương pháp giáo dục nói chung và phương pháp dạy học nói riêng là:
Làm thế nào thông qua PPDH giúp nâng cao tính sáng tạo, tư duy phê phán và giải quyết vấn đề nơi người học
PPDH nên mang tính cá nhân hóa cao
PPDH phải giúp người học xây dựng quá trình tự đào tạo
PPDH phải đa dạng để đáp ứng các nhu cầu học tập khác nhau
PPDH phải giúp người học xác định những loại thông tin, dữ liệu, kỹ năng nào là cần thiết cho ngành học và ngành nghề tương lai của họ
PPDH phải giúp xây dựng quan điểm học tập suốt đời, không những chỉ là kiến thức, kỹ năng mà còn là thói quen để có thể học tập suốt đời
5 PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC CHUYÊN NGÀNH ĐIỆN
5.1 Khái niệm
Quá trình dạy học các môn học kỹ thuật chuyên ngành điện không chỉ là quá trình truyền thụ kiến thức về chuyên ngành điện mà còn tổ chức phát triển ở người học những năng lực hoạt động nghề nghiệp và những yếu tố giáo dục phù hợp với định hướng phát triển con người của đất nước
PPDH chuyên ngành điện là một khoa học giáo dục nghiên cứu quá trình dạy và học, các nguyên tắc và quy luật có tính chủ đạo trong việc dạy và học các môn học thuộc chuyên ngành điện, mà đối tượng nghiên cứu của nó là mục đích, nội dung, phương pháp và phương tiện dạy học các môn học đó Các PPDH chuyên ngành điện không phải là những PPDH đặc biệt chỉ dành riêng để giảng dạy những môn học thuộc chuyên ngành điện, mà chúng cũng chỉ là những PPDH đã biết (gồm những PPDH truyền thống và những PPDH hiện đại) PPDH chuyên ngành điện chính là sự vận dụng một cách khoa học và hợp lí những PPDH cả truyền thống lẫn hiện đại phù hợp với đặc điểm tri thức ngành điện
Chúng ta biết rằng dạy học là một khoa học, thậm chí ngày nay tại những nước tiên tiến trên thế giới dạy học đã phát triển thành công nghệ dạy học Chuyên ngành điện cũng
là một khoa học; do đó việc dạy học những tri thức khoa học như chuyên ngành điện đòi hỏi sự chính xác, tính logic, lí luận chặc chẽ… muốn như thế việc chuẩn bị cho quá trình
Trang 21MÔ-ĐUN 1: TỔNG QUAN VỀ DẠY HỌC CHUYÊN NGÀNH ĐIỆN
dạy học hay việc thiết kế dạy học phải thật sự nghiêm túc, trong đó có việc lựa chọn phương pháp dạy học sao cho thích hợp để hiệu quả dạy học là cao nhất
Dạy học không chỉ là một khoa học mà còn là một nghệ thuật và hiệu quả dạy học phụ thuộc rất nhiểu yếu tố; cùng một nội dung, cùng một phương pháp dạy học nhưng mỗi giáo viên khi vận dụng hiệu quả dạy học sẽ khác nhau Như vậy, việc vận dụng những phương pháp dạy học vào dạy học chuyên ngành điện không nên cứng nhắc mà phải linh động, uyển chuyển Hơn nữa bên cạnh các phương pháp dạy học người giáo viên còn phải biết vận dụng sáng tạo các thủ thuật dạy học để đạt được hiệu quả dạy học theo mong muốn
Việc vận dụng những PPDH vào dạy học chuyên ngành điện sẽ được trình bày
cụ thể trong các mô-đun 2 và 3 Trong phần lí luận chung này sẽ đề cập sau đây những nội dung cơ bản về PPDH theo phương thức mô-đun kỹ năng hành nghề (MKH) Trước đây các cơ sở đào tạo các ngành, nghề thuộc ngành điện hầu như không có áp dụng phương thức đào tạo MKH, do vậy mà PPDH theo phương thức MKH chưa được quan tâm mấy trong nội dung môn học PPDH chung Ngày nay đã đến lúc phải quan tâm nhiều hơn về PPDH theo MKH vì tính ưu việt của phương thức đào tạo này cũng như nó được áp dụng ngày càng nhiều ở các cơ sở đào tạo nghề trong cả nước
5.2 Phương pháp dạy học theo phương thức mô-đun kỹ năng hành nghề
Ngày nay giáo dục và đào tạo theo hướng công nghệ đã hình thành và đang phát triển rất mạnh ở nhiều nước trên thế giới Ở Việt Nam cũng đã bắt đầu tiếp cận với xu hướng mới này, đi đầu là giáo dục và đào tạo nghề Một trong những phương thức đào tạo nghề rất phù hợp theo hướng công nghệ đang ngày càng phát triển là phương thức MKH Trong đó có một số chương trình đào tạo nghề thuộc chuyên ngành điện đã được chính thức xây dựng theo chương trình mô-đun và được nhà nước ta, cụ thể là Tổng cục Dạy nghề, Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội thông qua như các chương
trình dạy nghề điện dân dụng; điện lạnh gia dụng; sữa chữa thiết bị điện công nghiệp
cấp dộ II và cấp độ III
Những công việc của người giáo viên khi dạy học theo phương thức MKH gồm:
- Chuẩn bị nội dung giảng dạy
- Kiểm tra, đánh giá trình độ người học
- Xác định đặc điểm người học
- Xác định nội dung đào tạo cho từng lớp, từng người học cá biệt
- Lựa chọn, xây dựng bộ tài liệu học tập
- Chuẩn bị thiết bị, dụng cụ và vật tư cần thiết cho giảng dạy
- Tiến hành giảng dạy
- Kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của người học
Phương pháp dạy học theo MKH phải tuân thủ những nguyên tắc cơ bản sau:
- Nguyên tắc mềm dẻo, linh động: Trong phương thức MKH người ta chỉ quan
tâm đến thành tích cụ thể của người học, tức là năng lực thực hiện công việc
Trang 22MÔ-ĐUN 1: TỔNG QUAN VỀ DẠY HỌC CHUYÊN NGÀNH ĐIỆN
nghề nghiệp của người học sau khi học xong một đơn nguyên học tập (ĐNHT), một mô-đun của môn học; mà không chú ý đến thời gian cần thiết mà người học đạt được những thành tích cụ thể ấy Thời gian càng ngắn càng tốt, nhưng nếu cần thiết cũng có thể kéo dài Việc học vượt không làm cơ sở để phân hóa lớp học mà làm động lực lôi kéo các học sinh khác trong nhóm
- Nguyên tắc cá nhân hóa quá trình dạy và học: nhằm phát huy cao độ năng lực
chủ động, sáng tạo của người học, nên trong quá trình dạy học người học được trang bị đầy đủ các thiết bị, đồ dùng dạy học theo yêu cầu Người giáo viên có vai trò hướng dẫn và theo dõi, còn người học chủ động nghiên cứu, tìm hiểu từng vấn đề trong ĐNHT để nắm bắt kiến thức, hình thành kỹ năng, kỹ xảo
Việc tổ chức lớp học thường theo hình thức học nhóm nhỏ, trung bình mỗi nhóm
gồm 4 hay 5 học sinh Mỗi nhóm được bố trí một vị trí học tập với đầy đủ trang thiết bị học tập thích hợp với từng ĐNHT Trong trường hợp số lượng trang thiết bị không đủ cho tất cả các vị trí để giải quyết toàn bộ nội dung của ĐNHT, thì mỗi vị trí sẽ chỉ bố trí trang thiết bị đủ để giải quyết một phần nội dung của ĐNHT mà thôi, và trong quá trình học tập các nhóm học sinh sẽ luân phiên thay đổi vị trí cho nhau để hoàn thành trọn vẹn nội dung của ĐNHT
Do trong quá trình đào tạo nghề theo MKH, người giáo viên chỉ đóng vai trò hướng dẫn, theo dõi và kiểm tra, đánh giá quá trình học tập chủ động sáng tạo của
người học, nên những phương pháp và các thủ thuật dạy học được vận dụng ở đây
chủ yếu là những phương pháp mang tính tích cực hóa người học cao như đàm thoại, nêu vấn đề, diễn trình, thảo luận nhóm, kèm cặp
Trang 23MÔ-ĐUN 1: TỔNG QUAN VỀ DẠY HỌC CHUYÊN NGÀNH ĐIỆN
ĐƠN NGUYÊN 3
NGUYÊN TẮC DẠY HỌC CHUYÊN NGÀNH ĐIỆN
A MỤC TIÊU
Sau khi học xong đơn nguyên này người học có khả năng:
- Biết được những vấn đề chung của các nguyên tắc dạy học chuyên ngành điện,
cụ thể là biết được khái niệm về nguyên tắc dạy học Các nguyên tắc dạy học cơ bản và các nguyên tắc dạy học chuyên ngành điện
- Biết được các yêu cầu và biện pháp thực hiện những nguyên nguyên tắc dạy học chuyên ngành điện vào quá trình giảng dạy
Các nguyên tắc dạy học hình thành trên cơ sở những thành tựu của các ngành
khoa học khác như tâm lí học, giáo dục học, điều khiển học… để phục vụ cho mục
đích, nhiệm vụ dạy học Nguyên tắc dạy học là những mối quan hệ luôn luôn đúng
trong những điều kiện xác định của từng hoạt động dạy học cụ thể; là những qui định
cơ bản có tác dụng định hướng và chỉ đạo toàn bộ quá trình dạy và học nhằm thực hiện tốt các nhiệm vụ dạy học đề ra Khi thiết kế dạy học nói chung, lựa chon phương phương pháp dạy học nói riêng người giáo viên phải chú ý đến những nguyên tắc dạy học vì một phương pháp dạy học có thể chỉ nhấn mạnh việc thực hiện một hay vài nguyên tắc dạy học nào đó Trên thực tế, trong các tài liệu giáo dục học người ta trình bày khác nhau về số lượng và cách xếp đặt thứ tự các nguyên tắc cũng có khác nhau; tuy nhiên nếu xét về nội dung của từng nguyên tắc thì tất cả đều có sự thống nhất với nhau Sau đây là hệ thống các nguyên tắc dạy học phổ biến được vận dụng vào dạy học chuyên ngành điện
2 CÁC NGUYÊN TẮC DẠY HỌC CƠ BẢN
Theo các nhà khoa học giáo dục trên thế giới thì 5 nguyên tắc dạy học cơ bản
đầu tiên, chung nhất cho bất kỳ quá trình dạy học nào, đồng thời được dùng làm cơ sở cho những lí thuyết và mô hình thiết kế dạy học bao gồm:
Trang 24MÔ-ĐUN 1: TỔNG QUAN VỀ DẠY HỌC CHUYÊN NGÀNH ĐIỆN
(1) Việc dạy học sẽ hiệu quả hơn khi người học được tham giải quyết những vấn
đề trong cuộc sống hiện thực
(2) Việc dạy học sẽ hiệu quả hơn khi những kiến thức mới được hình thành trên cơ
sở những kiến thức sẵn có của người học
(3) Việc dạy học sẽ hiệu quả hơn khi những kiến thức mới đáp ứng được nhu cầu người học
(4) Việc dạy học sẽ hiệu quả hơn khi kiến thức mới được áp dụng bởi chính người học (5) Việc dạy học sẽ hiệu quả hơn khi kiến thức mới được tích hợp vào thế giới của người học
Con người có rất nhiều cách học tập khác nhau, do đó cũng có nhiều cách thiết
kế dạy học khác nhau Từ 5 nguyên tắc dạy học cơ bản chung nhất trên đây, thông qua việc đúc kết từ nhiều lí thuyết học tập và lí thuyết thiết kế dạy học khác nhau, các nhà giáo dục học đã nêu ra các nguyên tắc là chủ đạo cho việc thiết kế dạy học, đồng thời cũng là là kim chỉ nam cho việc biên soạn nội dung về phương pháp dạy học
Nguyên tắc 1: Sử dụng nhiều chiến lược dạy học khác nhau: Sử dụng nhiều
chiến lược dạy học khác nhau nhằm đáp ứng những mục tiêu khác nhau Ví dụ như:
- Khi dạy các sự kiện: giáo viên phải yêu cầu người học tìm ra được mối liên hệ giữa những kiến thức đang học với kiến thức sẵn có của họ Chiến lược này giúp củng cố kiến thức rất hiệu quả
- Khi dạy các khái niệm: giáo viên nên sử dụng cả ví dụ lẫn phản ví dụ để minh họa cho những khái niệm Thêm vào đó giáo viên còn khuyến khích người học tự mình tìm ra những ví dụ khác nữa
- Khi dạy các qui trình: giáo viên phải dạy cho người học nắm vững từng bước của qui trình, trước khi để họ thực hiện toàn bộ qui trình
- Khi dạy các kỹ năng vận động: Giáo viên phải tạo nhiều cơ hội cho người học thực hiện những cơ hội vận động, đồng thời phải giúp họ thường xuyên củng cố những kỹ năng vận động đó trong suốt quá trình học
- Khi dạy về thái độ, quan điểm: giáo viên phải dùng những tấm gương trong thực tiễn cuộc sống để minh họa là gương cho người học
Nguyên tắc 2: Đưa người học vào trạng thái sẵn sàng: Ai cũng biết rằng ấn
tượng đầu tiên rất là quan trọng, trong dạy học cũng thế, người giáo viên cần phải có phần mở đầu một bài học thật thuyết phục bởi vì một vài phút cho phần mở đầu sẽ dẫn dắt cả buổi học Phần mở đầu một bài học hiệu quả sẽ thu hút sự chú ý, kích thích sự háo hức học bài mới của học viên, đưa người học vào trạng thái sẵn sàng Có rất nhiều cách để giáo viên có thể đưa người học vào trạng thái sẵn sàng khi bắt đầu học một nội dung mới Ví dụ như giáo viên có thể bắt đầu bằng một sự kiện để khơi dậy và duy trì
sự quan tâm của người học Có thể dùng bất kỳ một sự kiện nào để tạo ra một kích thích tích cực và gây sự chú ý cho người học; chẳng hạn một lời giới thiệu hay thuyết minh làm người học tự giác chú ý đến bài học Giáo viên cũng có thể đặt câu hỏi, trình
Trang 25MÔ-ĐUN 1: TỔNG QUAN VỀ DẠY HỌC CHUYÊN NGÀNH ĐIỆN
bày đề cương, nêu ra các mục tiêu của bài học hay các vấn đề thời sự có liên quan đến nội dung bài học, nếu có phương tiện giáo viên có thể chiếu một đoạn phim về một ứng dụng thực tiễn của nội dung sắp học, … để thu hút sự chú ý và duy trì tính sẵn sàng học tập ở người học
Nguyên tắc 3: Cho người học biết các mục tiêu học tập: Hãy truyền đạt rõ ràng
cho người học biết được những gì họ có thể đạt được sau khi học xong bài học này (hay sau mỗi học phần, sau khóa học…) và làm thế nào để người học có thể đạt được những kết quả đó Giáo viên có thể dùng lời nói hay minh họa cho người học thấy được những kết quả mong đợi sau mỗi bài học, mỗi học phần… và nhấn mạnh cho họ thấy được tầm quan trọng của các tài liệu học tập
Nguyên tắc 4: Gợi nhớ kiến thức cũ: Trong quá trình dạy học giáo viên hãy tìm
cơ hội để kích thích người học nhớ lại những kiến thức sẵn có của họ mà có liên quan
đến những kiến thức đang dạy Ví dụ như:
- Khi dạy các sự kiện: những kiến thức liên quan cần gợi nhớ cho người học có thể
là những kiến thức chung về thế giới tự nhiên mà có liên quan hoặc tương tự như kiến thức đang dạy
- Khi dạy các khái niệm: hãy gợi nhớ cho người học những kiến thức có liên quan
đến khái niệm mà họ đang học
- Khi dạy các qui trình: kiến thức liên quan chính là kiến thức về từng giai đoạn
của qui trình đó, hoặc kiến thức nền mà người học đã có trước đó
- Khi dạy các kỹ năng vận động: kỹ năng vận động thường gồm nhiều kỹ năng
“thành phần” hợp thành mà người học có thế đã biết những kỹ năng thành phần
này rồi, giáo viên hãy gợi nhớ cho họ
- Khi dạy về thái độ, quan điểm: kiến thức liên quan cần gợi nhớ cho người học có rất nhiều và cực kỳ phong phú trong chính cuộc sống của người học hay của
những người thân của họ
Nguyên tắc 5: Trình chiếu và diễn đạt rõ ràng: Hình ảnh và âm thành minh họa
cho bài giảng phải rõ ràng, mạch lạc thông tin không được mơ hồ, khó hiểu; ánh sáng vừa phải, không quá sáng hay mờ tối; âm thanh trong trẻo không ù rè, không quá lớn hay quá nhỏ, … Nếu có nhiều thông tin trình chiếu thì để tránh làm cho người học bối rối, khó hiểu thì nên tập trung làm nổi bật những thông tin chính, cũng có thể cố tình làm lệch lạc thông tin đi rồi dẫn dắt người học phá bỏ dần những điểm vô lí để trả lại
sự chính xác cho thông tin cần truyền đạt
Nguyên tắc 6: Quy luật và ví dụ phải đi đôi với nhau: Khi dạy về khái niệm và
quy luật (không phải sự kiện), thì người giáo viên sau khi giới thiệu được quy luật chung, hoặc sau khi trình bày xong khái niệm phải đưa ra ví dụ để minh họa tiếp sau
đó cần khuyến khích học viên tự tìm ra các ví dụ minh họa khác Để có thể kích thích
óc khám phá của người học, giáo viên có thể nêu ra các ví dụ trước rồi yêu cầu người học tự khám phá ra quy luật hay tự xác định khái niệm ẩn chứa trong các ví dụ đó Trong quá trình giảng dạy giáo viên nên tạo cơ hội cho người học rèn luyện theo cả hai phương pháp trên
Trang 26MÔ-ĐUN 1: TỔNG QUAN VỀ DẠY HỌC CHUYÊN NGÀNH ĐIỆN
Nguyên tắc 7: Hướng dẫn học tập với sự chuẩn bị chu đáo: sự chuẩn bị kỹ
lưỡng với những trù định trước bằng cách liên kết nó với những kiến thức cũ là phương pháp mở rộng bài học hiệu quả Đôi khi giáo viên dự kiến trước những hình ảnh hay biểu đồ đưa ra nhằm gợi cho người học thấy được nội dung đang học có quen thuộc với những kiến thức cũ của họ Sử dụng kỹ thuật đặt câu hỏi, nêu vấn đề chính là những thành phần chủ đạo cho phương pháp đạy học này
Nguyên tắc 8: Kiểm tra ban đầu: Trước khi bắt đầu một quá trình dạy học hãy
xác định trình độ đầu vào của người học bằng cách cho họ thực hiên một vài kiểm tra
mà không có sự hướng dẫn Không những thế trong suốt quá trình dạy học, cứ mỗi khi bắt đầu một phần luyện tập hay giảng dạy sang nội dung mới giáo viên cũng nên tạo cơ hội cho người học tự thể hiện những gì họ biết và họ có thể làm được
Nguyên tắc 9: Chuẩn bị nhiều hình thức luyện tập: Sau khi kiểm tra trình độ
đầu vào, giáo viên nên tạo nhiều cơ hội học tập hơn nữa cho người học Để củng cố những kiến thức và kỹ năng, người học nên nhìn nhận kết quả học tập của mình và phải biết lắng nghe những ý kiến đóng góp Trong quá trình luyện tập nên dùng nhiều
ví dụ đa dạng gắn liền với những tình huống học tập khác nhau
Nguyên tắc 10: Học tập và nghề nghiệp: Giáo viên nên nhắc nhở người học
rằng những gì học đang học đều có quan hệ đến nghề nghiệp trong tương lai của họ Tất cả những nội dung dạy học nên đề cập đến sự liên quan này như là một yếu tố chủ yếu trong việc vận dụng những kiên thức hay những kỹ năng mới vào các tình huống thực tiễn
Nguyên tắc 11: Củng cố kiến thức và kỹ năng: Để người học có thể củng cố
kiến thức và kỹ năng mới, trước hết họ phải nhớ những kiến thức hay kỹ năng đó Để làm được điều này đòi hỏi người học phải có thêm những giai đoạn luyện tập khác kể
từ sau lần luyện tập đầu tiên Cách củng cố tốt nhất là người học phải thường xuyên luyện tập trong những tình huống khác nhau
3 CÁC NGUYÊN TẮC DẠY HỌC CHUYÊN NGÀNH ĐIỆN
Việc dạy học chuyên ngành nói chung, dạy học chuyên ngành điện nói riêng, trước tiên cũng phải tuân thủ các nguyên tắc cơ bản chung nhất và 11 nguyên tắc chủ đạo cho việc thiết kế dạy học, đó là những nguyên tắc luôn luôn đúng đối với mọi môn học Trong bối cảnh hiện nay, khi mà nền giáo dục nước nhà đang xuống cấp nhiều mặt; việc đào tạo nguồn nhân lực không đáp ứng được nhu cầu thực tiễn; nội dung và phương pháp dạy học chậm đổi mới so với sự phát triển của các nền giáo dục ở nhiều nước trong khu vực và thế giới Trước tình hình đó, nền giáo dục nước ta đã có những nguyên tắc chủ đạo mang tính thời đại được áp dụng trong dạy học chuyên ngành điện
(1) Nguyên tắc dảm bảo kết hợp tính giáo dục, tính khoa học với tính nghề nghiệp: Tính khoa học thể hiện ở nội dung và phương pháp dạy học, trong khi tính
giáo dục là một thuộc tính bản chất của quá trình dạy học, đó là dạy học nhằm giáo dục nhân cách toàn diện cho người học Như vậy nguyên tắc này nhằm đáp ứng mục tiêu của giáo dục là đào tạo người học có phẩm chất chính trị, đạo đức, có ý thức phục vụ
Trang 27MÔ-ĐUN 1: TỔNG QUAN VỀ DẠY HỌC CHUYÊN NGÀNH ĐIỆN
nhân dân, có kiến thức và năng lực thực hành nghề nghiệp tương xứng với trình độ dào tạo, có sức khỏe, đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ tổ quốc Người giáo viên trong quá trình dạy học của mình với mọi nội dung phải tuân theo cả tính khoa học lẫn tính giáo dục trong sự thống nhất chung Đây là nguyên tắc quan trọng, làm nền tảng cho toàn bộ quá trình dạy học kỹ thuật nghề nghiệp, nhằm đáp ứng mục tiêu đào tạo của nhà trường và mục đích giáo dục của xã hội
Các yêu cầu và biện pháp thực hiện
- Nội dung dạy học phải phản ánh thực tiễn khách quan của chuyên môn và nghề nghiệp
- Thông qua nội dung dạy học phải tác động đến niềm tin của học sinh vào khoa học, vào ngành nghề
- Nội dung dạy học phải phát triển năng lực nhận thức và tư duy kỹ thuật cho học sinh
- Nội dung dạy học phải chú trọng đến các mặt giáo dục về phẩm chất đạo đức nghề nghiệp, tác phong công nghiệp cho học sinh
(2) Nguyên tắc kết hợp giữa lí luận với thực tiễn: Nhiệm vụ quan trọng của quá
trình dạy học là cung cấp cho người học một hệ thống kiến thức khoa học về các lĩnh vực của cuộc sống Bên cạnh đó còn giúp người học rèn luyện để hình thành một hệ thống kỹ năng vận dụng lí thuyết vào cuộc sống Nếu chỉ có học về mặt lí thuyết mà không liên quan gì đến hoàn cảnh thực tế, hoặc không đem áp dụng được những gì đã học vào thực tiễn cuộc sống thì sự học tập là không kinh tế, không hoàn chỉnh Như vậy nguyên tắc này thể hiện rất rõ tính quy luật của nhận thức và nguyên lí giáo dục,
khẳng định lí luận và thực tiễn trong quá trình dạy học là một khối thống nhất không
thể chia cắt được trong việc tiếp thu tri thức, kỹ năng, kỹ xảo của sinh viên
Các yêu cầu và biện pháp thực hiện
- Thực hiện đúng phương châm giáo dục: Học đi đôi với hành, giáo dục kết hợp
với lao động sản xuất, trường học gắn liền với thực tiễn xã hội
- Có sự kết hợp chặc chẽ giữa dạy học lí thuyết với dạy học thực hành Bài học lí thuyết phải gắn liền với bài học thực hành Những bài thực hành không chỉ sinh động mà phải có tính sử dụng được trong thực tế và phù hợp với nhu cầu xã hội
- Kết hợp những kỹ năng cơ bản với với phương pháp tiên tiến và trang thiết bị hiện đại
- Dạy nghề phải kết hợp với lao động sản xuất, phù hợp với ngành nghề, tham quan thực tế sản xuất
(3) Nguyên tắc thống nhất biện chứng giữa vai trò tự giác, tích cực, độc lập của người học với vai trò chủ đạo của giáo viên: Xuất phát từ mối quan hệ bản chất
của quá trình dạy học là mối quan hệ biện chức giữa hoạt động dạy và hoạt động học Mối quan hệ này vừa là quy luật cơ bản vừa là nguyên tắc quan trọng chi phối quan hệ thầy-trò, tạo lập mối quan hệ và và tương tác biện chứng giữa dạy và học, đồng thời
Trang 28MÔ-ĐUN 1: TỔNG QUAN VỀ DẠY HỌC CHUYÊN NGÀNH ĐIỆN
góp phần tạo nên chất lượng thực sự của quá trình dạy học Theo nguyên tắc này thì trong quá trình dạy học, giáo viên là chủ thể tổ chức, điều khiển quá trình học tặp của học sinh, còn học sinh là chủ thể tích cực, chủ động và sáng tạo của quá trình học tập
Các yêu cầu và biện pháp thực hiện
- Vận dụng thuần thục, sáng tạo, cải tiến không ngừng phương pháp dạy học nhằm hoàn thiện nghệ thuật sư phạm để làm chủ một cách hiệu quả việc tổ chức, điều khiển quá trình học tập của học sinh Tiến tới hoàn thiện việc dạy học theo công nghệ dạy học
- Phải gia công sư phạm, chuẩn bị nội dung, kế hoạch, xác định đúng mức mục đích yêu cầu trong dạy học phù hợp với trình độ của học sinh và thể hiện tính vừa sức
- Giáo viên cần coi trọng và nâng cao hiệu quả của việc kiểm tra, đánh giá tri thức,
kỹ năng, kỹ xảo, cũng như vận dụng kịp thời các hình thức động viên, khen thưởng đối với những người học có thành tích tốt trong học tập
- Thúc đẩy tính tích cực nhận thức và giúp học sinh vận dụng, cải tiến phương pháp học tập thích hợp với bản thân Giúp học sinh chủ động tìm kiếm tri thức, chiếm lĩnh khái niệm theo cách riêng của họ một cách tích cực, sáng tạo
- Người học ý thức được mục tiêu đào tạo, từ đó xác định đúng đắn động cơ học tập
- Người học cần tăng cường các hoạt động độc lập, như hoạt động tìm kiếm tri thức mới, hoạt động giải quyết tính huống có vấn đề trong học tập và nghiên cứu
(4) Nguyên tắc đảm bảo sự thống nhất giữa cái cụ thể với cái trừu tượng: Xuất
phát từ quy luật của quá trình nhận thức của con người là từ trực quan sinh động đến
tư duy trừu tượng, từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn Đó cũng là mối quan hệ hữu cơ
giữa nhận thức cảm tính và nhận thức lí tính, từ cái cụ thể đến cái trừu tượng, từ vật chất đến ý thức, từ dấu hiệu và biểu tượng đến khái niệm và ngược lại
Các yêu cầu và biện pháp thực hiện
- Phải lựa chọn và sử dụng hợp lí những phương tiện trực quan khác nhau bao gồm cả những phương tiện kỹ thuật và các phương tiện dạy học hiện đại
- Coi trọng đúng mức việc bồi dưỡng lí thuyết trừu tượng, khái quát kết hợp với việc sử dụng hợp lí các phương tiện trực quan
- Học sinh phải được quan sát các sự vật, các hiện tượng thật một cách cụ thể trong trường hợp không trực tiếp quan sát được thì mới nhờ đến các phương tiện trực quan, mô phỏng
(5) Nguyên tắc đảm bảo tính vừa sức và tính khoa học: Theo nhà giáo dục học
Zan-cốp thì vừa sức có nghĩa là đề ra mục tiêu mà người học phải đạt được trong nổ lực của bản thân Nếu mục tiêu đề ra mà người học có nổ lực cao thế nào cũng không thể đạt được thì đó là quá sức; còn nếu mục tiêu mà người học không cần nổ lực cũng đạt được thì đó cũng không phải là vừa sức Tính vừa sức phải dựa trên cơ sở khoa
Trang 29MÔ-ĐUN 1: TỔNG QUAN VỀ DẠY HỌC CHUYÊN NGÀNH ĐIỆN
học, có nghĩa là phải đảm bảo mối liên hệ giữa mục đích, nội dung, phương pháp, phương tiện phù hợp với độ khó và độ phức tạp của nội dung
Các yêu cầu và biện pháp thực hiện
- Phải xác định mục tiêu bài học rõ ràng, cụ thể và xác định được các năng lực thực hiện rõ ràng
- Phải căn cứ vào mục đích yêu cầu để từ đó đề xuất chương trình nội dung, hình thức tổ chức dạy học, trang thiết bị, dụng cụ phương tiện đầy đủ
- Ra bài tập, giao công tác phải phù hợp khả năng và trình độ của học sinh
- Bảo đảm giờ học, giờ giải lao đúng quy định để giảm căng thẳng trí óc, tránh bão hòa trong học tập
(6) Nguyên tắc đảm bảo tính vững chắc của tri thức và tính mềm dẻo của tư duy sáng tạo: Quá trình nắm vững tri thức, kỹ năng, kỹ xảo phải nhờ vào hoạt động
của tư duy và đồng thời quá trình đó lại giúp cho hoạt động tư duy thêm linh hoạt, mềm dẻo Nhờ đó mà người học có năng lực thích ứng cao trong quá trình lĩnh hội và vận dụng tri thức vào cuộc sống với những tình huống muôn hình muôn vẻ của thực tiễn nghề nghiệp tương lai
Các yêu cầu và biện pháp thực hiện
- Trong bối cảnh bùng nổ thông tin, giáo viên phải giúp cho người học chọn lọc được tri thức cơ bản để ghi nhớ lâu dài và vững chắc
- Giáo viên giúp người học luyện tập, vận dụng một cách sáng tạo những tri thức nghề nghiệp đã học được vào các tình huống nghề nghiệp của họ
- Dạy lí thuyết phải hệ thống hóa bài; củng cố, ôn tập một cách thường xuyên và
(7) Nguyên tắc kết hợp cá nhân với tập thể: Quá trình dạy học bao giờ cũng tiến
hành trong một tập thể, một lớp có nhiều học sinh; do đó người giáo viên phải quan tâm đến trình độ phát triển chung của lớp; đồng thời người giáo viên cũng phải quan tâm đến trình độ phát triển riêng của từng cá nhân nhằm giúp người học phát triển hết năng lực trí tuệ cá nhân Nguyên tắc này chỉ đạo cho việc phối hợp biện chứng giữa tập thể với cá nhân, giúp học sinh không những nắm vững kiến thức mà còn hình thành được kỹ năng hoạt động tập thể, làm cho họ tự tin hơn vào sức mình, linh hoạt, sáng tạo, để từ đó nâng cao kết quả học tập chung
Trang 30MÔ-ĐUN 1: TỔNG QUAN VỀ DẠY HỌC CHUYÊN NGÀNH ĐIỆN
ĐƠN NGUYÊN 4
TÍNH ĐẶC THÙ CỦA TRI THỨC NGÀNH ĐIỆN
A MỤC TIÊU
Sau khi học xong đơn nguyên này người học có khả năng:
- Biết được một số khái niệm căn bản về điện
- Biết được những nét khái quảt của quá trình hình thành tri thức ngành điện
- Biết được tính đặc thù của tri thức ngành điện
B PHƯƠNG TIỆN
- Bảng phấn, máy chiếu, máy vi tính
- Các tài liệu
C NỘI DUNG
1 KHÁI NIỆM VỀ ĐIỆN
Thuật ngữ “điện” có nguồn gốc từ chữ “elektron”, tiếng Hy-lạp có nghĩa là hổ
phách Hổ phách vốn là một chất mà khi để khô và được cọ xát nhẹ thì hổ phách có khả năng hút được các vật nhẹ (ngày nay ta biết đó là do hiện tượng tĩnh điện) Hiện tượng này đã được người Hy-lạp và người Ý biết được từ rất sớm, nhưng mãi đến khi
William Gilbert nghiên cứu và gọi chúng bằng cái tên “elektriks”, thì thuật ngữ này đã
tồn tại cho đến ngày nay
Có nhiều khái niệm khác nhau về điện Dưới đây là một số khái niệm phổ biến:
- Điện là thuộc tính của các hạt bên trong nguyên tử (cụ thể là electron và proton),
nó liên quan đến điện từ trường và gây ra lực tác dụng nhau (lực hút hoặc lực đẩy) giữa những hạt này Điện là một trong bốn nguồn lực chủ yếu trong tự nhiên và là một thuộc tính của vật chất mà con người có thế xác định được
- Điện là hiện tượng tự nhiên được nhận biết thông qua sự hút hoặc đẩy nhau giữa các vật tích điện, và được sử dụng như là một nguồn năng lượng để tạo thành dòng điện
- Điện là một dạng năng lượng được tạo ra do dòng chảy của các phần tử vật chất
có tích điện âm hoặc điện dương Một dòng chuyển động của điện tử cũng gọi là dòng điện
Trang 31MÔ-ĐUN 1: TỔNG QUAN VỀ DẠY HỌC CHUYÊN NGÀNH ĐIỆN
- Điện là một dạng năng lượng được tạo ra do sự chuyển động của các electron và proton Điện có thể được tạo ra do ma sát, do phản ứng hóa học hay do cảm ứng Điện được dùng để tạo ra ánh sáng, nhiệt, sinh công Điện di chuyển thành dòng như chạy qua dây dẫn được gọi là dòng điện
Các khái niệm trên về nội dung không khác nhau là bao và có thể khái quát hóa
lại như sau: Điện là tập hợp tất cả các hiện tượng vật lí có liên quan tới sự tồn tại,
chuyển động và tương tác giữa các điện tích Khi một điện tích đứng yên (ở trạng thái tĩnh) nó sẽ sinh lực tác động lên các vật ở trong không gian chung quanh nó Còn khi
điện tích chuyển động nó sinh ra hiệu ứng từ
2 SƠ LƢỢC QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH TRI THỨC NGÀNH ĐIỆN
Các hiện tượng điện xảy ra khắp nơi trong vũ trụ Các lực do điện gây ra giữ các phân tử lại với nhau Hệ thống thần kinh của các loài động vật hoạt động nhờ các tín hiệu điện rất yếu truyền dẫn giữa các tế bào thần kinh Điện năng được tạo ra, truyền dẫn đi và chuyển thành các dạng năng lượng khác như nhiệt, ánh sáng, cơ năng thông qua quá trình tự nhiên hay nhờ vào các thiết bị do con người chế tạo ra Tuy nhiên
trong nhiểu thế kỷ trước đây điện là một thử thách đối với các nhà khoa học Từ lâu
người ta đã biết rằng điện có tồn tại, nhưng thật khó giải thích chính xác điện là gì Nó
xuất hiện đầu tiên ở đâu? Sau đây là một số ghi nhận về quá trình hình thành và phát triển của tri thức ngành điện
Vào khoảng năm 600 trước công nguyên, những người Ai Cập đã thấy rằng khi
cọ xát một “electron” (là một loại nhựa thông cứng mà ngày nay còn gọi là hổ phách)
trên một áo lông thú, thì nó sẽ hút được các cọng rơm nhỏ Hiện tượng kỳ lạ này vẫn là một màn bí mật cho đến 2000 năm tiếp theo sau đó
Vào khoảng năm 1600 sau công nguyên, tiến sĩ William Gibert đã nghiên cứu tỉ
mỉ tác dụng của hổ phách với các nam châm trong tự nhiên Ông cũng chính là người
đã sử dụng từ “electric” lần đầu tiên trong báo cáo khoa học của mình về thuyết từ
tính Những thí nghiệm của Gilbert đã mở ra cho nhiều nhà tiên phong trong việc phát
triển điện học qua hơn 350 năm tiếp theo sau đó Cho đến nay tri thức ngành điện đã phát triển thành một khối lượng tri thức khổng lồ với sự đóng góp của rất nhiều các nhà khoa học Những gì được trình bày dưới đây chỉ là một phần hết sức sơ lược nhằm ghi nhớ lại lịch sử phát triển của tri thức chuyên ngành điện
Benjamin Franklin (1706-1790), một nhà văn, một chủ báo, một nhà khoa học và là một nhà ngoại giao người Mỹ Vào năm 1752 bằng cuộc thí nghiệm với cánh diều và chiếc chìa khóa đầy mạo hiểm nhưng nổi tiếng Franklin đã chứng minh rằng sét và tia chớp
từ hổ phách là giống nhau
Hình 2.1
Trang 32MÔ-ĐUN 1: TỔNG QUAN VỀ DẠY HỌC CHUYÊN NGÀNH ĐIỆN
Vào năm 1830, nhà vật lí học người Mỹ Joseph Henry
phát hiện ra rằng khi từ trường chuyển động đã tạo ra một
dòng điện Kết quả tương tự cũng được nhà khoa học người
Anh Michael Faraday khám phá ra một năm sau đó Michael
Faraday (1791-1867), một người Anh, người đầu tiên tạo ra
dòng điện trong thực tế Ông cũng là một trong những người
có công rất lớn trong việc phát triển tri thức ngành điện với
những phát hiện về hiện tượng cảm ứng điện từ Trên cơ sở
những đóng góp của ông nhiều phát minh quan trọng về máy
điện đã ra đời Ngày nay nhân loại dùng fara (F) là tên đơn vị
đo điện dung như là một sự tôn vinh ông
9 năm 1882
Nikola Tesla (1856 – 1943) được xem như một thiên tài về phát minh vĩ đại nhất của nhân loại, và là cha đẻ ra nhà máy thủy điện đầu tiên tại thác Niagara ở nước Mỹ vào năm 1886 Tên ông đã trở thành đơn vị đo cảm ứng từ B
Khoảng năm 1792 một nhà khoa học người Ý là Alessandro Volta trở thành người phát minh ra pin đầu tiên trên thế giới Pin volta được ông chế tạo từ những lá mỏng bằng đồng và kẽm với giấy bồi ẩm phân cách hai kim loại trên Volta cũng đã chỉ ra rằng người ta có thể làm cho điện
di chuyển từ nơi này đến nơi khác bằng một sợi dây kim loại Đó chính là một đóng góp quan trọng trong diện học
Sau thời Volta người ta đã dùng chữ Volt (V) trong tên của
ông để đặt tên cho đơn vị của hiệu điện thế
James Watt (1736-1819) người Scốt-len, dù không có
những phát hiện về điện học, nhưng những đóng góp của ông
để đưa nhân loại sang trang sử mới trong việc phát minh ra
máy hơi nước mà tên ông đã dược dùng để chỉ đơn vị đo
công suất mà trong điện học vẫn sử dụng cho đến ngày nay
Hình 2.2
Hình 2.3
Hình 2.4
Hình 2.5
Trang 33MÔ-ĐUN 1: TỔNG QUAN VỀ DẠY HỌC CHUYÊN NGÀNH ĐIỆN
Andre Marie Ampere, một nhà toán học người Pháp đã tận tụy nghiên cứu về điện và từ, là người đầu tiên đã giải thích học thuyết điện động học Để tưởng nhớ đến Ampere người ta đã dùng tên ông để đặt cho đơn vị đo dòng điện
George Simon Ohm, một nhà toán học và vật lí học
người Đức, cũng là giảng viên ở đại học Cologne; vào năm
1827 ông đã xuất bản quyển “The galvanic Circuit
Investigated Mathematically” học thuyết của ông không
được những nhà khoa học Đức đón nhận nhiệt tình nhưng
nghiên cứu của ông đã được chấp nhận ở Anh quốc và ông
được nhận huy chương Copley vào năm 1841 Tên của ông
đã được dùng chỉ đơn vị đo điện trở
Chúng ta không thể nào kể ra cho hết những tên tuổi đã khai sinh và phát triển tri thức ngành điện, dưới đây chỉ xin tóm tắt một số những đóng góp của những con người vĩ đại ấy
1269 Petrus Peregrinus (Ý) Khám phá ra nam châm tự nhiên
1600 William Gilbert Khám phá ra trái đất là một nam châm khổng lồ
1729 Stephen Gray Điện có thể truyền đi trong dây dẫn kim loại
1733 Charles Francois du Fay Điện có hai loại và ông gọi là resinous (-) và
vitreous (+)
1745 Pieter van
Musschenbroek
Phát minh ra tụ điện
1747 Benjamin Franklin Tìm ra định luật bảo toàn điện tích
1748 William Watson Tạo ra hiện tượng phóng điện từ máy tĩnh điện và
bơm chân không, tiền thân của đèn huỳnh quang ngày nay
1750 John Michell Phát hiện ra từ lực ở hai cực nam châm là bằng
Phát hiện ra hiện tượng tích điện nhờ cảm ứng
1775 Henry Cavendish Đưa ra ý tưởng về điện dung và điện trở
Hình 2.6
Hình 2.7
Trang 34MÔ-ĐUN 1: TỔNG QUAN VỀ DẠY HỌC CHUYÊN NGÀNH ĐIỆN
1785 Charles Augustin
Coulomb
Xác định phương chiều của lực điện từ
1786 Alessandro Volta (Ý) Lần đầu tiên chế tạo ra pin, ngày nay gọi là pin
Vôn-ta
1820 Hans Christian Oersted Tác dụng của dòng điện lên kim la bàn
1820 Andre Marie Ampere Khám phá ra lực tác dụng giữa các dòng điện đặt
song song nhau (lực điện từ)
1921 Humphrey Davy Điện trở dây dẫn phụ thuộc nhiệt độ, nhiệt độ tăng
thì giá trị điện trở tăng và ngược lại
1822 Thomas Johann Seebeck Khám phá ra hiện tượng nhiệt điện
1825 Ampere Công bố những kết quả nghiên cứu về từ trường
1826 Georg Simon Ohm Phát minh ra định luật Ôm (V = IR)
1831 Michael Faraday (Anh) Tìm ra hiện tượng cảm ứng điện từ, từ đó phát
minh ra máy phát điện đầu tiên
1832 Joseph Henry Khám phá ra dòng điện cảm ứng
1834 Michael Faraday (Anh) Khám phá ra hiện tượng tự cảm, từ đó đưa ra khái
niệm độ tự cảm L
1834 Emil Lenz Xác định chiều của dòng điện cảm ứng
1837 Michael Faraday (Anh) Đưa ra ý tưởng về hằng số điện môi
1842 Joseph Henry Khám phá ra hiện tượng dao động điện
1845 Michael Faraday (Anh) Khám phá ra tác động của từ trường làm thay đổi
chiều phân cực của sóng ánh sáng
1846 Michael Faraday (Anh) Phát hiện ra hiện tượng nghịch từ
1848
và
1849
Gustav Kirchoff Xây dựng hệ thống các định luật Kiếc-sốp
1850 William Thomson Đưa ra khái niệm độ thẩm từ, và xây dựng các đại
lượng như độ từ cảm B, cường độ từ trường H
1853 William Thomson Lí thuyết về mạch RLC
1855 James Clerk Maxwell Xây dựng hệ thống phương trình Maxwell
1876 Henry Rowland Lần đầu tiên bằng thực nghiệm đã cho thấy sự
chuyển động của điện tích tạo ra dòng điện
1881 J J Thomson Thực nghiệm để chứng tỏ sự ánh hưởng của điện
trường đến từ trường
Trang 35MÔ-ĐUN 1: TỔNG QUAN VỀ DẠY HỌC CHUYÊN NGÀNH ĐIỆN
1887 Svante Arrhenius Có những thành công về nghiên cứu hiện tượng
điện phân
1892 Hendrik Antoon Lorentz Phát triển thuyết điện hiện đại
1895 Pierre Curie Bằng thực nghiệm đã khám phá ra tính thuận từ
và cho ra đời một định luật mang tên Curie, đồng thời cũng chỉ ra rằng nhiệt độ không ảnh hưởng đến tính nghịch từ
1896 J J Thomson Khám phá ra tác dụng của tia X đến sự dẫn điện
của các chất
1896 P Zeeman Khám phá ra sự phân cực của quang phổ nguyên
từ dưới tác động của từ trường
1909 Robert Andrews
Millikan
Đo chính xác điện tích của electron
Nhờ vào sự cống hiến một cách tình nguyện của các kỹ sư và các nhà phát minh người Mỹ như Thomas Alva Edison, Nikola Tesla, và Charles Proteus Steinmetz trong khoảng cuối thế kỷ 19 và dầu thế kỷ 20 việc sử dụng năng lượng điện đã được phổ biến trên thế giới
Kể từ đầu thế kỷ 20 trở đi kỹ thuật điện tử bắt đầu phát triển, và đến khoảng nửa thế kỷ 20 thì máy tính xuất hiện và cho đến ngày nay hai lĩnh vực này đã phát triển vô cùng mạnh mẽ, đặc biệt là vi điều khiển và công nghệ thông tin đã và đang ngày càng tham gia trực tiếp vào lĩnh vực điện càng làm cho tri thức ngành điện giờ đây vô cùng phong phú và hiện đại Sự đan xen giữa các ngành khoa học này đã làm cho ngày nay chúng ta gần như không thể nhận ra ranh giới của lĩnh vực tri thức chuyên ngành điện thuần túy nữa!
3 TÍNH ĐẶC THÙ CỦA TRI THỨC NGÀNH ĐIỆN
Như chúng ta biết chính các hạt cơ bản là proton, neutron và electron đã tạo nên thế giới vật chất của chúng ta; và mọi hiện tượng xảy ra trong thế giới vật chất hầu như đều là sự biểu hiện của các hạt cơ bản đó Các hạt cơ bản mang điện là điện tử (electron) và proton Trong lĩnh vực tri thức chuyên ngành điện người ta quan tâm nhiều hơn về điện tích Điện tích là một trong các đặc trưng cơ bản của các hạt và các vật quyết định tương tác của chúng với trường điện từ bên ngoài và mối liên hệ tương
hỗ của chúng với trường điện từ của riêng chúng Điện tích có hai loại gọi theo qui ước
là điên tích dương và điện tích âm Điện tích của một vật bằng tổng đại số điện tích của các hạt cấu tạo nên vật đó
Điện trường là một môi trường đặc biệt tồn tại xung quanh điện tích, là một dạng biểu hiện của trường điện từ, là môi trường truyền tương tác giữa các điện tích với nhau, giữa điện tích với dòng điện… người ta không trực tiếp nhìn thấy điện trường
mà chỉ phát hiện ra sự tồn tại của nó dựa vào tác dụng lực của nó lên các điện tích
Trang 36MÔ-ĐUN 1: TỔNG QUAN VỀ DẠY HỌC CHUYÊN NGÀNH ĐIỆN
Chính sự tồn tại, chuyển động và tương tác giữa các điện tích thông qua môi trường đặc biệt điện từ trường là cơ sở cho con người khai sinh và phát triển một nền tri thức về điện học vô cùng phong phú và hiện đại, góp phần quyết định giúp khoa học
kỹ thuật tiến những bước dài và làm thay đổi toàn diện bộ mặt của xã hội với những thành tựu kỳ diệu Tri thức ngành điện cực kỳ phong phú và có những nét đặc trưng riêng của nó Có thể kể ra một số đặc trưng cơ bản của tri thức ngành điện như sau:
3.1 Tính trừu tƣợng
Chúng ta biết rằng hầu hết các tri thức về điện đều được xây dựng trực tiếp hay gián tiếp liên quan đến những tương tác điện và từ giữa các hạt cơ bản mang điện Quá trình tương tác, cách thức tương tác… của các hiện tượng điện và từ chúng ta không thể nào cảm nhận trực tiếp và rõ ràng thông qua các giác quan được Chúng ta chỉ có thể nhận thấy những tác dụng của các quá trình tương tác điện và từ khi nó biểu hiện ra
mà thôi Ví dụ chúng ta không thể thấy được có dòng điện chạy trong dây dẫn hay không, mà khi nhìn thấy bóng đèn sáng, bàn ủi nóng lên, động cơ quay, … là ta biết có dòng điện chạy trong dây dẫn, còn khi bóng đèn tắt, bàn ủi không nóng lên, động cơ không quay, … ta biết rằng không có dòng điện chạy trong dây dẫn Khi quan sát thấy bên thứ cấp máy biến thế có điện (thấy tác dụng như bóng đèn sáng lên), ta biết máy biến thế đang hoạt động, ta biết rằng trong biến thế đã diễn ra quá trình tương tác điện
và từ chứ ta không thể trực tiếp thấy được sự thay đổi của điện từ trường qua các cuộn dây sơ cấp và thứ cấp, đường sức từ đang biến thiên thế nào, dòng từ thông đang lưu chuyển ra sao? … tất cả những quá trình đó rất là trừu tượng nên ta chỉ có thể suy luận dựa trên kiến thức về điện mà ta đã học cùng với sự tưởng tượng đang diễn ra trong óc
ta mà thôi Để có thể hình dung và đo đạc sự tồn tại và các tác dụng của các chất liệu
trừu tượng như vậy người ta đã dùng các đại lượng để biểu hiện chúng và tìm ra những
quy luật (định luật) có liên quan đến những tác dụng của chúng, thêm vào đó người ta
còn tìm ra các quy tắc để xác định sự tồn tại của chúng
Tất cả những đại lượng về điện và từ đều được dùng những ký hiệu theo qui ước
đề ngầm hiểu về hình ảnh của chúng Những qui ước, những ký hiệu… rất hữu ích trong việc minh họa cho người học “thấy được” những gì mà mắt thường học không thể nhìn thấy được, từ đó có thể giúp người học dễ dàng lính hội tri thức hơn Tuy nhiên do những ký hiệu, hình vẽ… là hoàn toàn không thể hiển được chính xác điều nó người ta muốn thể hiện, đôi khi nó lại các sự sai biết rất xa về kích thước, về hình dáng thật… cho nên cũng dễ gây ra sự hiểu lầm, hoặc là khó hiểu đối với người học; cho nên những lời giải thích kèm theo, những ví dụ… mà người giáo viên sử dụng rất là quan trọng cho sự tiếp thu kiến thức của người học Nói cách khác, những phương pháp và thủ thuật dạy học với những phương tiện hiện đại là rất cần thiết trong quá trình dạy học những tri thức chuyên ngành điện Việc dạy và học những tri thức mang tính trừu tượng sẽ góp phần rèn luyện ở người học óc tưởng tượng và khả năng tư duy trừu tượng, là cơ sở phát triển óc sáng tạo ở người học
3.2 Tính cụ thể
Bên cạnh hệ thống khái niệm, các nguyên lí kỹ thuật rất trừu tượng mà người học không thể trực tiếp tri giác được, nội dung tri thức ngành điện cũng phản ánh những
Trang 37MÔ-ĐUN 1: TỔNG QUAN VỀ DẠY HỌC CHUYÊN NGÀNH ĐIỆN
đối tượng cụ thể đó là những máy móc thiết bị, các vật phẩm (như các loại máy điện, các loại khí cụ điện, các thiết bị điện ánh sáng ) các thao tác, các quá trình kỹ thuật cụ thể (như các thao tác tháo lắp các thiết bị điện, các thao tác vận hành các mạch điện, các quá trình sản xuất và sữa chữa các máy móc thuộc về điện ) Với những đối tượng
cụ thể này người học có thể tri giác trực tiếp trên đối tượng nghiên cứu thông qua các phương tiện trực quan hoặc thao tác mẫu của giáo viên
3.3 Hàm lƣợng kiến thức phong phú, đa dạng, phức tạp
Xuất phát từ ngành vật lí học, trong thế kỷ thứ 18 và 19 có rất nhiều các nhà khoa học đã có những phát minh vĩ đại để ngày một làm giàu thêm cho kho tàng tri thức về điện học Kho tàng tri thức về điện học đã nhanh chóng phát triển và hình thành một ngành mới đó là ngành điện Khoảng cuối thế kỷ 19 cho đến nay ngành điện vẫn liên tục phát triển với tốc độ vũ bão, với một lượng tri thức khổng lồ, ngành điện giờ đây đã có rất nhiều chuyên ngành khác nhau như Điện dân dụng; Điện công nghiệp; Điện hệ thống; Điện điều khiển v.v…
Ngành điện không chỉ đa dạng về các chuyên ngành, mà mỗi chuyên ngành điện cũng hàm chứa một lượng tri thức khổng lồ đòi hỏi phải phân chia thành rất nhiều môn học khác nhau Mỗi môn học có nội dung chuyên sâu về một lĩnh vực nào đó của
chuyên ngành điện; ví dụ như môn Đo lường điện trình bày về các dụng cụ đo, môn
Máy điện nói về các loại máy điện như máy biến áp, các loại động cơ và máy phát
ký hiệu, cách tính toán và ý nghĩa kỹ thuật khác nhau
Sự đa dạng phức tạp của tri thức ngành điện còn thể hiện ở chổ trong tri thức ngành điện có đan xen những tri thức các ngành khác như điện tử, tin học, điều khiển,
tự động hóa, vật lí, toán học… Ví dụ như khi học môn Lí thuyết mạch điện người học
sẽ choáng ngộp trước vô số công thức, các phép biến đổi, các phương pháp tính toán phức tạp… đòi hỏi người học phải có một trình độ toán học nhất định mới có thể theo
học nổi Không chỉ có môn học Mạch điện mà hầu hết các môn học chuyên ngành điện
khác đều có liên quan đến kiến thức toán học Ngày nay sự ảnh hưởng của các linh kiện và kỹ thuật điện tử đến những thiết bị máy móc ngành điện ngày càng nhiều, đặc biệt là trong lĩnh vực điều khiển và tự động hóa Chỉ mới vài năm trở lại đây thôi việc điều chỉnh tốc độ quạt đã có sự tham gia của mạch điện tử giúp cho việc chỉnh tốc độ quạt được dễ dàng và tiện lợi hơn nhiều vì tốc độ quạt đã có thể thay đổi liên tục được Máy biến áp có chức năng ổn áp tầm rộng (auto vôn) trước đây hoạt động theo nguyên
lí điện từ thì giờ đây được điều khiển bằng mạch điện tử Các mạch điều khiển động
cơ, mạch bảo vệ máy móc thiết bị, mạch cảm biến nhiệt độ, sự thay đổi điện áp, dòng
Trang 38MÔ-ĐUN 1: TỔNG QUAN VỀ DẠY HỌC CHUYÊN NGÀNH ĐIỆN
điện… trong gia dụng và trong công nghiệp không thể thiếu các thiết bị điện tử… do
đó mà ngày nay khi học chuyên ngành điện người học phải học thêm nhiều môn của chuyên ngành điện tử Sự phát triển của kỹ thuật số và máy vi tính đã góp phần là phong phú thêm cho thể giới tri thức ngành điện Đặc biệt trong lĩnh vực bảo vệ, điều khiển tự động hóa đã có sự hiện diện ngày càng nhiều lượng tri thức tin học Hoạt động của nhiều thiết bị ngành điện đã được lập trình trong ROM, trong bộ vi xử lí, trong PLC …
3.4 Có những kiến thức với nội dung ổn định, và những kiến thức khác thì lại phát triển nhanh, thường xuyên đổi mới
Trong nguồn tri thức vô cùng phong phú về ngành điện, chúng ta thường thấy có
một số kiến thức mang tính ổn định cao như các môn học máy điện, kỹ thuật điện, an
toàn điện có nội dung hầu như không thay đổi qua một thời gian rất lâu Nội dung
môn học ổn định như vậy có những thuận lợi nhất định đối với giáo viên trong việc lựa chọn phương pháp giảng dạy vì nó mang tính kế thừa cao những kinh nghiệm tích lũy được trơng quá trình dạy từ bất kỳ giáo viên nào đã từng dạy những môn học như thế Người giáo viên thuận lợi hơn trong việc hình thành phương pháp và phương tiện dạy học mang tính ổn định lâu dài
Sự tham gia ngày càng nhiều những thành tựu về điện tử và công nghệ thông tin vào những thiết bị điện và kỹ thuật điện, đặc biệt trong lĩnh vực điều khiển và tự động hóa đã làm tri thức ngành điện luôn cập nhật, đổi mới không ngừng Ví dụ như những mạch điều khiển các thiết bị điện gia dụng như điều chỉnh tốc độ động cơ máy quạt, điều khiển ổn áp nguồn xoay chiều tự động, mạch đèn huỳnh quang với tăng-phô điện
tử, hệ thống điều khiển trong tử lạnh, máy điều hòa… trong công nghiệp sự tham gia của điện tử và công nghệ thông tin vào lĩnh vực điện càng nhiều hơn, như hệ thống điều khiển sự vận hành của các loại máy điện cũng như các loại thiết bị điện khác…
Từ những hệ thống điều khiển máy điện dùng nút ấn với những tiếp điểm đóng ngắt có nhiều nhược điểm vì sự hình thành tia lửa điện khi đóng ngắt, được thay thể bằng hệ thống đóng ngắt không tiếp điểm do các linh kiện điện tử đảm nhận; từ kỹ thuật điều khiển tương tự (analog) đến kỹ thuật điều khiển số (digital) cho đến điều khiển tự động bằng chương trình nạp vào IC ROM, rồi đến hệ thống lập trình PLC với sự hổ trợ trực tiếp của máy vi tính…
Đáp ứng nhu cầu nâng cao không ngừng chất lượng cuộc sống, các thiết bị điện cũng luôn luôn thay đổi mẫu mã và đôi khi có sự thay đổi cả về nguyên lí hoạt động, cách điều khiển, kỹ thuật lắp ráp… Quan tâm đến sự đổi mới này trong khi dạy thực hành là một điều hết sức quan trọng đối với những người dạy học chuyên ngành điện,
vì ngày nay dạy học không chỉ là truyền đạt những kiến thức mang tính hàn lâm trong sách vở mà phải chú ý đến hiệu quả đào tạo về năng lực thực hiện cho người học Kiến thức truyền đạt càng mang tính thực tiễn thì người học sau khi hoàn tất khóa học sẽ dễ dàng và nhanh chóng hòa nhập được vào công việc thực tiễn hơn
Sự xuất hiện của các môn học mới liên quan đến các lĩnh vực điện tử và công
nghệ thông tin trong chương trình đào tạo chuyên ngành điện như kỹ thuật PLC, thiết
bị điều khiển điện, ứng dụng Matlab trong kỹ thuật điện Đìều này đã là một thách
thức không nhỏ đối với đội ngũ giáo viên chuyên ngành điện, buộc họ tiếp tục quá
Trang 39MÔ-ĐUN 1: TỔNG QUAN VỀ DẠY HỌC CHUYÊN NGÀNH ĐIỆN
trình tự đào tạo mình để không phải lạc hậu, họ không chỉ học hỏi về tri thức chuyền ngành điện mà còn luôn học hỏi để hoàn thiện mình về chuyên môn nghiệp vụ sư phạm để làm sao dạy học những tri thức mới thuộc chuyên ngành điện một cách hiệu quả Có như thế thì những sản phẩm mà họ đào tạo ra mới được xã hội chấp nhận
3.5 Tính phổ biến
Ngày nay năng lượng điện vô cùng phổ biến trong tất cả các lĩnh vực phục vụ đời sống con người do nó có những ưu điểm vượt trội so với các nguồn năng lượng khác như việc sản xuất, truyền tải, phân phối và sử dụng điện năng dễ dàng, kinh tế, các máy móc thiết bị sử dụng năng lượng điện có hiệu suất cao, sử dụng năng lượng điện hạn chế được nhiều sự ô nhiễm môi trường do chất thải gây ra… Chính vì thế mà các thiết bị điện từ lâu đã trở nên gần gũi với đời sống của mọi người, đặc biệt là các thiết đị điện gia dụng Do đó nhiều kiến thức thuộc ngành điện đã trở nên phổ thông trong cuộc sống như ai cũng biết rằng điện giật là rất nguy hiểm; nhìn ánh sáng bóng đèn giảm đi mọi người biết là nguồn điện áp đang bị giảm xuống Nhiều người biết là pin và accu có cực âm và cực dương mà nếu đấu sai cực thì máy sẽ không vận hành được; nhiều người biết dùng bút thử điện để xác định “dây lửa” và “dây đất”, hoặc xác định có điện hay không Các thiết bị điện gia dụng hầu như có rất nhiều người biết cách sử dụng v.v…
Tính phổ biến của tri thức chuyên ngành điện còn thể hiện ở chương trình học chính quy trong nhà trường Một phần tri thức căn bản của ngành điện đã được học ở môn vật lí ở bậc học phổ thông cơ sở, phổ thông trung học, cao đẳng và đại học kỹ
thuật Ngay như môn học kỹ thuật công nghiệp cũng không thể thiếu đi một phần nội
dung về tri thức ngành điện
Chính sự phổ biến của tri thức ngành điện mà những người làm công tác giảng dạy sẽ có nhiều thuận lợi khi truyền đạt những tri thức mang tính phổ biến này vì họ dễ dạng lấy những ví dụ liên hệ thực tiễn nhưng gần gũi với cuộc sống của học viên, đó là một trong những thủ thuật truyền đạt kiến thức hiệu quả Bên cạnh đó các giáo viên dạy kỹ thuật chuyên ngành điện cũng có những khó khăn nhất định trong quá trình truyền đạt tri thức chuyên ngành cho những đối tượng có đầu vào tốt nghiệp lớp 9 (đã học phần điện một chiều cơ bản ở chưong trình vật lí lớp 9) và đối tượng có đầu vào tốt nghiệp lớp 12 (đã học phần điện xoay chiều cơ bản ở chương trình vật lí lớp 12) khi
mà kết quả đào tạo yêu cầu phải như nhau!
3.6 Tính hiện đại
Năng lượng điện cũng như các thiết bị sử dụng năng lượng điện gắn liền với những thành tựu khoa học kỹ thuật và công nghệ, chúng góp phần to lớn trong việc giải phóng sức lao động của con người Thế giới chúng ta đang ở thời đại hậu công nghiệp, trình độ tự động hóa và truyền thông công nghệ cao đang phát triển hơn bao giờ hết; cùng với sự phát triển vũ bão của khoa học kỹ thuật và công nghệ, các ngành khoa học khác nhau đã và đang có sự đan xen lại với nhau Tất cả những điều đó đã làm cho tri thức ngành điện thường xuyên được đổi mới, bố sung và luôn mang tính
hiện đại
Trang 40MÔ-ĐUN 1: TỔNG QUAN VỀ DẠY HỌC CHUYÊN NGÀNH ĐIỆN
Tính hiện đại còn xuất phát từ lí do xã hội ngày càng phát triển, nhu cầu của cuộc sống con người ngày càng cao đã dẫn đến trang thiết bị, đồ dùng phục vụ cuộc sống luôn có sự đổi mới theo xu hướng ngày càng đẹp hơn, tiện sử dụng hơn, đa năng hơn, mức độ tự động hóa cao hơn… nói chung là ngày càng hiện đại hơn Tính hiện đại là nhân tố chính yếu làm cho tri thức ngành điện có nét đặc thù là luôn luôn phát triển và đổi mới không ngừng; điều này đã trở thành một thách thức rất lớn đối với đội ngũ giáo viên giảng dạy kỹ thuật chuyên ngành điện vì buộc họ phải luôn học tập không ngừng, học tập suốt đời nếu không muốn tri thức của họ sớm trở thành lỗi thời, lạc hậu Làm thế nào để sản phẩm đào tạo chuyên ngành điện không bị lạc hậu quả là một nhiệm vụ không hề đơn giản
Bên cạnh việc thường xuyên hiện đại hóa nội dung dạy học, giảm khoảng cách giữa khoa học, đời sống và nhà trường; việc ứng dụng các thành tựu của khoa học khác đặc biệt là công nghệ thông tin vào dạy học chuyên ngành điện dù còn nhiều hạn chế những cũng phát triển hơn so với việc dạy học của nhiều ngành nghề khác Nhiều phần mềm dạy học chuyên ngành điện-điện tử đã phát triển rất mạnh, có thể kể ra đây một số những phần mềm chuyên ngành điện-điện tử phổ biến như Orcad Workbench, Eagle, Edision, Tina hoặc việc vận dùng những phần mềm phổ biến khác vào dạy học chuyên ngành điện cũng rất hiệu quả như các phần mềm Flash, Corel, Víual Basic
3.7 Tính thực tiễn
Tính thực tiễn là bản chất của kỹ thuật nói chung, bởi vì đối tượng nghiên cứu và mục đích nghiên cứu của kỹ thuật là hoạt động thực tiễn của con người Tri thức chuyên ngành điện cũng là một kho tàng tích lũy những giá trị thực tiễn mà con người
đã không ngừng nghiên cứu, phát hiện và phát triển qua bao nhiêu thế hệ cho nên nó mang tính thực tiễn rất cao Mỗi sự ra đời của bất kỳ một máy móc, thiết bị kỹ thuật hay một công nghệ mới của chuyên ngành điện đều xuất phát từ nhu cầu của con người
và nó cũng chỉ tồn tại và phát triển khi đáp ứng được nhu cầu ngày càng cao của đời sống con người Trong quá trình dạy học các tri thức chuyên ngành điện thì việc giúp người học thấy được giá trị thực tiễn của những tri thức mà họ sắp học sẽ luôn là động
cơ thu hút sự chú ý của người học, là cơ sở giúp họ phát huy tính tự giác, tích cực trong học tập
Thêm vào đó, trong nguồn tri thức ngành điện có những nội dung phụ thuộc rất nhiểu vào kinh nghiệm thực tiễn của người dạy bởi lẽ những nội dung này tài liệu giảng dạy chỉ nêu lên được những định hướng, những bước đề nghị, những công thức gần đúng… mang tính khái quát nhằm hướng dẫn chung chung cho người học thực hiện một công việc chuyên ngành, chứ không có mức độ chính xác, ví dụ như quá trình tính toán để quấn dây máy biến áp, quấn dây động cơ điện trong trường hợp người thợ chỉ có trong tay một bộ lõi thép của các máy điện trên thì việc tính toán để chợn cỡ dây quấn, số vòng dây… trên lí thuyết có quá nhiều công thức gần đúng với mức độ sai số rất lớn, do đó sự chính xác trong tính toán và thi công phụ thuộc rất nhiều vào kinh nghiệm Quá trình đào tạo hiệu quả phải cho ra sản phẩm sử dụng được ngay trong thực tiễn là một thách thức rất lớn cho đội ngũ giáo viên nghề, và đương nhiên những người làm công tác đào tạo ra đội ngũ giáo viên nghề lại càng phải chú ý biết bao